Hiện nay, khái niệm logistics đang được sử dụng và công nhận trên toàn thế giới làkhái niệm do Hội đồng Các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng Council of Supply Chain Management Professi
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ
BỘ MÔN LOGISTICS VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
BÀI GIẢNG TỔNG QUAN LOGISTICS
VÀ CHUỖI CUNG ỨNG
TÊN HỌC PHẦN: TỔNG QUAN LOGISTICS VÀ CCƯ
MÃ HỌC PHẦN: 15802
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG
DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH: LOGISTICS
Trang 2Tổng quan Logistics và Chuỗi cung ứng:
a Tổng số tín chỉ: 3 Mã học phần: 15802
b Bộ môn phụ trách giảng dạy: Bộ môn Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng
c Phân bổ thời gian:
Kỹ năng:
Sau khi kết thúc môn học, học viên có thể nhận biết các hoạt động logistics trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh, định hình được chuỗi cung ứng và các vấn đề liên quan tới quản trịchuỗi cung ứng
Thái độ nghề nghiệp:
Môn học cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về kogistics và chuỗi cungứng, tạo nền tảng kiến thức cơ bản phục vụ cho công việc trong tương lai Môn học không chỉhữu ích đối với những công việc mang tính học thuật, nghiên cứu mà còn rất quan trọng đối vớinhững người có định hướng làm việc ở các ngành nghề liên quan đến logistics hoặc/và chuỗicung ứng Bởi người học được cung cấp cơ sở lý luận để hiểu được cách vận hành và quản lý cáchoạt động này trong thực tiễn
f Nộị dung chủ yếu:
Môn học cung cấp cho học viên những kiến thức về logistics và chuỗi cung ứng thôngqua việc giới thiệu cho người học những khái niệm, nguyên tắc cũng như cách thức quản trị cáchoạt động logistics và chuỗi cung ứng Đồng thời thông qua môn học, người học có được nhữnghiểu biết thực tiễn về logistics, dịch vụ logistics và chuỗi cung ứng trong thực tế để dễ dàng tiếpthu, vận dụng cũng như hình thành nền tảng cho các môn học chuyên ngành khác
g Người biên soạn:
Bộ môn Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng
h Nội dung chi tiết của học phần:
Trang 31.5 Các hoạt động logistics 1 1
Tự học (10 tiết): Nghiên cứu tình hình hoạt động logistics và
dịch vụ logistics tại Việt Nam, thông qua việc:
- Đọc giáo trình tổng quan logistics và chuỗi cung ứng chương
1, tổng quan về logistics, trang 4-66.
- Nghiên cứu báo chí, thông qua các trang web trong nước và
nước ngoài: vneconomy.vn, …
- Tài liệu trên thư viện
Tự học (10 tiết): Bài tập nhóm, xây dựng quy trình cho một
hoạt động logistics trong doanh nghiệp.
- Đọc phần 2.1 và 2.2, chương 2, giáo trình tổng quan logistics
và chuỗi cung ứng, trang 71-91.
- Quy trình dịch vụ logistics của các doanh nghiệp (thông qua
các website của doanh nghiệp).
Tự học (10 tiết): Nghiên cứu công nghệ thông tin và thông tin
liên lạc trong chuỗi cung ứng, thông qua các nguồn tài liệu
mở:
- Đọc phần 3.3 – 3.4, chương 3, giáo trình tổng quan logistics
và chuỗi cung ứng, trang 193-232.
- Các website:
i Mô tả cách đánh giá học phần
● Điểm X:
Công thức: X = X1
Trang 4X1 =
3
3 2
Thuyết trình (trình chiếu slide)
Kiểm tra miệng
Làm bài tập trên lớp
Làm tiểu luận
Điểm X được làm tròn lên 0,5.
Nếu sinh viên vắng mặt, không làm bài kiểm tra thì điểm bài kiểm tra đó bằng 0
Thời gian sinh viên có mặt trên lớp <75% thì X = 0.
● Điều kiện dự thi:
- Số tiết tham dự học phần phải ≥ 75%
- Điểm X ≥ 4
● Điểm Y : là điểm thi kết thúc học phần theo hình thức thi viết (tự luận) do Bộ môn tổ
chức Bài thi do 2 Giảng viên chấm và được làm tròn đến 1 chữ số sau dấu phẩy
● Điểm Z :
Công thức : Z = 0.3 X + 0.7 Y
Điểm Z là điểm học phần, được làm tròn đến một chữ số thập phân
k Tài liệu tham hảo :
- Bài giảng Tổng quan logistics và chuỗi cung ứng – Bộ môn Logistics và QTCCƯsoạn thảo
l Tài liệu tham khảo
[1] Giáo trình Quản trị Logistics kinh doanh – ĐH Thương Mại 2000
[2] Alan Rushton, John Oxley, Phil Croucher, “Handbook of Logistics and DistributionManagement”, second edition, published by Kogan Page (2000)
[3] Ian Sadler, “Logistics and Supply Chain Integration”, first edition, published bySage (2007)
[4] Martin Christopher, “Logistics and Supply Chain Management”, third edition,published by Prentice Hall (2005)
[5] Donald Waters, “Logistics - An introduction to Supply Chain Management”
m Ngày phê duyệt: / / 2014
n Cấp phê duyệt:
Trang 5 Tiến trình cập nhật Đề cương:
Cập nhật lần 1: ngày / /
Nội dung: Rà soát theo kế hoạch Nhà trường (từ T4/2014) gồm: - Mục h: bổ sung Nội dung tự học cuối mỗi chương mục, chuyển một số nội dung giảng dạy sang phần tự học - Bổ sung các mục m, n.
Người cập nhật Trưởng Bộ môn Cập nhật lần 2: ngày / /
Nội dung: Người cập nhật Trưởng Bộ môn Trưởng Bộ môn PGS, TS Nguyễn Thanh Thủy MỤC LỤC CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS 4
1.1 Khái niệm logistics 4
1.2 Quá trình phát triển của logistics 8
1.2.1 Các giai đoạn phát triển của logistics 8
Trang 61.2.2 Các điều kiện phát triển Logistics 11
1.2.3 Xu hướng phát triển logistics 12
1.3 Vị trí và vai trò của Logistics 13
1.3.1 Đối với nền kinh tế 13
1.3.2 Đối với doanh nghiệp 14
1.4 Lợi thế so sánh nhờ logistics 15
1.5 Các hoạt động logistics 16
1.5.1 Vận tải 16
1.5.2 Hoạt động kho hàng 17
1.5.3 Làm hàng 17
1.5.4 Bao gói 18
1.5.5 Hoạt động xử lý logistics 18
1.5.6 Hệ thống thông tin 18
1.6 Thách thức đối với hoạt động logistics 19
1.6.1 Thách thức từ môi trường bên ngoài 19
1.6.2 Thách thức từ hoạt động cung ứng 20
1.6.3 Thách thức từ hoạt động phân phối 21
1.6.4 Thách thức từ hoạt động bán lẻ 22
1.6.5 Thách thức từ khách hàng 22
1.7 Dịch vụ logistics 23
1.7.1 Dịch vụ logistics 23
1.7.2 Các cấp độ dịch vụ logistics 31
1.7.3 Logistics bên thứ ba 32
1.7.4 Thuê ngoài 42
1.8 Logistics ngược 50
1.8.1 Khái niệm 50
1.8.2 Lý do cần áp dụng logistics ngược 51
1.8.3 Quy trình logistics ngược 52
1.8.4 Các bên tham gia trong logistics ngược 54
1.8.5 Các mô hình logistics ngược 55
1.9 Trung tâm dịch vụ logistics 57
1.9.1 Khái niệm 57
1.9.2 Phân loại 60
1.9.3 Chức năng 62
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 67
CÂU HỎI ÔN TẬP 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ VẬN HÀNH LOGISTICS 71
2.1 Tổ chức quy trình logistics 71
2.1.1 Vai trò của quy trình logistics 71
2.1.2 Một số quy trình logistics chủ chốt 73
2.1.3 Phương pháp xây dựng quy trình logistics 78
2.2 Quản trị và tổ chức hoạt động logistics 79
Trang 72.2.1 Tổ chức logistics 79
2.2.2 Lựa chọn hình thức tổ chức logistics 82
2.2.3 Các chiến lược ảnh hưởng đến định hướng tổ chức logistics 86
2.2.4 Tích hợp về tổ chức 87
2.2.5 Kiểm soát hoạt động logistics 90
2.3 Quyết định logistics chiến lược 92
2.3.1 Quyết định logistics 92
2.3.2 Lập kế hoạch logistics 93
2.3.3 Quyết định logistics chiến lược 94
2.3.4 Công cụ ra quyết định chiến lược 97
2.4 Chi phí logistics 99
2.4.1 Khái niệm chi phí logistics 99
2.4.2 Các bộ phận chi phí logistics 100
2.4.3 Xác định chi phí logistics của doanh nghiệp 104
2.4.4 Phân tích chi phí logistics 110
2.4.6 Đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí logistics 113
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 118
CÂU HỎI ÔN TẬP 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
CHƯƠNG 3: QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 121
3.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng 121
3.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng 121
3.1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng 125
3.1.3 Các chuỗi cung ứng 130
3.2 Tổng quan về quản trị chuỗi cung ứng 141
3.2.1 Các quan điểm về mối quan hệ giữa logistics và QTCCƯ 141
3.2.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng 147
3.2.3 Các nguyên tắc quản trị chuỗi cung ứng 151
3.2.4 Điều hành chuỗi cung ứng: Hoạch định 157
3.2.5 Điều hành chuỗi cung ứng: Nguồn cung 167
3.2.6 Điều hành chuỗi cung ứng: Sản xuất 175
3.2.7 Điều hành chuối cung ứng: Giao hàng 180
3.2.8 Đánh giá hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng 185
3.4 Công nghệ thông tin trong chuỗi cung ứng 193
3.4.1 Vai trò và chức năng của công nghệ thông tin với QTCCƯ 193
3.4.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong QTCCƯ 198
3.4.3 Công nghệ thông tin trong kinh doanh ảo 202
3.5 Thông tin liên lạc trong chuỗi cung ứng 209
3.5.1 Tầm quan trọng của hệ thống thông tin 210
3.5.2 Chức năng của hệ thống thông tin 211
3.5.3 Ứng dụng các hệ thống thông tin liên lạc 211
3.5.4 Trao đổi thông tin điện tử trong chuỗi cung ứng 227
3.6 Quản trị rủi ro chuỗi cung ứng 232
Trang 83.6.1 Nguyên nhân khiến chuỗi cung ứng dễ bị tổn thương 233
3.6.2 Khả năng rủi ro của chuỗi cung ứng 234
3.6.3 Sơ đồ hóa khả năng rủi ro 236
3.6.4 Quản trị rủi ro chuỗi cung ứng 239
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 253
CÂU HỎI ÔN TẬP 255
TÀI LIỆU THAM KHẢO 256
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS
1.1 Khái niệm logistics
Logistics đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người tuy nhiên đến giữa thế kỷ
20 logistics mới thực sự được nhìn nhận và phát triển mạnh mẽ Trở lại 2700 năm trước công nguyên (TCN), các hoàng đế Ai Cập đã cho xây dựng kim tự tháp bằng những tảng
đá lớn nặng tới vài tấn được vận chuyển và ráp lại trong khu vực xây dựng Để xây kim
tự tháp Giza cao 146m và nặng 6 triệu tấn, người Ai Cập cần sử dụng tới những thiết bị
Trang 9vận chuyển nguyên liệu vô cùng tinh xảo để di chuyển các khối đá khổng lồ và đặt chúngvào đúng vị trí mà đến nay chúng ta vẫn chưa giải thích được tại sao điều này có thể thựchiện được vào những năm 2700 TCN Hay, việc xây dựng nhà thờ Hồi giáo Mezquita tạiCordoba, Tây Ban Nha cách đây 700 năm TCN với hơn 1000 cột đá các loại được lấy từkhắp các nhà thờ La Mã được xây dựng trước đó hoặc đã bị tàn phá Từ hai minh chứngtrên ta có thể thấy trong việc di chuyển hoặc thu mua nguyên vật liệu từ thuở xa xưa đã
có sự hiện diện của Logistic
Tuy nhiên, mốc phát triển mạnh mẽ của logistics lại bắt nguồn từ khi logistics được
áp dụng trong lĩnh vực quân sự Trong các cuộc chiến tranh Hy Lạp và La Mã cổ đại, banđầu mỗi chiến sĩ tự vận chuyển và bảo quản lương thực, các đồ dùng thiết yếu cũng nhưkhí tài trong quá trình di chuyển và chiến đấu Nhưng khi số lượng quân sĩ tăng lên,người ta nhận thấy rằng sử dụng một nhóm chuyên trách thực hiện các công việc trên sẽnâng cao hiệu quả chiến đấu Do vậy, các sĩ quan quân đội với chức danh “logistikas” đãđược giao nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ về quân nhu và phân phối các nguồn lực, giúpcho các chiến sĩ có thể chuyển từ vị trí cơ sở tiến lên vị trí mới một cách hiệu quả Điềunày cũng bao hàm việc gây tổn thất tới nguồn quân nhu của kẻ địch và canh gác tại vị trícác nguồn quân nhu của chính đội quân mình là yếu tố cốt lõi quyết định kết quả của trậnchiến, từ đó đã dẫn đến sự phát triển của một hệ thống liên quan tới hệ thống quản trịlogistics ngày này
Chiến tranh Thế giới thứ hai (1939-1945) là sự khẳng định vai trò của logisticstrong lĩnh vực quân sự Áp dụng logistics trong chiến tranh, quân đội Mỹ đã đảm bảo cácdịch vụ và quân nhu được cung cấp vào đúng thời điểm và tại đúng vị trí Họ cũng cốgắng cung cấp những dịch vụ này bất kỳ khi nào và bất cứ nơi nào được yêu cầu, theocách thức tối ưu và kinh tế nhất Quân đội Mỹ đã gây ra tổn thất nặng nề cho tuyến cungứng quân nhu của Đức, khiến đội quân Đức mất đi sức chiến đấu và giành chiến thắng.Điều này cho thấy việc phá hủy tuyến cung ứng của kẻ thù và canh gác tuyến cung ứngcủa chính mình là yếu tố quyết định trong trân chiến Từ đó, nhiều kỹ thuật logistics quân
sự khác nhau đã hình thành và hiện nay vẫn đang được sử dụng, tuy nhiên với cách thứctiên tiến hơn1
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, những phát minh lớn như container hóa và sự pháttriển của vi tính hóa đã hình thành nên tiền đề cho sự phát triển của logistics sau này Đặcbiệt, bước sang những năm 80 logistics bắt đầu được áp dụng trong lĩnh vực sản xuấtkinh doanh và đã mang lại nhiều lợi ích lớn cho doanh nghiệp về mặt giảm chi phí Từđây, thuật ngữ logistics xuất hiện và nhiều tổ chức cũng như các học giả bắt đầu tham gianghiên cứu về logistics để xây dựng kiến thức khoa học về lĩnh vực mới phát triển này
Thuật ngữ “logistics” trong tiếng Anh có nguồn gốc từ từ “logistique” trong tiếng Pháp.
“logisticsque” là danh từ xuất phát từ động từ “loger” theo tiếng Pháp có nghĩa là đóng
quân trên chiến trường Đây là thuật ngữ quân sự được sử dụng từ thời Napoleon đệNhất2 Trên thực tế, logistics là một phạm trù rất rộng
1 Nguồn http://www.bestLogisticsguide.com/Logistics-history.html, truy cập ngày 10/6/2013.
2 Tài liệu khóa đào tạo “The 2 nd train the trainer in Japan”, tháng 4 năm 2013.
Trang 10Hiệp hội các kỹ sư logistics (Society Of Logistics Engineers, 1974) đã đưa ra định
nghĩa về logistics như sau: “Logistics là nghệ thuật và khoa học về quản lý, các hoạt động kỹ thuật và chuyên môn liên quan tới các yêu cầu, thiết kế và cung ứng, bảo quản các nguồn lực để hỗ trợ các mục tiêu, các kế hoạch và quá trình hoạt động”.
Trong giai đoạn này, logistics được coi là một ngành khoa học về quản lý tạo ra giá trị lợiích cho các bên tham gia hệ thống cung ứng Tuy nhiên, logistics không được coi là mộtkhoa học chính nghĩa, bởi logistics không tuân theo một tập hợp các khuôn mẫu địnhtrước hay các kỹ năng đã có từ khi xuất hiện logistics trong từng lĩnh vực, từng trườnghợp cụ thể được áp dụng theo một cách riêng Người quản lý logistics thực hiện cácnhiệm vụ của mình dựa trên kiến thức, các kỹ năng được đào tạo, những kinh nghiệmtừng trải qua hoặc được giảng dạy và phải không ngừng trau dồi, áp dụng các kiến thức,
kỹ năng đó Điều này cho thấy logistics là không ngừng phát triển, luôn luôn hoàn thiệnnhằm đạt được hiệu quả tổng thể cao hơn
Vào những năm 90 logistics thực sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ và khái niệmlogistics cũng có sự thay đổi tương ứng D.Browersox, D.Closs (1996) đưa ra định nghĩa
“Logistics là việc tổ chức các hoạt động thực tiễn cần thiết nhằm thực hiện một kế hoạch phức hợp thành công khi mà kế hoạch đó liên quan đến nhiều người và trang thiết bị” 3
Hội đồng quản trị logistics (Council of Logistics Management – CLM) - một tổchức chuyên môn bao gồm các nhà quản trị logistics, những người làm việc trong lĩnhvực đào tạo và những người thực tế làm việc trong lĩnh vực logistics, được thành lập năm
1962 với mục đích duy trì công tác đào tạo và thúc đẩy việc trao đổi ý tưởng - đã đưa ra
khái niệm về logistics như sau: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các luồng lưu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm0020và thông tin liên quan có hiệu suất cao và hiệu quả về mặt chi phí từ điểm khởi nguồn cho đến điểm tiêu thụ nhằm mục đích thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng” Khái niệm này đã đề cập đến logistics đầu vào, logistics đầu ra và cả logistics
ngược, tuy nhiên vẫn còn hai điểm hạn chế Thứ nhất, khái niệm này nhấn mạnh tới việclưu chuyển dòng hàng hóa vật chất Thực tế, nhiều doanh nghiệp sản xuất sản phẩm dịch
vụ thay vì sản phẩm vật chất cũng có nhiều vấn đề liên quan tới logistics và cũng có thểthu được lợi ích từ hoạt động quản trị logistics Thứ hai, khái niệm do CLM đưa ra hàmchứa ngụ ý rằng các nhà logistics học quan tâm tới mọi luồng hàng hóa đi vào và đi ra từdoanh nghiệp của anh ta Trách nhiệm này phát sinh nhằm mở rộng sang các luồng sảnphẩm xuyên suốt quá trình sản xuất Các nhà logistics học sẽ không thực hiện các quytrình sản xuất tỉ mỉ như kiểm soát hàng tồn kho dở dang, lập kế hoạch cho máy móc thiết
vị, hay thực hiện quản lý chất lượng và loại bỏ các hoạt động này trong những cân nhắcsắp tới Ngoài ra, hoạt động bảo dưỡng trong khái niệm logistics quân đội cũng được loại
bỏ Nhiệm vụ của nhà logistics học là cung cấp sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng dựatheo nhu cầu và yêu cầu của họ bằng cách thức hiệu quả nhất có thể Nói cách khác,nhiệm vụ của logistics là đưa đúng sản phẩm và dịch vụ tới đúng địa điểm, vào đúng thời
3 Donal J.Browersox, David J.Closs, 1996, “Logistics management”, Mcgraw-Hill company.
Trang 11điểm trong điều kiện mong muốn, đồng thời mang lại những đóng góp lớn nhất chodoanh nghiệp”4.
Trong cuốn “The handbook of logistics and distribution management” (2000),
nhóm tác giả đã đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn: “Logistics là nghệ thuật và khoa học giúp quản trị và kiểm soát dòng chảy của hàng hóa, năng lượng, thông tin và những nguồn lực khác”5 Nhìn chung, các khái niệm trên đều thể hiện được logistics đề
cập đến quá trình quản lý luồng lưu chuyển các nguồn lực như vật tư, nhân lực, thông tin,
… nhằm thực hiện một kế hoạch nhất định Quá trình này bắt đầu từ bước lập kế hoạch,
tổ chức thực hiện, phân phối, quản lý, kiểm soát luồng lưu chuyển nguồn lực nhằm mụctiêu cuối cùng là kế hoạch được thực hiện thành công
Hiện nay, khái niệm logistics đang được sử dụng và công nhận trên toàn thế giới làkhái niệm do Hội đồng Các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council of Supply
Chain Management Professionals, 2005) đưa ra, theo đó “Logistics là bộ phận của quản trị chuỗi cung ứng thực hiện kế hoạch và kiểm soát tính hiệu quả và kết quả của các luồng lưu chuyển và của việc lưu kho hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan giữa điểm khởi nguồn và điểm tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng” Khái niệm này
đề cập trực tiếp tới tầm quan trọng của tính hiệu quả và kết quả và đồng thời nhấn mạnhđặc điểm chức năng của logistics Tuy nhiên, khái niệm này chưa thể hiện một cách tổngquát về logistics do cụm từ “nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng” khiến khái niệm nàythiên về logistics kinh doanh hơn
Xét trên phương diện đáp ứng nhu cầu của đối tượng phục vụ, logistics được hiểu
là cung cấp đúng sản phẩm, đúng thời gian, đúng địa điểm Cùng với quá trình phát triển
mạnh mẽ của logistics và nhu cầu ngày càng tăng từ phía khách hàng, việc đáp ứng cácnhu cầu này không chỉ dừng lại ở 3 đúng – đúng sản phẩm, đúng thời gian, đúng địa điểm
mà đòi hỏi các nhu cầu đó được đáp ứng ở mức độ dịch vụ cao hơn Do vậy, các tiêu chí
mới dần được bổ sung Quan điểm mới nhất hiện nay là Quan điểm 7 Đúng (7 Rights)
được phát biểu như sau: “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm với đúng số lượng và đúng điều kiện tới đúng địa điểm vào đúng thời gian cho đúng khách hàng với đúng giá cả” 6 Điều này cũng cho thấy, cách hiểu cũng như quan niệm về logistics
không ngừng được cải tiến, phát triển để phù hợp với những đòi hỏi thực tiễn
Có thể thấy rằng, các khái niệm logistics xuất hiện từ những năm 80 của thế kỷ XXthiên nhiều về logistics kinh doanh Và khi nhắc đến logistics, nhiều người vẫn lầm tưởngrằng logistics chỉ áp dụng trong kinh doanh mà chưa hiểu hết được những ứng khác củalogistics trong nhiều lĩnh vực khác nữa
4 Ronald H.Ballou, 1999, “Business Logistics Manadement”, 4 th edition, Prentice Hall, Upper Saddle River, New Jersey 07458.
5 Alan Rushton-Phil Croucher-Peter Baker, 2006, The handbook of Logistics and distribution management 3 rd
edition, Great Britain ISMN 0-7494-4669-2, PP6.
6 Paul M.Swamidass, 2000, “Encyclopedia of production and manufacturing management”, Kluwer Academic Publisher.
Trang 12Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về logistics nhưng các khái niệm đều thể hiệncách hiểu chung về logistics như sau:
- Trước hết, cần khẳng định logistics là khoa học và là nghệ thuật về tổ chức và
quản lý nhằm sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu Logistics là khoa học bởi logisticsnghiên cứu các quy luật và nguyên tắc quản lý để sử dụng tối ưu hóa các nguồn lực.Logistics cũng đồng thời là một nghệ thuật vì các quy luật và nguyên tắc trong logisticsđược áp dụng một cách linh hoạt và đa dạng trong thực tiễn, tùy theo từng trường hợp,điều kiện và phạm vi áp dụng cụ thể mà không tuân theo bất kỳ khuôn mẫu nhất địnhnào Logistics hỗ trợ cho một kế hoạch hoặc một quá trình hoạt động cụ thể để toàn bộ kếhoạch/quá trình đó được thực hiện thành công
- Logistics tồn tại ở cả hai cấp độ: hoạch định và tổ chức 7 Ở cấp độ hoạch định,các hoạt động logistics được lập kế hoạch, tính toán hiệu quả và lựa chọn các phương ántối ưu nhất Cấp độ tổ chức đề cập tới việc tiến hành thực hiện các hoạt động Logistics đótrên thực tế đồng thời kiểm soát, quản lý toàn bộ quá trình hoạt động, phối hợp giữa cácquá trình để toàn bộ hệ thống hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả dựa trên kế hoạch đề ra
- Logistics là một quá trình tức là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật
thiết và tương tác với nhau chứ không phải các hoạt động riêng lẻ Các hoạt động nàyxuất hiện trong tất cả các khâu từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát, phân phối,
dự trữ các nguồn lực và được lập kế hoạch, thực hiện, quản lý, phối hợp và phát triểnmột cách hệ thống, tối ưu nhất nhằm mang lại hiệu quả cho toàn bộ hệ thống Nói cáchkhác, logistics bao trùm toàn bộ quá trình quản lý và phân phối nguồn lực từ điểm đầu tớiđiểm cuối của chuỗi cung ứng
- Logistics đề cập tới các nguồn lực được lưu chuyển, dự trữ trong hệ thống.
Những nguồn lực này có thể là hữu hình (nguyên vật liệu thô, con người, trang thiết bị,
…) hoặc vô hình (thông tin, tài chính, công nghệ,…), tham gia vào các quá trình hoạtđộng (cung ứng, sản xuất, phục vụ, vận chuyển, bán hàng, đào tạo,…) từ điểm đầu tớiđiểm đích Nói cách khác, logistics đề cập tới hai luồng lưu chuyển: luồng vật chất vàluồng thông tin Mục tiêu trọng tâm của logistics là sử dụng và phân phối hiệu quả cácnguồn lực này đúng nơi, đúng lúc, trong đúng tình trạng và với đúng chi phí
Logistics phát triển và được ứng dụng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực, hình thànhnên các ngành logistics khác nhau như logistics kinh doanh, logistics y tế, logistics giáodục, logistics nội đô, logistics xanh và nhiều lĩnh vực khác nữa Đối tượng quản lý vàmục tiêu hoạt động khác nhau của logistics trong mỗi lĩnh vực không giống nhau
Logistics quân sự (Military Logistics) thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ trợ và các
thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội, đảm bảo sự sẵn sàng,
chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này Logistics sự kiện (Event Logistics) là tập
hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức,sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả
7 GS.TS Hoàng Văn Châu TS Trịnh Thị Thu Hương, Th.S Vương Thị Bích Ngà, 2009, Giáo trình Logistics và vận tải quốc tế - Đại học Ngoại thương Hà Nôi, NXB Thông tin và Truyền thông.
Trang 13và kết thúc tốt đẹp Logistics dịch vụ (Service Logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận,
lập chương trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, và vật liệunhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh
Logistics y tế (Hospital Logistics) trong các bệnh viện không chỉ bao gồm các dịch vụ
như thu mua đầu vào, lưu kho và dược phẩm mà còn gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
như các gói dịch vụ chăm sóc bệnh nhân hay dịch vụ về phòng phẫu thuật Logistics xanh
(Green Logistics) chú trọng tới việc sử dụng tối ưu các phương tiện vận tải, giảm lượng
khí thải các bon, tái chế nguyên vật liệu đóng gói cũng như các tác động xấu khác do hoạtđộng logistics gây ra cho môi trường
Tuy được áp dụng trong nhiều lĩnh vực nhưng logistics kinh doanh phát triển mạnh
mẽ nhất, ghi nhận nhiều dấu mốc phát triển quan trọng của logistics Chính những lợi ích
về tiết kiệm chi phí và tạo dựng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp nhờ áp dụnglogistics trong sản xuất kinh doanh đã khiến cho logistics kinh doanh được ứng dụngrộng rãi nhất Bước sang thế kỷ 21, logistics không ngừng phát triển và đã tiến lên hìnhthái mới là quản trị chuỗi cung ứng (supply chain management) và hiện nay đã xuất hiệnmạng lưới logistics toàn cầu (global logistics) liên kết các hoạt động logistics giữa cácquốc gia
Do vậy, các nội dung tiếp theo của giáo trình này chỉ tập trung nghiên cứu về logistics kinh doanh, gọi tắt là logistics
1.2 Quá trình phát triển của logistics
1.2.1 Các giai đoạn phát triển của logistics
Theo Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á–Thái Bình Dương (Economic and Social
Commision for Asia and the Pacific – ESCAP) quá trình phát triển của logistics bao gồm
ba giai đoạn chính sau đây:
1.2.1.1 Giai đoạn 1960-1970: Phân phối vật chất
Trong những năm 50 của thế kỷ 20, logistics được xem như các hoạt động chứcnăng riêng lẻ, hệ thống phân phối không được lập kế hoạch hay tính toán trước, các bêntham gia hoạt động phân phối như nhà sản xuất, người bán lẻ, khách hàng không có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau Bước sang những năm 60, người ta bắt đầu chú ý tới việc kếtnối các hoạt động có liên quan tới nhau như vận tải, quản trị tồn kho, xử lý nguyên vậtliệu, đóng gói, phân loại, dán nhãn v.v để quản lý một cách có hệ thống và hiệu quả hơn.Khái niệm “phân phối vật chất” được hình thành để thể hiện sự kết hợp giữa các hoạtđộng kể trên Đây chính là hoạt động phân phối bên ngoài doanh nghiệp hay còn gọi là
“Outbound Logistics”
1.2.1.2 Giai đoạn 1980-1990: Chuỗi Logistics/Hệ thống Logistics
Trong những năm 80, nhận thức trước đây về logistics như gánh nặng chi phí đãthay đổi, logistics được nhìn nhận là một lĩnh vực có thể cải thiện hoạt động quản lý, tăngcường hiệu quả hoạt động Các doanh nghiệp đã chú trọng đến việc kết hợp hoạt động
Trang 14cung ứng đầu vào (Inbound Logistics) và phân phối đầu ra (Outbound Logistics), hìnhthành nên hệ thống logistics (logistics system) để tăng mức dịch vụ khách hàng và giảmchi phí Mối quan hệ với các nhà cung cấp trở nên mật thiết hơn và hoạt động quản lýnguồn nguyên vật liệu đầu vào được tăng cường, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm,tạo lợi thế cạnh tranh về giá Cùng với sự phát triển của hệ thống Kanban, Just-In-Time
và hệ thống lập kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu (Material Requirement Planningsystems) đã góp phần làm giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp thông qua việc giảmtồn kho
Có thể thấy, toàn bộ các hoạt động logistics từ nhà cung cấp tới nhà sản xuất vàcuối cùng là tới khách hàng đều được tích hợp và quản lý một cách hệ thống, toàn diện,tạo thành một chuỗi logistics nhằm tạo hiệu quả chung cho toàn hệ thống Tầm quantrọng của dòng thông tin và dòng vật chất trong hệ thống logistics cũng được nhấn mạnh
1.2.1.3 Giai đoạn 2000 - nay: Quản trị chuỗi cung ứng
Bước sang giai đoạn này, chuỗi logistics được quản lý từ nhà cung cấp tới nhà sảnxuất và cuối cùng là người tiêu dùng Tức là, ngoài logistics đầu vào và logistics đầu rathì các hoạt động như hệ thống theo dõi, kiểm tra sản phẩm, lập các chứng từ liên quannhằm làm tăng giá trị sản phẩm cũng được bao gồm trong chuỗi Kéo theo đó là sự pháttriển mối quan hệ với các bên liên quan khác như người giao nhận, kho bãi, vận tải,người cung cấp công nghệ thông tin Hoạt động quản lý mang tính chiến lược này đượcgọi là quản trị chuỗi cung ứng
Song song với sự phát triển của logistics là sự xuất hiện của các công ty cung cấpdịch vụ logistic (Logistics Service Providers) Ban đầu khi chưa có nhà cung cấp dịch vụlogistics thì trên thị trường tồn tại các công ty giao nhận hay người kinh doanh dịch vụgiao nhận chuyên thực hiện các dịch vụ giao nhận Dịch vụ giao nhận là bất kỳ dịch vụnào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói, phân phối hànghóa, các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề về hảiquan, tài chính, bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa (Theoquy tắc mẫu của Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Quốc tế - FIATA) Cùng với sự pháttriển của logistics, nhu cầu của khách hàng ngày càng tăng cả về lượng và chất, đòi hỏicác công ty phải cung ứng nhiều dịch vụ liên hoàn tích hợp với quá trình hoạt động chínhyếu của khách hàng Do vậy, các công ty cung cấp dịch vụ logistics xuất hiện, tiền thân làcông ty giao nhận, kho bãi hoặc hãng vận tải Ví dụ, rất nhiều doanh nghiệp giao nhận đãđổi tên thành công ty kinh doanh dịch vụ logistics hoặc thành lập các công ty cung cấpdịch vụ logistics như Mearsk Logistics, MOL Logistics, APL Logistics, NYK Logistics.Đây chính là các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics),
là một doanh nghiệp độc lập chuyên cung cấp các dịch vụ logistics dưới danh nghĩa củakhách hàng
Hiện nay, 3PL đang phát triển rất rộng rãi, tuy nhiên trong tương lai với những tiến
bộ lớn và thay đổi lớn trong khoa học công nghệ các cách thức sản xuất, các dịch vụ
Trang 15logistics sẽ còn tiếp tục phát triển sang các hình thức cao hơn là 4PL hay 5PL, hình thànhnên mạng lưới logistics toàn cầu (global logistics).
Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển logistics theo trình độ kiến thức8
Hình 1.1 thể hiện bốn giai đoạn phát triển logistics theo trình độ kiến thức vềlogistics của doanh nghiệp và con đường phát triển từ trình độ kiến thức thấp nhất tới caonhất Đôi khi hai giai đoạn phát triển cao nhất được gộp thành một giai đoạn Trong haigiai đoạn đầu, các quy trình logistics chú trọng vào hiệu quả đạt được thông qua chuyênmôn hóa và phối hợp chức năng chéo giữa các luồng lưu chuyển nguồn lực Bước sanggiai đoạn thứ ba và thứ tư, phạm vi của hoạt động logistics đã thay đổi rõ rệt Logisticstrở thành một chức năng quản lý với mục tiêu định hướng quy trình và định hướng luồnglưu chuyển xuyên suốt toàn bộ tổ chức, từ đó khuyến khích lối tư duy và hoạt động tronglogistics vượt ra khỏi khuôn khổ bộ phận logistics riêng rẽ Tuy nhiên, dù đạt tới cấp độphát triển cao hơn nhưng các chức năng nhưng các doanh nghiệp vẫn cần chú ý tới cácchức năng logistics cơ bản ở cấp độ phát triển thấp hơn
8Weber, J., 2002, Logistikkostenrechnung, 2nd edition, Berlin
Trang 16Hình 1.2 Các giai đoạn phát triển của logistics
theo mức độ tích hợp các hoạt động chức năng9Hình 1.2 thể hiện quá trình phát triển của logistics cụ thể hơn theo các hoạt độngchức năng cụ thể trong quá trình sản xuất kinh doanh Các hoạt động chức năng riêng rẽtrong doanh nghiệp được tích hợp từ bên trong khu vực chức năng đó như quản trịnguyên vật liệu, hoạt động kho hàng hay phân phối vật chất Các nhóm hoạt động này lạiđược tích hợp chéo với các hoạt động chức năng khác trong doanh nghiệp và tích hợp vớicác hoạt động chức năng của các tổ chức khác ngoài doanh nghiệp để phát triển lên hìnhthái cao hơn của logistics là quản trị chuỗi cung ứng
1.2.2 Các điều kiện phát triển logistics
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, trên thế giới có nhiều thay đổi lớn trong cáclĩnh vực sản xuất, điện tử, viễn thông, vận tải, … và trong quan điểm quản lý đã tạo điềukiện cho sự phát triển mạnh mẽ của logistics
1.2.2.1 Máy tính hóa (Computerization)
Máy tính xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX và nhanh chóng phát triển vàđược ứng dụng trong nhiều lĩnh vực Máy tính hóa cho phép cập nhật, thao tác và xử lýkhối lượng dữ liệu, thông tin lớn một cách nhanh chóng, chính xác Trong nghiệp vụlogistics, máy tính là công cụ chủ đạo trong việc trao đổi thông tin, quản lý hàng tồn kho,tính toán các chi phí Tại các nước phát triển, bộ phận logistics là nơi sử dụng nguồn vậtchất máy vi tính lớn nhất trong doanh nghiệp
1.2.2.2 Cách mạng viễn thông
Những tiến bộ của ngành viễn thông nói chung và công nghệ thông tin nói riêng cóảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động logistics Từ những năm 80, người ta đã sửdụng công nghệ mã vạch (bar code) để cải tiến hoạt động logistics Trao đổi thông tinđiện tử (EDI - electronic data interchange) cũng bắt đầu được sử dụng giữa khách hàng
9 Alfred J Battaglia, reproduced by Natalie David
Trang 17và nhà cung ứng để truyền tải và tiếp nhận dữ liệu giữa các cơ sở kinh doanh trong vàngoài doanh nghiệp Ngoài ra còn phải kể đến vệ tinh, máy fax, máy photo và các dụng
cụ ghi băng, ghi hình khác, nhờ những phương tiện này mà người ta có được thông tincập nhật liên tục và chính xác trong quá trình thực hiện hoạt động logistics
1.2.2.3 Quản lý chất lượng
Quan điểm quản trị chất lượng đồng bộ (TQM – Total Quality Management) làđộng cơ quan trọng nhất trong việc thúc đẩy hoạt động logistics Thời kỳ sau Chiến tranhThế giới II, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến chất lượng hàng hoá và tính hiệuquả của các quy trình sản xuất Sản phẩm tốt mà đến muộn so với yêu cầu hoặc bị hư hạiđều không thể chấp nhận được Việc thực hiện các công việc logistics không hiệu quả sẽlàm tổn hại đến các sáng kiến cải tiến chất lượng Từ đó, các doanh nghiệp nhận ra rằnglogistics là lĩnh vực có thể giúp họ cải thiện hoạt động quản lý Quan điểm “không saihỏng - zero defects” và “làm đúng ngay từ lần đầu tiên - doing things right the first time”trong TQM đã được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực logistics
1.2.2.4 Đối tác và đồng minh chiến lược
Sang thập kỷ 80, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy rằng phải coi các khách hàng
và các nhà cung ứng như đồng minh chiến lược hay các đối tác kinh doanh Chính sự hợptác, liên kết giữa các bên là cơ sở để hoạt động logistics đạt được hiệu quả ngày càng cao,giảm sự chồng chéo, hao phí không cần thiết, tập trung vào hoạt động kinh doanh, đẩymạnh hiệu quả chung Do vậy, việc tạo mối liên kết mật thiết giữa các thành phần nàyđược các doanh nghiệp chú trọng hơn trước
Những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, lý thuyết quản lý và công nghệ thông tin kểtrên đã thúc đẩy logistics lớn mạnh theo thời gian về cả quy mô và tầm ảnh hưởng, tạonên một làn sóng tư duy đổi mới về tất cả các khía cạnh của hoạt động logistics tại cácdoanh nghiệp từ những năm 1960 cho đến nay
1.2.3 Xu hướng phát triển logistics
Trong tương lai, hoạt động logistics sẽ không ngừng phát triển nhằm đáp ứng nhucầu khách hàng với các dịch vụ ngày càng hoàn thiện hơn Những xu hướng phát triểnchính trong hoạt động logistics như sau:
1.2.3.1Ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử
Cuộc sống hiện đại và hối hả đòi hỏi các nhu cầu phải được đáp ứng mọi lúc, mọi nơitheo cách thức làm hài lòng khách hàng nhất Điều đó đòi hỏi các hoạt động cung ứngphải nhanh chóng nắm bắt và đáp ứng các nhu cầu đó mà quan trọng nhất là thông tin vàcác tiện ích mà các dịch vụ mang lại cho khách hàng Ứng dụng công nghệ thông tin vàthương mại điện tử giúp cho việc cập nhật, xử lý và truyền tải thông tin nhanh chóng,hiệu quả giữa các bên trong hệ thống cung ứng, tạo ra tiện ích cho khách hàng về thờigian, không gian và sự thuận tiện đồng thời đẩy nhanh tốc độ giao dịch
1.2.3.2 Ứng dụng phương pháp quản lý logistics kéo
Trang 18Phương pháp quản lý kéo tức là nhu cầu của khách hàng kéo sản phẩm dịch vụ từnhà sản xuất về phía thị trường Theo đó, hoạt động sản xuất được thực hiện dựa trên nhucầu từ phía khách hàng nói cách khác khi nhu cầu của khách hàng xuất hiện thì sản phẩmmới được sản xuất/lắp ráp, dịch vụ mới được cung ứng Điều này giúp các nhà sản xuấtgiảm chi phí nhờ giảm lượng tồn kho, rút ngắn chu trình sản xuất, giảm vốn lưu động,phản ứng nhanh trước sự thay đổi của thị trường, đồng thời đáp ứng được các nhu cầu đadạng của khách hàng.
1.2.3.3 Xu hướng thuê ngoài dịch vụ logistics từ các công ty cung cấp dịch vụ
logistics chuyên nghiệp
Gần đây, nhu cầu thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ hoạt động logistics của cácdoanh nghiệp đang tăng lên Thuê ngoài giúp doanh nghiệp loại bỏ các dịch vụ tự thựchiện (1PL) không hiệu quả Nhờ vậy, các doanh nghiệp sẽ tập trung vào các hoạt độngcốt lõi, giảm chi phí vốn đầu tư, tận dụng được những lợi ích từ các dịch vụ được cungcấp một cách chuyên nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động Một số dịch vụ được thuêngoài phổ biến như dịch vụ vận tải, kho bãi, công nghệ thông tin, dịch vụ cung cấpthuyền viên
Ngoài ra, trong lĩnh vực logistics còn nhiều xu hướng phát triển khác nữa như giảm
số lượng nhà cung cấp, mở rộng mạng lưới hoạt động logistics ra toàn cầu, chú trọng tớicác vấn đề về môi trường …
1.3 Vị trí và vai trò của logistics
1.3.1 Đối với nền kinh tế
1.3.1.1 Logistics thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển thông qua việc hỗ trợ các luồng chu chuyển kinh tế
Cụ thể, logistics đưa hàng hóa/dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng theo cáchthức nhanh nhất, hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầu khách hàng với đúng sản phẩm, đúngđịa điểm, đúng thời gian, đúng mức giá, đúng điều kiện Nhờ vậy, luồng hàng hóa dịch
vụ lưu chuyển liên tục, không tắc nghẽn, thúc đấy hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ diễn ra trên thị trường Nếu như sự tắc nghẽn xảy ra tại một điểm nào đó trongmạng lưới, thì sẽ gây thiệt hại cho chính hoạt động logistics đó và cho toàn nền kinh tế
Ví dụ, nếu sản phẩm không đến đúng lúc hoặc không thỏa mãn các điều kiện đã thỏathuận khiến khách hàng không mua hàng thì hoạt động mua bán sẽ không diễn ra, nhàcung ứng không bán được hàng và do đó hiệu quả của nền kinh tế không tăng thêm Nhưvậy, nền kinh tế chỉ phát triển nhịp nhàng, đồng bộ khi mà chuỗi logistics hoạt động nhịpnhàng, liên tục
1.3.1.2 Logistics nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế
Logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưuthông và phân phối hàng hóa Chi phí logistics giảm là điều kiện thuận lợi cho hoạt độngxuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của quốc gia, từ đó tăng khả năng hội nhập với các quốc
Trang 19gia trên thế giới Ngày nay, khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế được đánh giá thôngqua trình độ phát triển và chi phí logistics của mỗi nước Các nước sớm phát triển dịch vụlogistics như Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông… đã trở thành các trungtâm logistics lớn của thế giới, gặt hái nhiều thành tựu tăng trưởng kinh tế Điều này chothấy logistics có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế đất nước.
1.3.2 Đối với doanh nghiệp
Chuỗi logistics bao gồm hàng loạt các hoạt động theo đó các nguồn tài nguyên đượcbiến đổi thành sản phẩm, quan trọng hơn là giá trị của chúng tăng lên không chỉ chokhách hàng mà cho cả nhà sản xuất, thỏa mãn nhu cầu của các bên Đối với doanhnghiệp, logistics phục vụ đắc lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh cốt lõi đồng thờicũng mang lại lợi thế thương mại cho doanh nghiệp
1.3.2.1 Logistics giúp giải quyết đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhờ tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ
Về đầu vào, logistics giúp doanh nghiệp kiểm soát chất lượng và số lượng cácnguồn cung luôn đáp ứng nhu cầu sản xuất đúng thời gian, đúng địa điểm, đảm bảo quátrình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục Về đầu ra, logistics phân phối sảnphẩm dịch vụ tới khách hàng một cách mau chóng, hiệu quả thông qua mạng lưới phânphối, góp phần đẩy nhanh quá trình tiêu thụ và vòng quay của vốn
1.3.2.2 Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp
Nhờ tích hợp chuỗi các hoạt động logistics một cách tối ưu, logistics tạo nên một hệthống cung ứng thống nhất giúp cho hoạt động quản lý có hệ thống và hiệu quả hơn Hệthống JIT giúp giảm lượng tồn kho, đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng cùng với việctiêu chuẩn hóa các chứng từ trong lưu thông đã góp phần làm giảm chi phí logistics từ đótạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp đã gặt hái thành công lớnnhờ có chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệpgặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản những quyết định sai lầm trong hoạt độnglogistics Ví dụ: chọn sai vị trí đặt kho hàng hoặc trung tâm phân phối khiến luồng hànghóa ra vào không thuận lợi hoặc tổ chức vận chuyển không hiệu quả có thể khiến cho chiphí vận chuyển cao/dẫn đến tổn thất về hàng hóa sẽ làm mất lợi thế cạnh tranh của doanhnghiệp Ngày nay, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìmkiếm trên toàn cầu với mong muốn tìm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, bí quyếtcông nghệ, thị trường tiêu thụ, môi trường kinh doanh… tốt nhất, tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn Đây là nguyên do để logistics toàn cầu hìnhthành và phát triển
1.3.2.3 Logistics hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là marketing hỗn hợp
Marketing hỗn hợp bao gồm 4 yếu tố (4P) gồm sản phẩm (Product), giá cả (Price),
chiêu thị (Promotion) và địa điểm (Place) Logistics thực hiện và kiểm soát chuỗi các
Trang 20hoạt động liên hoàn để đưa đúng sản phẩm (Right Product) đến đúng thời gian, đúng địađiểm (Right Place) Điều này giúp cho giá trị sản phẩm/dịch vụ khách hàng nhận đượccũng như mức độ hài lòng của khách hàng cao hơn khi mà các nhu cầu được đáp ứngnhanh chóng, đúng nơi, đúng lúc Như vậy, logistics giúp phối hợp các biến số marketinghỗn hợp, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, trực tiếp làm giảm chi phí, gián tiếp làmtăng lợi nhuận của doanh nghiệp trong dài hạn.
1.4 Lợi thế so sánh nhờ logistics
Có rất nhiều nền tảng cho sự thành công của một doanh nghiệp trên thị trường.Nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh trước tiên là ở khả năng phân biệt doanh nghiệp đó vớicác doanh nghiệp khác trong mắt khách hàng và với đối thủ cạnh tranh và thứ hai là nhờhoạt động với chi phí thấp hơn do đó thu được lợi nhuận cao hơn Tìm kiếm lợi thế cạnhtranh để có thể phòng vệ và chống đỡ đã trở thành mối quan tâm của mọi nhà quản lýnhận thức được thực tiễn thị trường kinh doanh Quan điểm hàng hóa tốt sẽ tự bán đượckhông còn được công nhận nữa, và tương tự với giả định rằng thành công của hôm nay sẽkéo dài tới ngày mai
Những quan điểm về logistics đã thay đổi đáng kể trong những năm gần đây Từ rấtlâu, người ta cho rằng các yếu tố trong logistics chỉ đơn thuần làm tăng chi phí cho cácdoanh nghiệp đang cố gắng bán sản phẩm trên thị trường Tất nhiên, trong các yếu tố đó
có chi phí vận chuyển và lưu kho hàng hóa nhưng giờ đây người ta nhận thấy rằnglogistics cũng đóng góp tích cực vào giá trị của một sản phẩm do hoạt động logisticscung cấp các phương tiện mà nhờ đó sản phẩm được đưa tới khách hàng/người tiêu dùngcuối cùng trong điều kiện tốt nhất và tới địa điểm được yêu cầu
Thành công thương mại xuất phát từ lợi thế chi phí hoặc lợi thế giá trị, hoặc lýtưởng nhất là cả hai Đối thủ thu được nhiều lợi nhuận nhất trong mọi lĩnh vực có xuhướng trở thành nhà sản xuất với chi phí thấp nhất hoặc nhà cung cấp cung ứng sản phẩmvới những giá trị khác biệt Các doanh nghiệp thành công hoặc là có lợi thế về chi phíhoặc có lợi thế về giá trị, hoặc kết hợp cả hai Lợi thế về chi phí mang lại chi phí thấphơn và lợi thế giá trị mang lại những sản phẩm hoặc đưa ra những giá trị tăng thêm khácbiệt so với đề nghị của đối thủ cạnh tranh
Do vậy các công ty có thể cạnh tranh trên cơ sở cung cấp sản phẩm với chi phí thấpnhất có thể (vì vậy khách hàng sẽ mua sản phẩm vì nó ít tốn kém nhất) hoặc có giá trị caonhất có thể đối với khách hàng (ví dụ sản phẩm ở chính xác địa điểm và theo cách kháchhàng muốn) Thật sự, một số công ty cố gắng đạt được cả hai mục tiêu này Ngày nayđiều này rất quan trọng do không có nhiều sản phẩm được bán chỉ dựa trên nhãn hiệu,trên thực tế các sản phẩm hàng hóa được bán trên cơ sở sự sẵn có hoặc giá cả Điều nàyđúng với mặt hàng thực phẩm cũng như sản phẩm kỹ thuật như điện thoạt di động hoặcmáy tính cá nhân
Trang 21Hình 1.3 Hai phương pháp để đạt được lợi thế cạnh tranh10Hình 1.3 thể hiện các ý tưởng trên Một công ty có thể cạnh tranh như người dẫnđầu về dịch vụ, cố gắng đạt được lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh khác thông quaviệc cung cấp một số yếu tố dịch vụ chủ chốt để khiến công ty đó trở nên khác biệt Hoặccông ty đó có thể cạnh tranh như người dẫn đầu về chi phí, cố gắng tận dụng các nguồnlực của mình để cung cấp sản phẩm với chi phí thấp nhất có thể, nhờ đó đạt được lợi thế
về năng suất Hình 1.3 thể hiện những lợi thế này đạt được như thế nào Đối với lợi thếgiá trị/khác biệt, có thể đạt được nhờ cung cấp dịch vụ thiết kế đặc biệt hoặc sử dụng cáckênh phân phối khác nhau nhờ đó sản phẩm có sẵn trên thị trường theo nhiều cách khácnhau Lợi thế giá trị có thể bao gồm mức dịch vụ được đảm bảo hoặc liên tục cập nhậttrạng thái của các đơn hàng Đối với lợi thế về chi phí/năng suất, cách thức đạt được gồmcác phương tiện tối thiếu hóa chi phí khác nhau như duy trì mức tồn kho rất thấp và đảmbảo tận dụng tối đa tất cả tài sản sản xuất và phân phối
1.5 Các hoạt động logistics
Việc hiểu rõ hoạt động logistics về các bộ phận cấu thành cũng như các thành phầntrong từng bộ phận đặc biệt hữu ích cho hoạt động quản lý và xác định chi phí logistics.Hoạt động logistics bao gồm 6 thành phần chính: vận tải, hoạt động kho hàng, làm hàng,bao gói, hoạt động xử lý logistics và thông tin.11
1.5.1 Vận tải
Vận tải (transportation) là hoạt động có chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phílogistics Hoạt động vận tải bao gồm lựa chọn phương thức và phương tiện vận tải, lập kếhoạch xếp hàng và lập kế hoạch lịch trình Lựa chọn phương tiện vận tải có ảnh hưởng
10 Christopher, 1997.
11 Japan’s program for “Improving Efficiency of Logistics and Distribution of the “East-West Corridor” and the “Southern Economic Corridor” by Government of Japan, October, 2011.
Trang 22trực tiếp tới các bước thực hiện tiếp theo cũng như tới kết quả và chi phí của hoạt độngvận tải Việc lựa chọn phương tiện vận tải được thực hiện dựa trên các căn cứ về sốlượng, kích thước và đặc tính của hàng hóa; thời gian giao hàng; địa điểm giao hàng;cước phí… Ngày nay, các phương thức vận tải được kết hợp sử dụng, hình thành nên vậntải đa phương thức giúp cho việc vận chuyển hàng hóa hiệu quả, nhanh chóng hơn nhờgiảm được chi phí và thời gian vận chuyển Vận tải cần đảm bảo các yêu cầu về nhanhchóng, kịp thời; hiệu quả về kinh tế; an toàn; tiện lợi và đảm bảo các vấn đề xã hội (khíthải từ phương tiện, tắc nghẽn giao thông…)
Hình 1.4 Mô hình logistics thể hiện các bộ phận logistics chủ yếu
và tầm quan trọng của dòng vật chất và dòng thông tin12
và quản trị thông tin trong kho Mục tiêu chính của các trung tâm dịch vụ logistics là việclàm hàng và giải phóng hàng nhanh chóng, thuận tiện
12 Alan Rushton, John Oxley, Phil Croucher, 2000, Handbook of Logistics and Distribution Management, 2 nd edition, Kogan Page USA.
Trang 231.5.3 Làm hàng
Làm hàng (Cargo handling) bao gồm một chuỗi các hoạt động trung gian giữa vậntải và lưu kho từ khi hàng hóa được gửi đến cho đến khi hàng hóa được xuất kho, hoặcđến khi xuất đi khỏi trung tâm dịch vụ logistics Làm hàng bao gồm:
+ Các hoạt động làm hàng liên quan tới phương tiện vận tải, ví dụ xếp hàng, dỡhàng lên xe tải, lên máy bay; xếp dỡ, san cào (nếu có) hàng trên tàu lửa hoặc tàu biển; và + Các hoạt động làm hàng liên quan tới các cơ sở lưu trữ, ví dụ xếp hàng, dỡ hàng;chuyển hàng trên băng chuyền; kiểm tra chất lượng/phân loại hàng sau khi nhập kho vàtrước khi xuất kho
Việc làm hàng cần đảm bảo tính chính xác, nhanh chóng và đảm bảo an toàn chohàng hóa
1.5.4 Bao gói
Bao gói (Packing) là các quá trình nhằm bảo vệ hàng hóa và đảm bảo việc làm hàngđược dễ dàng đồng thời cũng có chức năng truyền tải thông tin nhận dạng hàng hóa Có
ba loại bao bì được sử dụng trong quá trình bao gói hàng hóa gồm:
- Bao bì riêng (individual packing): là bao bì cho từng sản phẩm thể hiện nhận
dạng của sản phẩm để tách riêng và bảo vệ sản phẩm
- Bao bì trong (internal packing): là bao bì chứa các sản phẩm đã đóng bao bì
riêng tạo thành các đơn vị hàng hóa để bán Bao bì trong có chức năng bảo vệsản phẩm khỏi nước, độ ẩm, ánh sáng/sức nóng, rung lắc … ngoài ra còn cócông dụng quảng cáo
- Bao bì ngoài (external packing): là bao bì bên ngoài các đơn vị hàng hóa đã
đóng gói tạo điều kiện thuận tiện cho việc vận chuyển, xếp dỡ hàng hóa Ví dụ:hàng hóa đã đóng gói được xếp vào trong hộp, túi, thùng …
1.5.5 Hoạt động xử lý logistics
Hoạt động xử lý logistics (Logistics processing) là hoạt động xử lý hàng hóa trongquá trình logistics mà nhẽ ra nên được thực hiện trong quá trình sản xuất Có nhiều lý do
để tiến hành hoạt động xử lý logistics như tiết kiệm chi phí vận tải bằng việc gửi hàng với
số lượng lớn từ nhiều địa điểm sản xuất khác nhau; rút ngắn thời gian từ khâu sản xuấttới tiêu dùng; đáp ứng những đơn vị hàng tiêu dùng cuối cùng; thực hiện nguyên tắc kếtnối cuối cùng (postponement) không tạo ra sản phẩm hoàn thiện cho tới phút cuối khixuất hiện nhu cầu tiêu dùng
1.5.6 Hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin (Information System) thao tác và quản lý hoạt động logisticsmột cách kịp thời, chính xác và hiệu quả rõ ràng là hệ thống đầu não trong hoạt độnglogistics Hệ thống thông tin bao gồm mô hình hệ thống thông tin, quy trình kiểm soátthông tin và dự báo thông tin Luồng thông tin trong hoạt động logistics xuyên suốt từ
Trang 24khách hàng, qua trung tâm thông tin tới trung tâm logistics hoặc nhà sản xuất lắp ráp.Thông tin bao gồm thông tin về việc gửi hàng, xác nhận hàng đến/kiểm tra chấtlượng/lượng tồn kho…liên tục lưu chuyển giữa các bộ phận khi cần thiết để các hoạtđộng tiếp theo được thực hiện dựa trên yêu cầu từ khách hàng.
1.6 Thách thức đối với hoạt động logistics
Trong những năm gần đây, cấu trúc tổ chức và vận hành logistics đã có nhiều pháttriển lớn, đáng chú ý là logistics được áp dụng trong các chuỗi cung ứng lớn Những thayđổi này bao gồm kỳ vọng dịch vụ khách hàng tăng lên, khái niệm về giảm thời gian trongchuỗi cung ứng và toàn cầu hóa hoạt động kinh doanh - cả về nhãn mác và thị trường -
và tích hợp cấu trúc tổ chức Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác tác động tới hệ thốnglogistics của doanh nghiệp Các yếu tố đó có thể là các yếu tố bên ngoài hoặc bên tronglogistics mà chúng ta sẽ đề cập tới trong nội dung dưới đây
1.6.1 Thách thức từ môi trường bên ngoài
Sự phát triển của các liên minh kinh tế khác nhau (EU, ASEAN, NAFTA ) ngàycàng có ảnh hưởng mạnh mẽ Sự thành lập những liên minh này là vấn đề chính trị quantrọng nhưng cũng có tác động tới nền kinh tế trên thực tiễn, mà hầu hết đều là những thayđổi có lợi
Một trong những kết quả quan trọng khi thành lập liên minh là loại bỏ dần sự khácbiệt trong các nhóm nước thành viên Điều này đặc biệt ảnh hưởng tới chiến lượclogistics của các công ty Ví dụ, trong Liên minh Châu Âu đã có những thay đổi chính về:
- Loại bỏ những khác biệt trong vận tải
- Thống nhất luật pháp giữa các quốc gia khác nhau
- Giảm dần hàng rào thuế quan
- Loại bỏ sự khác biệt về thủ tục hải quan cửa khẩu
- Thống nhất về thuế quan
Trong logistics, những thay đổi này đã khiến cho nhiều công ty phải đánh giá lạitoàn bộ chiến lược logistics của họ, chuyển từ cách tiếp cận trong phạm vi quốc gia sangmột mô hình mới vượt ra khỏi phạm vi quốc gia/xuyên biên giới Nhiều công ty đã giảmđáng kể số lượng kho hàng và lượng hàng tồn kho cùng chi phí lưu kho tương ứng đồngthời duy trì, cải tiến dịch vụ khách hàng
Ở châu Âu, vấn đề môi trường ngày càng được đề cao do việc cảnh báo công khai,mạnh mẽ về các vấn đề về môi trường và các hoạt động gây áp lực cho Chính phủ Điềunày đã dẫn đến nhiều thay đổi quan trọng đối với hoạt động logistics, bao gồm:
- Cấm vận chuyển đường bộ vào cuối tuần (Đức, Thụy Sỹ)
- Khuyến khích vận tải đường sắt hơn vận tải đường bộ
- Tái chế bao gói – đôi khi được đề cập tới như logistics ngược
Trang 25- Tính “thân thiện môi trường” của sản phẩm
- Thuê ngoài các dòng logistics ngược
- Thiết kế sản phẩm để dễ dàng sửa chữa/ làm mới, tái chế và giảm bớt bao gói.Đối với hầu hết các thành phố trên thế giới, tắc đường có tác động rõ rệt Thực tế,ách tắc giao thông nghiêm trọng có thể ảnh hưởng xấu tới một số khái niệm mới tronglogistics – cụ thể là ý tưởng về hệ thống Just-In-Time và các hệ thống phản ứng nhanh(quick-response systems) Cùng với vấn đề ách tắc giao thông, các dự báo đều cho thấy
số lượng phương tiện giao thông tăng lên đáng kể ở hầu hết các quốc gia khi mà các dự
án xây dựng đường bộ rất hạn chế Nhiều quốc gia phương Tây cố gắng giảm tắc nghẽngiao thông bằng cách kết hợp thu phí cầu đường, lệnh cấm xe tải, hạn chế lượng tham giagiao thông, hạn chế thời gian tham gia giao thông và thuế sử dụng phương tiện - tất cảcác biện pháp này đều ảnh hưởng tới chi phí và hoạt động logistics Không có giải phápchung nào được chấp nhận Các công ty cố gắng giảm bớt vấn đề này bằng các chiếnlược như giao hàng ngoài giờ, các kho hàng trống và đặt các kho hàng gần với điểm giaohàng hơn
Những thay đổi và phát triển đáng kể trong tư duy logistics và công nghệ thông tincũng dẫn tới một vấn đề khác - ảnh hưởng của sự thay đổi và phát triển này tới năng lựclao động và quản lý phù hợp
Nhu cầu về tầm nhìn chiến lược của logistics và sự am hiểu về bản chất tích hợp củalogistics đều rất quan trọng đối với các mạng lưới hướng về chuỗi cung ứng ngày nay.Nhiều nhà quản lý không có kinh nghiệm hoặc kiến thức liên quan để có được cái nhìnnày Bên cạnh những thay đổi nhanh chóng về công nghệ, có thể hiểu tại sao lại thiếu sựquản lý logistics phù hợp Vấn đề này cũng được phản ánh trong chất lượng lao độnghiện đang làm việc trong các bộ phận chức năng logistics và phân phối khác nhau
1.6.2 Thách thức từ hoạt động cung ứng
Những tiến bộ quan trọng trong cung ứng hoặc logistics đầu vào là kết quả của sựthay đổi về công nghệ và cấu trúc cung ứng Trong phạm vi tìm nguồn cung ứng nguyênvật liệu thô và sản xuất, những tiến bộ này bao gồm:
- Công nghệ sản xuất mới (New manufacturing technology) thích hợp với những
yêu cầu sản xuất phức tạp hơn và sản phẩm đa dạng hơn
- Mối quan hệ mới với nhà cung cấp (New supplier relationships) nhấn mạnh vào
việc tìm nguồn cung ứng và chuỗi cung ứng tinh giản, do vậy cho phép nhà cungcấp và người mua làm việc kỹ càng hơn
- Các nhà máy trọng điểm (Focused factories) với sự tập trung vào ít nguồn lực
hơn nhưng đòi hỏi các chuyến vận chuyển dài hơn
- Mở rộng nguồn cung ra thị trường quốc tế (Transnational sourcing) nhấn mạnh
vào việc dịch chuyển khỏi chiến lược tìm kiếm nguồn cung trong nước hoặc ởđịa phương sang một chiến lược mang tính toàn cầu
Trang 26- Kết nối cuối cùng (Postponement): tạm ngừng việc lắp ráp hoàn thiện sản phẩm
để giảm lượng tồn kho thành phẩm trong chuỗi cung ứng
- Cùng hợp tác (Co-makership) thể hiện sự phát triển mối quan hệ hợp tác giữa
nhà cung cấp và người mua để giúp giảm chi phí trong chuỗi cung ứng nhờ việccải tiến chất lượng và thông tin Điều này thể hiện sự thay đổi tích cực ra khỏimối quan hệ đối kháng truyền thống đã phổ biến giữa các nhà cung cấp và ngườimua
- Cùng địa điểm (Co-location) tức là cơ sở vật chất của nhà cung cấp hoạt động
trên hoặc cạnh khu vực sản xuất của khách hàng
Sự thay đổi chủng loại sản phẩm cũng tác động tới những tiến bộ kể trên Điển hình
là ví dụ về việc rút ngắn vòng đời sản phẩm, chủng loại sản phẩm đa dạng hơn, và nhucầu ngày càng tăng đối với những sản phẩm nhạy cảm về mặt thời gian – đặc biệt lànhững đồ ăn tươi chế biến sẵn Những thay đổi này đặt ra các vấn đề logistics liên quanđến mức tồn kho và đặc biệt là tốc độ giao hàng
1.6.3 Thách thức từ hoạt động phân phối
Về nhiều phương diện, yếu tố phân phối trong chuỗi cung ứng ít thay đổi hơnnhững yếu tố khác Trong phạm vi hoạt động, những phát triển quan trọng trong phânphối đều xuất phát từ công nghệ:
- Hệ thống phương tiện mới (phần thân xe có thể tháo rời, )
- Các depot rỗng tiến hành tổ chức cross-docking
- Hệ thống thông tin điện tử, đặc biệt là ở các depot
- Định tuyến đường và lập lịch trình tương tác trong vận tải đường bộ
Một lĩnh vực quan trọng và đang phát triển đó là phân phối bên thứ ba (third-party
distribution) hoặc thuê ngoài hoạt động phân phối Đây là điểm đặc trưng của logistics ở
UK trong nhiều năm và hiện nay các nước lục địa châu Âu đã bắt đầu đi theo hướng đinày Lợi thế chủ yếu của việc thuê ngoài dịch vụ là các công ty tập trung vào ngành kinhdoanh cốt lõi của mình là sản xuất hay bán lẻ mà không dàn trải nguồn lực để thực hiệnhoạt động phân phối
Các công ty cung cấp dịch vụ bên thứ ba có nhiều cơ hội phát triển trong nhiều thịtrường Hiện nay, hầu hết các công ty này đòi hỏi có một hoặc một số chuyên môn về đồ
ăn, giá treo, may mặc, … và nhiều công ty cố gắng mang lại danh mục nhiều hoạt độnglàm tăng thêm giá trị, cho phép các công ty này mở rộng hoạt động kinh doanh (dán nhãnmác, lắp ráp, ) Hiện nay có xu hướng thành lập các tổ chức đối tác kinh doanh, nhữngcâu hỏi đặt ra là liệu có nên thuê ngoài tất cả các hoạt động và thuê ngoài dịch vụ nào.Cuối cùng, điểm khác biệt trong những năm gần đây là tập trung vào cải thiện tìnhhình sử dụng tài sản Điều này đã được chứng minh về nhiều phương diện: việc xây dựng
Trang 27các kho hàng tổng hợp trong phân phối hàng tạp hóa và sử dụng các phương tiện có chiakhoang chứa; vận chuyển hàng trên chặng về của các phương tiện giao hàng.
1.6.4 Thách thức từ hoạt động bán lẻ
Trên toàn châu Âu, trong lĩnh vực bán lẻ có nhiều xu hướng đã, đang và sẽ tiếp tục
có ảnh hưởng tới sự phát triển của logistics và chuỗi cung ứng Vai trò của cửa hàng tạphóa không thể được đánh giá quá cao khi những thay đổi trong logistics xuất phát từ lĩnhvực này Nhìn chung, số lượng các cửa hàng có mặt hàng đa dạng đang tăng lên và sốlượng các cửa hàng chuyên về một sản phẩm giảm xuống Số lượng các cửa hàng bán lẻđang giảm nhưng quy mô bình quân của các cửa hàng này đã tăng đáng kể Xu hướngchung là phát triển các cửa hàng lớn và các siêu thị lớn
Những thay đổi này đều có ảnh hưởng tới chiến lược và quy trình vận hànhlogistics Tuy nhiên, sự kết hợp các chính sách giảm hàng tồn kho có ảnh hưởng lớn nhất.Những chính sách này gồm có:
- Tối đa hóa các gian hàng bán lẻ - với chi phí do các kho bán lẻ chịu
- Giảm lượng hàng lưu kho tại các depot theo các chính sách tiết kiệm chiphí
- Giảm số lượng các depot trữ hàng tồn kho
- Khái niệm và nguyên lý Just-In-Time
- Các chính sách tồn kho do người bán quản lý
Chính sách bán lẻ quan trọng nhất là chính sách hướng tới việc tối đa không giangian hàng trong các cửa hàng, với chi phí thường do các kho bán lẻ chịu Những pháttriển trong công nghệ thông tin có vị trí rất quan trọng, đặc biệt là việc ứng dụng hệ thốngđiểm bán hàng điện tử đã chỉ ra những yêu cầu bổ sung hàng tồn kho chính xác và kịpthời tại cửa hàng Cùng với sự phát triển này, các chính sách tồn kho do người bán quản
lý đã được đưa ra tại Mỹ, theo đó người bán thay cho người bán lẻ chịu trách nhiệm bổsung hàng tồn kho cho cửa hàng Cuối cùng, nhiều quy trình bán lẻ đã áp dụng các chínhsách này để tổ chức các hoạt động bán lẻ qua việc đưa các hoạt động này quay lại depot(dán nhãn, rút hàng, …)
Luồng sản phẩm liên tục chảy vào cửa hàng dẫn đến kết quả là hàng tồn kho tại cáccửa hàng bán lẻ giảm xuống hoặc bị loại bỏ Điều này đòi hỏi hệ thống giao hàng có tráchnhiệm hơn, thông tin chính xác và kịp thời hơn Do vậy, quy trình vận hành logistics phảihoạt động với hiệu quả cao hơn và ít giấy tờ thông hành hơn (safeguards)
1.6.5 Thách thức từ khách hàng
Thách thức trực tiếp tới hoạt động bán lẻ là xu hướng mua hàng tại nhà hoặc muahàng trực tuyến Hiện tượng này đã phổ biến ở Mỹ và châu Âu thông qua bán hàng trựctiếp hoặc đặt hàng qua mail dựa trên các danh mục hàng hóa Hiện tượng này dường như
có thể phá vỡ và thâm nhập mạnh mẽ cách thức mua sắm truyền thống Sự phát triển của
Trang 28truyền hình cáp, máy tính gia đình, dịch vụ ngân hàng điện tử và tất nhiên cả internet làphương tiện cho thay đổi cách thức mua hàng Bất kỳ sự thay đổi lớn nào sẽ có tác động
cơ bản tới logistics Bản chất của quy trình giao hàng cuối cùng sẽ đột ngột thay đổi và sẽảnh hưởng tới toàn chuỗi cung ứng Những ý nghĩa điển hình bao gồm:
- Cửa hàng trở thành các phòng trưng bày và việc bổ sung hàng tồn kho khôngcòn là điều đáng lo ngại
Tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng ngày càng tăng và có ảnh hưởng lớn tớilogistics như chức năng logistics trở thành một thành phần chủ chốt trong chiến lược dịch
vụ khách hàng Dịch vụ khách hàng phát triển theo các hướng sau:
- Phát triển các tổ chức và quy trình hoạt động hướng tới khách hàng
- Dịch chuyển về phía các chính sách dịch vụ dựa trên phân khúc thị trường
- Các hệ thống cung ứng vừa đúng lúc (Just In Time – JIT) và phản ứng nhanhđòi hỏi việc giao hàng thường xuyên và đảm bảo hơn
- Sức mạnh của nhãn mác trở nên yếu hơn – các yếu tố tạo ra điểm khác biệt khácchiếm ưu thế
1.7 Dịch vụ logistics
1.7.1 Dịch vụ logistics
Từ những năm 1990 trở lại đây, sự xuất hiện của các nhà cung cấp dịch vụ logisticstại Việt Nam ngày càng nhiều cùng với sự chuyển đổi của các hãng giao nhận, doanhnghiệp kinh doanh kho hàng, doanh nghiệp vận tải sang doanh nghiệp cung cấp dịch vụLogistics Cụm từ dịch vụ logistics đã trở nên phổ biến, tuy nhiên nhiều người vẫn nhầmlẫn giữa logistics và dịch vụ logistics Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về
Trang 29dịch vụ logistics và hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ logisticstại Việt Nam hiện nay.
1.7.1.1 Khái niệm dịch vụ logistics
Nếu hiểu theo những khái niệm logistics mà chúng ta đã nghiên cứu ở đầu chương 1thì dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khihàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Theo đó, dịch vụ logistics gắn liền cả quátrình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hànghóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng.Tại Việt Nam, điều 233 Luật Thương mại 2005 đã quy định rõ khái niệm dịch vụlogistics như sau:
“Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc
Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiệnmột hoặc nhiều công việc bao gồm: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tụchải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu,giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với kháchhàng để hưởng thù lao.”
Theo khái niệm mà Luật Thương mại 2005 đưa ra, dịch vụ logistics được xem làhoạt động thương mại, tức là các hoạt động nhằm mục đích kiếm lời Nói cách khác, dịch
vụ logistics là sản phẩm vô hình, bao gồm các hoạt động chức năng logistics mà nhà cungcấp dịch vụ logistics thực hiện cho khách hàng để thu lợi nhuận Dịch vụ logistics đượccung cấp có thể chỉ là một hoạt động chức năng đơn thuần hoặc một chuỗi các hoạt độngđược chọn lọc theo nhu cầu của khách hàng Tuy nhiên, cách hiểu này có nghĩa hẹp hơncác khái niệm về logistics nói chung Ở đây, dịch vụ logistics được hiểu gần như tươngđồng với hoạt động giao nhận hàng hóa, là sự kết hợp nhiều hoạt động khác nhau trongquá trình lưu chuyển hàng hóa từ điểm nhận hàng đến điểm giao hàng Nói các khác, dịch
vụ logistics được hiểu là việc thực hiện và kiểm soát hàng hoá và thông tin liên quan từnơi hình thành hàng hoá đến nơi tiêu thụ cuối cùng
Xét trên phạm vi rộng, dịch vụ logistics có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất chotới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng, gắn liền từ quá trình nhập nguyên,nhiên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênhlưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Cách hiểu này về dịch vụlogistics góp phần phân định rõ giữa các nhà cung cấp dịch vụ đơn lẻ - thực hiện dịch vụđơn thuần như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợsản xuất, tư vấn quản lý… với nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp - đảm nhậntoàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuốicùng Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyênmôn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sảnxuất Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao Ví dụ, khi một nhà cung cấpdịch vụ logistics cho một nhà sản xuất thép, anh ta sẽ chịu trách nhiệm cân đối sản lượng
Trang 30của nhà máy và lượng hàng tồn kho để nhập phôi thép, tư vấn cho doanh nghiệp về chutrình sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các kênh phân phối, các chương trình makerting,xúc tiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng
Điểm khác biệt rõ nhất giữa logistics và dịch vụ logistics thể hiện ở chỗ dịch vụlogistics là những hoạt động chức năng rất nhỏ trong toàn bộ quá trình lập kế hoạch, thựchiện và quản lý logistics
1.7.1.2 Vai trò của dịch vụ logistics
a Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trongquá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp
Cho đến nay, theo thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về logistics như viện
nghiên cứu Logistics của Mỹ cho biết chi phí cho hoạt động logistics chiếm tới khoảng
10 - 13% GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang phát triển thì cao hơnkhoảng 15 - 20% (Trung Quốc là 16%, Ấn Độ là 15%) Điều này cho thấy chi phí chologistics là rất lớn Vì vậy với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp cácdoanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗilogistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giảm hơn và đạt hiệu quả hơn Giảmchi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinhdoanh được nâng cao, góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí logistics đã giảm xuống rất nhiều
và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới
Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thôngphân phối Giá cả hàng hoá trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với phílưu thông Chi phí lưu thông hàng hoá, chủ yếu là chi phí vận tải, chiếm một tỷ lệ khôngnhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hoá trên thị trường, đặc biệt là hàng hoá trongbuôn bán quốc tế Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông C.Mac nói "Lưu thôngnghĩa là hành trình thực tế của hàng hoá trong không gian được thực hiện bằng vận tải".Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hoá đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị
và giá trị sử dụng của hàng hoá Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọngkhá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trungbình là 10 -15% giá FOB, hay 8 - 9% giá CIF Mà vận tải lại là yếu tố quan trọng nhấttrong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại, sẽ tiếtkiệm cho chi phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đếntiết kiệm và giảm chi phí lưu thông
b Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vậntải giao nhận
Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều sovới hoạt động vận tải giao nhận thuần tuý Trước kia người kinh doanh dịch vụ vận tảigiao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần tuý và đơn lẻ.Ngày nay do phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do
Trang 31nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụtại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau Vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từngười kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú Người vận tải giao nhậnngày nay đã mở rộng các dịch vụ nhằm cung cấp đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng
và trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (Logistics Service Providers) Rõ ràng dịch
vụ logistics đã góp phần làm tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giaonhận
Theo kinh nghiệm ở các nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng logisticstrọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng đếnlúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5 - 6 tháng xuống còn 2 tháng Kinh doanh dịch vụlogistics trọn gói có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3 - 4 lần sản xuất và gấp từ 1,2 - 2 lần cácdịch vụ ngoại thương khác
c Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong thương mại quốc tế
Sản xuất mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh vấn đềthị trường là vấn đề quan trọng luôn được các nhà sản xuất kinh doanh quan tâm Thịtrường cung ứng và tiêu thụ sản phẩm càng rộng càng tạo điều kiện cho sản xuất kinhdoanh phát triển Sản xuất kinh doanh phát triển thì càng đạt được hiệu quả cao Trong xuthế toàn cầu hoá, quốc tế hoá diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc đã làm cho khoảng cách về mặtkhông gian giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày càng trải rộng Các nhà sản xuất kinhdoanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải có sự hỗ trợcủa dịch vụ logistics Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyểndịch hàng hoá trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng theo yêu cầu vềthời gian và địa điểm đặt ra Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việckhai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp
d Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hoáchứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế
Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy
tờ, chứng từ Theo ước tính của liên hợp quốc cho thấy chi phí về giấy tờ để phục vụ mọimặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD Và theo cácchuyên gia buôn bán quốc tế thì riêng các giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chiphí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10 % kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rấtlớn đến các hoạt động buôn bán quốc tế
Việc cung cấp các dịch vụ logistics đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiềucác chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế Người vận tải giao nhận ngàynay trở thành người cung cấp các dịch vụ logistics như gom hàng, tổ chức giao nhậnchuyên chở hàng Tổ chức thực hiện việc giao nhận vận chuyển hàng từ kho người bánđến tận kho người mua (Door to Door), trên các phương thức vận tải khác nhau mà chỉcần một hợp đồng vận tải thể hiện trên một chứng từ với một chế độ trách nhiệm thốngnhất Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã
Trang 32loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, đồng thời nâng cấp và chuyển hoá chứng
từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hoá, từ đó nângcao hiệu quả buôn bán quốc tế
Ngoài ra cùng với việc phát triển logistics điện tử (Electronic Logistics) sẽ tạo racuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưuthông hàng hoá càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càngđược nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưuchuyển nguyên vật liệu và hàng hoá Các quốc gia cần xích lại gần nhau hơn trong hoạtđộng sản xuất và lưu thông
1.7.1.3 Hành lang pháp lý quản lý dịch vụ logistics tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay, hai văn bản pháp luật chính điều chỉnh hoạt động kinhdoanh dịch vụ logistics là Luật Thương mại 2005 và Nghị định 140/2007/NĐ-CP quyđịnh chi tiết Luật Thương mại 2005 về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạntrách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
a Luật Thương mại 2005
Luật Thương mại 2005 được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm
2005 Các quy định về dịch vụ logistics được trình bày từ điều 233 tới điều 240, trong đónêu rõ khái niệm dịch vụ logistics, các điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, quyền vànghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng
b Nghị định 140/2007/NĐ-CP
Nghị định 140/2007 /NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại 2005 về điều kiệnkinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanhdịch vụ logistics Nghị định 140/2007/NĐ-CP được ban hành ngày 05 tháng 09 năm
2007, bao gồm 4 chương, 12 điều quy định cụ thể các điều kiện kinh doanh dịch vụlogistics, tạo điều kiện cho việc quản lý tổ hơn các thương nhân kinh doanh dịch vụlogistics cũng như thúc đẩy hoạt động logistics tại Việt Nam phát triển phù hợp với lộtrình thực hiện cam kết với WTO về mở cửa hoạt động vận tải, phân phối và logistics.Bên cạnh hai văn bản pháp luật trên, hoạt động logistics liên quan tới vận tải, thủtục hải quan, bảo hiểm, … còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản luật chuyên ngành nhưNghị định về Vận tải đa phương thức số 03/NĐHN-CP, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, LuậtGiao thông đường bộ, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Giao thông đườngthủy nội địa, Luật Đường sắt, Luật Hải quan, …
1.7.1.4 Phân loại dịch vụ logistics
a Theo cách phân loại của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của Ban Thư ký tổ chức Thương mại Thế
giới (World Trade Organization – WTO), có tất cả 11 ngành và 155 phân ngành dịch vụđược các Thành viên WTO tiến hành đàm phán Mỗi ngành hoặc phân ngành trong danhmục phân loại được xác định tương ứng với mã số của Bảng phân loại sản phẩm trung
Trang 33tâm (CPC) Trong cách phân loại của WTO thì dịch vụ logistics không được coi là mộtngành độc lập theo các mã phân loại của GATS (General Agreement on Trade inServices) mà được phân trong nhóm “Dịch vụ vận tải” (W/120 11) và “Dịch vụ bổ trợcho các loại hình vận tải” (11.H a-d) tương thích với cách phân loại của UNCPC (UnitedNation Central Product Classification) hay viết ngắn gọn hơn là CPC Hiện nay, kháiniệm dịch vụ logistics đã được mở rộng hơn nhiều so với định nghĩa ban đầu của GATS,bao gồm thêm dịch vụ logistics gom hàng (freight logistics service – 11.H của W/120),dịch vụ phân tích thử nghiệm kỹ thuật, các dịch vụ chuyển phát nhanh, đại lý, dịch vụthương mại bán sỉ và các dịch vụ bán lẻ Mỗi loại dịch vụ này đều có mã tương ứng trongW/120 và trong danh mục của UNCPC Ngoài ra còn có dịch vụ logistics không cơ bảngồm các dịch vụ về tin học, bao gói hàng, quản lý và tư vấn.13
động logistics và cần phải tiến hành tự do hóa để thúc đẩy sự lưu chuyển dịch vụ, baogồm: dịch vụ làm hàng, dịch vụ lưu kho, dịch vụ đại lý vận tải và các dịch vụ hỗ trợ khác
một cách hiệu quả dịch vụ Logistics tích hợp cũng như cung cấp môi trường thuận lợicho hoạt động của logistics bên thứ 3 phát triển gồm có vận tải hàng hoá (đường biển,đường thủy nội địa, hàng không, đường sắt, đường bộ và cho thuê phương tiện không cóngười vận hành) và các dịch vụ khác có liên quan tới dịch vụ Logistics gồm dịch vụ phântích và thử nghiệm kỹ thuật, dịch vụ chuyển phát, dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bánbuôn và bán lẻ
liên quan tới máy tính, dịch vụ đóng gói và dịch vụ tư vấn quản lý
b Theo Nghị Định số 140/2007/ NĐ-CP:
Tại điều 4 của Nghị Định số 140/2007/ NĐ-CP đã quy định rõ dịch vụ logistics baogồm các hình thức như:
- Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãicontainer và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập
13 PGS, TS Nguyễn Thanh Thủy, 2013, Tạp chí Giao thông vận tải, Phát triển nguồn nhân lực trong khu vực
dịch vụ logistics Việt Nam.
Trang 34 Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;
- Dịch vụ bưu chính;
- Dịch vụ thương mại bán buôn;
- Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thugom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;
- Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác
Có thể thấy rằng, các quy định của Việt Nam rất gần với cách phân loại dịch vụ củaWTO Tuy nhiên, một số dịch vụ như dịch vụ đại lý hoa hồng (nhóm dịch vụ liên quantới vận tải); dịch vụ máy tính và liên quan tới máy tính, dịch vụ tư vấn quản lý (nhómdịch vụ logistics thứ yếu) trong bảng phân loại dịch vụ của WTO chưa được liệt kê trongdanh mục các dịch vụ logistics theo cách phân loại mà Nghị định 140/2007 đưa ra
1.7.1.5 Giới thiệu một số dịch vụ logistics điển hình
a Một số dịch vụ logistics trong vận tải
Dịch vụ gom hàng và các dịch vụ liên quan tại cảng xếp
- Dịch vụ cung cấp chứng từ tại cảng xuất
- Dịch vụ theo dõi kiểm tra hàng tồn quan mạng internet
Dịch vụ gom hàng đa quốc gia
Dịch vụ NVOCC
Trang 35 Rải hàng và các dịch vụ tại cảng đích
- Dịch vụ môi giới hải quan
- Dịch vụ phân phối trực tiếp đến các nhà bán lẻ của khách hàng
- Dịch vụ vận chuyển nội địa (FTL hoặc LTL)
- Phân phối hàng hóa tới các DC cho khách hàng
b Vận chuyển hàng hóa quốc tế
Vận chuyển đường biển (FCL hoặc LCL)
Vận chuyển đường hàng không
Vận chuyển đường sắt
Vận tải đa phương thức
c Dịch vụ quản lý cước
Quản lý cước đường biển
Quản lý cước nội địa
- Dịch vụ vận chuyển bằng đường sắt
- Dịch vụ vận chuyển bằng đường bộ
- Thu xếp hợp đồng vận chuyển nội địa
- Dịch vụ thiết kế và bố trí tuyến
- Dịch vụ kiểm toán và hỗ trợ phương thức thanh toán
d Dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế (D2D)
Đường biển
Đường hàng không
Đường sắt
e Các dịch vụ tại kho
Quản lý trang thiết bị trong kho
Lưu trữ/ nhận/ đóng gói/ gửi hàng
Giám sát và bố trí hàng trong kho
Cross-docking/ By-pass
Dịch vụ dán tem nhãn tại kho
Nhận gửi hàng theo nguyên tắc JIT
Các dịch vụ điện tử hỗ trợ khác
f Các dịch vụ gia tăng khác
Trang 36 Dịch vụ xây dựng bộ tiêu chuẩn cho hoạt động logistics
Dịch vụ thanh toán hộ
Dịch vụ kiểm đếm
Dịch vụ sắp xếp lại hàng
Dịch vụ cập nhật Phiếu đóng hàng cho những khách hàng không scan
Dịch vụ khai AMS và ACI cho hàng xuất sang Mỹ và Canada
1.7.2 Các cấp độ dịch vụ logistics
1.7.2.1 Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistics)
Logistics bên thứ nhất là hoạt động logistics do doanh nghiệp sở hữu sản
phẩm/hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanhnghiệp
Theo đó, doanh nghiệp sở hữu hoặc thuê phương tiện vận tải, nhà xưởng, kho bãi,nhân lực và các nguồn lực khác để tự tổ chức và thực hiện hoạt động lLogistics phục vụhoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, nếu hoạt động logistics làm tăng quy mô củadoanh nghiệp một cách quá mức thì sẽ không hiệu quả Ví dụ, các doanh nghiệp vừa vànhỏ với lượng hàng vận chuyển không thường xuyên, việc tổ chức và quản lý một độivận tải sẽ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp mà hiệu quả hoạt động không cao Ngượclại, các doanh nghiệp quy mô lớn với những lượng hàng lớn và tần suất vận chuyểnthường xuyên thì khá thích hợp với hình thức này nhưng cần chú ý nâng cao năng lựcquản lý vận hành để đạt hiệu quả tốt hơn
1.7.2.2 Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics)
Logitics bên thứ hai là hoạt động logistics do nhà cung cấp dịch vụ Logistics thựchiện cho một/một vài hoạt động đơn lẻ trong chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của chủhàng
Ở đây, dịch vụ logistics được thực hiện chưa tích hợp giữa các hoạt động chức năngthành một chuỗi cung ứng đồng nhất Ví dụ, các doanh nghiệp có thể thuê công ty cungứng dịch vụ logistics quản lý và thực hiện một hoạt động truyền thống như vận chuyển,làm thủ tục hải quan, kiểm dịch, thanh toán, kho bãi v.v Mục tiêu chính của các doanhnghiệp sử dụng 2PL là nhằm giảm quy mô vốn đầu tư cũng như giảm chi phí hoạt độngkhi không có đủ phương tiện, cơ sở hạ tầng để tự thực hiện các hoạt động này
1.7.2.3 Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics)
Logistics bên thứ ba là hoạt động logistics do một doanh nghiệp độc lập thay mặtchủ hàng tổ chức thực hiện và quản lí các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba thực hiện một phần hoặc toàn bộ quytrình Logistics như làm thủ tục xuất nhập khẩu, vận tải nội địa, chuẩn bị giấy tờ hàng hóa,
Trang 37có tích hợp vào chuỗi cung ứng của khách hàng Ngoài ra, bên cung cấp dịch vụlogistics thứ ba còn cung cấp các giải pháp, tư vấn cho khách hàng để có được giải pháplogistics hiệu quả nhất 3PL được thực hiện dựa trên sự tin tưởng, cùng chia sẻ thông tin,đôi khi bên sử dụng dịch vụ còn cho phép bên cung cấp dịch vụ truy cập vào dữ liệu củamình Các bên có thể ký kết hợp đồng hoặc không ký hợp đồng Thông thường, thời hạnhợp đồng tối thiểu là một năm.
1.7.2.4 Logistics bên thứ tư (4PL – Four Party Logistics)
Trong dịch vụ logistics bên thứ tư, bên cung cấp dịch vụ tích hợp, gắn kết cácnguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác
để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi cung ứng 4PL được phát triển trênnền tảng 3PL nhưng có lĩnh vực rộng hơn, gồm các dịch vụ 3PL, các dịch vụ công nghệthông tin và quản lý các tiến trình kinh doanh
1.7.2.5 Logistics bên thứ năm (5PL – Fifth Party Logistics)
Logistics bên thứ năm là các dịch vụ logistics được cung cấp trên cơ sở thương mạiđiện tử Các nhà cung cấp 5PL sử dụng các hệ thống quản lý (hệ thống quản lý đơn hàng,
hệ thống quản lý kho hàng và hệ thống quản lý vận tải) tích hợp trong một hệ thốngchung, sử dụng công nghệ thông tin để quản lý tất cả các bên trong chuỗi phân phối
1.7.3 Logistics bên thứ ba 14
Nhu cầu về các dịch vụ logistics chuyên nghiệp mang tính toàn cầu hóa cao, giúpgiảm thời gian cung ứng, định hướng tới khách hàng cùng với nhu cầu thuê ngoài các loạidịch vụ ngày càng gia tăng, kéo theo sự hình thành và phát triển rầm rộ của các nhà cungcấp dịch vụ logistics (Logistics Service Providers – LSPs)
Nhà cung cấp dịch vụ logistics sẽ đứng ra thực hiện một hoặc một chuỗi các hoạtđộng logistics theo yêu cầu của khách hàng Nói cách khác, nhà cung cấp dịch vụlogistics sẽ quản lý và/hoặc thực hiện luồng lưu chuyển hàng hóa, thông tin … với cácdịch vụ về vận tải, giao nhận hàng hóa, hoạt động kho kho hàng, làm hàng, đóng gói, làmthủ tục hải quan … dưới sự chỉ dẫn của khách hàng Tùy theo mức độ dịch vụ cung cấp là2PL, 3PL, 4PL hay 5PL mà nội dung cũng như độ phức tạp của hoạt động logistics doLSP thực hiện sẽ tăng lên và mở rộng Vai trò của các nhà cung cấp dịch vụ logisticsngày càng được khẳng định hơn và họ cũng không ngừng giới thiệu các dịch vụ mới và
đa dạng hơn tới khách hàng
Trên thế giới, hiện nay các dịch vụ 3PL đã phát triển và phổ biến rất rộng rãi Cácdịch vụ 2PL đã dần ít đi, các dịch vụ ở cấp độ cao hơn là 4PL đã xuất hiện nhưng còn hạnchế, và hiện tại chưa có doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 5PL Tại Việt Nam, phần lớn cácdoanh nghiệp logistics đang hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu cung ứng các dịch vụđơn lẻ (2PL) mà chưa có hoặc còn hạn chế về khả năng cung ứng các dịch vụ tích hợp(3PL) cho khách hàng Nhu cầu cũng như mối quan tâm dành cho việc thuê ngoài các
14 Reza zanjirani, Shabnam Rezapour, Laleh Kardar, 2011, Logistics operations and management – Concepts and Models, Elservier Insights
Trang 38hoạt động logistics ngày càng tăng đã cho thấy vai trò của 3PL trong lĩnh vực này và biến3PL trở thành lĩnh vực nghiên cứu thú vị để phát triển hơn nữa Trong phần này chúng ta
sẽ nghiên cứu kỹ hơn các vấn đề liên quan tới dịch vụ 3PL và nhà cung cấp dịch vụlogistics bên thứ ba
1.7.3.1 Khái niệm 3PL
Trước đây, 3PL thường được sử dụng để diễn tả việc thuê ngoài dịch vụ vận tảihoặc kho hàng, trong một số trường hợp, thuật ngữ này được sử dụng để nói tới việc thuêngoài quy trình Logistics rộng hơn Tuy nhiên, trong các tài liệu về 3PL chưa đề cập tớimột khái niệm cụ thể nào
Năm 1992, Lieb đã đưa ra định nghĩa 3PL như sau: “Logistics bên thứ ba là việc
các công ty bên ngoài thực hiện các chức năng logistics mà trước đây thường được tiến hành bên trong doanh nghiệp Các chức năng do bên thứ ba thực hiện có thể bao gồm toàn bộ quy trình logistics hoặc một số hoạt động được chọn lọc trong quy trình đó”.
Khái niệm này cho thấy các hoạt động logistics trước kia được thực hiện bên trong doanhnghiệp thì có thể được thực hiện bởi một doanh nghiệp khác bên ngoài Tuy nhiên, trongkhái niệm tổng quát này, các điều kiện như loại hình hoạt động logistics không được đềcập tới
Khái niệm dưới đây thể hiện cụ thể hơn các đặc điểm của hoạt động thuê ngoài
logistics Logistics bên thứ ba là các hoạt động do một nhà cung cấp dịch vụ logistics
thực hiện, tối thiểu bao gồm việc quản lý và thực hiện hoạt động vận tải và khai thác kho Ngoài ra, nhà cung cấp dịch vụ logistics có thể quản lý các hoạt động khác như quản trị tồn kho, các hoạt động liên quan tới thông tin và các hoạt động tạo ra giá trị khác Hợp đồng thực hiện phải có các nội dung chi tiết về quản lý, phân tích hoặc thiết kế, và thời gian hợp tác tối thiểu là một năm.
Khái niệm thứ hai đã phân biệt rõ hơn giữa 3PL và việc thuê ngoài các chức nănglogistics trước đây, cung cấp các đặc điểm khác biệt của 3PLs như phạm vi dịch vụ rộnghơn, thực hiện trong dài hạn, giải pháp logistics tùy biến và sự chia sẻ lợi ích-rủi ro bìnhđẳng giữa các bên
1.7.3.2 Quá trình phát triển của 3PL
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Berglund 1999, quá trình phát triển của thị
trường 3PL bao gồm ba giai đoạn Giai đoạn đầu tiên bắt đầu từ những năm 1980 hoặc
thậm chí còn lâu hơn với sự xuất hiện của các nhà cung cấp dịch vụ logistics truyền thống
(traditional LSPs), ví dụ như công ty ASG ở Thụy Điển và Frans Maas ở Hà Lan Các
hoạt động 3PL mà các công ty này thực hiện chủ yếu dựa trên thế mạnh chính của họ làvận tải hoặc kho hàng
Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ đầu những năm 1990 khi một số doanh nghiệp chuyển
phát nhanh và vận chuyển bưu kiện như DHL, TNT và UPS bắt đầu thực hiện các hoạtđộng 3PL Các hoạt động 3PL do các doanh nghiệp này thực hiện dựa trên mạng lưới
Trang 39chuyển phát nhanh toàn cầu bằng đường hàng không và kinh nghiệm của họ về cước vậnchuyển.
Giai đoạn thứ ba diễn ra từ cuối những năm 1990 Hiện nay một số doanh nghiệp
tham gia thị trường 3PL từ lĩnh vực IT, cố vấn quản lý và các dịch vụ tài chính Nhữngdoanh nghiệp này cùng hợp tác với các doanh nghiệp ở giai đoạn thứ nhất và thứ hai đểthực hiện các hoạt động cho khách hàng Trong hầu hết các trường hợp thường có nhiềungười gửi hàng và nhiều nhà cung cấp dịch vụ tham gia
Mặc dù trong giai đoạn thứ nhất và thứ hai, các doanh nghiệp mới gia nhập chủ yếudựa trên thế mạnh của họ về các hoạt động logistics truyền thống như vận chuyển, khohàng hoặc điều hành mạng lưới đã lập trình nhưng các doanh nghiệp mới hiện nay hìnhthành dựa trên nhiều kỹ năng khác nhau như IT, cố vấn hoặc chuyên gia tài chính
1.7.3.3 Ưu nhược điểm của 3PL
Các doanh nghiệp quan tâm tới việc thuê ngoài hoạt động logistics cần nắm được
ưu và nhược điểm của việc thiết lập mối quan hệ 3PLs
3PL có thể tác động tới mức độ hiệu quả nhờ khai thác tính kinh tế nhờ quy mô.Năng lực được tận dụng tối ưu do số lượng hàng vận chuyển cao thấp khác nhau giữa cáckhách hàng được cân bằng do luôn có sẵn đội xe hỗ trợ 3PL có hiểu biết chuyên môn doquản trị logistics là hoạt động cốt lõi của họ 3PL có thể nâng cao chất lượng và tính linhhoạt của dịch vụ và do vậy cải thiện dịch vụ khách hàng
Khi thuê ngoài các dịch vụ logistics, các doanh nghiệp giảm khối lượng vốn đầu tư.Một số doanh nghiệp chi tiêu quá nhiều vào các trung tâm phân phối vật chất hoặc mạnglưới thông tin, làm gia tăng rủi ro về tài chính Nhà cung cấp dịch vụ 3PL có thể dàn trảinhững rủi ro đó bằng cách thuê ngoài các nhà thầu phụ khác
Một lợi ích khác của việc hợp tác với 3PL là mở rộng các loại hình dịch vụ, tăngsức mạnh thương lượng, tiếp thu nhanh hơn, mở rộng mạng lưới với các nhà cung cấpkhác, mở rộng kiến thức về nhiều lĩnh vực, nhanh chóng bổ sung các hệ thống mới, nângcao sự hài lòng của khách hàng, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và hoạt động sản xuất nhịpnhàng hơn
Mặc dù việc sử dụng 3PL có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm Ví
dụ, không dễ dàng để thiết lập mối quan hệ đáng tin cậy và hiệu quả về chi phí giữangười gửi hàng và nhà cung cấp 3PL Để thiết lập mối quan hệ tin cậy, nỗ lực phải thựchiện theo hai bước: lựa chọn nhà cung cấp 3PL và ký kết hợp đồng
Nếu nhà sản xuất thuê ngoài các hoạt động logistics thì sẽ có rủi ro mất dần tínhchuyên nghiệp trong logistics Ngoài ra, nhà sản xuất thuê ngoài các hoạt động logisticsthường lo lắng về việc bảo mật thông tin doanh nghiệp do họ phải chia sẻ dữ liệu mật.Tổng hợp lại, việc sử dụng các dịch vụ 3PL mang lại cho doanh nghiệp những lợiích sau:
- Tiết kiệm thời gian
Trang 40- Chia sẻ trách nhiệm
- Tái thiết lập mạng lưới phân phối
- Tập trung vào năng lực cạnh tranh cốt lõi
- Khai thác các chuyên gia logistics bên ngoài doanh nghiệp
- Giảm lượng tồn kho, thời gian chu kỳ đặt hàng và thời gian cung ứng(leadtime)
- Tận dụng được tính kinh tế nhờ quy mô
- Tăng hiệu quả hoạt động, mức dịch vụ và tính linh hoạt
Tuy nhiên, hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ 3PLs cũng có những nhược điểmsau:
- Nỗ lực tìm kiếm thấp
- Nỗ lực hợp tác thấp
- Thông tin chia sẻ ít
- Mất kiểm soát
- Hiệu quả cung ứng dịch vụ thấp
- Chuyên gia cung ứng không phù hợp
- Chất lượng nhân viên không phù hợp
- Mất phản hồi từ khách hàng
1.7.3.4 Các loại hình nhà cung cấp dịch vụ 3PL
Các doanh nghiệp cần nghiên cứu và lựa chọn loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ 3PL phù hợp trước khi xây dựng mối quan hệ lâu dài với họ Dưới đây là một số cáchphân loại 3PLs phổ biến
a Theo khả năng đáp ứng khách hàng
bản nhất của nhà cung cấp 3PL Họ thực hiện các chức năng cơ bản như nhặt hàng vàđóng hàng (pick & pack), hoạt động kho hàng và phân phối
cao cấp làm tăng giá trị như theo dõi lô hàng (track & trace), cross docking, bao gói đặcbiệt, và cung cấp hệ thống an ninh chuyên biệt
các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng và kiểm soát chặc chẽ các hoạt động logisticscủa doanh nghiệp Nhà cung cấp 3PL cải tiến các dịch vụ logistics nhưng không pháttriển các dịch vụ mới Lượng khách hàng của loại hình nhà cung cấp 3PL này khá ít