Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và vận dụng triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục đượ
Trang 1Đề tài: Phép biện chứng duy vật với đường lối tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội của Đảng
CSVN
Chương I Lý luận chung về chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Triết học duy vật cồ đại (Duy vật chất phác thời cổ đại)
Chủ nghĩa duy vật cổ đại còn gọi là chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ,xuất hiện trong chế độ chiếm hữu nô lệ vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VItrước công nguyên với những thành tựu rục rỡ như ở Ân Độ, Trung Hoa, Hy lạp
- La Mã về thế giới quan là duy vật có ý nghĩa chống lại những tư tưởng sai lầmcủa triết học duy tâm và tôn giáo; nhưng về mặt phương pháp luận thì chưa có
cơ sở khoa học, bởi nó mang tính trực quan, cảm tính chủ yếu dựa vào tri thứckinh nghiệm của chính bản thân các nhà triết học hơn là những khái quát khoahọc của bản thân tri thức triết học Vì, quan niệm về thế giới là vũ trụ, là vạn vật,vật chất là vật thể cụ thể hoặc thuộc tính của vật thể cụ thế, v.v còn ý thức làlinh hồn, là cảm giác nhưng nó phụ thuộc vào vật chất
Anghen viết: “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thuỷ, ngây thơ,nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà triết học Hy lạp thời cố, vàngười đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Héraclite: mọi vật đều tồntại nhưng đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều khôngngừng thay đối, mọi vật đều luôn ở trong quá trình xuất hiện và biến đi”
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết họcduy vật cổ đại Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này trong khi thừa nhận tính thứ nhấtcủa vật chất và đã đồng nhất vật chất với một số dạng vật chất cụ thể hoặc thuộctính của nó Những kết luận của chủ nghĩa duy vật cổ đại còn mang nặng tínhtrực quan, ngây thơ, chất phác Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng chủ nghĩa duy vậtchất phác cố đại về cơ bản là đúng vì nó đã lấy giới tụ’ nhiên đế giải thích vềgiới tự’ nhiên, không viện đến thần linh hay Thượng đế
Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức
Siêu hình là thuật ngữ triết học phản ánh khuynh hướng phát triển của triếthọc duy vật tù' thời kỳ phục hưng đến thời cận đại, còn được gọi là triết học tự
Trang 2nhiên Xét về mặt thế giới quan là duy vật, nhưng về phương pháp luận lại ảnhhưởng bởi phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên (phương pháp thựcnghiệm) của thời kỳ này, nhất là khoa học vật lý.
Chủ nghĩa duy vật siêu hình xuất hiện từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII vàđỉnh cao ở thế kỷ XVII - XVIII Trước đây, tri thức của các lĩnh vực khoa họccòn là một bộ phận trực tiếp của triết học Đen thời kỳ này nảy sinh nhu cầu cácngành hoa học cụ thế tách ra khởi triết học trở thành các ngành khoa học cụ thế,độc lập; dùng phương pháp nghiên cứu thật chi tiết nhằm phát hiện các thuộctính, những qui luật của vật chất như tính năng, tác dụng, độ bền vật liệu
Từ đó làm xuất hiện phương pháp mới trong khoa học tự nhiên - phươngpháp thực nghiệm và cũng trên cơ sở đó xuất hiện sự thống trị của phương pháp
tư duy siêu hình trong triết học duy vật Phương pháp siêu hình xem xét sự vậttrong trạng thái cô lập, tĩnh tại, không vận động, không biến đổi
Triết học duy vật thời kỳ này đại diện cho những tư tưởng của giai cấp tưsản tiến bộ, họ đã tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa kinh viện, nhà thờ trung
cổ Trong số các đại biếu cơ bản của triết học duy vật thời kỳ này là triết học duyvật Pháp với những quan điểm của Metri (La Mettrie), Điđơrô (Diderot Denis),Hônbách (Holbach Paul Henri), chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩaduy vật, do Mác - Anghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đóđược Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước
đó và vận dụng triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủnghĩa duy vật chất phác cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII,đồng thời phát triển CNDV lên một tầm cao mới, nó đã thế hiện được sự thốngnhất giữa thế giới quan duy vật khoa học và phương pháp nhận thức khoahọc.Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực màcòn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiệnthực đó
Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triến những thành tựu quan trọngnhất của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việcxem xét tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người
Trong triết học Mác-Lênin, lý luận duy vật biện chứng và phương phápbiện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất đó làm cho chủ
Trang 3nghĩa duy vật trở nên triệt đế và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học.Nhờ đó, triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự’ nhiên, xã hội
và tư duy Phép biện chứng duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn
là lý luận về thế giới quan Hệ thống quan điếm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trởthành những nguyên tắc xuất phát điếm của phương pháp luận
Triết học Mác - Lênin còn được coi là hệ thống các nguyên lý, phạm trù,quy luật cơ bản của phép biện chứng và sự vận dụng nó trong việc nghiên cứulịch sử và nghiên cứu con người Cho nên triết học Mác - Lênin còn được gọi làchủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Nghiên cứu triết học Mác - Lênin thực chất là việc khẳng định ý nghĩabước ngoặt cách mạng do Mác thực hiện trong lịch sử triết học và được Lênin bốsung phát triến thêm
Triết học Mác - Lênin không chỉ giải thích về thế giới vật chất và vai tròcon người về mặt lý luận mà chủ yếu là sự vận dụng nó trong hoạt động thựctiễn xã hội để khẳng định vai trò của triết học đối với đời sống xã hội
Sự hình thành và phát triến của phép biện chứng duy vật Mác - Lênin đãbao hàm sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận khoahọc
Sự hình thành những quan điếm duy vật lịch sử của triết học Mác - Lêninđược coi là cơ sở lý luận về mặt thế giới quan duy vật và phương pháp luận khoahọc đế nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu con người Đó cũng là việc khắng địnhsản xuất vật chất được coi là cơ sở đối với sự tồn tại, vận động phát triển của xãhội, khắng định con người là chủ thế của lịch sử, khắng định quần chúng nhândân là lực lượng sáng tạo chân chính của lịch sử, đồng thời nhấn mạnh vai tròquyết định tồn tại của xã hội, ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức
xã hội
Triết học Mác - Lênin giải quyết mối quan hệ triết học và khoa học hiệnđại trên cơ sở nghiên cứu của triết học Song, nó cũng là hệ tư tưởng của giai cấpcông nhân thế giới, là cơ sở lí luận cho sự hoạt động của đảng cộng sản trongquá trình đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới, và quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội
Triết học Mác ra đời đã làm thay đối mối quan hệ giữa triết học và khoahọc; sự phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết học
Trang 4Ngược lại, triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan và phương pháp luậnđúng đắn cho sự phát triến khoa học.
Ngày nay, khi khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ thì sự gắn bógiữa triết học Mác - Lênin và khoa học càng trở nên đặc biệt quan trọng Lý luậntriết học sẽ khô cứng và lạc hậu nếu tách rời các tri thức khoa học chuyên ngành.Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tưduy biện chứng thì trước những phát hiện mới, người ta dễ mất phương hướng
và đi đến những kết luận sai lầm về mặt triết học
Đời sống xã hội hiện đại đang có những biến đối sâu sắc; việc nắm vữngtriết học Mác - Lênin giúp chúng ta tự giác trong quá trình trao dồi phấm chấtchính trị, tinh thần và năng lực tư duy sáng tạo của mình, tránh những sai lầm dochủ nghĩa chủ quan và phương pháp tư duy siêu hình gây ra
Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là đơn thuốc vạn năng có thểgiải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống Bởi vậy trong hoạt động nhận thức vàthực tiễn cần tránh cả hai khuynh hướng sai lầm: hoặc xem thường triết học hoặc
là tuyệt đối hoá vai trò của triết học Neu xem thường triết học sẽ rơi vàotìnhtrạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, dễ mấtphương hướng, thiếu chủ động và sáng tạo
Còn nếu tuyệt đối hoá vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều,
áp dụng máy móc những nguyên lý, quy luật chung mà không tính đến tình hình
cụ thể trong những trường hợp riêng, dẫn đến những vấp váp, dễ thất bại
1.2 Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
1.2.1 Hai nguyên lí của phép biện chứng duy vật
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Khái niệm mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Nội dung của nguyên lý
- Các sự vật, hiện tượng trong thế giới có mối liên hệ với nhat không? Nếu có thì tính chất của các mối liên hệ đó như thế nào và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này như thế nào?
- Phép siêu hình cho rằng: các sự vật, hiện tượng trong TGKQ không có liên hệ
gì với nhau, chúng tồn tại một cách biệt lập nhau Do đó, không có sự tác động qua lại, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau Đây là một quan niệm sai lầm, không
Trang 5phản ánh đúng bản chất của thế giới.
VD: Trong tự nhiên: Giới tự nhiên là một thể thống nhất, nó phụ thuộc lẫn nhau
Nếu một loài sinh vật tuyệt chủng thì mắt xích của sự sống trên thế giới
sẽ bị tổn thương
Trong xã hội, các sự kiện kinh tế - chính trị ở một quốc gia nào đó
không chỉ ảnh hưởng đến quốc gia đó mà còn lan tỏa khắp thế giới
Về tư duy, các truyền thống, phong tục tập quán ảnh hưởng rất mạnh mẽtrong cộng đồng Hay như ông cho có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
- Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như cá bộ phận của chúng không tồn tại biệt lập với nhau mà có sự liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù mối liên hệ phổ biến để khái quát thực trạng trên
- Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới Trên cơ
sở đó, phép biện chứng duy vật xem xét thế giơi như một chỉnh thể Theo đó, các
sự vật, hiện tượng dù có phong phú, đa dạng thế nào thì cũng chỉ là những dạng
cụ thể của một thế giới duy nhất và thống nhất – thế giới vật chất
- Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các bội phận, yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng luôn tồn tạitrong những mối liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chủ yếu được bộc
lộ thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng Để thấy rõ hơn nội dung này, hãy xem xét các khía cạnh sau:
- Về sự tồn tại của các mối liên hệ:
+ Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay ở ý thức, cảm giác của con người
+ Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên
Tuy nhiên cũng có một số người cho rằng, các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình thức liên
hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau
+ Những người theo quan điểm biện chứng duy vật cho rằng: các sự vật, hiện
Trang 6tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù
có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất Nhờ cótính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại
trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định
- Về vai trò của các mối liên hệ:
+ Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau
+ Do sự tồn tại cũng như bản chất của sự vật hiện tượng cũng chỉ bộc lộ qua các mối quan hệ, cho nên, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thưc, chúng
ta không được tuyệt đối hóa, hay xem nhẹ một mối quan hệ nào, cũng không nêntách rời các mối qaun hệ với nhau mà phải tính đến tổng thể các mối liên hệ
trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Tính chất của mối liên hệ:
Gồm 3 tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú
- Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi
sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức con người
- Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những
sự vật hiện tượng khác Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần,
những yếu tố khác
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, hiện
tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau Phát triển có thể từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
VD: sự học tập phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; sự sống phát triển từ đơn giản (đơn bào) đến phức tạp (động vật)
Nguyên lý về sự phát triển
Nội dung nguyên lý:
Trang 7Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như các bộ phận của chúng không tồn tại một cách tĩnh tại, bất biến mà luôn vận động, chuyển hóa lẫn nhau,
sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù phát triển để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng
- Cơ sở của nguyên lý này là quan niệm về vật chất vận động, theo đó, vật chất luôn luôn vận động, không có vận động nào lại không phải là vận động của vật chất; vận động là thuộc tính của sự vật, là phương thức tồn tại của vật chất
- Nội dung cơ bản của nguyên lý về sự phát triển được thể hiện ở những điểm sau:
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động, phát triển, trong
đó phát triển được xem như trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá
trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới cao hơn, hoàn thiệnhơn Phương thức của sự phát triển là sự thay đổi về chất trên cơ sở những thay đổi về lượng Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là những mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng, khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường “xoáy ốc”
- Để hiểu rõ nội dung này, chúng ta hãy xem xét cá khía cạnh sau:
+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có
sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới
+ Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dầndần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoắn
ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lập lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ caohơn
+ Quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển, họ cho rằng mọi sự vật, hiện
tượng từ lúc sinh ra cho đến lức mất đi không hề phát triển
Trang 8- Sự phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là
nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan
- Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú Phát triển là khuynh hướng
chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau
1.2.2 Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
- Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất
- Nguyên nhân và kết quả
- Tất nhiên và ngẫu nhiên
- Nội dung và hình thức
- Bản chất và hiên tượng
- Khả năng và thực hiện
1.2.3 Một số quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Nguyên lý về sự phát triển bao gồm: Quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng chất và quy luật phủ định Trong đó:
- Quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển
Quy luật lượng - chất chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển
Quy luật phủ định chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển
Ba quy luật cơ bản này còn có ý nghĩa trong nhận thức và hành động
Những kết luận về mặt phương pháp luận của nó luôn được coi là "kim chỉ nam"cho hoạt động cách mạng của những người cộng sản
1.2.3 Bản chất của CN duy vật biện chứng
a Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điếm thực tiễn.
Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy tồn tại Ở đây, mốiquan hệ này được hiểu là mối quan hệ giữa ý thức và vật chất, vấn đề này, trongkhi chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, coi ý thức là nguồn gốccủa vật chất, sản sinh ra vật chất thì việc khẳng định bản chất của thế giới là vậtchất, chủ nghĩa duy vật trước Mác đã góp phần không nhỏ vào việc chống lạichủ nghĩa duy tâm, đặt nền móng cho sự phát triến của chủ nghĩa duy vật saunày Song, hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước Mác là duy vật khôngtriệt đế (duy vật về tự’ nhiên nhưng duy tâm về xã hội) và không thấy được sựtác động trở lại của ý thức đổi với vật chất
Trang 9Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên, song nguyên nhân chủyếu và cũng là "khiếm khuyết chủ yếu" là các nhà duy vật trước Mác thiếu quanđiếm thực tiễn.
Thực tiễn, với tư cách là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mangtính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo hiện thực mà những dạng cơ bảncủa nó là hoạt động thực nghiệm khoa học, được các nhà duy vật biện chứng coi
là hoạt động bản chất của con người Hoạt động này là mắt khâu trung gian trongmối quan hệ ý thức của con người với thế giới vật chất
Thông qua thực tiễn, ý thức con người được vật chất hoá, tư tưởng trởthành hiện thực Thông qua thực tiễn, ý thức con người đã không chỉ phản ánhthế giới mà còn "sáng tạo thế giới" C.Mác cho rằng thực tiễn là nơi con ngườichứng minh sức mạnh, chứng minh tính hiện thực và tính trần tục của tư duy
Bằng việc đưa quan điểm thực tiễn vào hoạt động nhận thức, đặc biệt việcthấy vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và pháttriển của xã hội, các nhà duy vật biện chứng đã khắc phục được hạn chế của chủnghĩa duy vật trước đó đế giải quyết thoả đáng vấn đề cơ bản của triết học Ởđây, trong khi khắng định vai trò quyết định của các yếu tố vật chất, các nhà duyvật biện chứng đã "không loại trừ việc các lĩnh vực tư tưởng, đến lượt chúng, lại
có tác động trở lại, nhưng là tác động cấp hai lên những điều kiện vật chất ấy ";không loại trừ việc các lĩnh vục tư tưởng" cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất,một khi nó thâm nhập vào quần chúng"
b Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng
Trước Mac, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản bị tách rờinhau Chủ nghĩa duy vật tuy có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng nhấtđịnh, nhưng nhìn chung phương pháp siêu hình giữ vai trò thống trị, đặc biệttrong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII
Trong khi đó, phép biện chứng lại đạt đến trình độ đỉnh cao ở chủ nghĩaduy tâm với quan niệm về sự phát triến của "ý niệm tuyệt đối" trong triết học cốđiển Đức
Việc tách rời giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng đã không chỉlàm các nhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật trước Mác không hiếu về mốiquan hệ phố biến, về sự thống nhất và nối tiếp nhau của các sự vật, hiện tượngtrong thế giới vật chất
Trang 10Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, vớiviệc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C.Mác vàPh.Angghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứuphép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí đế hình thành nên chủ nghĩa duyvật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phépbiện chứng Sự thống nhất này đã đem lại cho con người một quan niệm hoàntoàn mới về thế giới - quan niệm thế giới là một quá trình với tính cách là vậtchất không ngừng vận động, chuyến hoá và phát triến.
c Quan niệm duy vật triệt để
Bất kỳ một học thuyết triết học nào cũng phải thế hiện quan niệm củamình về tự' nhiên xã hội
Khi giải quyết những vấn đề tụ’ nhiên, chủ nghĩa duy vật trước Mác đứngtrên quan điểm duy vật vì các nhà duy vật đều khẳng định sự tồn tại của thế giớivật chất và thừa nhận tính thứ nhất của vật chất Song, vì không hiếu đúng về vậtchất, không hiếu đúng về nguồn gốc, bản chất của ý thức, thiếu quan điếm thựctiễn, thiếu phương pháp tư duy biện chứng và một số hạn chế về xã hội, các nhàduy vật trước Mác đã lấy các yếu tố tinh thần như tình cảm, ý chí, nguyện vọng,v.v làm nền tảng Vì vậy, chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vậtkhông triệt đê
Khẳng định nguồn gốc vật chất của xã hội; khẳng định sản xuất vật chất là
cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt
xã hội, chính trị và tinh thần nói chung; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội vàcoi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chủnghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính không triệt đế đế chủ nghĩaduy vật cũ V.I.Lênin nhận định rằng: "Trong khi nhận thức sâu và phát triển chủnghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở rộnghọc thuyết ấy tù’ chồ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loạingười Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mac là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởngkhoa học"
Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử là cuộc cách mạng đối với quanniệm về xã hội, nó đem lại cho con người một công cụ vĩ đại trong việc nhậnthức và cải tạo thế giới
d Tính thực tiễn - cách mạng
Tính thực tiễn - cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng trước hết thểhiện ở:
Trang 11- Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản
Giai cấp vô sản là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại; nó
có lợi ích, có mục đích phù hợp với lợi ích cơ bản, mục đích cơ bản của nhândân lao động và sự phát triển của xã hội Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời đãđược giai cấp vô sản tiếp nhận như một công cụ định hướng cho hành động, như
vũ khí lý luận trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng toàn thểnhân loại Công cụ định hướng này, vũ khí lý luận này đã tạo nên bước chuyểnbiến về chất của phong trào công nhân từ trình độ tự phát lên trình độ tự giác.C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định: giống như chủ nghĩa duy vật biện chứng thấygiai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy chủ nghĩaduy vật biện chứng là vũ khí tinh thần của mình nên ngay từ đầu, khuynh hướngmới, coi lịch sử phát triến của lao động là chìa khoá đế hiếu toàn bộ lịch sử của
xã hội, đã chủ yếu hướng về giai cấp vô sản và đã được giai cấp vô sản dành chomột sự hưởng ứng mà nó không tìm thấy và không mong chờ có được ở một nơinào khác
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóngvai trò cải tạo thế giới
Bất kỳ một học thuyết triết học nào cũng không trực tiếp làm thay đổi thếgiới, mà thông qua tri thức về thế giới, con người hình thành mục đích, phươnghướng, biện pháp, v.v chỉ đạo hoạt động của mình tác động vào thế giới
Bất kỳ học thuyết triết học nào cũng phải giải thích thế giới, song đế thựchiện được vai trò cải tạo thế giới học thuyết phải phản ánh đúng thế giới, phảiđịnh hướng hoạt động con người phù hợp với quy luật, phải được quần chúngnhân dân tin và hành động theo Nội dung và bản chất của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng đáp ứng được yêu cầu này
Sức mạnh cải tạo thế giới của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện ởmối quan hệ mật thiết với hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, vớicuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên mọi lĩnh vục
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định sự tất thắng của cái mới Theochủ nghĩa duy vật biện chứng, trong quan niệm về tính hợp lý của cái hiện tồn đãbao hàm cả quan niệm về sự phủ định, sự diệt vong tất yếu của cái hiện tồn đó
Ph.Ăngghen cho rằng không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng
cả Trên cả sự vật và trong mọi sự vật đều mang dấu ấn của sự suy tàn tất yếubởi không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và tiêuvong, của sự tiến triển vô cùng từ thấp đến cao
Trang 12Tính cách mạng sâu sắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng thế hiện quaviệc nó phản ánh đúng đắn các quy luật chi phối sự vận động và phát triển; qua
đó, quá trình xoá bỏ cái cũ, cái lỗi thời để xác lập cái mới, cái tiến bộ là tất yếu
Nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng thế hiện phong phú,
đa dạng qua mồi luận điểm của nó song có thế khái quát thành tư tưởng cơ bản
Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất; trong thếgiới vật chất, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức song ý thức cóthế tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là kếtquả của sự tư biên mà là thành tựu hoạt động thực tiễn, thành tựu tư duy khoahọc của nhân loại trong quá trình phản ánh thế giới Trên tinh thần ấy có thếkhẳng định chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở lý luận của thế giới quan khoahọc
Song, chủ nghĩa duy vật biện chứng là hệ thống mở nên chúng ta khôngcoi nó như một cái gì đó đã xong xuôi hẳn, bất khả xâm phạm mà coi nó luôncần được bố sung, phát triến trên nền tảng phát triến của hoạt động thực tiễn vàhoạt động nhận thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là giáo điều mà là kim chỉ namcho hành động, nó đặt ra những yêu cầu có tính nguyên tắc phương pháp luận
mà từ những nguyên tắc ấy con người phải vận dụng sáng tạo sao cho phù hợpvới tùng hoàn cảnh lịch sử cụ thế
Trang 13Chương 2: Phép biện chứng duy vật với đường lối tăng trưởng kinh
tế và đảm bảo công bằng xã hội của Đảng CSVN 2.1 Phép biện chứng duy vật với đường lối tăng trưởng kinh tế của Đảng CSVN
2.1.1 Vài nét về lý luận tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế đó là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng thực tế đượctính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trongmột thời kỳ nhất định, thường là một năm
Tăng trưởng kinh tế, xét ở đầu vào là do 3 yếu tố: Số lượng vốn đầu tư, sốlượng lao động và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) mà chủ yếu là: Tiến bộcông nghệ, kỹ thuật, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào là lao động, vốn đầu
tư Tăng trưởng kinh tế dựa vào 2 yếu tố đầu là sự tăng trưởng theo bề rộng(tăng trưởng về số lượng), còn dựa vào yếu tố thứ 3 đó là tăng trưởng về chấtlượng (phát triển theo chiều sâu) Do đó, tăng trưởng kinh tế được xem xét dưới
2 góc độ: Số lượng và chất lượng
Trong nền kinh tế thị trường, tăng trưởng kinh tế về mặt lượng được đánh
giá chủ yếu thông qua các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tàikhoản quốc gia (SNA) bao gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốcnội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI),trong đó, GDP thường là chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng phổ biếnnhất
Tăng trưởng kinh tế về mặt chất lượng, đó là sự biến đổi về quy mô, cơ
cấu, chất lượng của nền kinh tế gắn với việc đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội,
sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường Đây cũng là 3 nhóm chỉ tiêu trụ cột của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Chất lượng tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện trên các mặt sau: (1) Tốc độ tăng trưởng cao và
được duy trì trong một thời gian dài, (2) Nền kinh tế phát triển có hiệu quả thểhiện ở năng suất lao động cao, hiệu quả sử dụng vốn cao, sức cạnh tranh của nềnkinh tế cao, (3) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hiện đại; (4)Tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tiến
bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái…
Ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới đã lựa chọn mô hình tăng trưởngchú trọng cả lượng và chất của quá trình tăng trưởng
Trang 142.1.2 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam
Một nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm, phát triển cân đối, bền vữnghay không ổn định nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố quản lí của nhà nước có vai tròquan trọng nhất, quyết định đến sự phát triển của thị trường và toàn bộ nền kinh
tế Nước ta đang trong thời kì quá độ đi lên CNXH, nhiệm vụ hang đầu hiện nay
là phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân Chúng ta đang xây dựng vàhoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tuy nhiên nền kinh tế thịtrường có nhiều khuyết tật không thể khắc phục được như khủng hoảng, lạmphát, thất nghiệp, đặc biệt khủng hoảng chu kì ngày càng bị rút ngắn đã đặt racho nền kinh tế những hậu quả mà nó không tự giải quyết được Những hậu quả
đó buộc nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế để khắc phục những khuyết tật
do nó gây ra
Một số thành tựu đạt được:
* Tăng trưởng kinh tế ở nước ta có tầm quan trọng hàng đầu không chỉ donước ta có điểm xuất phát thấp (kinh tế - kỹ thuật, xã hội ) đi lên CNXH, phảităng trưởng nhanh để sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển, rút ngắn khoảngcách tụt hậu về kinh tế, khoa học – công nghệ so với các nước trong khu vực vàthế giới, mà chỉ có tăng trưởng nhanh mới có thể thực hiện được các mục tiêuphát triển xã hội như, tạo việc làm, tăng thu nhập của dân cư, xóa đói giảmnghèo, phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội
* Trong gần 25 năm qua (1986-2011), nền kinh tế Việt Nam đã có số tăng
trưởng liên tục, tốc độ cao, khá ấn tượng và rất đáng tự hào Thể hiện thời kỳChiến lược 1991-2000 đạt 7,4%/năm và thời kỳ 10 năm 2001-2010 đạt7,2%/năm Tính từ năm 1976 đến nay, thời gian tăng trưởng liên tục của nềnkinh tế Việt Nam là gần 30 năm, vượt kỷ lục 23 năm của Hàn Quốc
Nhờ có sự tăng trưởng liên tục và cao trong nhiều năm:
+ Quy mô của nền kinh tế đã lớn lên đáng kể Tổng sản phẩm trong nước(GDP) năm 2010 theo giá so sánh gấp 2 lần so với năm 2000, theo giá thực tếgấp 3,4 lần Kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 4 lần/năm 2000 Năm 2010,GDP/người/năm đạt 1.200 USD (năm 1990 là gần 100 USD)
+ Tăng trưởng kinh tế ngay sau khi đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏikhủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất
đã đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển và bước vào nhómnước đang phát triển có nhu nhập trung bình thấp theo xếp hạng của WB
Trang 15+ Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá.
+ Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khánhanh, vượt mức dự kiến trên 30% so với kế hoạch
+ Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựngbước đầu, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
+ Hội nhập kinh tế và kinh tế quốc tế có nhiều bước chuyển biến quantrọng
+ Tăng trưởng kinh tế đã góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội bứcxúc: Lao động, việc làm, thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, xóa đói giảmnghèo, thực hiện an sinh xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội từng bước đượcthực hiện
+ Nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu, đầy đủ vào nền kinh tếkhu vực và thế giới Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, thế và lực của nước tavững mạnh thêm nhiều, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao
Ngoài ra vẫn tồn tại các mặt yếu kém như:
* Tuy nhiên, nhìn nhận một các khách quan có thể thấy rằng tốc độ pháttriển kinh tế chưa thật tương xứng với tiềm năng và cơ hội mà đất nước đã cóđược Tăng trưởng kinh tế trong những năm qua vẫn chủ yếu theo bề rộng, chưachú trọng phát triển theo chiều sâu, chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả củatăng trưởng hạn chế, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sảnphẩm hàng hóa còn thấp kém Cụ thể:
(1) Tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên,tăng vốn đầu tư và lao động rẻ Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các ngành tăngtrưởng thuần túy dựa vào khai thác, sử dụng tài nguyên như các ngành nông,lâm, thủy sản, khai thác luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn khoảng 30% GDP tronggiai đoạn 1991-2009 Động lực của tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế làcác ngành công nghiệp gia công, lắp ráp có tỷ lệ chi phí trung gian cao, phụ
thuộc vào nhập khẩu tiêu tốn ngoại tệ, thường gây ô nhiễm môi trường và khu
vực dịch vụ chưa có tăng trưởng rõ rệt Kim ngạch xuất khẩu gia tăng nhanh,nhưng cơ cấu xuất khẩu thay đổi chậm, chủ yếu là xuất hàng thô, sơ chế, khoángsản, năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu thấp
(2) Hiệu quả và chất lượng đầu tư thấp (chất lượng tăng trưởng thấp)
Trang 16+ Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, vùng kinh tế ngàycàng dựa nhiều và vốn FDI, nhưng nguồn vốn này phân bổ không đều, chấtlượng chưa cao và cũng chưa đóng góp nhiều vào chất lượng tăng trưởng.
+ Đầu tư dàn trải, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, hiệu quả sử dụng các nguồnvốn đầu tư thấp, nhất là nguồn vốn đầu tư của nhà nước Hiệu quả đầu tư thểhiện ở chỉ số ICOR (tỷ lệ vốn đầu tư/GDP) có xu hướng tăng cao trong thời kỳ1991-2009 Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê, giai đoạn (1991-1995), bình quân là 3,5; giai đoạn (1996-2000) là 4,8; giai đoạn (2001- 2005):5,1; trong hai năm 2008, 2009 là 8,0 Chỉ số ICOR cao đồng nghĩa với hiệu quảđầu tư thấp và sụt giảm, năng lực cạnh tranh giảm Theo khuyến cáo của WB hệ
số ICOR 3,0 là hệ số phản ánh đầu tư có hiệu quả và nền kinh tế phát triển theohướng bền vững đối với các nước đang phát triển Điều muốn nói là ở khu vựcđầu tư công, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước hệ số ICOR rất cao, năm
2009 có thể lên đến 12,0, trong khi đó ICOR chung của nền kinh tế là 8,0
(3) Những nền tảng cơ bản của tăng trưởng (ổn định kinh tế vĩ mô, thể chếkinh tế - xã hội, giáo dục và y tế cơ bản, cơ sở hạ tầng) còn nhiều bất cập, nănglực cạnh tranh chậm được cải thiện Các yếu tố đóng góp vào việc gia tăng chấtlượng tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (chất lượngnguồn nhân lực, hiệu quả các thị trường nhân tố sản xuất: lao động, đất đai, côngnghệ; năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ) còn thiếu và yếu
Theo Báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) khi khảo sát 133 vùnglãnh thổ và quốc gia thì Việt Nam có chỉ số rất thấp về chất lượng cơ sở hạ tầng
(111/133), chất lượng đường sá (120/133), chất lượng cung cấp điện (103/133), chi phí cho giáo dục cơ sở (103/133), chất lượng các trường đào tạo
và quản lý (11/133)
Theo Báo cáo của WEF về năng lực cạnh tranh toàn cầu, năng lực cạnhtranh của Việt Nam từ 2001 đến nay hầu như không được cải thiện, thậm chíViệt Nam còn bị tụt hạng về năng lực cạnh tranh trong năm 2008, 2009 Năm
2009 xếp thứ 75/133 nước tham gia xếp hạng; năm 2008: 70/134 nước Như vậynăm 2009 năng lực cạnh tranh bị tụt 5 hạng so với năm 2008
(4) Trên thực tế, việc gắn kết giữa tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xãhội còn chưa chặt chẽ Tăng trưởng kinh tế cao, nhưng chưa bền vững, tăngtrưởng chưa gắn chặt với giảm nghèo, tăng trưởng cũng làm phát sinh nhiều vấn
đề xã hội bức xúc: việc làm cho người lao động, phân hóa giàu nghèo gia tăng,
sự chênh lệch về trình độ phát triển, về thu nhập giữa các vùng, miền ngày
Trang 17càng lớn, môi trường bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng, tệ nạn xã hội vẫndiễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng, đặc biệt là tệ nạn ma túy, mại dâm
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X và Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) Đảng ta đã rút ra bài họckinh nghiệm: Phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và pháttriển bền vững, nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc
độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô
2.1.3 Đề xuất một số biện pháp xây dựng đường lối tăng trưởng kinh tế VN dựa trên phép biện chứng duy vật
2.1.3.1 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là xu hướng phát triển hiện đại bảo đảm sự hài hòagiữa kinh tế - xã hội- môi trường, giữa các ngành, lĩnh vực, các vùng lãnh thổ,giữa trước mắt và lâu dài và giữa các thế hệ Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới
về phát triển xã hội, họp tại Côphahaghen, Đan Mạch (tháng 3-1995), cácnguyên thủ quốc gia đã đưa ra mục tiêu phát triển không chỉ là phát triển kinh tếđơn thuần mà phải phát triển xã hội, phát triển con người trong sự cân đối hàihòa giữa đời sống vật chất và phát triển con người vừa an toàn, vừa bền vững
Phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết mang tính toàn cầu, trởthành xu thế khách quan của thế giới ngày nay, và cũng là thách thức lớn đối vớicác quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Việc lựa chọn con đường, biện pháp và thể chế, chính sách đảm bảo sựphát triển bền vững luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia (trong
đó có Việt Nam) trên con đưòng phát triển
Ở nước ta, từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng đến Đại hội lần thứ XI đều đãnhất quán đường lối phát triển bền vững Trong đường lối phát triển của ViệtNam, khái niệm ''định hướng XHCN” chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi mang ''nộihàm'' phát triển bền vững, vì sự tiến bộ xã hội, sự phát triển tự do và toàn diệncủa mỗi cá nhân Đảng và nhà nước ta đã đưa ra định hướng Chiến lược pháttriển bền vững, với mục tiêu cơ bản đảm bảo sự hài hòa giữa con người và tựnhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa 3 mặt: Phát triển kinh
tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Với nguyên tắc: Con người là trungtâm của sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân.Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu ra quan điểm phát triển có tính hàng đầu là
Trang 18phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầuxuyên suốt trong Chiến lược.
2.1.3.2 Đổi mới mô hình tăng trưởng
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, phát triển kinh tế tri thức và trongđiều kiện nước ta đã hội nhập sâu, đầy đủ vào nền kinh tế thế giới thì tư duy pháttriển phải có sự thay đổi một cách cơ bản là: Chủ yếu dựa và tri thức, công nghệmới, lấy tri thức làm cơ sở, dựa vào hội nhập quốc tế để phát triển và kết hợp hàihòa giữa yêu cầu ''theo tiếp thời đại'' với yêu cầu giữ vững định hướng XHCNtrong quá trình phát triển
Đại hội lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: ''Đổi mới mô hình tăng trưởng và
cơ cấu kinh tế từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hài hòa giữachiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng chất lượng, hiệuquả''
Có thể hiểu và cụ thể hóa như sau:
(1) Bảo đảm sự hài hòa giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng
- Phấn đấu ổn định kinh tế vĩ mô, giữ tốc độ tăng GDP hợp lý, cao và ổnđịnh trong dài hạn
- Chú trọng đến chất lượng tăng trưởng
+ Nâng cao hiệu quả các nguồn vốn đầu tư: Giảm chỉ số ICOR, phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động xã hội, tăng mứcđóng góp của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)
+ Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm
+ Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Đây là một nội dung của chấtlượng tăng trưởng Phát triển giáo dục - đào tạo và y tế - Hai lĩnh vực thể hiện rõtiến bộ xã hội Đồng thời tạo điều kiện cơ hội đảm bảo sự bình đẳng cho mọingười tiếp cận giáo dục - đào tạo và y tế
(2) Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phụtrợ
Phát triển mạnh công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng,sức cạnh tranh, tạo nền tảng cho một nước công nghiệp theo hướng; Tăng hàmlượng khoa học - công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm; ưu tiên,chọn lọc phát triển các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ cao để đến năm
2015, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 35% trong tổng giá trị