1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân Tích Những Biện Pháp Để Khôi Phục Và Phát Triển Kinh Tế Hàng Hoá Ở Nước Ta Hiện Nay

17 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy việc xây dựng một quan hệ sản xuất mới tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển nhằm thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển là một việc làm tối quan trọng của Đảng và Nhà

Trang 1

Mở đầu

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta Đảng và Nhà nớc ta

đã có nhiều chủ trơng, đờng lối để phát triển nền kinh tế quốc dân Trong đó việc phát triển nền kinh tế hàng hoá là nhiệm vụ cơ bản nhất Nớc ta là một

n-ớc nông nghiệp lạc hậu, kinh tế đi lên chủ yếu từ sản xuất nhỏ tự cung, tự cấp

ở một số vùng núi còn mang đậm dấu ấn của kinh tế tự nhiên Lại phải trải qua nhiều năm chiến tranh, nền kinh tế nớc ta không thể vơn dậy nổi một cách vững chắc, hàng hoá sản xuất ra không đủ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của ngời dân Hơn nữa kinh tế hàng hoá của ta lại có một thời gian dài hoạt động theo cơ chế của nền kinh tế tập trung chỉ huy Do vậy việc xây dựng một quan

hệ sản xuất mới tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển nhằm thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển là một việc làm tối quan trọng của Đảng và Nhà nớc ta trong thời kỳ qúa độ lên CNXH

Nớc ta từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, mà xây dựng chủ nghĩa xã hội xét về mặt kinh tế cũng phải xây dựng nền sản xuất lớn của xã hội chủ nghĩa Mà đã xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thì không thể không phát triển nền kinh tế hàng hoá

Xuất phát từ sự nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế hàng hoá ở Việt Nam đã khiến cho em chọn đề tài:

Phân tích những biện pháp để khôi phục và phát triển kinh tế hàng

hoá ở nớc ta hiện nay.

Mục đích của bài viết này là tìm hiểu thế nào là kinh tế hàng hoá ở Việt Nam, cơ sở khách quan để tồn tại và phát triển, đặc điểm của nền kinh tế hàng hoá ở Việt Nam, các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam

Em hy vọng rằng sau bài viết này sẽ hiểu sâu sắc hơn về nền kinh tế hàng hoá ở Việt Nam và sau này sẽ đóng góp đợc phần nào sức lực của mình vào sự nghiệp phát triển đất nớc

Bài viết này đợc sự hớng dẫn của thầy, cô giáo và các tài liệu tham khảo

Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn chỉ bảo của thầy, cô giáo

Mục lục

Trang

Chơng 1

Trang 2

1 Tính tất yếu cần có sự quản lý của Nhà nớc đối với nền kinh tế 2

Chơng 2

* Những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế hàng

hoá nhiều thành phần ở Việt Nam

7

1 Phân tích thực trạng kinh tế hàng hoá ở nớc ta hiện nay 7 Chơng 3

* Các giải pháp cụ thể phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành

phần ở Việt Nam

12

Trang 3

Ch ơng 1 Nội dung

*Sự quản lý của nhà nớc

1 Tính tất yếu cần có sự quản lý của nhà nớc đối với nền kinh tế

Kinh tế hàng hoá ra đời và phát triển từ rất lâu nhng phải đến những năm

đầu thập kỷ 90 trở lại đây ngời ta mới không còn nghi ngờ về vai trò của sản xuất hàng hoá, của kinh tế thị trờng trong sự nghiệp xây dựng đất nớc ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tại sao nh vậy?

Có thể nói, suốt một thời gian dài, nớc ta không nhận thức đúng vai trò của sản xuất hàng hoá, của kinh tế thị trờng, đã đồng nhất hình thức sở hữu với hình thức tổ chức kinh tế và thành phần kinh tế, coi nhẹ, thậm chí phủ nhận quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh; coi nhẹ quy luật cung cầu, chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực của kinh tế thị trờng, phủ nhận quan hệ hàng hoá tiền tệ Do đối lập kinh tế hàng hoá và thị trờng với kinh tế kế hoạch hoá, cho thị trờng là phạm trù riêng của chủ nghĩa t bản cho nên chúng ta chỉ thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hoá trong khuôn khổ “thi đua xã hội chủ nghĩa, tách rời một cách siêu hình hàng hoá với thị trờng Bởi vậy chúng ta đã không tạo đợc động lực phát triển sản xuất vô hình hạn chế việc ứng dụng những tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất, năng suất lao động tăng chậm, gây rối loạn và ách tắc trong lĩnh vực phân phối lu thông, làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng kém năng động trì trệ

Khi nhìn lại những sai lầm trong thời kỳ thực hiện “cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp”, tại đại hội lần thứ VI (12 -1986) Đảng ta thừa nhận “Chúng ta

đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, cha thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan; do đó, không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trơng chính sách kinh tế” “Trong nhận thức cũng nh trong hành động, chúng ta cha thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta còn tồn tại trong một thời gian tơng đối dài, cha nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất” Để khắc phục sai lầm đó Đảng đã chủ trơng: “Quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nớc ta là quá trình chuyển hoá nền kinh

tế còn nhiêù tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hoá Việc sử dụng

đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan Việc sử dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ

đòi hỏi phải gắn sản xuất với thị trờng” Đây là bớc tiến hết sức quan trọng trong việc đổi mới t duy kinh tế của Đảng ta Quan điểm này xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội ở nớc ta, từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta,

Trang 4

trên cơ sở vận dụng mô hình của Lênin về mặt chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế hàng hoá

Nh vậy, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá ở nớc ta là một tất yếu khách quan Bởi vì những điều kiện chung của kinh tế hàng hoá là phân công lao

động xã hội và các hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất và sản phẩm lao động vẫn tồn tại ở nớc ta

Phân công lao động xã hội với t cách là cơ sở kinh tế của sản xuất hàng hoá chẳng những không mất đi, trái lại ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu ở nớc ta ngày càng có nhiều ngành nghề mới ra đời và phát triển Bên cạnh đó những ngành nghề cổ truyền có tiếng không chỉ trong nớc

mà cả trên thế giới, có tiềm năng lớn mà trớc đây bị cơ chế kinh tế cũ làm mai một nay đợc khôi phục và phát triển Trong nội bộ từng khu vực, từng ngành,

địa phơng, phân công lao động ngày càng chi tiết hơn Điều đó đợc phản ánh ở tính phong phú, đa dạng và chất lợng cao hơn của sản phẩm lao động đa ra trên thị trờng Sự chuyên môn hoá và hợp tác lao động đã vợt khỏi phạm vi quốc gia, trở thành phân công lao động trên phạm vi quốc tế

Đồng thời các hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất vẫn tồn tại ở nớc ta Điều này đợc thể hiện ở nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế nhiều thành phần Đó là kinh tế nhà nớc, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế hợp tác, kinh tế t bản t nhân, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ Hơn nữa trình độ xã hội hoá giữa các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng một thành phần kinh tế vẫn cha đều nhau Do vậy việc hạch toán kinh doanh, phân phối và trao đổi sản phẩm lao động tất yếu phải thông qua hình thái hàng hoá - tiền tệ để thực hiện các mối quan hệ kinh tế, đảm bảo lợi ích kinh tế giữa các tổ chức kinh tế trong các thành phần với ngời lao động và giữa các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần với nhau

Ngoài ra việc chuyển cơ chế quản lý hành chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý thị trờng là đảm bảo sự thích ứng của quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất ở nớc ta Sự chuyển đổi này đã làm cho cơ chế quản lý từ bảo thủ, trì trệ thành sự quản lý năng động và hiệu quả, chuyển chế độ sở hữu

từ một hình thức (quốc doanh và tập thể) sang đa chủ thể sở hữu về t liệu sản xuất Điều này đã khắc phục đợc sự trì trệ t duy của “Ông chủ tập thể”, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của từng chủ sở hữu, làm cho nền kinh tế sống động hẳn lên Mọi ngời lao động từng ông chủ sở hữu trăn trở, tìm tòi, sáng tạo, tìm cách làm giàu cho mình và cho toàn xã hội Quan điểm dân giàu nớc mạnh là hoàn toàn biện chứng Dân có giàu thì nớc mới mạnh Việc chuyển phơng thức phân phối “cào bằng” bình quân triệt tiêu động lực lợi ích của ngời lao động sang phơng thức phân phối theo lao động và hiệu quả đã tạo chất men kích thích lợi ích chính đáng của toàn thể ngời lao động Phân phối theo lao động

và hiệu quả của sản xuất kinh doanh không chỉ khơi dậy động lực lợi ích, một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự tăng trởng của kinh tế

Trang 5

Phát triển sản xuất hàng hoá là sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội, cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi ngời ở nông thôn nớc ta, sự phát triển kinh tế hàng hoá và việc tăng tỉ lệ hàng hoá nông sản đã làm cho hàng hóa bán ra của nông dân nhiều lên, thu nhập tăng lên Đồng thời các ngành nghề của nông thôn cũng ngày một phát triển, tạo ra cho nông dân nhiều việc làm Đó cũng là điều đã diễn ra

ở thành phố, đối với những ngời lao động thành thị

Không những thế phát triển kinh tế hàng hoá còn phù hợp với xu thế phát triển kinh tế khách quan của thời đại ngày nay - thời đại các nớc đều hớng về phát triển kinh tế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc Sự phù hợp này sẽ giúp nớc ta có thêm thế và lực để phát triển kinh tế nhanh hơn Kinh tế tự nhiên, do bản chất của nó, chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn Trong cơ chế kinh

tế cũ, vì coi thờng quy luật giá trị nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và

động lực để phát triển sản xuất Sử dụng sản xuất hàng hoá là sử dụng quy luật giá trị quy luật này buộc mỗi ngời sản xuất tự chịu trách nhiệm về hàng hoá do mìnhlàm ra Chính vì thế mà nền kinh tế trở nên sống động Mỗi ngời sản xuất

đều chịu sức ép buộc phải quan tâm tới sự tiêu thụ trên thị trờng, sao cho sản phẩm của mình đợc thừa nhận và cũng từ đó họ mới có đợc thu nhập

Phát triển sản xuất hàng hoá cũng phù hợp với lòng mong muốn thiết tha của nhân dân ta là đợc đem hết tài năng sức lực để lao động làm giàu cho đất nớc và cho cả bản thân mình, có thu nhập ngày càng cao làm cho cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc Phát triển sản xuất hàng hoá có thể đào tạo ngày càng nhiều cán bộ quản lý và lao động Muốn thu đợc lợi nhuận, họ cần phải vận dụng nhiều biện pháp để quản lý kinh tế, thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, hạ giá thành sản phẩm, làm cho sản xuất phải phù hợp với nhu cầu của thị trờng, nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế Qua cuộc cạnh tranh trên thị trờng, những nhân tài quản lý kinh tế và lao động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là một dấu hiệu quan trọng của tiến bộ kinh tế

Nền kinh tế hàng hoá còn cho phép có điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng hiện có và đang còn tiềm ẩn ở trong nớc, có thể tranh thủ tốt nhất sự giúp đỡ, hợp tác từ bên ngoài nhằm phát triển nền kinh tế nớc ta hớng vào mục tiêu tăng trởng nhanh và hiện đại hoá Chỉ có phát triển nền kinh tế hàng hoá, chúng ta mới có khả năng huy động về vốn, kỹ thuật; mới phát huy đợc mọi tiềm năng về con ngời Việt Nam; mới vận dụng sáng tạo

và có hiệu quả các thành phần kinh tế, “Các mắt xích trung gian, các nấc thang hợp lý, các nhịp cầu thích hợp”vào trong quá trình quản lý và phát triển kinh tế xã hội

Và chỉ có phát triển nền kinh tế hàng hoá chúng ta mới có khả năng giải quyết đợc vấn đề việc làm trên đất nớc chúng ta Bí mật giàu có của một quốc gia là lao động thặng d chứ không phải là lao động tất yếu Một quốc gia dù có giàu đến bao nhiêu chăng nữa, mà đẩy một tỉ lệ quá cao ngời lao động ra ngoài

Trang 6

quá trình sản xuất thì quốc gia ấy sẽ nghèo đi Đến năm 2000 nớc ta có khoảng

46 triệu lao động Phát triển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sẽ không

có khả năng giải quyết cho 46triệu lao động của đất nớc, cho nên phải phát triển nền kinh tế hàng hoá để giải quyết việc làm

Nh vậy, phát triển sản xuất hàng hóa đối với nớc ta là một tất yếu kinh tế, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh

tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế Đó là con đ ờng đúng

đắn để phát triển lực lợng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của

đất nớc để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Kinh tế hàng hoá không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát triển mạnh mẽ hơn Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việc chuyển sang mô hình kinh

tế hàng hóa là toàn toàn đúng đắn Nhờ mô hình kinh tế đó, chúng ta đã bớc

đầu khai thác đợc tiềm năng trong nớc đi đôi với thu hút vốn và kỹ thuật nớc ngoài, giải phóng đợc năng lực sản xuất trong xã hội, phát triển lực lợng sản xuất, góp phần quyết định bảo đảm nhịp độ tăng trởng GDP bình quân hàng năm trong những năm 1991 - 1995 là 8,3%

2 Chức năng quản lý nhà nớc về kinh tế.

a Thực hiện chức năng này nhà nớc thông qua các công cụ:

Ngân sách, tín dụng, ngân hàng, dự trữ quốc gia, khu vực kinh tế nhà nớc: luật pháp kinh tế, các chính sách kinh tế đòn bẩy kích thích, kế hoạch với t cách là công cụ đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hớng mục tiêu cân

đối vĩ mô Thông qua đó, nhà nớc tác động vào tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, tạo môi trờng kinh tế (sức mua đồng tiền và giá cả) ổn định và hành lang cần thiết cho sự tăng trởng và phát triển kinh tế trong từng xí nghiệp

và trên phạm vi toàn xã hội trong từng thời kỳ

b) Chức năng chủ sở hữu tài sản công của Nhà nớc

Với t cách là ngời chủ sở hữu toàn dân và Nhà nớc là đại biểu, Nhà nớc

có đủ t cách quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc doanh Song nhà nớc chỉ là ngời sở hữu đại biểu, chứ không phải là ngời sở hữu thực (chiếm hữu

và sử dụng các điều kiện của sản xuất trong qúa trình sản xuất, làm cho sở hữu

đợc thực hiện về mặt kinh tế) Ngời chủ sở hữu thực phải là giám đốc các xí nghiệp (ngời đại diện cho CNVC của xí nghiệp) Sự phân biệt nh vậy có tác dụng góp phần làm cho trong xí nghiệp nhà nớc mọi tài sản đều có chủ và góp phần phát huy quyền tự chủ về các mặt của xí nghiệp trên cơ sở xác định đúng chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở

Cần chú ý rằng: đối với khu vực kinh tế nhà nớc với t cách là ngời sở hữu

đại biểu, Nhà nớc có quyền quản lý, nhng không quản lý (quyền quản lý sản xuất kinh doanh trực tiếp là của xí nghiệp) mà chỉ quản lý gián tiếp qua các khía cạnh sau:

Trang 7

- Quyết định thành lập hay giải thể xí nghiệp.

- Quyết định phơng hớng kinh doanh chính của doanh nghiệp và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nớc

- Bổ nhiệm hay miễn nhiệm giám đốc và các chức danh khác ở xí nghiệp

- Ban hành các chính sách cần thiết có tính pháp lệnh đối với doanh nghiệp

- Kiểm tra việc thực hiện các chính sách đó tại các doanh nghiệp

Hai chức năng trên có quan hệ với nhau bắt nguồn từ vai trò kinh tế của Nhà nớc quy định và đòi hỏi phải thực thi có hiệu quả Muốn vậy, phải tăng c-ờng vai trò kinh tế của Nhà nớc bằng các phơng hớng sau:

- Phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong quản lý kinh tế của Nhà nớc, Kết hợp giữa kinh tế với chính trị; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc hiệu quả kinh tế - xã hội

- Phải xử lý đúng đắn mối quan hệ và sự khác nhau giữa chức năng quản

lý kinh tế vĩ mô của Nhà nớc với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của xí nghiệp

- Phải nâng cao năng lực và phẩm chất của bộ máy cùng các thành viên trong bộ máy nhà nớc ngang tầm với nhiệm vụ mới, nhất là nhiệm vụ quản lý kinh tế

3 Hệ thống công cụ và chính sách của nhà nớc.

Một là, Nhà nớc cần sớm tạo ra sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội.

Có ổn định về chính trị mới có thể ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, tất nhiên không phải tiến hành một cách biệt lập thiếu đồng bộ Nói ổn định về chính trị là nói chính quyền, Nhà nớc phải có đủ uy tín đối với các doanh nghiệp và nhân dân Uy tín này thể hiện ở tính đúng đắn của đờng lối, chính sách và trình độ điều hành vĩ mô của Nhà nớc ổn định về kinh tế có nội dung rất phong phú, song yêu cầu chủ yếu và trớc tiên là sự ổn định về tài chính, tiền tệ và sự kiểm soát đợc lạm phát Vì nếu không nh vậy, thì toàn bộ hoạt

động kinh tế bị méo mó, biến dạng, không kích thích đợc đầu t, tiêu cực phát sinh, tâm lý xã hội phức tạp Điều quan trọng nhất của sự ổn định xã hội là tạo

đợc niềm tin, niềm hy vọng trong nhân dân Chẳng hạn niềm tin ở chỗ, ai làm nhiều làm tốt bằng tài năng của mình ngoài luật cấm, thì thu nhập cao Niềm tin đó là động lực quan trọng cho phép khai thác phát huy đợc tinh thần dân tộc có lợi cho sự tăng trởng và phát triển kinh tế rất cần thiết trong nền kinh tế hàng hoá

Hai là, xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất và hạ tầng xã hội.

Việc đầu t sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nớc và ngời nớc ngoài đợc tiến hành thuận lợi và trở nên hấp dẫn hay không, phụ thuộc nhiều nhân tố, nhng trớc hết phụ thuộc vào trình độ phát triển của cac cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng vật chất bao gồm giao thông vận tải, điện nớc, thông tin bu

điện Còn cơ sở hạ tầng xã hội chủ yếu và quan trọng nhất là hệ thống thơng mại, giáo dục, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm

Cần ý thức rằng, một trong những tính quy luật có liên quan đến chiến lợc

đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội, phải đi trớc một bớc so với đầu

t kinh doanh trực tiếp Đầu t này đòi hỏi số vốn lớn, thu hồi vốn chậm, hoặc

Trang 8

thu hồi một phần, do vậy thờng do Nhà nớc đầu t Nền kinh tế hàng hoá ở các nớc t bản phát triển, giúp họ sớm có ý thức về tính quy luật này so với các n ớc xã hội chủ nghĩa và nớc ta

Chính sự non kém về cơ sở hạ tầng là một trong những nguyên nhân cản trở việc thực hiện luật đầu t nớc ngoài, mặc dù ở nớc ta đã ban hành sớm và với những điều khoản hấp dẫn

Ba là, cần có hệ thống luật pháp và bộ máy thực hiện sao cho đủ sức

chống làm ăn phi pháp; đồng thời chống đợc sự quan liêu, cửa quyền, độc quyền và đặc quyền đặc lợi, khi nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần

Bốn là, tạo đợc những tâm lý, tập quán có tính xã hội phù hợp và có lợi

cho sự phát triển kinh tế hàng hoá Ví dụ tập quán mọi nhà doanh nghiệp, mọi ngời dân đợc tự do kinh doanh và biết làm giàu ngoài những điều khoản luật cấm; thói quen tâm lý hoạt động mua bán theo cơ chế thị trờng, xa lạ với cơ chế bao cấp, và cũng xa lạ với thói quen cam chịu khổ hạnh

Năm là, cần có các nhà quản lý và nhà kinh doanh giỏi thích nghi với cơ

chế thị trờng Điều kiện này rất quan trọng, có thể nói quyết định đến hiệu quả

đầu t, hiệu quả kinh doanh, tăng sự hấp dẫn cho ngời hoặc tổ chức của nớc ngoài muốn liên doanh với nớc ta

Các điều kiện nói trên là những điều kiện rất cần thiết quyết định phần lớn kết quả của quá trình chuyển biến nền kinh tế hàng hoá nớc ta vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô cuả Nhà nớc Không cầu toàn, không chờ đợi, mà vừa làm vừa tạo dựng, vừa củng cố phát triển và hoàn thiện các

điều kiện tiền đề Vì thế nó phải là một quá trình

Trang 9

Ch ơng 2.

* Những giải pháp cơ bản phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam.

1 Phân tích thực trạng kinh tế hàng hoá ở nớc ta hiện nay.

* Nền kinh tế nớc ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế hàng hóa kém phát triển mang nặng tính tự cấp, tự túc sang thành nền kinh tế hàng hoá phát triển từ thấp đến cao

Điểm xuất phát của đặc điểm này gắn liền với thực trạng kinh tế biểu hiện

ở các mặt:

- Cơ cấu hạ tầng vật chất và xã hội thấp kém

- Trình độ cơ sở vật chất và công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu, không có khả năng cạnh tranh

- Hầu nh không có đội ngũ nhà doanh nghiệp có tầm cỡ

- Thu nhập của ngời làm công ăn lơng và nông dân thấp kém, sức mua hàng hàng hoá của xã hội và dân c thấp nên nhu cầu tăng chậm, dung lợng thị trờng trong nớc không nhiều, thừa hàng hoá “giả tạo”, đình trệ sản xuất kinh doanh là khó tránh khỏi

Những biểu hiện trên, một mặt phản ánh trình độ thấp kém về dung lợng cung cầu hàng hoá và khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trờng Mặt khác nó cũng tạo ra sự bức xúc phải vơn lên vợt qua thực trạng nói trên đa nền kinh tế hàng hoá phát triển cả về số lợng lẫn chất lợng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế hàng hoá ở nớc ta

* Nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế hàng hóa tồn tại nhiều thành phần.

Tiếp cận đặc điểm này của kinh tế hàng hoá theo các khía cạnh sau:

- Nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất là cơ sở kinh tế, gắn liền với sự tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá

- Thực trạng kinh tế hàng hoá kém phát triển ở nớc ta do nhiều nhân tố gây ra, song nhân tố gây ra hậu quả nặng nề nhất là sự nôn nóng xoá bỏ nhanh các thành phần kinh tế, thực chất là xoá bỏ điều kiện tồn tại và phát triển kinh

tế hàng hoá, làm mất khả năng cạnh tranh và tác dụng tích cực của kinh tế hàng hoá

- Nền kinh tế nhiều thành phần là nguồn lực tổng hợp to lớn về nhiều mặt

có khả năng đa nền kinh tế vợt khỏi thực trạng thấp kém, đa nền kinh tế hàng hoá phát triển kể cả trong điều kiện vốn ngân sách Nhà nớc còn hạn hẹp

Trang 10

- Trong nền kinh tế hàng hóa chịu tác dụng của sự thay đổi cơ cấu ngành theo hớng ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng, do vậy lao động dịch

vụ trong ngành dịch vụ có khả năng thu hút nguồn lao động không nhỏ Trong

điều kiện đó, các thành phần kinh tế có khả năng mở rộng, có tác dụng làm cho kinh tế hàng hoá và dịch vụ phát triển, cơ cấu công - nông nghiệp và dịch

vụ sớm hình thành theo định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra

- Đặc điểm này gắn liền với hai khía cạnh đáng lu ý sau đây:

Một là: Nó đảm bảo cho mọi ngời, mọi doanh nghiệp dù ở thành phần

kinh tế nào cũng đều đợc tự do kinh doanh theo pháp luật, đợc pháp luật bảo

hộ quyền sở hữu và quyền thu nhập hợp pháp

Hai là: Các chủ thể kinh tế đều đợc hoạt động kinh doanh theo cơ chế tự

chủ, hợp tác, cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trớc pháp luật

* Nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ cấu kinh tế mở giữa n“ ” ớc ta trên thế giới.

- Cơ cấu kinh tế “khép kín” thờng gắn liền với nền kinh tế phong kiến, gắn với sản xuất nhỏ, với tình trạng “bế quan toả cảng”, tự cung tự cấp, quẩn quanh trong luỹ tre làng Sự ra đời nền kinh tế hàng hoá t bản chủ nghĩa đã làm cho thị trờng dân tộc hoạt động trong sự gắn bó với thị trờng thế giới Nền kinh tế hàng hoá này, có bớc phát triển nhanh chóng tất nhiên không tránh khỏi những khuyết tật nhất định

- Nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế “mở” ra đời bắt nguồn từ quy luật phân bố và phát triển không đều về tài nguyên thiên nhiên, sức lao động

và thế mạnh giữa các nớc; từ quy luật phân công và hợp tác lao động quốc tế,

đời sống mang tính quốc tế hoá Nói chung hiện nay, nền kinh tế hàng hoá của bất cứ nớc nào, muốn phát triển với tốc độ nhanh và hiệu quả lớn, cũng phải xây dựng theo cơ cấu kinh tế mở cửa

- Nền kinh tế hàng hoá theo cơ cấu mở, thích ứng với chiến lợc thị trờng

“hớng ngoại” Thông thờng hoạt động xuất nhập khẩu dựa vào thế mạnh giữa các nớc, nắm bắt đợc những ngành, mặt hàng “mũi nhọn” có tơng lai gắn với công nghệ mới; có mẫu mã mới, cơ cấu phong phú, chất lợng cao và có khả năng cạnh tranh trên thị trờng, nhất là thị trờng quốc tế

* Phát triển kinh tế hàng hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa với vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh và sự quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nớc.

a) Vai trò định hớng xã hội chủ nghĩa của kinh tế quốc doanh

- Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế quốc doanh nhờ nắm giữ

đợc các ngành lĩnh vực then chốt và trọng yếu; nên trở thành nhân tố kinh tế bảo đảm cho kinh tế hàng hóa của các thành phần kinh tế khác phát triển theo

định hớng xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng: 01/05/2016, 23:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w