LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI • Một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi nước đó có thể sản xuất sản phẩm đó hiệu quả hơn bất kỳ quốc gia nào khác Pháp có lợi thế tuyệt đối
Trang 1BÁO CÁO
MÔN: KINH DOANH QUỐC TẾ
HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Giảng viên: TS Vũ Trọng Phong Nhóm thực hiện: Nhóm 10
- Nguyễn Hữu Giang
- Trương Hồng Ngọc
- Nguyễn Hải Yến
Trang 3• Thế kỷ 20: Học thuyết Heckscher – Ohlin của hai nhà kinh tế học Thụy Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin
Trang 4• Quan điểm chính của chủ nghĩa trọng thương
là quốc gia sẽ thu được nhiều lợi ích nhất khi
nhiều hơn nhập khẩu Bằng cách đó, quốc gia
có thể tích lũy vàng và bạc, vì vậy làm tăng của cải, uy tín và sức mạnh của quốc gia
Trang 5CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG
• Học thuyết ủng hộ sự can thiệp của chính phủ nhằm đạt được thặng dư trong cán cân thương mại Họ đề xuất những chính sách nhằm tối đa
hạn chế bới các biện pháp thuế quan và hạn ngạch, trong khi xuất khẩu lại được tài trợ
• Những thiếu sót của chủ nghĩa trọng thương
đã coi thương mại như một trò chơi có tổng lợi
của quốc gia khác
Trang 6LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI
• Một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi nước đó có thể sản xuất sản phẩm đó hiệu quả hơn bất kỳ quốc gia nào khác
Pháp có lợi thế tuyệt đối về sản xuất rượu
Trang 7LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI
• Theo A.Smith, một quốc gia nên chuyên môn hóa trong sản xuất những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối và sau đó trao đổi chúng lấy những hàng hóa khác được sản xuất tại quốc gia khác
• Do đó, lý luận cơ bản của Smith là một quốc gia
gia này có thể mua được với gia thấp hơn từ các quốc gia khác Ông chứng minh rằng, bằng
thu được lợi thông qua thương mại
Trang 8LỢI THẾ SO SÁNH
• Năm 1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá, trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage).
• Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác Lý thuyết của Ricardo đƣợc xây dựng trên một số giả thiết, nhằm làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên đơn giản và trực tiếp hơn
Trang 9Các giả thiết của Ricardo
Mọi nước có lợi về một loại tài nguyên và tất cả các tài nguyên đã được xác định
Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi một quốc gia
Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài
Mô hình của Ricardo dựa trên học thuyết về giá trị lao động
Công nghệ của hai quốc gia như nhau
Chi phí sản xuất là cố định
Sử dụng hết lao động (lao động được thuê mướn toàn bộ)
Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo
Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế
Chi phí vận chuyển bằng không
Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá
Trang 10Quy luật lợi thế so sánh
• Mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh
• Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn
có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất
và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau
Trang 12Ví dụ
• Vì lao động ở nước Anh có năng suất lao động trong việc sản xuất vải bằng 1/2 của Mỹ và có năng suất trong việc sản xuất lúa mì bằng 1/6 của Mỹ
=> N ước Anh có lợi thế so sánh trong việc sản xuất vải
• Ngược lại, dù nước Mỹ có lợi thế tuyệt đối trong cả hai loại hàng hoá là vải và lúa mì nhưng vì lợi thế tuyệt đối trong sản xuất lúa mì của Mỹ (6:1) lớn hơn lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải (4:2)
=> Mỹ có lợi thế so sánh trong việc sản xuất lúa mì
Trang 13Ví dụ
• Tóm lại, nước Mỹ có cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế
so sánh trong việc sản xuất lúa mì Nước Anh tuy không có lợi thế tuyệt đối về sản xuất sản phẩm nào, nhưng vẫn có lợi thế so sánh trong việc sản xuất vải
• Theo quy luật lợi thế so sánh, cả hai quốc gia sẽ
có lợi từ thương mại quốc tế nếu nước Mỹ chuyên môn hóa sản xuất lúa mì và xuất khẩu một phần
để đổi lấy vải được sản xuất tại Anh (cùng lúc đó, nước Anh sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu vải)
Trang 14Những lợi ích từ thương mại
• Để cho thấy cả hai quốc gia đều có lợi từ thương mại quốc tế, có thể giả sử rằng Mỹ có thể đổi 6W lấy 6C của Anh Nước Mỹ sẽ có lợi 2C (tương đương 1/2h lao động)
vì nếu không tham gia thương mại quốc tế Mỹ chỉ có thể đổi 6W lấy 4C ở trong nước
• Để thấy được việc nước Anh cũng có lợi từ thương mại, chúng ta thấy rằng với 6W mà Anh nhận được từ việc trao đổi với Mỹ, Anh sẽ cần phải bỏ ra 6h lao động để sản xuất ra nó Nước Anh sẽ dùng 6h này để sản xuất ra 12C và chỉ phải trao đổi 6C lấy 6W của Mỹ Chính vì vậy, nước Anh sẽ có lợi 6C hay tiết kiệm được 3h lao động
=> Cả hai quốc gia đều có lợi ích khi tham gia vào thương
mại quốc tế, cho dù một quốc gia gặp bất lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai loại hàng hoá
Trang 15HỌC THUYẾT HECKSCHER – OHLIN
• Mô hình Ricardo giải thích ngoại thương xảy ra là
do sự khác nhau về năng suất lao động giữa các nước
• Trong thực tế ngoại thương xảy ra cũng được phản ánh sự khác nhau về nguồn lực giữa các nước
• Thí dụ:
– Một số quốc gia dồi dào về đất đai xuất khẩu lương thực như Hoa Kỳ, Úc
– Một số quốc gia dồi dào về lao động bán kỹ năng có
xu hướng xuất khẩu hàng hoá thâm dụng lao động như quần áo, giày dép
• Mô hình Hechsher - Ohlin nhấn mạnh sự khác biệt
về nguồn lực (lao động, vốn, đất đai) là nguồn gốc cuả ngoại thương
Trang 16HỌC THUYẾT HECKSCHER – OHLIN
• Mô hình này cho thấy rằng lợi thế so sánh cuả một nước được quyết định bởi:
– Sự dồi dào tương đối các yếu tố sản xuất của một nước
– Sự thâm dụng các yếu tố tương đối của một loại hàng hoá
• Mô hình này có những dự đoán tương đối phù hợp với thực tế hơn so với mô hình Ricardo
- Các nước có xu hướng sản xuất hai loại hàng hoá (không có chuyên môn hoá hoàn toàn)
- Ngoại thương mang lại lợi ích cho một nước nhưng đồng thời cũng gây ra tác động phân phối lại thu nhập bên trong một nước
Trang 17• Tính toán (K/L) cuả lượng hàng hoá nhập khẩu
và xuất khẩu có giá trị 1 triệu đô la
• Kết quả: Hàng hóa xuất khẩu của Mỹ là hàng
khẩu của Mỹ
• Kiểm chứng này lập lại vào những năm 1950
và 1960 cũng có kết luận tương tự
Trang 18HỌC THUYẾT VỀ VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM
• Raymond Vernon là người đầu tiên đưa ra học thuyết về vòng đời sản phẩm vào giữa thập niên 60
• Lý thuyết của ông dựa trên những quan sát thực tế là trong suốt thế kỷ XX một tỷ lệ rất lớn các sản phẩm mới của thế giới đã được phát triển bởi các công ty Hoa Kỳ và được tiêu thụ ban đầu tại thị trường Hoa Kỳ (ví dụ như sản xuất ô tô ở quy mô công nghiệp, máy thu hình, máy ảnh chụp lấy ngay, máy photocopy, máy tính cá nhân, và các chíp bán dẫn)
Trang 19HỌC THUYẾT VỀ VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM
• Vernon lập luận rằng sự thịnh vượng và quy
mô của thị trường Hoa Kỳ đã mang lại cho các công ty Hoa Kỳ một động lực rất lớn đề phát triển các sản phẩm tiêu dùng mới
• Chi phí nhân công cao ở Hoa Kỳ cũng khiến cho các công ty Hoa Kỳ có lý do để sáng chế
ra các quy trình công nghệ tiết kiệm chi phí sản xuất
Trang 20HỌC THUYẾT VỀ VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM
Giai đoạn đầu
Khi nhu cầu đang bắt
đầu tăng cao một
cách nhanh chóng ở
Hoa Kỳ thì nhu cầu
tại các nước tiên tiến
sẽ thiết lập các dây chuyền sản xuất tại các nước phát triển có nhu cầu đang tăng nhanh
=> quá trình sản xuất tại các nước này bắt đầu hạn chế bớt tiềm năng xuất khẩu từ nước Mỹ
Khi bão hòa
Sản phẩm mới đã đạt tới mức
độ tiêu chuẩn hóa cao hơn, giá
cả bắt đầu trở thành vũ khí cạnh tranh trên thị trường
Các nhà sản xuất tại các nước
có chi phí lao động thấp hơn
Mỹ thì có thể xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Khi đó các nước đang phát triển sẽ có lợi thế sản xuất so với các nước phát triển
Trang 21HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI
Paul Robin Krugman sinh ngày 28/2/1953 tại Long Island,
Princeton, đã được Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển quyết định
qua vì những đóng góp của ông cho khoa học kinh tế, đặc biệt là
lý thuyết thương mại (mới) và kinh tế địa lý (mới)
Trang 22HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI
• Trong thương mại quốc tế lại có hiện tượng là giữa các nước như Nhật và Hàn Quốc, Pháp và Đức, Mỹ và Canada; mặc dù nguồn lực cũng như năng suất lao động không khác biệt nhiều nhưng trao đổi thương mại giữa những nước này lại khá lớn Các nước phát triển buôn bán với nhau không phải chỉ có những sản phẩm
do khác biệt về nguồn lực hay năng suất, không phải chỉ bán thứ này và mua thứ khác mà họ còn buôn bán với nhau cùng một loại sản phẩm như ô tô hoặc rượu Nếu vận dụng các lý thuyết thương mại cũ thì sẽ khó giải thích một cách thuyết phục các hiện tượng này
• Đến năm 1979, bằng một bài báo dài 10 trang, P Krugman đã đánh dấu sự ra đời của lý thuyết thương mại mới trên cơ sở lý luận về tính kinh tế của quy mô,
sự đa dạng về sự sở thích của người tiêu dùng và cạnh tranh độc quyền
Trang 23LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC GIA
MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA PORTER
• Michael Eugene Porter (sinh ngày 23 tháng 5 năm 1947 )
là Giáo sư của Đại học Harvard , Hoa Kỳ; nhà tư tưởng
chiến lược và là một trong những "bộ óc" quản trị có ảnh
hưởng nhất thế giới; chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của thế giới; là cha đẻ của lý thuyết lợi thế cạnh tranh của các quốc gia
• Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận
dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Viên kim cương” Các yếu tố quyết định của mô hình là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp Ngoài ra, còn có 2 biến số bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ
Trang 24LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC GIA
MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA PORTER