1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh doanh quốc tế hệ thống tiền tệ quốc tế

19 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 711,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thả nổi không hoàn toàn: một hệ thống trong đó tiền tệ của mỗi quốc gia được thả nổi hoàn toàn so với các loại tiền tệ khác nhưng chính phủ sẽ can thiệp bằng cách mua và bán tiền tệ nếu

Trang 1

Lớp: Cao học QTKD khóa 2-2014

Nhóm 8:

Đoàn Đình Điệp

Nguyễn Thị Phượng

Đặng Thị Hường

Môn: Kinh doanh quốc tế

Phần 4 Chương 11: Hệ thống tiền tệ quốc tế

Hệ thống tiền tệ quốc tế: những sắp xếp mang tính thể chế mà các quốc gia vận dụng

nhằm kiểm soát tỷ giá hối đoái Ngoài ra chúng ta đã biết rằng cung và cầu của các loại tiền tệ bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ lạm phát và lãi suất của chính quốc gia đó Khi thị trường ngoại hối xác định giá trị tương đối của một loại tiền tệ, chúng ta nói rằng quốc gia đó đang theo đuổi một chế độ tỷ giá thả nổi Bốn loại tiền tệ giao dịch chính của thế giới – đồng USD của Mỹ, Euro của châu Âu, Yên của Nhật, và Bảng Anh – đều được thả nổi

Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi: một hệ thống trong đó tỷ giá hối đoái để đổi một loại tiền

tệ khác được điều chỉnh liên tục theo quy luật cung cầu

Tỷ giá hối đoái neo: giá đồng tiền bị cố định tương đối với một đồng tiền khác

Thả nổi không hoàn toàn: một hệ thống trong đó tiền tệ của mỗi quốc gia được thả nổi

hoàn toàn so với các loại tiền tệ khác nhưng chính phủ sẽ can thiệp bằng cách mua và bán tiền tệ nếu họ tin rằng đồng nội tệ đã sai lệch quá xa so với giá trị thật của nó

Một vài quốc gia khác lại đang hoạt động với một chế độ tỷ giá cố định, trong đó các giá trị của các đồng tiền được cố định với các đồng tiền khác theo tỷ giá được thống nhất lẫn nhau

Hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS): một hệ thống sử dụng chế độ hối đoái cố định trước khi đồng euro được sử dụng

Bản vị vàng.

Bản vị vàng có nguồn gốc từ việc sử dụng vàng như là phương tiện để trao đổi trung gian, đơn vị tính toán và lưu giữ giá trị - một hành vi có từ thời cổ đại Tuy nhiên, do khối lượng thương mại quốc tế ngày càng tăng mạnh từ cuộc Cách mạng Công nghiệp đòi hỏi có một phương tiện thuận lợi cho việc thanh toán trong thương mại quốc tế Việc vận chuyển vàng và bạc với số lượng lớn trên khắp thế giới để trao đổi thương mại quốc tế dường như là không thực

Trang 2

tế Một giải pháp được thông qua đó là thanh toán bằng tiền giấy và chính phủ đồng ý chuyển tiền giấy thành vàng theo tỷ lệ cố định

Cơ chế của hệ thống bản vị vàng

Mệnh giá vàng: Neo giá trị của tiền vàng và đảm bảo khả năng chuyển đối chính là bản chất của hệ thống bản vị vàng

Bản vị vàng: Mệnh giá vàng là lượng tiền tệ cần thiết để mua một ounce vàng

Điểm mạnh của chế độ bản vị vàng: Lợi thế lớn nhất của chế độ bản vị vàng đó là một cơ chế mạnh mẽ để đạt được cân bằng cán cân thương mại cho tất cả các quốc gia Cân bằng cán cân thương mại đạt được khi thu nhập của người dân quốc gia đó kiếm được từ hoạt động xuất khẩu bằng với lượng tiền mà họ chi trả cho hàng nhập khẩu của các nước khác

Giai đoạn giữa các cuộc chiến tranh, 1918 – 1939 Chế độ vàng hoạt động khá tốt từ những năm 1870 cho đến khi chiến tranh thế giới thứ I bắt đầu năm 1914, chế độ này bị bỏ rơi

Mỹ trở lại chế độ bản vị vàng năm 1919, Vương quốc Anh vào năm 1925 và Pháp vào năm 1928

Anh quay trở lại bản vị vàng bằng cách neo gía đồng Bảng với vàng Điều này đẩy hàng hóa Anh ra khỏi thị trường quốc tế đất nước rơi vào suy thoái nghiêm trọng Chính phủ đã đình chỉ hoạt động chuyển đổi vào năm 1931

Mỹ cũng ngưng chuyển đổi vàng năm 1933 nhưng trở lại vào năm 1934sự phá giá của đồng USD so với đồng tiền khác

Kết quả cuối cùng là sự đổ vỡ của bất kỳ lòng tin nào còn lại đối với hệ thống bản vị vàng Với các nước chú ý phá giá đồng tiền của mình, người ta không còn có thể chắc chắn được lượng tiền cụ thể để mua vàng là bao nhiêu Thay vì nắm giữ tiền tệ của một nước khác, người ta thường cố gắng chuyển đổi thành vàng ngay lập tức, vì sợ rằng quốc gia đó phá giá đồng tiền của mình Điều này đặt áp lực lên dữ trữ vàng của các quốc gia, buộc những quốc gia này phải ngừng lại hoạt động chuyển đổi vàng Cho đến khi bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ II vào năm 1939, chế độ bản vị vàng đã chính thức bị kết thúc

Hệ thống Bretton woods

Năm 1944 vào lúc đỉnh điểm của CTTG II, đại diện từ 44 quốc gia đã gặp nhau tại Bretton Woods, New Hampshine để thiết lập hệ thống tiền tệ quốc tế mới Với sự sụp đổ của chế

độ bản vị vàng và cuộc Đại suy thoái vào những năm 1930, các chính khách đã quyết tâm xây dựng một trật tự kinh tế lâu dài sẽ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế sau chiến tranh Chế độ

tỷ giá đạt được sự đồng thuận lớn

Thỏa thuận Bretton Woods đã thành lập 2 tổ chức đa quốc gia là Qũy tiền tệ thế giới (IMF) và Ngân hàng Thế giới Nhiệm vụ của Qũy tiền tệ Quốc tế là duy trì trật tự trong hệ thống

Trang 3

tiền tệ quốc tế và của Ngân hàng Thế giới là thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung Hiệp định Bretton Woods cũng kêu gọi một hệ thống tỷ giá cố định dưới sự giám sát của IMF

Năm 1944 vào lúc đỉnh điểm của CTTG II, đại diện từ 44 quốc gia đã gặp nhau tại Bretton Woods, New Hampshine để thiết lập hệ thống tiền tệ quốc tế mới Với sự sụp đổ của chế

độ bản vị vàng và cuộc Đại suy thoái vào những năm 1930, các chính khách đã quyết tâm xây dựng một trật tự kinh tế lâu dài sẽ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế sau chiến tranh Chế độ

tỷ giá đạt được sự đồng thuận lớn

Vai trò của quỹ tiền tệ quốc tế Các điều khoản của Hiệp định IMF đã bị ảnh hưởng nặng

nề bởi sự sụp đổ tài chính trên toàn thế giới, phá giá cạnh tranh, chiến tranh thương mại, thất nghiệp cao, lạm phát phi mã ở Đức và các nơi khác và sự tan rã kinh tế nói chung đã xảy ra giữa hai cuộc chiến tranh thế giới Mục đích của thỏa thuận Bretton Woods, trong đó IMF là cơ quan giám sát chính, là cố gắng tránh lặp lại một sự hỗn loạn thông qua sự kết hợp giữa kỷ luật và tính linh hoạt

Tính kỷ luật Một chế độ tỷ giá cố định thiết lập kỷ luật theo 2 cách Đầu tiên, nhu cầu duy trì một tỷ giá cố định đặt ra một sự kìm hãm đối với phá giá cạnh tranh và mang lại sựổn định cho môi trường TMTG Thứ hai, một chế độ tỷ giá cố định áp đặt những quy tắc tiền tệ tại các nước, qua đó giảm bớt lạm phát giá cả

Sự linh hoạt Mặc dù quy định về tiền tệ là một mục tiêu chính của thỏa thuận Bretton Woods, người ta đã nhận ra rằng một chính sách cứng nhắc về tỷ giá cố định sẽ là không linh hoạt Chính sách này cũng sẽ đổ vỡ giống như chế độ bản vị vàng Các nhà lãnh đạo của Hiệp ước Bretton Woods muốn tránh một tỷ lệ thất nghiệp cao nên đã xây dựng một sự linh hoạt trong phạm vi cho phép vào hệ thống Hai đặc điểm chính về các điều khoản của thỏa thuận IMF đã thúc đẩy sự linh hoạt: cơ sở cho vay của IMF và sự cân bằng tiền tệ linh hoạt

Vai trò của ngân hàng thế giới Tên chính thức của Ngân hàng thế giới là Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế ( IBRD) Khi những người tham gia Bretton Woods thành lập Ngân hàng thế giới, sự cần thiết tái tạo lại các nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá ở Châu Âu là quan trọng nhất trong tâm trí họ Nhiệm vụ ban đầu của NHTG là để giúp tài trợ cho việc xây dựng nền kinh tế của châu Âu bằng cách cung cấp các khoản vay lãi suất thấp Tuy nhiên khi kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ cho các quốc gia Châu Âu vay thì NGTG chuyển trọng tâm của mình tới

sự “phát triển” và bắt đầu cho các nước thuộc thế giới thứ ba vay tiền

Ngân hàng Thế giới cho vay theo 2 Chương trình Theo chương trình IBRD, NHTG cung cấp các khoản vay lãi suất thấp cho các khách hàng có xếp hạng tín dụng thấp: chính phủ các quốc gia kém phát triển Chương trình thứ hai được giám sát bởi Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) Theo Chương trình được giám sát vởi Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA), 1 cánh tay của NHTG được thành lập năm 1960, nguồn lực được tài trợ cho các khoản vay của IDA là các thành viên giàu có như Mỹ, Nhật và Đức Các khoản vay này chỉ dành cho những nước nghèo nhất

Trang 4

Sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá cố định Hệ thống tỷ giá cố định được hình thành từ Bretton Woods đã hoạt động tốt cho đến cuối 1960, cho thấy những dấu hiệu căng thẳng, nó bị sụp đổ vào năm 1973

Hầu hết các nhà kinh tế thấy rằng nguồn gốc sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá cố định xuất phát là do gói chính sách kinh tế vĩ mô 1965-1968 của Mỹ

Sự gia tăng lạm phát và sự xấu đi của vị thế ngoại thương của đã dẫn đến sự suy thoái trên thị trường ngoại hối rằng đồng USD sẽ bị giảm giá

Hệ thống Bretton Woods có 1 điểm yếu là hệ thống này không thể hoạt động nếu đồng tiền chủ chốt, đồng USD bị tấn công bởi sự đầu cơ Hệ thống Bretton Woods chỉ có thể hoạt động khi tỷ lệ lạm phát của Mỹở mức thấp và Mỹ không bị thâm hụt cán cân thanh toán

Các chế độ tỷ giá thả nổi

Chế độ tỷ giá thả nổi sau sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá cố định đã được chính thức hóa vào tháng

1 năm 1976 khi các thành viên IMF họp mặt tại Jamaica và đồng ý các quy tắc cho hệ thống tiền

tệ quốc tế được sử dụng tới ngày nay

Hiệp ước JAMAICA Hội nghị Jamaica sửa đổi lại các điều khoản thỏa ước của IMF để tương

ứng với chế độ tỷ giá thả nổi mới Các yếu tố chính của hiệp ước Jamaica bao gồm:

 Tỷ giá thả nổi được chấp nhận công khai Các thành viên của IMF được phép tham gia vào thị trường ngoại hối để giảm thiểu biến động đầu cơ “không có đảm bảo”

 Vàng không còn được coi là một tài sản dự trữ IMF hoàn lại số vàng dự trữ của mình cho các thành viên theo giá thị trường hiện tại, và đặt số tiền thu được trong một quỹ tín thác để giúp các nước nghèo, Các quốc gia thành viên IMF được phép bán vàng dự trữ của riêng mình theo giá thị trường

 Tổng hạn ngạch hàng năm của khoản tiền các nước thành viên đóng góp cho

IMF-đã tăng lên đến 41 tỷ US$ (Cho đến nay con số này IMF-đã tăng lên đến 383 tỷ US$ trong khi

số lượng thành viên của IMF đã được mở rộng lên tới 188 quốc gia Vào năm 2010, các thành viên IMF đã thông qua một chương trình sửa đổi hệ thống hạn ngạch của mình theo

đó mức hạn ngạch sẽ tăng gấp đôi lên tới 767 tỷ US$) Các nước kém phát triển và không xuất khẩu dầu mỏ được tiếp cận nhiều hơn đối với nguồn quỹ của IMF

Tỷ giá hối đoái kể từ năm 1973 Kể từ tháng 3 năm 1973, tỷ giá hối đoái đã trở nên dễ biến

động và khó dự đoán hơn so với giai đoạn năm 1945 và 1973 Sự biến động này một phần là do một số cú sốc bất ngờ đối với hệ thống tiền tệ thế giới bao gồm:

 Cuộc khủng hoảng đầu mỏ vào năm 1971, khi tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) tăng giá dầu lên gấp bốn lần Tác động không tốt của việc này đối với tỷ lệ lạm phát và vị thế thương mại của Mỹ dẫn đến sự suy giảm hơn nửa giá trị của đồng US$

Trang 5

 Niềm tin vào đồng US$ tiếp tục sụt giảm sau khi lạm phát của Mỹ tăng mạnh trong năm

1977 và 1978

 Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1979, khi OPEC một lần nữa gia tăng giá dầu đáng kể -lần này lên gấp đôi

 Sự tăng giá bất ngờ của đồng US$ trong giai đonạ 1980 và 1985, mặc dù bức tranh cán cân thanh toán đang xấu đi

 Sự sụt giảm nhanh chóng của đồng US$ so với đồng yên Nhật Bản và mark Đức trong giai đoạn 1985 và 1987, và só với đồng yên Nhật giữa năm 1993 và 1995

 Sự sụp đổ một phần của hệ thống tiền tệ Châu Âu vào năm 1992

 Cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997, khi các loại tiền tệ châu Á của một số quốc gia, bao gồm Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia và Thái Lan, bị mất từ 50% và 80% giá trị

so với đồng US$ chỉ trong một vài tháng

 Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2010 và khủng hoảng nợ công tại khối liên minh châu Âu trong 2010-2011

Biểu đồ 11.1 tóm tắt sự biến động giá trị của đồng US$ so với chỉ số các loại tiền giao dịch chính từ tháng một 1973 đến tháng tư 2012 (Chỉ số này, được giả sử bằng 100 vào tháng ba năm

1973, là bình quan gia quyền của các tỷ giá của đồng US$ só với các loại tiền tệ khác lưu hành rộng rãi trên thế giới) Một hiện tượng thú vị trong Biểu đồ 11.1 là sự gia tăng rất nhanh giá trị của đồng US$ trong giai đoạn 1980 và 1985 và sự sụt giảm ngay sau đó từ năm 1985 đến 1988 Tương tự như vậy nhưng ở mức độ thấp hơn, sự gia tăng và sụt giảm giá trị của đồng US$ đã diễn ra trong giai đoạn từ 1996 đến 2009

Trang 6

Sự gia tăng giá trị của đồng US$ trong giai đoạn 1980-1985 xảy ra khi Hoa Kỳ phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thương mại, nhập khẩu vượt quá xuất khẩu Theo thông thường thì khi cung US$ trong thị trường ngoại hối tăng lên do thâm hụt thương mại sẽ dẫn đến việc giảm giá trị

của đồng US$ Nhưng theo biểu đồ 11.1 thì lại dẫn đến tăng giá trị đồng US$ Tại sao? Rất nhiều ảnh hưởng của các yếu tố thuận lợi đã lấn át những tác động bất lợi của thâm hụt thương mại Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở Hoa Kỳ đã thu hút những luồng vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài đang tìm kiếm lợi nhuận cao Lãi suất thực cao đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm lợi nhuận trên các tài sản tài chính Đồng thời, bất ổn chính trị tại các quốc gia khác, cùng với sự tăng trưởng kinh tế tương đối chậm ở các nước đang phát triển tại Châu Âu, đã đưa Hoa Kỳ trở thành một địa điểm tốt để đầu tư Những dòng vốn gia tăng này làm tăng nhu cầu đối với đồng US$ trên thị trường ngoại hối, đẩy giá trị của đồng US$ lên cao so với các đồng tiền khác

Sự sụt giảm giá trị của đồng US$ từ năm 1985 đến năm 1988 có nguyên do xuất phát từ

sự kết hợp giữa can thiệp của chính phủ và các tác nhân thị trường Việc tăng giá của đồng US$

đã đẩy hàng hóa của Mỹ ra khỏi thị trường nước ngoài trong khi hàng hóa nhập khẩu lại trở nên

rẻ hơn tương đối Điều này đã đóng góp nên một bức tranh thương mại ảm đạm Năm 1985, Hoa

Kỳ đã phải đối mặt với thâm hụt thương mại cao kỷ lục trên 160 tỷ US$ Điều này dẫn đế nhu cầu phải bảo hộ hàng hóa của Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 1985 các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm năm quốc gia công nghiệp lớn (Anh, Pháp, Nhật Bản, Đức

và Hoa Kỳ) đã gặp nhau tại khách sạn Plaza ở NewYork và đạt được những thỏa thuận được ghi nhận trong Thỏa ước Plaza Những quốc gia này đã tuyên bố rằng họ sẽ nâng giá các đồng tiền chính so với đồng US$ và cam kết sẽ can thiệp vào thị trường ngoại hối, bán US$ để thúc đẩy các mục tiêu này Đồng đô-la đã bắt đầu bị suy yếu vào mùa hè năm 1985, và tuyên bố này đã tiếp tục thúc đẩy sự suy giảm giá trị xảy ra nhanh hơn

Đồng US$ đã tiếp tục phá giá cho đến đầu năm 1987 Các chính phủ của nhóm năm quốc gia lớn thậm chí đã bắt đầu lo lắng rằng đồng US$ có thể sụt giảm giá trị quá nhiều, do đó, các

bộ trưởng tài chính của nhóm năm quốc gia đã gặp nhau tại Paris vào tháng 2 năm 1987 và đạt đến một thỏa thuận mới được gọi là Thỏa ước Louvre Họ đồng ý rằng tỷ giá hối đoái sẽ được điều chỉnh lại và cam kết hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá hối đoái ở mức hiện tại bawgf cách can thiệp vào thị trường ngoại hối khi cần thiết để mua và bán tiền tệ Mặc dù đồng US$ tiếp tục suy giảm trong một vài tháng sau THỏa ước Louvre nhưng tốc độ suy giảm này đã chậm lại và bắt đầu kết thúc vào đầu năm 1988

Ngoại trừ một số sự đầu cơ ngắn trong khoảng thời gian của cuộc Chiến tranh vùng Vịnh vào năm 1991, đông US$ đã tương đối ổn định trong nửa đầu những năm 90 Tuy nhiên vào cuối những năm 90, đồng US$ đã bắt đầu tăng giá só với những đồng tiền chính khác, bao gồm cả với đồng euro khi bắt đầu lưu hành mặc dù Mỹ vẫn phảo đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách nặng nề Một lần nữa, dòng tiền đầu tư của các nhà đầu tư vào các tài sản tài chính của Mỹ, bao gồm cổ phiếu và trái phiếu, đã đẩy giá trị của đồng đô-la lên cao trên thị trường ngoại hối Dòng

Trang 7

tiền đầu tư vào thị trường Mỹ xuất phát từ niềm tin rằng các tài sản tài chính Mỹ sẽ đem lại khoản lợi ích hấp dẫn

Tuy nhiên cho đến năm 2002, trái phiếu và cổ phiếu Mỹ đã trở nên kém hấp dẫn đối với những nhà đầu tư nước ngoài và dòng tiền đầu tư vào Mỹ đã bắt đầu chậm lại Thay vì tái đầu tư đồng đô-la thu được từ xuất khẩu vào các tài sản tài chính Mỹ, nhà đầu tư đã đổi đô-la sang các loại tiền tệ khác, đặc biệt là euro, để đầu tư vào các tài sản không phải là đô-la Một lý do của hiện tượng này xuất phát từ tình trạng thâm hụt thương mại của Mỹ tiếp tục gia tăng và đạt miwcs đỉnh điểm 791 tỷ US$ vào năm 2005 (cho đến năm 2009 con số này đã giảm xuống chỉ còn 558 tỷ US$) Mặc dù thâm hụt thương mại đã liên tục ở mức cao trong nhiều năm nhưng con

số 791 tỷ US$ này là mức cao hơn cả khi so sánh với GDP (6,3% GDP vào năm 2005)

Mức thâm hụt đỉnh điểm đồng nghĩa rằng nhiều đồng US$ đang đi ra ngoài nước Mỹ vào tay những người nước ngoài và những người này lại có ít khuynh hướng tái đầu tư những đồng đô-la này trở lại nước Mỹ ở tỷ lệ yêu cầu để giữ đồng đô-la ổn định Sự gia tăng của hiện tượng này do một số nguyên nhân Đầu tiên, hoạt động kinh tế của Mỹ đã chậm lại trong giai đoạn 2001-2002, và sự phục hồi chậm chạp khiến cho các tài sản tài chính Mỹ trở nên kém hấp dẫn hơn Thứ hai, thâm hụt ngân sách của chính phủ Mỹ đã mở rộng nhanh chóng sau năm 2001, đạt mức đỉnh vào 318 tỷ US$ vào 2005 trước khi giảm xuống 158 tỷ US$ vào năm 2007, sau đó lại tăng mạnh lên 1,4 nghìn tỷ US$ vào năm 2009 do các kế hoạch kích thích và gói cứu trợ của Mỹ vào thời điểm giữa cuộc khủng hoảng tài chính Điều này đã gây ra những lo ngại rằng thâm hụt ngân sách cuối cùng sẽ được tài trợ bởi một chính sách tiền tệ nới lỏng mà có thể gây ra tình trang lạm phát giá cao hơn Khi mà lạm phát có thể làm giảm giá trị của đồng đô-la, các nhà đầu

tư nước ngoài đã quyết định phòng hộ rủi ro bằng cách giữ ít tài sản đô-la hơn trong danh mục đầu tư của mình.Thứ ba, kể từ năm 2003, những nhà lãnh đạo chính phủ Mỹ đã bắt đầu làm giảm giá trị của đồng đô-la bởi lẽ họ tin rằng đồng đô-la rẻ hơn đồng nghĩa với xuất khẩu sẽ tăng trong khi nhập khẩu sẽ bị giảm thiểu, qua đó cải thiện cán cân thanh toán của Mỹ Nhà đầu tư nước ngoài coi việc này như một tín hiệu cho thấy rằng chính phủ Mỹ sẽ không can thiệp vào thị trường ngoại hối để đẩy giá trị của đồng US$, điều này làm gia tăng sự miễn cưỡng của họ để tái đầu tư đồng đô-la có được nhờ hoạt động xuất khẩu trở lại vào các tài sản tài chính Mỹ Kết quả của những nhân tố này, là nhu cầu đối với đồng đô-la trở nên yếu đi và giá trị của đồng đô-la đã sụt giảm trên thị trường ngoại hối, đạt mức giá trị chỉ số US$ là 69,069 vào tháng tám 2011, mức chỉ số thấp nhất kể từ khi chỉ số này được thiết lập năm 1973 Một số nhà bình luận đã tin rằng

nó sẽ sụt giảm giá trị trở lại nếu những người nắm giữ đồng đô-la chính như các quốc gia sản xuất dầu mỏ, quyết định đa dạng hóa dự trữ ngoài hối của mình

Đáng thú vị là từ giữa năm 2008 cho đến đầu năm 2009, đồng đô-la đã tăng giá nhẹ so với các đồng tiền chính khác bất chấp nền kinh tế Mỹ phải trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nặng nề lý do của hiện tượng này có thể được giải thích là do bất chấp những vấn đề của nền kinh tế Mỹ, tình trạng này ở các quốc gia khác còn diễn ra nghiêm trọng hơn, và các nhà đầu

tư nước ngoài đã nhận thấy đồng đô-là là một tài sản an toàn nên đã tìm cách đầu tư tiền của

Trang 8

mình vào các tài sản Mỹ ít rủi ro, đặc biệt là các trái phiếu lãi suất thấp của chính phủ Mỹ Điều này lại trở nên xấu đi khi những nhà đầu tư lo lắng về mức độ nợ công của Mỹ

Phần điểm lại này cho chúng ta thấy, gần đây,giá trị đồng US$ đã được xác định bởi các tác nhân thị trường và sự can thiệp của chính phủ Dưới một chế độ tỷ giá thả nổi, các tác nhân thị trường đã tạo ra một tỷ giá hối đoái của đồng US$ không ổn định Các chính phủ đã phản ứng bằng cách can thiệp vào thị trường mua và bán US$ trong những nỗ lực hạn chế biến động của thị trường và để điều chỉnh khi họ thấy đồng US$ được định giá quá cao (năm 1985o), hoặc có thể bị đánh giá quá thấp (1987) Ngoài sự can thiệp trực tiếp của chính phủ, giá trị của đồng US$ còn thường xuyên bị ảnh hưởng bởi những tuyên bố từ phía các nhà lãnh đạo chính phủ Đồng US$ đáng lẽ đã không sụt giá nhiều như đã từng trải qua vào năm 2004 nếu các nhà lãnh đạo Mỹ không tuyên bố công khai sẽ ngăn cản bất cứ hành động nào để dừng lịa sự sụt giá của đồng

đô-la Một nghịch lý là tín hiệu này dù không có ý can thiệp lại có thể ảnh hưởng tới thị trường Mức độ thường xuyên của sự can thiệp chính phủ trên t hị trường ngoại hối giải thích lý do hệ thống hiện tại thường được nhắc đến như một hệ thống thả nổi có quản lý hay thả nổi không hoàn toàn

Tỷ giá cố định với tỷ giá thả nổi

Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods đã không làm ngừng những cuộc tranh luận xuang quanh chế độ tỷ giá cố định và thả nổi Sự thất vọng đối với hệ thống tỷ giá thả nổi trong những năm gần đây đã dẫn đến một cuộc tranh luận mới về chế độ tỷ giá cố định Trong phần này, chúng ta

sẽ xem xét những luận điểm ủng hộ cho tỷ giá cố định và thả nổi Chúng ta cũng sẽ thảo luận về trường hợp tỷ giá thả nổi trước khi giải thích lý do tại sao nhiều nhà bình luận đang thất vọng với chế độ tỷ giá thả nổi và ao ước một hệ thống tỷ giá cố định

Lập luận ủng hộ tỷ giá hối đoái thả nổi Những lập luận ủng hộ tỷ giá thả nổi xuất phát từ hai

yếu tố chính: sự tự chủ của chính sách tiền tệ và sự điều chỉnh cân bằng thương mại tự động

Tự chủ của chính sách tiền tệ Người ta lập luận rằng dưới chế độ tỷ giá cố địn khả năng tăng

hay giảm lương cung cầu bị giới hạn bởi sự cần thiết phải duy trì cân bằng tỷ giá hối đoái Sự mở rộng tiền tệ có thể dẫn đến lạm phát do gây áp lực giảm giá đối với tỷ giá cố định (như dự đoán của lý thuyết PPP) Tương tự như vậy, chính sách tiền tệ thắt chặt đòi hỏi lãi suất cao (để làm giảm nhu cầu về tiền) Lãi suất cao dẫn đến một dòng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước và gây áp lực nâng giá lên tỷ giá cố định Vì vậy, để duy trì sự cân bằng tỷ giá hối đoái theo chế độ

tỷ giá cố định, các nước bị hạn chế khả năng của mình để sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp nền kinh tế

Trang 9

Những người ủng hộ chế độ tỷ giá thả nổi cho rằng việc loại bỏ trách nhiệm duy trì sự cân bằng của tỷ giá hối đoái sẽ khôi phục lại quyền kiểm soát tiền tệ của chính phủ Nếu một chính phủ đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp mà muốn tăng cung tiền để kích thích nhu cầu trong nước, giảm thất nghiệp, thì chính phủ này còn có thể làm như vậy để duy trì tỷ giá hối đoái Do chính sách tiền tệ mở rộng có thể dẫn đến lạm phát, điều này sẽ dẫn đến sự mất giá của đồng nội tệ Nếu lý thuyết về ngang giá sức mua là chính xác thì sự mất giá tiền tệ trên thị trường ngoại hối sẽ bù đắp lại những ảnh hưởng của lạm phát Mặc dù dưới một chế độ tỷ giá thả nổi, lạm phát trong nước sẽ tác động lên tỷ giá nhưng sẽ không có ảnh hưởng đến tính cạnh tranh quốc tế về chi phí của doanh nghiệp do sự sụt giảm trong giá trị của đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối Tương tự như vậy, một chính phủ có thể sử dụng chính sách tiền tệ để thắt chặt nền kinh tế mà không cần lo lắng về việc duy trì sự cân bằng

Điều chỉnh cán cân thương mại Dưới hệ thống Bretton Woods, nếu một nước đối mặt với thâm

hụt thường xuyên trogn cán cân thương mại (nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu) mà không thể sửa chữa được bởi các chính sách trong nước, điều này sẽ đòi hỏi IMF phải đồng ý với việc phá giá tiền tệ Những người phản đối hệ thống này cho rằng cơ chế điều chỉnh hoạt động trơn tru hơn rất nhiều dưới một hệ thống tỷ giá thả nổi Họ lập luận rằng nếu một nước đang phải đối mặt thâm hụt thương mại, sự mất cân đối giữ cung và cầu tiền tệ của nước đó trên thị trường ngoại hối (cung vượt quá nhu cầu) sẽ dẫn đến sụt giảm tỷ giá hối đoái của nước này Đổi lại, bằng cách làm cho hàng xuất khẩu rẻ hơn và hàng nhập khẩu đắt hơn, sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái sẽ làm giảm thâm hụt thương mại

Lập luận ủng hộ tỷ giá hối đoái cố định Những lập luận ủng hộ cho chế độ tỷ giá cố định dựa

trên lý lẽ về tiết chế tiền tệ, đầu cơ, việc không chắc chắn và sự thiếu kết nối giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái

Tiết chế tiền tệ Chúng ta đã nghiên cứu về bản chất của tiết chế tiền tệ vốn có trong hệ hống tỷ

giá cố định khi chúng ta thảo luận về hệ thống Bretton Woods Sự cần thiết duy trì tính cân bằng của một hệ thống tỷ giá cố định sẽ đảm bảo rằng các chính phủ không mở rộng cung tiền ở mức gây ra lạm phát Trong khi những người ủng hộ tỷ giá thả nổi cho rằng mỗi nước nên được phép lựa chọn mức độ lạm phát của riêng minh (lập luận tự chủ tiền tệ), những người ủng hộ của tỷ giá cố định lập luận rằng các chính phủ thường xuyên gây ra những áp lực chính trị và mở rộng cung tiền quá nhanh, gây ra lạm phát giá quá mức Hệ thống tỷ giá cố định sẽ đảm bảo rằng điều này sẽ không xảy ra

Đầu cơ Những nhà chỉ trích hệ thống tỷ giá thả nổi cho rằng đầu cơ cũng là một nguyên nhân có

thể gây ra biến động tỷ giá hối đoái Họ chỉ ra rằng sự tăng giảm đáng kể của giá trị đồng US$ trong nững năm 1980 không phải xuất phát từ tường quan lạm phát và thâm hụt thương mại của

Mỹ mà chính là do đầu cơ Họ lập luận rằng khi những nhà kinh doanh ngoại hối nhận thấy một đồng tiền đang mất giá, họ có xu hướng bán các loại tiền tệ mà họ cho là sẽ bị mất giá trong tương lai bất chấp những triển vọng dài hạn của đồng tiền Khi có càng nhiều người kinh doanh tiền tệ tham giá vaao hoạt động đầu cơ này, những dự đoán về sự giảm giá đồng tiền sẽ thành

Trang 10

hiện thực Hoạt động đầu cơ gây bất ổn như vậy có xu hướng hướng tới những biến động xung quanh giá rị dài hạn của tỷ giá hối đoái Điều này có thể làm tổn hại nền kinh tế của một quốc gia bằng cách bóp mép giá cả xuất khẩu và nhập khẩu Do đó, những nguwoif ủng hộ của chế độ tỷ giá cố định cho rằng một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định sẽ hạn chế được các tác động gây mất

ổn định của đầu cơ

Sự không chắc chắn Đầu cơ còn dẫn đến việc không thể dự đoán được những biến động tiền tệ

trong tương lai (đặc trưng cho một chế độ tỷ giá thả nổi) Những thay đổi không thể dự đoán của

tỷ giá hối đoái trong tời kỳ hậu Bretton Woods đã khiến việc lập kế hoạch kinh doanh trở nên khó khăn và còn gây ra những rủi ro đối với xuất khẩu, nhập khẩu và các hoạt động đầu tư nước ngoài Tỷ giá hối đoái biến động khiến các doanh nghiệp quốc tế không biết làm thế nào để phản ứng với những thay đổi này – và họ thường xuyên không có động thái phản ứng nào cả Tại sai lại phải thay đổi kế hoạch xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư nước ngoài sau khi đồng US$ giảm 6% giá trị trong tháng này khi mà có thể tăng 6% vào tháng tới? Theo các nhà phê bình thì chính sự không chắc chắn này làm suy giảm sự phát triển của thương mại và đầu tư quốc tế Thông qua loại bỏ những sự không chắc chắn như vậy, những người chỉ trích cho rằng một tỷ giá cố định sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của thương mại và đầu tư quốc tế Những người ủng hộ hệ thống tỷ giá thả nổi thì lại cho rằng thị trường kỳ hạn bảo đảm chống lại các rủi ro liên quan đến biến động tỷ giá nên những tác động bất lợi của sự không chắc chắn đối với sự phát triển của thương mại và đầu tư quốc tế đã bị nói quá lên

Điều chỉnh cán cân thương mại Những người ủng hộ tỷ giá thả nổi cho rằng tỷ giá thả nổi sẽ

giúp điều chỉnh sự mất cân bằng thương mại Các nhà phê bình lại nghi ngờ về mối liên hệ giữa

tỷ giá và cán cân thương mại Họ cho rằng thâm hụt thương mại được xác định bởi sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư ở một đất nước, không phải bởi những giá trị ngoại hối của tiền tệ Sự sụt giảm giá trị của một loại tiền tệ sẽ dẫn đến lạm phát (do giá nhập khẩu tăng lên) Lạm phát này sẽ quét sạch bất kỳ lợi ích nào có được nhờ chi phí trở nên cạnh tranh hơn khi tiền tệ giảm giá Nói cách khác, tỷ giá hối đoái giảm sẽ không đẩy mạnh xuất khâu và giảm nhập khẩu, như những người ủng hộ tỷ giá thả nổi chỉ ra rằng giá trị của đồng đô la từ năm 1985 và 1988 đã giảm 40% giá trị nhưng cũng không khắc phục được tình trạng thâm ụt thương mại của Mỹ Đáp lại những người ủng hộ của một chế độ tỷ giá thả nổi lập luận rằng trong giai đoạn năm 1985 và

1992, thâm hụt thương mai jcuar Mỹ đã giảm từ trên 160 tỷ US$ xuống khoảng 70 tỷ US$ và cũng chỉ ra sự sụt giảm thâm hụt này là một phần nhờ vào đồng US$ xuống giá

Các chế độ tỷ giá thả nổi trên thực tế

Các chính phủ trên khắp thế giới theo đuổi rất nhiều chính sách tỷ giá hối đoái khác nhau Những chính sách này thay đổi từ “thả nổi” hoàn toàn theo đó tỷ giá hối đoái được xác định bởi các tác nhân thị trường cho tới tỷ giá neo mà có một đặc điểm giống với hệ thống tỷ giá cố định của Bretton Woods trước những năm 1973 Khoảng 21% thành viên của IMF cho phép đồng tiền

Ngày đăng: 01/05/2016, 23:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w