1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh doanh quốc tế kinh doanh quốc tế hiện đại

24 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 659,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.BIỆN PHÁP THỰC THI CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI Chính sách thương mại sử dụng 7 công cụ chính: thuế, tài trợ, hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, yêu cầu về hàm lượng nội địa hó

Trang 1

2.Trịnh Thu Linh

3.Đặng Thuỳ Linh

4.Đoàn Thu Thuỷ

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

I.BIỆN PHÁP THỰC THI CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI 2

II.YÊU CẦU VỀ HÀM LƯỢNG NỘI ĐỊA HOÁ 4

III.CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH 5

IV.CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 5

1.Khái niệm 5

2.Các biện pháp chống bán phá giá 6

V.TÌNH HUỐNG VỀ SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ 6

VI.CÁC LẬP LUẬN KINH TẾ BIỆN HỘ CHO SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ 8

VII.CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CHIẾN LƯỢC 9

VIII.QUAN ĐIỂM XÉT LẠI VỀ THƯƠNG MẠI TỰ DO 10

1 Biện pháp trả đũa và chiến tranh thương mại 11

2 Các chính sách nội địa 11

3 Sự phát triển của hệ thống thương mại thế giới 12

4 Từ thời đại của SMIT đến cuộc đại suy thoái 12

IX.VÒNG ĐÀM PHÁN URUGUAY VÀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 15

1.Dịch vụ và sở hữu trí tuệ 15

2.Tổ chức thương mại thế giới 15

X.WTO: TRẢI NGHIỆM CHO ĐẾN NGÀY NAY 16

1.WTO trong vai trò cảnh sát toàn cầu 16

2.Mở rộng các thỏa thuận thương mại 17

3.Tương lai của WTO: Các vấn đề chưa được giải quyết và vòng đàm phán Doha 17

4.Các hành động chống bán phá giá 18

5.Chủ nghĩa bảo hộ trong nông nghiệp 18

TIÊU ĐIỂM Ý NGHĨA QUẢN TRỊ 21

1.Các rào cản thương mại và chiến lược của công ty 22

2.Vân dụng chính sách 23

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét thực tế chính trị của thương mại quốc

tế Mặc dù nhiều quốc gia trên danh nghĩa đã cam kết tự hoá thương mại, họ vẫn có xu hướng can thiệt vào thương mại quốc tế để bảo hộ lợi ích của những nhóm chính trị quan trọng hoặc tăng cường lợi ích của những nhà sản xuất nội địa trọng yếu Như vào năm 2010, Trung Quốc áp đặt hạn ngạch xuất khẩu đối với kim loaị đất hiếm, giảm nguồn cung xuất khẩu đi 30% Bởi vì hiện nay Trung Quốc chiếm đến 95% sản lượng đất hiếm thế giới, là thành phần quan trọng trong các sản phẩm công nghệ cao, nên việc áp dụng ngay hạn ngạch xuất khẩu đẩy giá đất hiếm ngòai Trung Quốc lên cao, và

vì vậy chi phí sản xuất của các nhà sản xuất nước ngoài cũng cao lên Nói cách khác, chính sách này đã tạo một môi trường thuận lợi cho các nhà sản xuất Trung Quốc có được lợi thế cạnh tranh cao hơn các đối thủ nước ngoài của họ Nhiều quốc gia phát triển đã phản đối quyết định này và dọa sẽ khiếu nại lên WTO Họ cho rằng hành động của Trung Quốc đã vi phạm các cam kết của họ theo các nguyên tắc của WTO Chúng

ta vẫn phải chờ xem tranh chấp này sẽ diễn tiến ra sao, nhưng việc này cho thấy một ví

dụ rõ ràng về sự can thiệp của nhà nước vào thương mại thế giới nhằm bảo hộ các lợi ích của nhà sản xuất nội địa

Chương này sẽ tìm hiểu các lý do kinh tế, chính trị mà các chính phủ đưa ra nhằm can thiệt vào thương mại quốc tế Các chính phủ thường can thiệp bằng cách hạn chế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đi vào nước mình, cùng lúc đó áp dụng các chính sách khuyến khích sản xuất nội địa và xuất khẩu Thông thường, động cơ của họ là bảo

hộ sản xuất trong nước Trong những năm gần đây, các vấn đề xã hội đã tác động đến các quyết sách này Ví dụ, ở Mỹ, đang rộ lên phong trào cấm nhập khẩu các hàng hóa

từ các quốc gia không áp dungj các quy định về lao động, vệ sinh, môi trường tương tự

ở Hoa Kỳ

Chương này bắt đầu bằng việc mô tả các biện pháp chính sách mà nhà nước sử dụng để can thiệp vào thương mại quốc tế Tiếp đó sẽ xem xét chi tiết tác các động cơ kinh tế và chính trị khác nhau khiến chính phủ phải áp dụng các chính sách can thiệp Trong phần 3 của chương này, chúng ta sẽ xem xét quan điểm về thương mại tự do sẽ đứng vững như thế nào trước những lý lẽ biện minh cho sự can thiệp của chính phủ vào thương mại quốc tế Tiếp đó, chúng ta sẽ xem xét sự trỗi dậy của hệ thống thương mại quốc tế hiện đại dựa trên nền tảng của Tổ chức Hiệp định Chung về Thuế quan và mậu dịch (GATT) và tổ chức hậu duệ cuả nó, WTO

Trang 3

I.BIỆN PHÁP THỰC THI CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI

Chính sách thương mại sử dụng 7 công cụ chính: thuế, tài trợ, hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, yêu cầu về hàm lượng nội địa hóa, các biện pháp hành chính, và thuế chống bán phá giá

- Thuế là công cụ thực thi chính sách thương mại lâu đời nhất và đơn giản nhất Như thấy ở phần sau của chương này, thuế cũng là biện pháp mà GATT và WTO đã áp dụng thành công nhất trong việc hạn chế đó Trong những thập kỷ gần đây, các rào cản thuế đã ít được áp dụng hơn, tuy nhiên đi kèm là sự gia tăng áp dụng của các hàng rào phi thuế, như trợ cấp, hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyên,

và thuế chống bán phá giá

Thuế quan: Thuế là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu (hay xuất khẩu) Thuế

được chia làm 2 loại chính Thuế tuyệt đối được áp dưới dạng 1 mức phí cố định trên mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu Thuế theo giá trị sẽ được áp dưới dạng tỉ lệ phần trăm trên giá trị của hàng hóa nhập khẩu Trong đa số trường hợp, thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu để bảo hộ các nhà sản xuất nội địa với cạnh tranh từ hàng ngoại nhập thông qua việc nâng gía các mặt hàng nhập khẩu Tuy nhiên, thuế cũng tạo ra nguồn thu cho chính phủ Ví dụ, cho tới trước khi thuế thu nhập được áp dụng, chính phủ Mỹ dựa vào nguồn thu chủ yếu từ thuế xuất nhập khẩu

Điều quan trọng phải hiểu về thuế là ai chịu thuế và ai hưởng lợi Chính phủ được hưởng lợi, vì thuế tăng nguồn thu chính phủ Các nhà sản xuất nội địa hưởng lợi,

vì thuế tạo cho họ 1 sự bảo hộ nhất định trước những đối thủ cạnh tranh nước ngoài thông qua việc gia tăng chi phí của hàng ngoại nhập Người tiêu dùng chịu thiệt vì họ phải trả nhiều hơn cho 1 số mặt hàng nhập khẩu Ví dụ, vào năm 2002 chính phủ Mỹ

đã đánh thuế từ 8% đến 30% giá trị nhập khẩu của các loại thép ngoại Việc này nhằm bảo hộ các nhà sản xuất thép nội địa khỏi thép ngoại nhập gía rẻ Tuy nhiên, tác động của việc này là làm tăng giá các mặt hàng thép ở Mỹ lên 30-50% Một số nhà tiêu thụ thép ở Mỹ, từ các nhà sản xuất thiết bị cho tới các công ty ô tô, đã lên tiếng phản đối rằng đánh vào thép làm gia tăng chi phí sản xuất và khiến cho việc cạnh tranh trên thị trường toàn cầu của họ khó khăn hơn Các lợi ích đem lại cho chính phủ và các nhà sản xuất nội địa lớn hơn tổn thất mà các nhà tiêu thụ phải chịu hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như số tiền thuế thu được, mức độ quan trọng của hàng hóa nhập khẩu đối với các nhà tiêu thụ nội địa, số lượng việc làm được duy trì trong ngành công nghiệp được bảo hộ và những yếu tố khác

Nhìn chung, có thể rút ra 2 kết luận từ phân tích kinh tế về tác động của thuế nhập khẩu Thứ nhất, nói chung thuế hỗ trợ cho nhà sản xuất và chống lại người tiêu dùng Trong khi chúng bảo vệ các nhà sản xuất khỏi đối thủ cạnh tranh nước ngoài, biện pháp hạn chế nguồn cung này lại làm tăng giá hàng hóa trong nước

Thứ 2, thuế nhập khẩu hạn chế hiệu qủa chung của nền kinh tế thế giới Chúng

là, giảm hiệu quả vì thuế bảo hộ khuyến khích các doanh nghiệp nội địa sản xuất các sản phẩm trong nước, mà theo lý thuyết, có thể được sản xuất hiệu quả hơn ở nước ngoài Hệ quả là xảy ra tình trạng sử dụng không hiệu quả các tài nguyên Ví dụ, thuế đánh trên gaọ nhập khẩu vào Hàn Quốc đã dẫn đến gia tăng sản xuất gạo trong nước; tuy nhiên, sử dụng đất để sản xuất gạo là hoạt động kém hiệu quả ở Hàn Quốc Sẽ tốt hơn nếu Hàn Quốc nhập khẩu gạo từ các nhà sản xuất có chi phí thấp hơn ở nước

Trang 4

ngòai và tận dụng đất hiện đang trồng lúa vào mục đích khác, như phát triển các ngành hàng thực phẩm, với hiệu qủa sản xuất có thể cao hơn ở những nước khác, hoặc cho các mục đích công nghiệp và nhà ở

Đôi khi, thuế áp dụng vào 1 loại hàng xuất khẩu ở 1 quốc gia Thuế xuất khẩu ít

phổ biến hơn nhiều so với thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu có 2 mục tiêu: thứ nhất, tăng thu cho chính phủ, và thứ hai, giảm xuất khẩu từ 1 khu vực, thường là do những nguyên nhân chính trị

- Tài trợ: Tài trợ là một khoản chi của chính phủ dành cho nhà sản xuất nội địa Có

nhiều dạng trợ cấp, bao gồm tài trợ bằng tiền mặt, các khoản vay lãi suất thấp, ăn hạn về thuế, và việc góp vốn của chính phủ vào các doanh nghiệp nội địa Thông qua việc giảm chi phí sản xuất, trợ cấp giúp các nhà sản xuất nội địa bằng 2 cách: (1) cạnh tranh với hàng ngoại nhập và (2) giành lợi thế trên các thị trường xuất khẩu

Những lợi ích chính từ trợ cấp thường dành cho các nhà sản xuất nội địa, từ đó làm tăng năng lực cạnh tranh quốc tế của họ Những người ủng hộ chính sách thương mại chiến lược ủng hộ trợ cấp nhằm giúp các doanh nghiệp nội địa đạt được vị thế thống trị trong các ngành công nghiệp, mà ở đó lợi ích kinh tế theo quy mô đóng vai trò quan trọng và thị trường thế giới không đủ lớn để hỗ trợ mang lại lợi nhuận cho nhiều hơn vài doanh nghiệp Theo lập luận này, trợ cấp có thể giúp một doanh nghiệp đạt được lợi thế cuả người dẫn đầu trong 1 ngành công nghiệp mới nổi Nếu như đạt được mục đích trên, thì sẽ nảy sinh những lợi ích lớn hơn cho nền kinh tế nội địa đến

từ nhu cầu lao động và nguồn thu thuế mà một công ty toàn cầu quan trọng có thêr tạo

ra Tuy nhiên, trợ cấp của chính phủ thông thường có được từ nguồn thu thuế đánh vào

cá nhân và doanh nghiệp

Trợ cấp có tạo ra những lợi ích lớn hơn những tổn thất quốc gia hay không vẫn còn là điều gây tranh cãi Trên thực tế, nhiều khoản trợ cấp đã không thành công trong việc gia tăng năng lực cạnh tranh quốc tế của các nhà sản xuất nội địa Hơn nữa, chúng

có xu hướng bảo hộ cho hoạt động sản xuất kém hiệu quả và thúc đẩy sản xuất thừa Một nghiên cứu ước tính rằng nếu các nước phát triển từ bỏ trợ cấp nông nghiệp, thương mại toàn cầu về các mặt hàng nông nghiệp sẽ gia tăng 50% và toàn thế giới sẽ tiết kiệm được 160 tỷ USD Một nghiên cứu khác ước tính tằng việc xóa bỏ tất cả các hàng rào thương mại trong lĩnh việc nông nghiệp sẽ tăng thu nhập của thế giới chiến

182 tỷ USD Điều này làm tăng của cải xã hội nhờ vào việc sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn

- Biện pháp hàn ngạch nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu tự nguyện:

Hạn ngạch nhập khẩu là biện pháp hạn chế trực tiếp về số lượng 1 loại hàng hóa

có thể nhập khẩu vào 1 nước Biện pháp hạn chế này thường được thực thi bằng cách cấp phép nhập khẩu cho 1 nhóm các cá nhân hay doanh nghiệp Ví dụ, nước Mỹ áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đổi với pho mát Chỉ có 1 số doanh nghiệp thương mại nhất định được phép nhập khẩu pho-mát, trong đó mỗi doanh nghiệp được phân bổ quyền nhập khẩu 1 khối lượng tối đa pho-mát mỗi năm Trong 1 số trường hợp, quyền bán được trao trực tiếp cho chính phủ các nước xuất khẩu Trong lịch sử, điều này đã đước

áp dụng trong các trường hợp nhập khẩu đường và hàng dệt may vào Mỹ Tuy nhiên,

Trang 5

có những hiệp định quốc tế chi phối việc áp đặt hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng dệt may, ví dụ như Hiệp ước Multi-Fiber, đã hết hạn vào tháng 12 năm 2004

Một biện pháp kết hợp giữa hạn ngạch và thuế được biết đến dưới dạng thuế theo hạn ngạch Khi áp dụng biện pháp thuế theo hạn ngạch, một mức thuế đước áp dụng cho hàng nhập khẩu nằm trong hạn ngạch sẽ thấp hơn mức thuế cho hàng hóa nhập khẩu vượt hạn ngạch

Một biến thể của biện pháp hạn ngạch nhập khẩu là hạn chế xuất khẩu tự

nguyện Biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER) là hạn ngạch về thương mại

được đặt ra bởi nước xuất khẩu, thường là theo yêu cầu của chính phủ nước nhập khẩu Một trong các ví dụ nổi tiếng nhất lịch sử là biện pháp hạn chế xuất khẩu ô tô đến Mỹ được thực thi bởi các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản vào năm 1981 Hành động này nhắm đối phó với áp lực trực tiếp từ chính phủ Mỹ Biện pháp hạn chế này đã giới hạn lượng nhập khẩu từ Nhật Bản xuống còn không quá 1,68 triệu chiếc mỗi năm Thỏa thuận đã được sửa đổi lại năm 1984, cho phéo nhập khẩu 1,85 triệu chiếc từ Nhật mỗi năm Thoả Thuận đã được phía Mỹ đồng ý xỏa bỏ năm 1985, nhưng vào thời điểm đó chính phủ Nhật bản lại tỏ ý muốn tiếp tục hạn chế xuất khẩu sang Mỹ ở mức 1,85 triêụ chiếc mỗi năm Các nhà sản xuất nước ngoài đồng ý với VER bởi họ lo sợ tổn thất do thuế mang tính trừng phạt gây ra hoặc hạn ngạch nhập khẩu được áp dụng, nếu họ không đồng ý với biện pháp trên Việc đồng ý với VER được coi là giải pháp tốt nhất trong 1 tình huống xấu, qua đó xoa dịu các áp lực bảo hộ ở 1 nước

Cũng như thuế và trợ cấp, cả hạn ngạch nhập khẩu và VER đều đem lại lợi ích cho các nhà sản xuất nội địa thông qua hạn chế khả năng cạnh tranh của hàng nhập khẩu Cũng giống như mọi biện pháp hạn chế về thương mại khác, hạn ngạch không làm lợi cho người tiêu dùng Biện pháp hạn ngạch nhập khẩu hoặc VER luôn làm tăng giá nội địa của mặt hàng nhập khẩu Khi hàng nhập khẩu bị hạn chế chỉ chiếm 1 phần nhỏ trên thị trường bở hạn ngạch hoặc VER, thì giá cả bị đẩy lên do nguồn cung từ nước ngoài bị hạn chế Biện pháp VER trong ngành công nghiệp ô tô, như được đề cập

ở trên, đã làm tăng giá hàng nhập khẩu có giới hạn từ Nhật Bản Theo 1 nghiên cứu của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ, VER xe hơi đã tiêu tốn của người tiêu dùng Mỹ khoảng 1 tỷ đô-la mỗi năm trong giai đoạn từ 1981 đến 1985 Khoản 1 tỷ USD mỗi năm đó đã chảy vào túi các nhà sản xuất Nhật Bản dưới dạng giá cả cao hơn Phần lợi tức có thêm khi nguồn cung bị hạn chế giả tạo bới hạn ngạch nhập khẩu được gọi là lợi tức từ hạn ngạch

Nếu ngành công nghiệp nội địa thiếu khả năng đáp ứng nhu cầu, hạn ngạch nhập khẩu có thể làm tăng giá cho cả hàng hóa sản xuất trong nước lẫn hàng nhập khẩu

II.YÊU CẦU VỀ HÀM LƯỢNG NỘI ĐỊA HOÁ Khái niệm: là yêu cầu về một tỷ lệ nhất định hàng hoá phải được sản xuất trong

nước Yêu cầu này có thể được diễn đạt dưới dạng các điều kiện vật lý ( ví dụ, 75% các thành phần của sản phẩm này phải được sản xuất trong nước) hoặc dưới dạng điều kiện về giá trị ( ví dụ, 75% giá trị sản phẩm này phải được sản xuất trong nước)

Trang 6

Các quy định về hàm lượng nội địa hoá đã được sử dụng rộng rãi bởi các quốc gia đang phát triển để chuyển các cơ sở sản xuất của họ từ thuần tuý lắp ráp sản phẩm

sử dụng các linh kiện ngoại nhập sang sử dụng các linh kiện sản xuất trong nước Chúng cũng được sử dụng ở các nước đang phát triển nhằm cố gắng bảo hộ việc làm

và các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh từ nước ngoài

Ví dụ một đạo luật ít được biết đến ở Mỹ, Đạo luật Mua hàng Mỹ ( Buy America act) quy định rằng các cơ quan chính quyền phải ưu tiên cho các sản phẩm của Mỹ khi đưa các hợp đồng thiết bị ra đấu giá, trừ khi sản phẩm ngoại có lợi thế đáng kể về giá Đạo luật này quy định hàng hoá là “của Mỹ” nếu 51% giá trị nguyên liệu được sản xuất ở Mỹ Đó chính là yêu cầu về hàm lượng nội địa hoá

Các quy định về hàm lượng nội địa hoá cung cấp sự bảo hộ cho nhà sản xuất linh kiện trong nước theo cách thức tương tự như hạn ngạch nhập khẩu: thông qua việc giới hạn cạnh tranh từ nước ngoài Các tác động kinh tế tổng thể cũng tương tự; các nhà sản xuất nội địa hưởng lợi, nhưng biện pháp hạn chế hàng nhập khẩu làm tăng giá các linh kiện nhập khẩu Tiếp đó, giá linh kiện nhập khẩu cao hơn lại được chuyển sang cho người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng dưới dạng giá cả thành phẩm cao hơn Như vậy cũng như mọi chính sách thương mại, các quy định hàm lượng nội địa hoá có

xu hướng làm lợi cho nhà sản xuất, chứ không phải người tiêu dùng

III.CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH

Ngoài các biện pháp chính thức của chính sách thương mại, các chính phủ đôi khi sử dụng cả những biện pháp không chính thức hay biện pháp hành chính để hạn chế nhập khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu

Khái niệm: là các quy định hành chính được dựng lên nhằm gây khó khăn cho hoạt động nhập khẩu vào một quốc gia

Có lập luận cho rằng Nhật Bản là bậc thầy về các loại hàng rào thương mại này Trong những thập kỷ gần đây, các hàng rào thuế và phi thuế chính thống của Nhật Bản luôn nằm ở mức thấp nhất thế giới Tuy nhiên, những người chỉ trích cho rằng điều đó không thể bù trừ cho các rào cản hành chính không chính thức của nước này đối với hoạt động nhập khẩu

Ví dụ: có thời điểm Hà Lan xuất khẩu hoa tuy líp tới hầu hết các nước trừ Nhật Bản Ở Nhật, các thanh tra hải quan yêu cầu kiểm tra từng củ tuy líp bằng cách cắt dọc chúng làm đôi , và gần như khéo léo tới đâu cũng không thể gắn chúng được lại

IV.CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 1.Khái niệm

Trong bối cảnh thương mại quốc tế, bán phá giá được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau như là hoạt động bán hàng tại thị trường nước ngoài ở mức giá thấp hơn chi phí sản xuất hay hoạt động bán hàng tại thì trường nước ngoài dưới mức giá thị trường “hợp lý”

Trang 7

Hai định nghĩa này có sự khác biệt, giá trị thị trường hợp lý của một loại hàng hoá thường được hiểu là lớn hơn chi phí sản xuất hàng hoá đó vì định nghĩa sau bao gồm cả một mức lợi nhuận hợp lý

Bán phá giá được nhìn nhận như một cách thức, mà nhờ đó các doanh nghiệp xả hàng sản xuất dư thùa ở thị trường nước ngoài Một vài trường hợp bán phá giá có thể

là kết quả của hành vi thôn tính, khi các nhà sản xuất sử dụng lợi nhuận chủ yếu từ thị trường trong nước để trợ giá ở thị trường nước ngoài với kỳ vọng loại đối thủ cạnh tranh bản địa ra khỏi thị trường Khi đạt được điều này, doanh nghiệp đi thôn tính có thể nâng giá bán và thu được lợi nhuận đáng kể

Ví dụ được cho là bán phá giá xảy ra năm 1997, khi các nhà sản xuất vật liệu bán dẫn Hàn Quốc, LG Semicon và Huyndai Electronics, bị cáo buộc đang bán các con chip bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động (DRAM) ở thị trường mỹ dưới mức chi phí sản xuất Hành động này diễn ra giữa lúc thế giới dư thừa năng lực sản xuất chip Các doanh nghiệp trên bị cáo buộc là cố tình xả hàng sản xuất dư thùa của họ vào nước

Mỹ

2.Các biện pháp chống bán phá giá

Các biện pháp chống bán phá giá được thiết kế để trừng phạt các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào việc bán phá giá Mục tiêu cuối cùng là để bảo vệ nhà sản xuất nội địa từ sự cạnh tranh thiếu công bằng của phía nước ngoài

Các biện pháp chống bán phá giá hơi khác nhau giữa nước này với nước khác,

đa số vẫn có điểm tương đồng với những biện pháp đã được sử dụng ở Mỹ

Ví dụ: trong trường hợp DRAM của hàn Quốc, công ty micron Technology, một nhà sản xuất tại Mỹ đã nộp đơn khiếu kiện Các cơ quan chính phủ sau đó sẽ tiến hành điều tra vụ kiện Nếu khiếu kiện đó là thoả đáng, Bộ Thương mại có thể áp thuế chống bán phá giá lên các hàng hoá ngoại nhập vi phạm( thuế chống bán phá giá thường được gọi là thuế chống trợ cấp – Countervailing duties) Các loại thuế này là loại thuế đặc biệt, có thể khá cao và thời gian hiệu lực có thể tới 5 năm

Ví dụ sau khí xem xét khiếu kiện của công ty Micron, Bộ thương mại đã áp thuế chống trợ cấp ở mức 9% và 4% lần lượt đối với chip DRAM của LG Semicon và Guyndai

V.TÌNH HUỐNG VỀ SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ

Các lập luận chính trị biện hộ cho sự can thiệp của chính phủ bao trùm một loạt các vấn đề, bao gồm việc duy trì việc làm, bảo hộ các ngành công nghiệp có vai trò trọng yếu đối với an ninh quốc gia, trả đũa hành động cạnh tranh không công bằng của nước ngoài, bảo vệ người tiêu dùng khỏi những hàng hoá “ nguy hiểm”, thúc đẩy hơn nữa các mục tiêu của chính sách đối ngoại, và thúc đầy nhân quyền ở các quốc gia xuất khẩu

- Bảo vệ việc làm và các ngành công nghiệp: đây có lẽ là lý do phổ biến nhất biện minh cho sự can thiệp của chính phủ là bảo vệ việc làm và các ngành công nghiệp khỏi sự cạnh tranh không công bằng với nước ngoài

Trang 8

Ví dụ: biện pháp thuế đánh vào thép nhập khẩu bởi tổng thống George W.Bush năm 2002, được đưa ra nhằm thực hiện bảo vệ khỏi sự cạnh tranh với nước ngoài Tuy nhiên nó cũng khiến giá thép tăng cao với các nhà tiêu thụ thép ở Mỹ, như các công ty Oto, khiến họ kém cạnh tranh hơn trên thị trường toàn cầu

- An ninh quốc gia: các nước đôi khi cũng cần phải bảo vệ ngành công nghiệp nhất định bởi chúng có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc gia Đặc biệt như các ngành công nghiệp lien quan đến quốc phòng ( ví dụ, hàng không vũ trụ, công nghệ điện tử tiên tiến, vật liệu bán dẫn…) Mặc dù không còn phổ biến như trước đây, xong lập luận này vẫn còn được sử dụng

Ví dụ: Những người ủng hộ việc bảo hộ ngành sản xuất vật liệu bán dẫn ở Mỹ khỏi

cạnh tranh từ nước ngoài lập luận rằng vật liệu bán dẫn hiện nay là những thành phần quan trọng trong các sản phẩm quốc phòng, do đó sẽ nguy hiểm nếu phụ thuộc phần lớn vào các nhà sản xuất nước ngoài Năm 1986, lập luận này đã giúp thuyết phục chính quyền lien bang ủng hộ Sematech, một tập đoàn gồm 14 công ty sản xuất vật liệu bán dẫn ở Mỹ chiếm tới 90% doanh thu của ngành công nghiệp này Nhiệm vụ của Sematech là thực hiện các nghiên cứu chung về các kỹ thuật sản xuất sau đó có thể phân bổ lại cho các thành viên Chính phủ nhận thấy tầm quan trọng của tập đoàn này đến mức đã đặc cách cho Sematech không phải chịu luật chống độc quyền Ban đầu chính phủ Hoa Kỳ cung cấp cho Sematech khoản trợ cấp 100 triệu đô-la mỗi năm Tuy nhiên, vào khoảng giữa những năm 1990, nhờ vào sự bùng nổ của máy tính cá nhân và nhu cầu chip vi xử lý do Intel chế tạo Năm 1994, ban điều hành tập đoàn đã bỏ phiếu để chấm dứt nguồn tài trợ từ chính quyền liên bang, và kể từ năm 1996, tập đoàn này đã hoạt động hoàn toàn bằng vốn

tư nhân

- Biện pháp trả đũa: Một số người lập luận rằng chính phủ nên sử dụng biện pháp đe doạ can thiệp trong chính sách thương mại như một công cụ mặc cả nhằm giúp mở cửa các thị trường nước ngoài và buộc các đối tác thương mại phải “tuân theo quy luật của trò chơi” Chính phủ Hoa Kỳ đã từng đe doạ trừng phạt bằng cách cấm vận thương mại trong nỗ lực nhằm buộc chính phủ Trung Quốc thực thi nghiêm túc các đạo luật về quyền sở hữu trí tuệ

Nếu biện pháp này có hiệu quả, thì lý lẽ mang động cơ chính trị cho sự can

thiệp của chính phủ có thể thúc đẩy tự do hoá thương mại và mang những lợi ích kinh

tế Tuy nhiên, đây là một chiến lược đầy rủi ro Một nước bị áp lực có thể sẽ không chịu lùi bước, mà thay vào đó sẽ trả đũa Ví dụ: đó chính là điều mà chính quyền Trung Quốc đã đe doạ thực hiện khi bị gây áp lực bởi phía Mỹ, dù cho cuối cùng họ đã chịu nhượng bộ Tuy nhiên, nếu một chính phủ không chịu lùi bước, thì kết quả có thể

là các rào cản thương mại cao hơn ở khắp nơi và tổn thất kinh tế cho tất cả các bên liên quan

- Bảo vệ người tiêu dùng: nhiều chính phủ từ lâu đã có quy định để bảo vệ người tiêu

dùng khỏi những sản phẩm không an toàn Kết quả gián tiếp của những quy định này thường là hạn chế hoặc cấm nhập khẩu những mặt hàng đó

Ví dụ : năm 2003, một số nước trong đó có Nhật Bản và Hàn Quốc, đã quyết định

cấm nhập khẩu thịt bỏ từ Mỹ,sau khi trường hợp bệnh bò điên được phát hiện ở Washington Lệnh cấm có động cơ là để bảo vệ người tiêu dùng khỏi những thực phẩm không an toàn Sau 2 năm, cả hai nước đã dỡ bỏ lệnh cấm, dù vậy họ vẫn đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt đối với thịt bò nhập khẩu từ Mỹ để giảm thiểu rủi ro là

Trang 9

thịt bò nhập khẩu có thể bị bệnh bò điên ( ví dụ, Nhật Bản yêu cầu tất cả thịt bò phải được lấy từ gia súc dưới 21 tháng tuổi)

- Thúc đẩy các mục tiêu chính sách đối ngoại: các chính phủ đôi khi sử dụng chính sách thương mại để hỗ trợ các mục tiêu của chính sách đối ngoại của họ Một chính phủ có thể trao các điều kiện thương mại ưu đãi cho một quốc gia, mà họ muốn xây dựng mối quan hệ chặt chẽ Chính sách thương mại đã được sử dụng nhiều lần để gây áp lực hoặc trừng phạt “ các quốc gia hiếu chiến”, không tuân thủ luật pháp hay thông lệ quốc tế

Ví dụ: Mỹ từ lâu đã duy trì lệnh cấm vận thương mại với Cuba Mục đích chính của

cấm vận là làm suy yếu Cuba với hy vọng những khó khăn về kinh tế sẽ dẫn tới sự sụp

đổ của chính quyền này và thay thế nó với một chế độ có khuynh hướng dân chủ hơn (

và thân Mỹ hơn) Mỹ cũng áp dụng trừng phạt thương mại đối với Libya và Iran, buộc tội cả hai nước này hỗ trợ hoạt động khủng bố, chống lại lợi ích của nước Mỹ và phát triển các vũ khí huỷ diệt hàng loạt Vào năm 2003, các biện pháp cấm vận chống Libya dường như đã thu được những kết quả nhất định khi quốc gia này tuyên bố sẽ ngừng chương trình phát triển vũ khí hạt nhân, và chính phủ Mỹ đã đáp lại bằng cách nới lỏng các biện pháp cấm vận này

Tuy nhiên các Quốc gia khác có thể xem nhẹ các biện pháp cấm vận thương mại Ví dụ: các biện pháp cấm vận của Mỹ chống Cuba đã không làm ngưng trệ hoạt động thương mại của các quốc gia phương Tây khác với Cuba Các biện pháp của Mỹ không làm được nhiều hơn là tạo ra một khoảng trống thuận lợi cho các quốc gia thương mại khác, như Canada hay Đức nhảy vào Mỹ đã tiếp tục nỗ lực nhằm ngăn chặn tình trạng này và siết chặt các biện pháp trừng phạt hơn nữa bằng cách thông qua đạo luật Helms-Burton (năm 1996) nhằm cho phép người Mỹ kiện các doanh nghiệp nước ngoài sử dụng tài sản mà họ bị tịch thu ở Cuba sau cuộc cách mạng năm 1959.Tuy nhiên đạo luật này đã khơi mào cho nhiều cuộc phản đối từ các đối tác thương mại với Mỹ, trong đó có liên minh Châu Âu, Canada và Mexico Bất chấp những cuộc phản đối này, đạo luật vẫn nằm trong khuôn khổ luật pháp Hoa Kỳ dù Hoa

kỳ không thể thực thi được – nhiều khả năng vì bất khả thi

- Bảo vệ nhân quyền: Việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền ở các quốc gia khác là một nhân tố quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhiều nền dân chủ Các chính phủ đôi khi sử dụng chính sách thương mại để cố gắng cải thiện chính sách

về nhân quyền ở các nước là đối tác thương mại

Ví dụ: từ lâu chính quyền Mỹ đã áp đặt lệnh cấm vận thương mại chống lại

Myanmar, phần lớn vì thực trạng nhân quyền ở nước này

VI.CÁC LẬP LUẬN KINH TẾ BIỆN HỘ CHO SỰ CAN THIỆP CỦA

CHÍNH PHỦ

Với sự phát triển của lý thuyết thương mại mới và chính sách thương mại chiên lược ( tại chương 6), các lập luận về kinh tế biện minh cho sự can thiệp của chính phủ

đã trải qua thời kỳ phục hưng trong những năm gần đây

Gần như là lập luận kinh tế lâu đời nhất biện hộ cho sự can thiệp của chính phủ.Alexander Hamilton đã đề xuất lập luận này vaoaf năm 1972 Theo như lập luận này, nhiều nước đang phát triển có lợi thế so sánh tiềm tàng trong sản xuất, nhưng lúc

Trang 10

đầu các ngành công nghiệp sản xuất không thể cạnh tranh được với các ngành công nghiệp đã ra đời lâu ở các nước phát triển Để tạo cho ngành sản xuất trong nước có một chỗ đứng, lập luận cho rằng các chính phủ nên tạm thời hỗ trợ các ngành công nghiệp mới ( bằng thuế, hạn ngạch nhập khẩu, và trợ cấp) cho đến khi họ phát triển đủ mạnh để có thể cạnh tranh quốc tế

Lập luận này đã thu hút được sự chú ý của chính phủ các quốc gia đang phát

triển trong suổt 50 năm qua, và GATT đã thừa nhận lập luận các ngành công nghiệp non trẻ là một lý do chính đáng cho chính sách bảo hộ mậu dịch Tuy thế nhiều nhà kinh tế vẫn giữ thái độ chỉ trích vấn đề này vì hai lý do chính

Thứ nhất, sự bảo hộ sản xuất khỏi cạnh tranh với nước ngoài không có lợi, trừ

sự bảo hộ đó giúp ngành công nghiệp hoạt động hiệu quả Tuy nhiên qua nhiều trường hợp thực tế cho thấy, sự bảo hộ dường như đã không làm được gì nhiều, ngoài việc khuyến khích sự phát triển của các ngành công nghiệp kém hiệu quả, mà rất ít hy vọng

có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới Ví dụ: Brazil đã xây dựng ngành công nghiệp ô tô lớn thứ 10 trên thế giới, được bảo hộ bởi các hàng rào thuế và hạn ngạch Tuy nhiên, khi những hàng rào này được dỡ bỏ vào những năm cuối thập niêm 1980, nhập khẩu từ nước ngoài đã tăng lên chóng mặt, và phải đối mặt với thực tế là sau 30 năm bảo hộ, ngành công nghiệp ô tô Brazil là một trong những ngành kém hiệu quả nhất thế giới

Thứ hai, lập luận ngành công nghiệp non trẻ dựa trên các giả thuyết là các doanh nghiệp không thể đầu tư dài hạn hiệu quả bằng cách vay tiền từ các thị trường vốn trong nước hay quốc tế Vì vậy, các chính phủ buộc phải trợ cấp cho đầu tư dài hạn Dựa vào sự phát triển của thị trường vốn toàn cầu trong vòng 20 năm qua cho thấy giả thiết này không còn giá trị như trước đây Ngày nay, nếu một nước đang phát triển có lợi thế so sánh tiềm tang trong một ngành sản xuất, các doanh nghiệp ở nước

đó có thể vay tiền từ các thị trường vốn để tài trợ cho các khoản đầu tư cần thiết Có được sự hỗ trợ tài chính, các doanh nghiệp đặt lại các nước có lợi thế so sánh tiềm tàng

sẽ có động lực vượt qua những thua lỗ tất yếu ban đầu để có được lợi nhuận dài hạn,

mà không cần đến sự bảo hộ của chính phủ Nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc và Đài Loan đã làm được điều này trong các doanh nghiệp như dệt may, vật liệu bán dẫn, máy công cụ, thép, tàu biển Như vậy, trong điều kiện các thị trường vốn toàn cầu hiệu quả, các ngành công nghiệp duy nhất có thể cần sự bảo hộ của chính phủ sẽ là các ngành không có giá trị

VII.CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CHIẾN LƯỢC

Một số học thuyết gia thương mại mới đã đề xuất lập luận chính sách thương mại chiến lược Chúng ta đã xem xét lập luận cơ bản ở Chương 6, khi nghiên cứu lý thuyết thương mại mới Lý thuyết thương mại mới lập luận rằng trong các ngành công nghiệp mà sự tồn tại của lợi thế kinh tế theo quy mô là trọng yếu, có nghĩa là thị trường thế giới sẽ hỗ trợ đem lại lợi nhuận cho chỉ một số doanh nghiệp, thì các nước

có thể thắng thế trong xuất khẩu một số sản phẩm nhất định, đơn giản bởi vì họ có các doanh nghiệp có khả năng chiếm lấy lợi thế của người dẫn đầu Sự thống trị lâu dài của Boeing trong ngành sản xuất máy bay thương mại được cho là do các yếu tố trên

Trang 11

Lập luận về chính sách thương mại chiến lược có hai phần chính:

Thứ nhất, người ta lý luận rằng với các hành động thích hợp, một chính phủ có thể giúp nâng cao thu nhập quốc gia, nếu họ có thể, bằng cách nào đó, đảm bảo rằng doanh nghiệp hay các doanh nghiệp nội địa, chứ không phải doanh nghiệp nước ngoài, giành được lợi thế dẫn đầu trong một ngành công nghiệp Như vậy, theo lập luận về chính sách thương mại chiến lược, một chính phủ nên sử dụng trợ cấp để hỗ trợ các doanh nghiệp tiềm năng đang hoạt động năng động trong các ngành công nghiệp mới nổi Ủng hộ quan điểm này, người ta chỉ ra rằng các hộ trợ mạnh mẽ về R&D của chính phủ Mỹ dành cho Boeing trong thập niên 1950 và 1960 có thể đã giúp làm nghiêng cán cân cạnh tranh trong lĩnh vực máy báy dân dụng ở thị trường mới nổi về phía có lợi cho Boeing Các lập luận tương tự đã được đưa ra để giải thích cho sự thống trị của Nhật bản trong ngành sản xuất màn hỉnh tinh thể lỏng Mặc dù các màn hỉnh này được phát minh tại Mỹ, chính quyền Nhật Bản, hợp tác cùng với các công ty điện tử lớn, đã tập trung hỗ trợ cho công tác nghiên cứu của ngành công nghiệp này trong những năm cuối thập niên 1970 và những đầu năm 1980 Kết quả là các doanh nghiệp Nhật Bản, chứ không phải doanh nghiệp Mỹ, đã dần chiếm lĩnh lợi thế người dẫn đầu trong thị trường này

Thứ hai, chính phủ có thể thu lợi từ việc can thiệp vào một ngành công nghiệp khi giúp các doanh nghiệp nội địa vượt qua các hàng rào, được tạo ra bởi các doanh nghiệp nước ngoài đã giành được lợi thế người dẫn đầu nhằm cản trở các doanh nghiệp mới gia nhập ngành Lập luận này là cơ sở cho sự hỗ trợ của chính phủ đối với Airbus Industrie, đối thủ cạnh tranh chính của Boeing Được thành lập năm 1966, dưới dạnh liên danh của 4 công ty từ Anh, Pháp, Đức và Tây Ban Nha, Airbus chiếm ít hơn 5% thị phần máy bay thương mại thế giới, khi nó bắt đầu hoạt động sản xuất giữa những năm 1970 Đến năm 2011, Airbus đã tăng thị phần lên 45%, đe dọa vị trí thống trị thị trường lâu đời của Boeing Theo chính hủ Mỹ, Airbus đạt được điều này là nhờ khoản trợ cấp 15 tỷ USD từ các chính phủ Anh, Pháp, Đức và Tây Ban Nha Nếu không có khoản trợ cấp này, Airbus sẽ không bao giờ có khả năng thâm nhập vào thị trường thế giới

Nếu các lập luận này đúng, chúng sẽ hậu thuẫn cho lý do biện minh cho sự can thiệp của chính phủ vào thương mại quốc tế Các chính phủ tập trung vào mục tiêu công nghệ vì nó đóng vai trò quan trọng cho tương lai và nên sử dụng trợ cấp để hỗ trợ công tác phát triển hướng tới thương mại hóa các công nghệ đó Hơn nữa, các chính phủ nên tiến hành trợ cấp xuất khẩu cho đến khi các doanh nghiệp nội địa tạo lập được

ưu thế người dẫn đầu trên thị trường thế giới Sự hỗ trợ từ chính phủ cũng có thể xem

là chính đáng, nếu họ có thể giúp cho danh nghiệp nội địa vượt qua được ưu thế dẫn đầu đang nằm trong tay các đối thủ cạnh tranh nước ngoài khác và nổi lên như đối thủ cạnh tranh vững mạnh trên thị trường thế giới Trong trường hợp này, một chính sách kết hợp giữa bảo hộ trên thị trường nội địa và trợ cấp khuyến khích xuất khẩu có thể là cần thiết

VIII.QUAN ĐIỂM XÉT LẠI VỀ THƯƠNG MẠI TỰ DO

Các lập luận về chính sách thương mại chiến lược của các học giả ủng hộ thuyết thương mại mới đưa ra các lý do kinh tế biện minh cho sự can thiệp của chính phủ vào

Trang 12

thương mại quốc tế Sự biện minh này thách thức luận điểm thương mại tự do không hạn chế được thấy trong các công trình nghiên cứu của các học giả theo thuyết thương mại cổ điển Để đáp lại thách thức quan điểm chính thống về kinh tế này, một số các nhà kinh tế đã chỉ ra rằng mặc dù chính sách thương mại chiến lược có vẻ hấp dẫn về mặt lý thuyết, nhưng trên thực tế có thể không có giá trị Chính sự đáp trả lại lập luận chính sách thương mại chiến lược nói trên đã dẫn tới quan điểm xét lại về thương mại

dự do

1 Biện pháp trả đũa và chiến tranh thương mại

Krugman – một trong một số người chịu trách nhiệm phát triển thuyết thương mại mới – lập luận rằng một chính sách thương mại chiến lược hướng tới việc thành lập các doanh nghiệp nội địa có vị thế thống trị trong một ngành công nghiệp toàn cầu

là một chính sách “làm nghèo hàng xóm”, qua đó đã nâng cao thu nhập quốc gia bằng chi phí của các nước khác Một nước nếu nỗ lực sử dụng các chính sách như trên, thì nhiều khả năng sẽ vấp phải biện pháp trả đũa Trong nhiều trường hợp, kết quả là chiến tranh thương mại giữa hai hay nhiều chính phủ có chính sách can thiệp sẽ đẩy tất cả các nước liên qua vào tình trạng tồi tệ hơn và không áp dụng các chính sách can thiệp ngay từ đầu Ví dụ, neeys chính phủ Mỹ phản ứng lại trợ caaos cho Airbus bằng cách tăng các khoản trợ cấp của mình cho Boeing, thì kết quả có thể là các khoản trợ cấp đó

tự triệt tiêu lẫn nhau Trong bối cảnh như vậy, thì cả những người dân chịu thuế ở Châu Âu và Mỹ cuối cùng đều phải trả giá cho một cuộc chiến tranh thương mại đắt đỏ

và vô ích, và cả Châu Âu lẫn Mỹ đều trở nên tồi tệ hơn

Krugman có lẽ đã đúng về sự nguy hại của chính sách thương mại chiến lược khi nó dẫn tới chiến tranh thương mại Tuy nhiên, vấn đề là phản ứng như thế nào khi các đối thủ cạnh tranh đang được hỗ trợ bởi nguồn trợ cấp từ chính phủ; hay cụ thể, Boeing và nước Mỹ sẽ phản ứng thế nào với sự trợ cấp dành cho Airbus? Theo Krugman, câu trả lời có lẽ không dính líu đến cách hành động trả đũa, nhưng nên giúp tạo ra luật chơi làm giảm thiểu việc sử dụng các biện pháp trợ cấp bóp méo thương mại Đó là điều mà Tổ chức Thương mại Thế giới đang tìm các thực hiện

2 Các chính sách nội địa

Các chính phủ không phải lúc nào cũng hành động dựa trên lợi ích quốc gia, khi

họ can thiệp vào nền kinh tế; Những nhóm lợi ích có vai trò chính trị quan trọng thường tác động đến họ Sự ủng hộ của Liên minh Châu Âu đối với Chính sách nông nghiệp chung (CAP), thứ đã xuất hiện nhờ vào sức mạnh chính trị của các nhà sản xuất nông nghiệp ở Đức và Pháp, là một ví dụ CAP đem lại lợi ích cho những nhà nông sản xuất không hiệu quả và các chính khách dựa vào những lá phiếu của họ, nhưng không mang lại gì cho người tiêu dùng ở EU, những người cuối cùng phải chi trả nhiều hơn cho hàng hóa thực phẩm của mình Như vậy, lý do sâu xa hơn cho việc không áp dụng chính sách thương mại chiến lược, theo Krugman, là chính sách này gần như chắc chắn

sẽ khống chế bởi các nhóm lợi ích đặc biệt trong nền kinh tế, những người sẽ bóp méo chính sách đó phục vụ lợi ích của họ Krugman kết luận rằng ở Mỹ

Để đề nghị Bộ thương mại bỏ qua tư tưởng chính trị đặc lợi khi xây dựng chính sách cụ thể cho nhiều ngành là không thực tế: Để thiết lập một chính sách khung cho thương mại tự do, chỉ bao gồm các ngoại lệ trong trường hợp có áp lực quá lớn, dường

Ngày đăng: 01/05/2016, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w