1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn thương mại điện tử ứng dụng của thiết bị di động

22 518 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 62,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nắm bắt được xu hướng và thói quen người dùng, đã có nhiều công ty ở ViệtNam trong đó có GrabTaxi, Sendo.vn và Zalora Việt Nam đã thấy được tiềm năngcho thương mại điện tử trên nền tảng

Trang 1

2.3.1 Thanh toán qua thiết bị di động (mpayment)

2.3.2 Mua vé qua thiết bị di động

2.3.3 Trang Web di động

2.3.4 Dịch vụ phụ thuộc vị trí

2.3.5 Thiết bị di đông trong lĩnh vực y tế

Trang 2

I Lời mở đầu

Thương mại di động, hay còn gọi là m-commerce được định nghĩa năm

1997 như là "Sự phân phối hàng hóa thương mại điện tử trực tiếp tới tay người tiêudùng, ở bất cứ đâu, thông qua công nghệ không dây."

Theo BI Intelligence thống kê vào tháng 1 năm 2013, 29% người dùng điện thoại diđộng đã thực hiện mua hàng qua di động của họ Walmart ước lượng khoảng 40%lượt khách hàng ghé thăm trang Web mua sắm trực tuyến Walmart thông qua thiết

bị di động Ngân hàng Bank of America dự đoán sẽ có khoảng 67,1 tỷ USD được

sử dụng để mua sắm thông qua những thiết bị di động tại Châu Âu và Mỹ vào năm2015

Nền tảng di động đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và số lượng người dânViệt Nam được tiếp cận smartphone ngày càng nhiều hơn Và theo thống kê hiệntại, 34% dân số Việt Nam truy cập internet bằng di động, 1/3 số thời gian onlinecũng từ thiết bị di động, như vậy có thể thấy thói quen sử dụng internet của ngườidùng đã dần chuyển từ máy tính sang thiết bị di động

Nắm bắt được xu hướng và thói quen người dùng, đã có nhiều công ty ở ViệtNam trong đó có GrabTaxi, Sendo.vn và Zalora Việt Nam đã thấy được tiềm năngcho thương mại điện tử trên nền tảng di động là rất lớn và quyết định đầu tư vàomảng ứng dụng thông minh trên di động trong những năm qua

Một mô hình thương mại điện tử khác hiện đang phổ biến tại Việt Nam làSàn giao dịch thương mại điện tử cũng đang có những bước chuyển mình để địnhhướng đầu tư vào nền tảng di động Các ứng dụng xoay quanh mô hình C2C đượcchia thành 2 nhóm chính: Nhóm các doanh nghiệp phát triển giải pháp di động dựatrên nền tảng cộng đồng người tiêu dùng đã có sẵn trên các nền tảng web; Nhómcác doanh nghiệp chưa có tập khách hàng sẵn mà tận dụng lợi thế phát tán nhanhcủa nền tảng di động để quảng bá ứng dụng và xây dựng cộng đồng người mua vàbán

Đầu tư vào nền tảng di động phục vụ cho giao dịch B2C được nhiều doanhnghiệp bán hàng xác định là hướng đầu tư chiến lược trong tương lai, thể hiện ở tỷ

lệ đầu tư vào nền tảng di động chiếm tới 68% trong cơ cấu đầu tư vào nghiên cứucác nền tảng công nghệ mới Tuy nhiên, cơ cấu đầu tư vẫn tập trung chủ yếu vàohoạt động truyền thông, chiếm 73%, trong khi đầu tư vào công nghệ chỉ chiếm27% Đối với hoạt động bán hàng B2C, thống kê từ doanh nghiệp và các giao dịchthực tế cho thấy tỷ lệ người tiêu dùng truy cập thông qua các thiết bị di động nhưsmartphone, tablet chiếm 28%, tuy nhiên số lượng giao dịch được thực hiện thôngqua các thiết bị di động chỉ chiếm 13%

Trang 3

Các kết quả khảo sát trên cho thấy, thương mại điện tử trên nền tảng di động(mobile e-commerce) đang thực sự từng bước đi vào sâu trong lĩnh vực bán lẻ vớivai trò chuyển đổi từ một kênh liên lạc sang vai trò kênh tương tác giữa nhà bán lẻ

và người tiêu dùng Khả năng tiếp nhận từ phía người tiêu dùng là rất khả quan, do

đó vấn đề đối với các nhà bán lẻ là phải giải quyết hài hòa bài toán công nghệ vàđảm bảo dịch vụ thương mại cốt lõi của doanh nghiệp

Dịch vụ nội dung số trên thiết bị di động tại Việt Nam được triển khai rất đadạng với nhiều nhóm nội dung phong phú, tuy nhiên nếu phân theo phương thứcthanh toán thì có 2 nhóm chính: Người dùng trả phí trực tiếp và sử dụng cho từngnội dung số Người dùng đăng kí thuê bao để sử dụng dịch vụ nội dung số trựctuyến

Hình thức cung cấp dịch vụ thứ nhất phát triển từ rất lâu, từ những ngày đầutiên của dịch vụ nội dung số trên nền tảng di động Người dùng có thể tải nhạcchuông, nhạc chờ, hình nền… về điện thoại của mình thông qua tin nhắn SMS,hoặc tải xuống trực tiếp qua Internet Phí thanh toán có thể được chi trả thông quatin nhắn trừ trực tiếp vào thuê bao, hoặc trừ tiền vào thuê bao di động trả sau, nạpthẻ cào, thanh toán trực tuyến qua thẻ ngân hàng… Tuy nhiên, người tiêu dùng ViệtNam chưa có tâm lý sẵn sàng trả tiền mua các nội dung số để sử dụng, mà thay vào

đó chủ yếu tìm kiếm nội dung miễn phí, hoặc nội dung số bản quyền nhưng đãđược phá khóa tương ứng là 9% và trên 82%, chiếm trên 90% kết quả khảo sát Sốlượng người sử dụng sẵn sàng trả tiền mua nội dung bản quyền chỉ có 6%

Hình thức thứ 2 cho phép người dùng có thể lựa chọn hình thức thanh toántheo định kỳ một khoản phí thuê bao để sử dụng dịch vụ Các ứng dụng di độngcho phép người sử dụng xem các chương trình truyền hình, hoặc một số ứng dụngcho phép người dùng xem phim với độ phân giải cao sau khi đã trả một khoản phínhất định Thực tế, người tiêu dùng Việt Nam đã bước đầu thay đổi thói quen đốivới việc thanh toán chi phí để có thể sử dụng các dịch vụ trực tuyến như xem phimtrên di động Trên 20% số người được khảo sát sẵn sàng chi trả cho việc xem phimtrực tuyến trên di động

Thương mại điện tử trên nền tảng di động tại Việt Nam đang trong giai đoạnđầu tiên phát triển với nhiều dấu hiệu rất tích cực Với tiềm năng thị trường lớn,đây chắc chắn là xu hướng sẽ được các nhà đầu tư, nhà phát triển ứng dụng, doanhnghiệp trong và ngoài nước quan tâm, khai thác Đây là cơ hội lớn cho các nhà pháttriển ứng dụng cũng như các doanh nghiệp để mở rộng thị trường, nâng cao chấtlượng dịch vụ nhưng đồng thời cũng là áp lực với các đơn vị để theo kịp được xuthế quan trọng của thương mại điện tử

Các doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực kinh tế và kinh nghiệm chắc chắn

sẽ có lợi thế trong khi các đơn vị trong nước vẫn còn đang trong giai đoạn nghiêncứu, phát triển Do đó, đòi hỏi các nhà phát triển ứng dụng và các doanh nghiệptrong nước cần có sự trao đổi, hợp tác với nhau để cùng phát triển các sản phẩm

Trang 4

phục vụ cộng đồng người sử dụng với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịchvụ.

Tuy nhiên, thương mại điện tử trên di động cũng không vượt ngoài khuônkhổ những giá trị thương mại truyền thống khi chất lượng dịch vụ là cốt lõi Các hạtầng hỗ trợ cho thương mại điện tử như thanh toán, chuyển phát cũng cần được cácdoanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước quan tâm, đầu tư phát triển Trên cơ sở đó,thương mại điện tử trên di động sẽ góp phần chắp cánh cho lĩnh vực thương mạiđiện tử tại Việt Nam

II Nội dung

1 Thiết bị di động

Thương mại di động phải có các thiết bị di động để thực hiện dịch vụ Cácdịch vụ di động bao gồm máy tính xách tay, như notebook, điện thoại di động hoặcthiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân (Personal Digital Assistant – PDA) Máy tínhxách tay khá phổ biến hiện nay, ttrong số 80% dân số châu Âu sử dụng điện thoại

di động Thậm chí số lượng khách hàng mua PDA cũng tăng lên nhanh chóng Điện thoại thông minh (smartphone) là một sự cải tiến thú vị liên quan tới kết nốimạng Những thiết bị này kết hợp được những đặc điểm của điện thoại di động vớiđặc điểm của PDA Một giả thuyết được đặt ra là trong tương lai, những nhóm sảnphẩm khác biệt – điện thoại di động và PDA – sẽ đươc kết hợp với nhau trongnhóm sản phẩm điện thoại thông minh

Khi xem các đặc điểm của thiết bị di động, có thể thấy rõ những khác biệtcủa nó so với thiết bị cố định:

 Màn hình nhỏ hơn;

 Bộ vi xử lý chậm hơn;

 Bộ nhớ chủ bé hơn;

 Nhập dữ liệu kém hơn;

 Băng thông nhỏ hơn;

 Pin yếu hơn

Đó là nhược điểm của các thiết bị di động hiện tại Hiện nay, những vấn đề

đó đang được nghiên cứu giải quyết một cách tích cực:

Màn hình nhỏ: Có nhiều nỗ lực khác nhau để giải quyết vấn đề này Trong đó là

giải pháp chế tạo màn hình với chất liệu linh hoạt nghĩa là màn hình có thể gấp lại

Trang 5

và mở rộng ra khi cần Hơn nữa, đã có những thực nghiệm với chất liệu thủy tinhcho phép huwongs màn hình tới gần mắt hơn và do đó tạo độ phân giải cao hơn.

Bộ vi xử lý chậm: Việc xử lý bộ vi xử lý cho máy tính đã có những bước tiến

tuyệt vời trong vài năm gần đây Việc phát triển bộ vi xử lý mạnh cho thiết bị diđộng có thể sẽ được thực hiện trong tương lai

Bộ nhớ chủ nhỏ: Bộ nhớ chủ đã được gia tăng đáng kể trong những năm gần

đây Thiết bị di động đầu tiên chỉ có 1MB bộ nhớ chủ Hiện nay, thiết bị di động đã

sở hữu bộ nhớ chủ tích hợp 64MB và cho phép nâng cấp tới 1GB

Nhập dữ liệu kém: Nhập dữ liệu qua âm thanh và bàn phím ảo có thể được coi

như những hướng phát triển đáng ghi nhận trong lĩnh vực này Các nhà nghiên cứu

đã thực hiện một số thực nghiệm với những chiếc găng tay được thiết kế để nhập

dữ liệu theo chuyển động của các ngón tay

Băng thông hẹp: Độ rộng băng thông dành cho truyền thông di dộng đã được

phát triển trong những năm gần đây Những phát triển này vẫn sẽ tiếp tục trongtương lai gần

Pin yếu: Nghiên cứu trong lĩnh vực này chưa có thành tựu đáng kể trong những

năm gần đây Trên thực tế, đây là vấn đề khá phức tạp do các thiết bị di động hiệnnay ngày càng cần nhiều năng lượng hơn Có lẽ sẽ chưa thể tạo ra một bước tiếnvượt bậc trong tương lai gần

SiemensSGD

Nokia 6210 Nokia 6236 Sony Ericson

P1iNăm xây

bản đơnsắc

96x60 pixel đơn

sắc

128x128pixcel65,536 màu

240x320pixcel262,144 màu

Internet HSCD

300k Camera,Bluetooth

UMTS3,2m CameraHình 9.1: So sánh các đặc điểm của điện thoại di động

Trang 6

Tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực di động được mô tả trong hình 9.1 Hình9.1 chỉ rõ những đặc điểm của 4 loại điện thoại di động Những thiết bị hiện tại nhỏhơn, nhẹ hơn và có nhiều chức năng hơn so với những thiết bị đời trước Quá trìnhnày sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tới đây.

2 Truyền thông di động

Khả năng truyền thông của thiết bị di động được phân biệt theo mạng lướirộng hay hẹp Mạng toàn cầu được sử dụng cho việc truyền thông giữa các đối táctrên toàn cầu, và mạng địa phương được sử dụng để truyền thông giữa một vài thiết

bị trong một vùng địa phương nhất định Hai ví dụ cho mạng toàn cầu và mạng địaphương – GSM và Bluetooth sẽ được trình bày trong phần này

GSM dựa trên sóng điện từ Tần số của dạng sóng này được đo bằng đơn vịHertz (chu kỳ trong một giây), để tưởng nhớ Heinrich Hertz – người đi tiên phongtrong công nghệ này

Khi một số máy truyền tín hiệu sóng với cùng một tần số thì xảy ra sự chốngchéo và nhiễu sóng Đó là lý do khiến mỗi dịch vụ phải được đăng ký ở một dải tầnriêng Sự phân bổ này độc lập trong mỗi quốc gia Mặc dù có một chuẩn thống nhất(như chấp nhận sóng vô tuyến UKW ở vùng 87-107MHz), vẫn có một số ngoại lệ,tùy theo từng quốc gia Thậm chí sóng radio cũng không sẵn có ở một số quốc giaTây Âu Vùng tần số 890-915 MHz và 935-960 MHz thuộc về GSM Hiện nay, tần

số này được xem như GSM chuẩn 900 Những dải băng tần khác, ví dụ 1710-1785MHz và 1805-1880 MHz, được biết đến như GSM 1800, cũng được sử dụng Nhàcung cấp mạng GSM chia toàn bộ vùng phủ sóng thành các vùng nhỏ có kích cỡtương tự nhau gọi là các ô Mỗi ô được trang bị một trạm phát sóng Thiết bị di

Trang 7

động sẽ kết nối tới trạm phát sóng nào cung cấp sóng mạnh nhất, thường là trạmgần nhất

Do dữ liệu phải được truyền đi theo cả hai hướng thoại, khác với sóng radio,GSM tách các tần số phát sóng thành hướng gọi “đi và đến” (liên lạc lên hayxuống) trong mạng GSM 900, dải tần 890-915 MHz dành cho tín hiệu từ thiết bị diđộng về trạm phát sóng và dải tần 935-960 MHz dành cho tín hiệu từ trạm phátsóng tới thiết bị di động Mỗi dải tần được chia thành 124 kênh

Nhờ vậy, các ô phát sóng lân cận không bị chồng chéo nhau tại ranh giới, cáckênh hiện tại cũng được chia nhỏ tương ứng Nhà cung cấp mạng tạo các gói tần số

có cùng kích thước, mỗi gói chứa một bộ dải tần và bố trí các gói có tần số khácnha ở các ô phát sóng lân cận Tuy nhiên, khi kết nối, thiết bị di động và trạm phátsóng chỉ sử dụng các kênh được phân bổ cho trạm đó

Nếu một người sử dụng điện thoại di chuyển từ một ô phát sóng sang ô lâncận, trạm phát sóng sẽ thay đổi Điều này xảy ra một cách khá linh hoạt và người

sử dụng không hề nhận ra Thiết bị di động tự động ra soát toàn bộ vùng tần vàkiểm tra độ mạnh của thiết bị truyền tin Nếu tìm thấy một trạm phát sóng truyềnmạnh hơn, thì trạm đó sẽ được chọn Theo chuẩn GSM, việc này được gọi là

“chuyển vùng” (handover) Để phối hợp hiệu quả việc chuyển vùng, dữ liệu sẽđược chuyển định kỳ giữa trạm phát sóng và thiết bị di động

Mạng GSM cũng có thể sử dụng được cho cả các nhà cung cấp khác Người

sử dụng điện thoại di động có thể thiết lập kết nối với nhà cung cấp ngoại mạng màkhông phải đăng ký Chi phí được tính thông qua nhà cung cấp mạng của người đó.Đặc điểm này được gọi là “chuyển mạng” (roaming) theo chuẩn GSM

Cùng với điện thoại không dây, GSM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác, nhưdịch vụ gửi tin nhắn (SMS) Sử dụng SMS, các thông điệp ngắn sẽ được gửi từ mộtthành viên này tới mốt thành viên khác tham gia mạng SMS ban đầu chỉ là một sảnphẩm phụ của GSM, nhưng được tích hợp với chuẩn GSM thành một dịch vụ giatăng Nó cũng góp phần trong việc phối hợp chuyển dữ liệu giữa trạm phát và thiết

bị di động Có khá nhiều ưu điểm từ việc phối hợp đó Một thiết bị di động có thểnhận tin nhắn SMS ở bất kỳ thời điểm nào, thậm chí ngay cả khi đang thực hiệnđàm thoại Hơn nữa, dịch vụ SMS có thể dễ dàng tích hợp với các cơ sở hạ tầnghiện có mà không cần có thêm các dải băng tần Dịch vụ SMS trở nên cực kỳ phổbiến hiện nay

Trang 8

Một số dịch vụ khác của GSM bao gồm dữ liệu chuyển mạch tốc độ cao(HSCSD), dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp (GPRS), nâng cấp tốc độ truyền dữ liệu(EDGE) Chúng cho phép thiết bị di động kết nối được với Internet.

Để đảm bảo an toàn cho việc truyền thông trên mạng GSM, một số cơ chế anninh đã được thiết lập Một thiết bị di động sẽ tự xác nhận với nhà cung cấp mạngGSM Chỉ khi đó, người sử dụng mới có thể dùng thiết bị di động Vấn đề nảy sinhvới phương pháp này là việc xác nhận một chiều Một thiết bị di động sẽ không thểbiết liệu nó có thể kết nối với nhà cung cấp mạng GSM thật hay không Việc truyền

dữ liệu và ngôn ngữ dữ liệu sẽ được mã hóa trên mạng GSM nhằm đảm bảo tínhbảo mật của dữ liệu Mỗi người sử dụng thiết bị di động sở hữu một thẻ xác nhậnngười đăng ký hòa mạng (SIM) SIM này phải được lắp vào thiết bị di động TrênSIM có khóa bí mật cần để xác nhận và mã hóa dữ liệu Khó bí mật này không thểlấy ra

Tuy nhiên, đã có một số vụ tấn công mạng GSM thành công trong thời gianqua Ví dụ, người ta đã phát hiện ra việc sao chép thẻ SIM Bên canh đó, khóa bímật có thể được thiết lập thông qua một chuỗi thử nghiệm Những vụ tấn công khácdựa trên thực tế là nhà cung cấp mạng không phải xác nhận với thiết bị di động.Đối với sự tấn công này, một thiết bị đặc biệt sẽ được lắp vào đường truyền giữathiết bị di động và trạm phát sóng Thiết bị này sẽ giả làm trạm phát sóng đối vớithiết bị di động, và giả làm thiết bị di động đối với trạm phát Điều này cho phépngười sử dụng thiết bị di động nghe được tín hiệu truyền Tuy nhiên, điều này chỉxảy ra khi mã hóa ngôn ngữ dữ liệu và phối hợp dữ liệu, và người tổng hợp khôngbiết khóa bí mật; mặt khác, các thuật toán mã hóa thường được sử dụng có điểmyếu là cho phép tìm được mật mã Mặc dù có những vụ tấn công như vậy, mạngGSM vẫn được xem là khá an toàn

GSM là mạng truyền thông khá thành công; tuy nhiên, các mạng khác nhưUMTS cũng được lắp đặt khá hiệu quả ở một số quốc gia khác

2.2 Truyền thông nội bộ với Bluetooth

Sử dụng Bluetooth, các thiết bị có thể truyền dữ liệu qua khoảng cách ngắnnhờ sóng điện từ Bluetooth được đặc trưng bởi cơ sở hạ tầng công nghệ truyềnthông và các ứng dụng đặc biệt

Bluetooth bắt đầu được phát triển từ năm 1994 dưới sự tài trợ của Ericsson.Chuẩn đầu tiên được thông qua vào năm 1999 Nhiều công ty danh tiếng tạo lập

Trang 9

nên nhóm qua tâm đặc biệt tới Bluetooth (Bluetooth SIG) đã đưa ra chuẩn này.Thiết bị đầu tiên được đưa ra thị trường vào năm 2000 Với phiên bản Bluetooth dữliệu được truyền với tốc độ 1 Mbit/giây Các thiết bị Bluetooth được chia thànhnhiều nhóm Nhóm thiết bị thứ nhất có thể kết nối ở khoảng cách lên tới 100m;nhóm thiết bị thứ hai liên kết ở khoảng cách 20m, và nhóm thiết bị thứ ba chỉ liênkết được trong khảng 10m.

Ngoài việc kết nối giữa hai thiết bị, Bluetooth còn cho phép tạo lập mạngtrong thời gian ngắn Ở đây, một thiết bị có thể kết nối tới khoảng bảy thiết bị khác.Tương tự như mạng GSM, các kết nối được thực hiện với sóng điện từ Vùng dảitần 2.400 – 2.483,5 MHz được dành riêng cho Bluetooth Ở nhiều nước, vùng dảitần này là hoàn toàn tự do

Bluetooth có một số đặc tả được sử dụng để kết nối các thiết bị nhất định.Trên 25 đặc tả của Bluetooth được giới thiệu trong hình 9.3 Trong số đó, đặc tả nổitiếng nhất là Headset Profile (đặc tả tai nghe) sử dụng các tai nghe không dây vớimột thiết bị di động, Hardcopy Cable Replacement Profile (đặc tả thay thế cáp máyin) dùng cho việc kiểm soát máy in thông qua thiết bị di động, và Human InterfaceDevice (đặc tả thiết bị giao tiếp con người) dành cho việc truyền thông với mộtthiết bị không dây từ thiết bị đầu vào như cần điều khiển hoặc bàn phím Do cácđặc tả này đều khá chi tiết, nên Bluetooth cho phép kết nối hai thiết bị với nhau màkhông cần tới phần mềm nào

3 Ứng dụng của thiết bị di động

Có nhiều ứng dụng được phát triển không nhắm tới các thiết bị di động, nênnhiệm vụ lớn nhất là thích ứng những ứng dụng đó với thiết bị này Hơn nữa, thiết

bị di động có một số chức năng chưa sẵn sàng hoặc không hữu ích đối với các thiết

bị cố định, trong đó có cả khả năng xác định vị trí không gian hiện tại của thiết bị

Đó là lý do khiến cho những ứng dụng mới dành cho thiết bị di động không thểchạy êm trên các thiết bị cố định Tuy nhiên, khi các ứng dụng được thông qua theocách này, đôi khi lại có thêm những chức năng mới Nhờ vậy, một số giải phápthanh toán trên thiết bị di động có thể được thực hiện với sự chứng thực trên hệthống mạng GSM

3.1 Thanh toán qua thiết bị di động (mpayment)

Một trong những thành tựu lớn nhất của công nghệ là việc tạo nên những

bước đột phá trong hệ thống thanh toán, giúp việc mua sắm trực tuyến ngày càngtrở nên dễ dàng và thuận tiện hơn Tại nhiều quốc gia có hạ tầng viễn thông phát

Trang 10

triển, chỉ cần một chiếc smartphone là bạn có thể đi siêu thị chẳng cần phải đem

theo tiền hoặc thẻ nữa

Tuy nhiên, sự phong phú của các hình thức thanh toán mobile không cónghĩa là mọi người đều đồng thanh hưởng ứng, vẫn còn rất nhiều người dùng cảmthấy khó khăn khi đề cập đến thanh toán qua điện thoại do lo ngại về vấn đề bảomật Dù vậy, xu thế này là không thể đảo ngược và ngày càng có nhiều nhà bánhàng chấp nhận thanh toán qua thiết bị di động Nếu bạn đã đủ tự tin sử dụngsmartphone ở mức độ thành thạo, muốn an tâm mua sắm bằng dế cưng của mình,điều trước tiên cần biết là danh sách những giải pháp thanh toán nào mà bạn có thểlựa chọn cùng những chức năng cơ bản của chúng

Hãy cùng điểm qua 10 phương thức thanh toán trên thiết bị di động (Mobile Payment Systems) đang là xu hướng phổ biến hiện nay:

*Google Wallet: Một trong những hệ thống thanh toán sử dụng công nghệ trên nền

tảng NFC (kết nối không dây tầm gần – khoảng cách tiếp xúc dưới 4 cm), ra mắtvào tháng 9/2011 Với những ai dùng điện thoại Android có lẽ sẽ quen thuộc vớihình thức thanh toán này trên Play Store Tuy nhiên, Google Wallet còn làm đượcnhiều hơn thế, bạn có thể mua sắm trực tuyến hoặc mua tại cửa hàng, thậm chí làgửi tiền cho người khác Ngoài ra, Google gần đây đã mua lại giải pháp và bằngsáng chế (IP) từ Softcard giúp phương thức này cạnh tranh tốt hơn với đối thủApple Pay

* Apple Pay: Apple Pay được giới thiệu cùng với iPhone 6 vào cuối năm 2014.

Những người dùng iPhone 6 hay các dòng thiết bị tiếp theo, như Apple Watch, cóthể đăng ký sử dụng dịch vụ bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ hiện có của mình đểtiến hành thanh toán Để dùng Apple Pay, bạn chỉ cần đưa thiết bị Apple lại gầnđầu đọc và đặt ngón tay vào máy scan vân tay để mua hàng

* PayPal: Khỏi cần phải nói nhiều nữa về hệ thống thanh toán trực tuyến “huyền

thoại” này Vốn được cả thế giới online biết đến là cổng thanh toán cực nhanh vàtiện lợi dành cho các trang thương mại điện tử như eBay, PayPal hiện đã có phiênbản mobile khá hữu dụng Người dùng chỉ cần chụp ảnh chiếc thẻ tín dụng hay thẻghi nợ của mình, thêm vào mục thông tin của tài khoản PayPal là có thể mua hànghoặc gửi tiền trực tiếp từ điện thoại PayPal cũng chứng tỏ vị thế dẫn đầu của mìnhkhi liên kết với các dịch vụ đang rất hot hiện nay như Uber, Airbnb hay StubHub

* Square Cash: Square Cash là một giải pháp thanh toán mobile cho phép người

dùng tạo ra một một username độc nhất gọi là $Cashtag với cơ chế khá độc đáo

Trang 11

Theo thông tin từ trang web chính thức của Square Cash, chủ tài khoản thậm chíchỉ cần gửi một tin nhắn từ Twitter có chứa $Cashtag của mình để quyên góp từthiện hoặc dùng để trả tiền thuê dịch vụ nào đó Hoặc, cũng có thể dùng nó để gửitiền cho người khác.

* Stripe: Tuy không được biết đến rộng rãi nhưng đây là hệ thống thanh toán trên

nền tảng web và mobile dành riêng cho “cộng đồng các nhà phát triển ứng dụng”.Stripe cung cấp một nền tảng chứa đựng các công cụ và APIs giúp bạn có thể tựthiết kế hệ thống thanh toán trực tuyến riêng phù hợp với mô hình kinh doanh củamình Ví dụ như, người dùng có thể cho phép chấp nhận thanh toán bằng tiền ảoBitcoin thông qua Stripe Thêm vào đó, Stripe còn liên kết trực tiếp với các công tydịch vụ đặc thù như Lyft, Instacart, Postmates

* Dwolla: Đây là hệ thống thanh toán dành riêng cho việc chuyển tiền Nó không

cần đến thẻ tín dụng hay thẻ ghi nợ mà thay vào đó kết nối trực tiếp tới tài khoảnthanh toán của bạn Sau khi đăng ký, bạn chỉ cần địa chỉ email để chuyển tiền vớimức phí chỉ có 0.25 USD trên một giao dịch, hoặc nếu giao dịch có giá trị từ 10USD trở xuống thì miễn phí dịch vụ Do đặc điểm chỉ có một bên thanh toán phínên bạn có thể dùng công cụ này để chuyển tiền cho người không có tài khoảnDwolla

* M-Pesa: Vodafone đã cho ra mắt M-Pesa từ tận năm 2007, cho phép người dùng

nạp tiền, rút tiền, chuyển tiền hoặc thanh toán bằng điện thoại Thông tin tài khoảnxác thực nguồn tiền được lưu trong điện thoại của chủ tài khoản và hệ thống dùngtin nhắn SMS được mã hóa để gửi tiền hay tiến hành thanh toán Các giao dịchcũng sẽ tốn một khoản phí nhỏ Công cụ này rất phổ biến tại các thị trường giaodịch ở châu Phi, thậm chí M-Pesa đã thống trị tại Kenya khi dịch vụ ra mắt lần đầu

* Venmo: Cổng thanh toán này cho phép kết nối tài khoản ngân hàng hoặc thẻ ghi

nợ với tài khoản Venmo để tiến hành thanh toán Theo thông tin từ trang web, công

cụ này cho phép nhận tiền gửi đến miễn phí và hầu hết các trường hợp gửi tiền đicũng không tốn phí, tuy nhiên còn tùy thuộc vào loại thẻ ngân hàng mà bạn đang sởhữu Tiện lợi hơn nữa là chỉ cần đăng nhập vào Facebook hay dùng một địa chỉemail để bắt đầu sử dụng

* Lifelock Wallet: Sau khi mua lại công ty Lemon Wallet, Lifelock đã tạo ra

Lifelock Wallet như một hệ thống lưu trữ đám mây cho tất cả các loại thẻ ngânhàng mà bạn có, giống như một cái ví nhét thẻ vậy Các thông tin như Tên truy cập(ID), thẻ bảo hiểm, thẻ thành viên hiệp hội, thẻ thanh toán đều có thể lưu và truy

Ngày đăng: 01/05/2016, 23:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 9.5: Yêu cầu được gửi từ thiết bị di động và đáp ứng yêu cầu - Tiểu luận môn thương mại điện tử ứng dụng của thiết bị di động
Hình 9.5 Yêu cầu được gửi từ thiết bị di động và đáp ứng yêu cầu (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w