Kết quả của cuộc cải cách là đáng mừng cho Trung Quốc đã tìm ra cơ chế, chính sách quản lí nông nghiệp mới phù hợp với quy luật phát triển kinh tế khách quan đi vào cải cách thực hiện kh
Trang 1Lời nói đầu
Sự phát triển kinh tế của nớc Cộng hoà nhân dân Trung hoa trong một kỷ rỡi vừa qua từ bớc ngoặt lịch sử Hội nghị trung ơng III khoá XI Đảng cộng sản Trung Quốc (tháng 12/1978) đã thu hút sự chú ý của thế giới cũng nh của nớc ta Rất nhiều công trình nghiên cứu đã viết về hiện tợng chuyển mình đi lên của đất nớc khổng lồ vốn trì trệ này với tốc độ cao, liên tục chỉ có các "con rồng Châu
á" mới sánh đợc Trong những năm xây dựng Trung Quốc hoà nhập vào dòng chảy kinh tế của thế giới thì thời kỳ cải cách là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế của đất nớc, khẳng định vị trí của Trung Quốc trên vũ đài kinh tế thế giới Thực hiện cải cách kinh tế, Trung Quốc đã từ bỏ nền kinh tế kế hoạch tập trung cao độ, chuyển dần sang nền kinh tế thị trờng XHCN mà đặc điểm của nó
là năng động và hiệu quả Thành tựu của cuộc cải cách đã khai thông luồng chảy cho những trào lu mới mà trớc đây cha bao giờ có đợc ở nớc này Đó là việc tìm lối thoát cho xã hội, cách đây khá lâu, một nhà lý luận phơng Tây đã đặt ra câu hỏi "Những vấn đề gay gắt mà nhân loại phải đơng đầu không thể giải quyết bằng con đờng TBCN đợc, nhng một xã hội không phải t bản mà đứng vững và hấp dẫn là xã hội thế nào ? Rồi với nhân loại đang đi tìm một lối thoát, đó là các cuộc thử nghiệm" Nếu coi cuộc cải cách ở Trung Quốc những năm qa là một cuộc thử nghiệm thì trong chặng đờng đầu tiên cuộc thử nghiệm đó đã thành công dù gặp nhiều khó khăn và vấp váp
Đối với Việt Nam - nớc láng giềng gần gũi của Trung Quốc công cuộc cải cách kinh tế mà Trung Quốc đã tiến hành trong những năm qua sẽ là bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình cải cách kinh tế trong nớc, sẽ là động lực thúc đẩy nền kinh tế thế giới
Trang 2Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa, nên cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều yếu kém, lạc hậu và khả năng cạnh tranh còn rất hạn chế Trong khi đó, thị trờng thế giới và khu vực đã đợc phân chia bởi hầu hết các nhà sản xuất và phân phối lớn Ngay cả thị trờng nội địa cũng cùng chịu sự phân chia này
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế xã hội để ổn định kinh tế trong nớc và hội nhập quốc tế ta phải chủ trơng xây dựng một nền kinh tế mới, một nền kinh tế nhiều thành phần đa dạng hoá các hình thức sở hữu
A- Nội dung và kết quả của công cuộc cải cách kinh tế từ 1978 - 2000.
I- Cải cách nông nghiệp là nhiệm vụ cần thiết.
Cuộc cải cách lần này thực chất là giao ruộng cho nông dân để họ thực sự làm chủ đồng ruộng của mình, chỉ trong 5 đến 6 tháng 5,7 triệu đội sản xuất nông nghiệp đã chuyển thành 180 triệu đơn vị sản xuất gia đình Trong thời gian này, toàn bộ ruộng đất, gia súc, nông cụ và các tài sản công hữu khác đã đợc chia cho các gia đình nông dân Cuộc cải cạch đã cải thiện đáng kể đời sống nông thôn, đồng thời cũng đã làm nảy nhiều vấn đề cần giải quyết
Sau cải cách, toàn bộ số ruộng trên cả nớc đã đợc chia ra nhiều mảnh nhỏ chia cho nông dân Kết quả của cuộc cải cách là đáng mừng cho Trung Quốc đã tìm ra cơ chế, chính sách quản lí nông nghiệp mới phù hợp với quy luật phát triển kinh tế khách quan đi vào cải cách thực hiện khoán trách nhiệm đến từng
hộ nông dân đi đôi với cải cách chính sách giá cả và cơ chế lu thông nông sản, thúc đẩy nông nghiệp tăng trởng và phát triển, đi đôi với khoán hệ tạo điều kiện cho nông nghiệp hơng trấn để phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thời kỳ đầu cải cách, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt đợc những thành tựu to lớn, làm rung động cả nớc, nhng từ 1985 sản xuất nông nghiệp bị chững lại Nông thôn xuất hiện nhiều vấn đề cấp bách làm tổn hại đến lợi ích của nông dân, tác hại đến tính tích cực của sản xuất Nhng không phải tất cả các ngành kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đều gặp khó khăn, các ngành phi nông nghiệp
Trang 3ở nông thôn lại đang rất phát đạt Cuộc cải cách 1978 đã có 1,5 triệu xí nghiệp xã đội và khoảng 28 triệu lao động, cuộc cải cách ở nông thôn đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát triển các xí nghiệp xã đội nhỏ sản xuất tăng trởng nhanh đòi hỏi các ngành phi nông nghiệp thu nhận Do vậy 1983 số ngời lao
động trong các xí nghiệp này đã lên khoảng 32 triệu ngời Năm 1984 xí nghiệp xã đội đổi tên thành "Xí nghiệp hơng chấn" bao gồm các xí nghiệp tập thể của xã thôn, xí nghiệp hội kinh doanh 5 ngành lớn công nghiệp , công nghiệp chế biến nông sản, xây dựng, giao thông vận tải, dịch vụ thơng nghiệp
+ Những thành tựu phát triển và cải cách nông nghiệp Trung Quốc
Trong 50 năm qua, đặc biệt là 20 năm cải cách nông nghiệp Trung Quốc
đã có những thành tựu đáng ghi nhận về cơ chế tổ chức, chính sách quản lý nông nghiệp thích hợp về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về khoa học công nghệ nông nghiệp
Kết quả là tổng sản lợng các loại nông sản chủ yếu đều tăng trởng với mức
độ cao Diện tích cach tác đến năm 1999 - 2000 đã duy trì ở mức 95 - 96 triệu
ha, trong đó diên tích lúa nớc trên 25 triệu ha, diện tích đất trồng cạn khoảng 70 triệu ha, diện tích gieo trồng khoảng 150 triệu ha, diện tích gieo trồng cây lơng thực khoảng 110 triệu ha Thành tựu to lớn nhất của nông nghiệp Trung Quốc 50 năm qua đặc biệt là 20 năm cải cách là sản xuất lơng thực, đảm bảo có cái ăn cho hơn 1,2 tỉ ngời Trung Quốc, với diện tích canh tác chỉ chiếm khoảng 7% diện tích canh tác của thế giới nhng đến nay Trung quốc đã sản xuất đợc trên 20% sản lợng lơng thực của thế giới và nuôi sống đợc 22% dân số thế giới Đây không chỉ là kỳ tích là niềm tự hào của nền nông nghiệp Trung Quốc trong nửa thế kỷ qua, mà còn đợc coi là một thành tựu nổi bật đáng khâm phục của nông nghiệp thế giới Đến nay Trung Quốc đáng đầu thế giới về tổng sản lợng hạt cốc, lúa mì, lúa nớc, khoai tây, rau, dầu, lợn và cá Đứng thứ 2 thế giới về tổng sản l-ợng ngô, bông, chè, trái cây, cừu và lợng gỗ khai thác hàng năm Sản lợng nông sản bình quân đầu ngời của Trung Quốc cha cao vì dân số quá đông trên 1,2 tỷ ngời Nhng đối với các nông sản chủ yếu đã có mức tăng trớng nhanh
Nông nghiệp Trung Quốc chuyển động mạnh mẽ từ công nghiệp cổ truyền sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nửa thế kỷ qua, nông nghiệp Trung
Trang 4Quốc không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng khoa học công nghệ thâm canh cổ truyền mà đã tích cực nghiên cứu, tìm tòi ứng dụng các công nghệ mới phù hợp với yêu cầu tăng năng xuất cây trồng và vật nuôi, tăng năng xuất nông nghiệp và tăng sản lợng đất đai trong từng niên vụ sản xuất.
II- Hiện đại hoá công nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu.
1 Tăng cờng vốn đầu t hiện đại hoá trang thiết bị của các ngành công nghiệp để sản xuất nhiều hàng xuất khẩu.
Để hiện đại hoá nền công nghiệp Trung Quốc trớc hết tăng cờng đầu t cho các cơ sở sản xuất bằng các nguồn vốn của Nhà nớc, của t bản nớc ngoài đa vào
và vốn đi vay của nớc ngoài Vốn của nớc ngoài đợc sử dụng trong thời gian từ
1979 đến 1982 đã lên tới khoảng 98 tỷ USD trong đó có khoảng 34 tỉ USD là
đầu t trực tiếp, khoảng 60 tỉ USD là tín dụng Trung Quốc nhập nhiều thiết bị máy móc để thế cho các máy cũ, khuyến khích phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng thêm nhiều công trình mới, nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất lợng cao để xuất khẩu Trung Quốc đã dùng 80% số vốn vay đợc, chủ yếu
để phát triển các ngành mũi nhọn và xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho công nghiệp
Để sử dụng vốn có hiệu quả, Trung Quốc cũng thay đổi cách quản lý trong công nghiệp Các xí nghiệp quốc doanh đợc nới rộng quyền hạn kinh doanh (tự lập kế hoạch, tự tìm nguyên liệu và thị trờng tiêu thụ ) Nhà nớc chỉ làm nhiệm
vụ điều tiết, chỉ đạo ở cấp vĩ mô Để có các mặt hàng có sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế, Trung Quốc một mặt hết sức coi trọng việc nhập khẩu kỹ thuật từ nớc ngoài, những mặt khác cũng ra sức phát triển và nâng cao chất lợng những sản phẩm của các ngành công nghiệp truyền thống, các mặt hàng tiêu dùng vốn
có tiếng nh: tơ lụa, dụng cụ gia đình với chính sách tận dụng nguồn nhân lực trong nớc để chế biến và để bán ra nớc ngoài các thành phần với giá cao, Trung quốc vừa giải quyết đợc tình trạng thừa lao động, vừa thu hút đợc nhiều ngoại tệ mạnh
2 Những thay đổi trong sản xuất và phân bố công nghiệp.
Trang 5Giá trị sản lợng công nghiệp đã chiếm 45% GDP tỉ lệ hàng công nghiệp tham gia vào cán cân buôn bán với nớc ngoài ngày càng tăng Trung Quốc đứng
đầu thế giới về sản lợng than, xi măng, vải bông sợi Trớc năm 1988 Trung Quốc phát triển mạnh các ngành công nghiệp truyền thống nh: luyện kim, dệt, công nghiệp nhẹ.v.v gần đây Trung Quốc tập trung phát triển nhiều ngành công nghiệp hiện đại nh: điện tử, cơ khí chính xác, hoá chất và du lịch vv nhằm thay đổi đáng kể cơ cấu các ngành công nghiệp Các trung tâm công nghiệp cũ ở vùng Đông Bắc Trung Quốc nh Cáp Nhĩ Tân, Thẩm Dơng, An Sơn với các ngành công nghiệp nặng đợc tiếp tục phát triển Các thành phố Bắc Kinh, Thái nguyên, Bao Đầu (vùng Hoa Bắc) có cả các ngành công nghiệp nặng) công nghiệp nhẹ
và thực phẩm Ngày nay vùng hạ lu sông Trờng Giang (hoa trung) cũng trở thành vùng công nghiệp quan trọng với hai trung tâm lớn: Thợng Hải, Vũ Hán Ngoài
ra các ngành công nghiệp năng lợng, khai khoáng, hoá chất cũng bắt đầu đợc phát triển mạnh ở các tỉnh và thành phố miền Tây (Lan Châu, Tây An ) đặc biệt các mặt hàng vậy liệu xây dựng, đồ gốm, sứ, hàng dệt đợc sản xuất ở khắp các vùng nông thôn
Tốc độ phát triển công nghiệp tăng nhanh, mức tăng bình quân hàng năm thời khì 1978 - 1992 là 13,2% giá trị sản phẩm công nghiệp thời kỳ này tính theo giá so sánh tăng 1,7 lần Năm 1993 sản xuất tăng trởng mạnh mẽ so với năm
1992 tăng tới 23,6% giá trị sản lợng đạt khoảng 4000 tỉ USD Giá trị tài sản cố
định của công nghiệp cá nớc năm 1993 tức là tăng 7,3 lần; tỉ trọng hàng xuất khẩu từ cha đầy một nửa tăng lên 82% Do đó công nghiệp đã trở thành ngành sản xuất máy cái, máy dệt, máy chế biến lơng thực, thực phẩm, xe hơi, máy khâu, quạt điện, đồng hồ và gần đây còn thêm các ngành máy bay dân dụng, tàu biển, đồ dùng điện gia đình
III- Cải cách thế chế ngoại thơng.
Trung Quốc đã thực hiện cải cách điều chỉnh mạnh mẽ trong cả hai mặt quản lý hành chính ngoại thơng và quản lý kinh doanh của các xí nghiệp, công
ty ngoại thơng bằng các chinh sách:
+ Điều chính cơ cấu quản lý hành chính ngoại thơng
+ Thực hiện tách chức năng chính quyền xí nghiệp
Trang 6+ Cải cách thể chế kế hoạch ngoại thơng.
+ Cải cách thể chế quản lý ngoại hối và thuếSau năm 1979 Trung Quốc đã chú trọng cải cách thể chế qản lý ngoại hối thông qua một số hình thức, điều chính hối xuất, năm 1994 để thực hiện tốt chiến lợc phát triển kinh tế đối ngoại Trung quốc đã bắt đầu thả nổi ngoại tệ có quản lý Việc thả nổi hối xuất, không những đã phù hờp với xu thế phát triển của của nền kinh tế Trung quốc mà nó còn tạo điều kiện cho đồng NDT đi vào thị tr-ờng thế giới
áp dụng một số biện pháp điều chỉnh trong quản lý ngoại tệ vốn có trong nhân dân Trong hoạt động ngoại thơng Trung Quốc cũng đã thực hiện một loạt các cải cách sau:
- áp dụng một số biện pháp thu thuế xuất nhập khẩu Đối với hàng hoá xuất khẩu, nếu hàng hoá có doanh thu lớn thì thu thuế điều tiết xuất khẩu, nếu xuất khẩu không có lãi hoặc lợi nhuận dới 7,5% thì không thu
- tăng cờng thúc đẩy các xí nghiệp từng bớc thực hiện đổi lợi nhuận sang thuế,
độc lập kinh doanh, tự chịu lỗ lãi
- Thực hiện chế độ hoàn vốn xuất khẩu
Ngoài ra, các quan hệ kinh tế đối ngoại đã góp phần quan trọng vào việc cải cách kinh tế - xã hội của Trung quốc Từ năm 1978 tới nay, Trung quốc đã mạnh dạn thực hiện chính sách mở cửa, tận dụng các điều kiện thuận lợi trong quan hệ quốc tế để phát triển nền kinh tế quốc dân, để thu hút vốn đầu t của nớc ngoài Trung Quốc đã thành lập các đặc khu kinh tế một số thành phố và vùng ven biển, trong các đặc khu kinh tế, các dịch vụ kinh doanh và hàng hoá xuất khẩu đều đợc hởng chính sách u đãi Các đặc khu kinh tế đợc coi là đội quân tiên phong mở cửa với thế giới bên ngoài của Trung Quốc, một kênh độc đáo để Trung Quốc tận dụng vốn, kỹ thuật nớc ngoài và liên hệ với thị trờng thế giới và cũng là nơi thử nghiệm tổng hợp chính sách cải cách của Trung Quốc Các đặc khu lớn nh Thẩm Quyến, Chủ Hải, Hạ Môn và Sán Dầu đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế quốc dân Các đặc khu kinh tế còn là nơi thí điểm các biện pháp cải cách kinh tế mới nhằm nêu gơng và thúc đẩy caỉ cách trong nội địa nh lập thị tr-ờng chứng khoán, mua bán cổ phiếu, tuyển chọn ngời tài giỏi Đây cũng là trờng
Trang 7học đào tạo cán bộ quản lý kinh doanh giỏi, thích nghi vơi thị trờng quốc tế Mối giao thơng và liên hệ với Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan cũng tăng lên rõ rệt Các
đặc khu kinh tế với bốn cửa sổ phục vụ cho mực tiêu kinh tế và chính trị của Trung Quốc đã làm đợc chức năng của chúng về cơ bản
Trung quốc còn tích cực vay tiền của nớc ngoài (Nhật, Bỉ, Hà Lan, ngân hàng thế giới ) để phát triển kinh tế trong nớc Cho tới năm 1995 Trung Quốc
đã dùng trên 160 tỉ USD vốn đầu t của nớc ngoài để xây dựng các công trình trong các lĩnh vực khác nhau nh năng lợng, giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng Trung Quốc một mặt tăng cờng trao đổi khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý kinh tế với nớc ngoài, mặt khác mở rộng buồn bán với thế giới Hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt, sản phẩm công nghiệp nhẹ, thực phẩm, gia cầm Hàng nhập khẩu phần lớn là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, một ít hàng tiêu dùng
và nông phẩm Tổng xuất khẩu kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1993 lên tới 280
tỉ USD Trung Quốc còn chú ý đến việc khai tác các di tích văn hoá, lịch sử và cảnh quan thiên nhiên để phục vụ du lịch Năm 1995 đã có khoảng 46 triệu khách du lịch đã tới thăm Trung Quốc Năm 1995 nguồn thu của ngành này nên
đến khoảng 9 tỉ USD
B. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay:
1- Chủ trơng đổi mới về kinh tế của Đảng và Nhà nớc:
Đại hội VI (12-1986) của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trên con đờng
đổi mới toàn diện và sâu sắc ở nớc ta, trong đó có sự đổi mới về các quan điểm kinh tế Đến các hội nghị lần thứ hai (4 - 1987), lần thứ 3 (8- 1987) và thứ sáu 4 - 1989) Ban chấp hành trung ơng lại cụ thể hoá một bớc những quan điểm mới về kinh tế của Đảng ta, một số quan điểm đó là:
a- Về cải tạo xã hội chủ nghĩa:
Dựa trên sự tổng kết thực tiễn của nhiều năm qua Đại hội VI đã xem xét lại một cách căn bản vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa và đã đa ra một số quan
điểm mới về vấn đề này nh:
Trang 8- Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần: Kinh tế t bản chủ nghĩa, kinh tế tiều sản xuất hàng hoá, kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản Nhà nớc, kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc trong một bộ phần đồng bào dân tộc thiểu số.
Phát triển kinh tế nhiều thành phần là một chủ trơng chiến lợc lâu dài và là một đặc trng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- "Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm xvụ thờng xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bớc đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực l-ợng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy phát triển của lực lợng sản xuất
b- Về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
Trong những năm qua do nhận thức phiến diện về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến khuynh hớng ham xây dựng công nghiệp nặng, ham quy mô lớn và thiên về xây dựng mới, làm gay gắt thêm nhiều mặt mất cân đối trong nền kinh tế Để khắc phục tình trạng đó, đại hội VI đã đề ra chủ trơng điều chỉnh lại cơ cấu đầu t theo hớng "Phải thật sự tập trung sức ngời, sức của vào việc thực hiện cho đợc ba chơng trình mục tiêu về lơng thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu"
Đại hội VI đã khẳng định vị trí hàng đầu của nông nghiệp, kể cả lâm, ngnghiệp, cũng nh vài trò to lớn của công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, còn công nghiệp nặng phải phát triển một cách có chọn lọc, hợp với sức mình nhằm phục vụ đắc lực yêu cầu phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
c- Về cơ cấu quản lý kinh tế:
Cơ cấu quản lý tập trung quan liêu bao cấp từ nhiều năm đã không tạo đợc
động lực phát triển và gây ra nhiều hiện tợng tiêu cực trong xã hội Do đó, Đại hội VI đã chủ trơng đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, mà thực chất của cơ chế mới đó là: cơ chế kế hoạch hoá theo phơng thức hạch toán kinh tế xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
Hội nghị trung ơng lần thứ VI (4 - 1989) đã khẳng định đờng lối đổi mới
do đại hội VI đề ra là đúng đắn và nêu lên phơng hớng chỉ đạo công cuộc đổi mới trong thời gian tới
Trang 9d- Về kinh tế đối ngoại:
Đại hội VI đã rút ra một bài học kinh nghiêm đó là phải biết kết hợp sức mạnh của cả dân tộc, sức mạnh của thời đại Do đó chính sách kinh tế đối ngoại của nớc ta trong sự nghiệp đổi mới đã đợc đề ra nh sau:
- Đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu
- Phát triển và mở rộng hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật với bên ngoài,
áp dụng rộng rãi các hình thức hợp tác và liên kết với các nớc xã hội chủ nghĩa
và các nớc khác
- Đa dạng hoá thị trờng và phơng hớng hoạt động theo quan điểm mở cửa
và từng bớc gắn niền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, thị trờng trong nớc với thị trờng quốc tế trên nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ quyền dân tộc, an ninh quốc gia và cùng có lợi
2- Các phơng hớng lớn về kinh tế do đại hội VII đề ra:
Đại hội VII (6-1991) của Đảng càng tiếp tục khẳng định và hoàn thiện thêm đờng lối mới do đại hội Đảng VI đã đề ra mà cụ thể nh sau:
a- Về cơ cấu ngành và vùng:
- Phát triển nông lâm ng nghiệp với công nghiệp chế biến, phát triển một cách toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn đây mới là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng để ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nớc ta
- Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu đáp ứng nhu cầu
đa dạng, chất lợng ngày càng đợc nâng lên, phục vụ tốt tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu Từ đó làm tăng thêm nhiều việc làm cho ngời lao động, giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp
- Phát triển một số ngành nông nghiệp nặng mà trớc hết là phục vụ cho sản xuất nông - lâm - ng nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
- Phát triển kết cấu hạ tầng, sớm khắc phục tình trạng xuống cấp, mở rộng hiện đại hoá có trọng điểm mạng lới giao thông vận tải, chú trọng cho việc phát triển vận tải đờng sông, đờng biển, đờng sắt và hàng không quốc tế Ngoài ra cũng luôn chú trọng đến sự phát triển của giao thông nông thôn và miền núi
- Sắp xếp lại và phát triển các loại hình dịch vụ kinh tế - ký thuật đáp ứng yêu cầu của sản xuất, đời sống và với sự hợp tác quốc tế
Trang 10b- Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế.
Đảng và Nhà nớc ta nhanh chóng sắp xếp lại và củng cố các đơn vị kinh
tế, tiếp tục đổi mới và kiện toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ và tự nguyện, phát triển mạnh kinh tế gia đình bằng nhiều hình thức Nâng cao chất lợng kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, lấy thị trờng làm đối tợng và là căn cứ quan trọng nhất
3- Những thành tựu kinh tế đã đạt đợc trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Trải qua gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, nền kinh tế nớc ta
đã đạt đợc những thành tựu to lớn và có ý nghĩa rất quan trọng cụ thể nh:
a- Nhịp độ phát triển kinh tế hoá nhanh và ổn định: Trong nông nghiệp
sản lợng lơng thực đã tăng rất nhanh từ 21,5 triệu tấn (năm 1990) lên 27,5 triệu tấn (năm 1995) Những chuyển biến trên đã góp phần vào việc ổn định đời sống cho nhân dân và cải thiện đợc tình trạng xuất nhập khẩu lơng thực
b- Đẩy lùi nạn lạm phát: Nạn lạm phát ở nớc ta là một vấn đề hết sức bức
xúc và đáng đợc quan tâm, trong những năm gần đây tỷ lệ lạm phát ở nớc ta đã
đợc đẩy lùi một cách đáng kể từ 3 con số xuống còn ở mức 2 con số, trong khi
đó tốc độ tăng trởng kinh tế khá cao
c- Đời sống nhân dân: Tuy còn nhiều khó khăn nhng nhìn chung đời sống
của nhân dân cũng đã đợc cải thiện Sau 10 năm đổi mới nớc ta đã ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội, nhng vẫn còn một số mặt vẫn cha đợc củng cố vững chắc
Những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt đợc ở trên là kết quả của đờng lối
đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo, những kết quả đó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nớc và chế độ
ra Uy tín của nớc ta trên trờng quốc tế cũng đợc nâng cao
4- Những khó khăn, hạn chế và bài học kinh nghiệm:
a- Khó khăn - yếu kém
Tuy nớc ta đã bớc ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế nhng nền kinh
tế nớc ta vẫn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn nhỏ bé, kết cấu hạ tầng kém phát triển, cơ sở vật chất, kỹ thuật cha xây dựng đáng kể Nớc ta
Trang 11còn nghèo nhng cha thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng.
Nền kinh tế có mức tăng trởng khá nhng năng xuất, chất lợng và hiệu quả còn rất thấp Vai trò quản lý của Nhà nớc đối với nền kinh tế - xã hội còn yếu, khả năng ngăn chặn nạn lạm phát còn cha vững chắc Ngân sách thu không đủ chi, tỷ lệ bộ chi ngân sách còn cao
Tình trạng bất công trong xã hội vẫn còn, tham ô, tham nhũng, buôn lậu, vi phạm kỷ cơng còn rất nạng nề và phổ biến Mà nguyên nhân chính là do kết quả của nhiều năm trớc để lại và do những tác động bất lợi của tình hình thế giới
b- Bài học kinh nghiệm:
Từ thực tiễn gần 20 năm đổi mới, chúng ta có thể rút ra một bài học kinh nghiệm cho mình đó là phải giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới hệ thống chính trị với đồi mới kinh tế, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị
C- Kết luận
Qua nghiên cứu ta cần khẳng định rằng, cuộc cải cách kinh tế cảu Trung Quốc là nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế của riêng ngời Trung Quốc và cũng chỉ ngời Trung Quốc giải quyết đợc Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua thu đợc những kết quả tuy còn khiêm nhờng, song đó
là do Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã biết tiếp thu thành quả và kinh nghiệm của các nớc, trong đó có Trung Quốc, đề ra những chủ trơng biện pháp gắn liền với thực tế Việt Nam Chính vì vậy cả những tơng đồng và khác biệt của Việt Nam
và Trung Quốc trong sự nghiệp chuyển đổi thể chế kinh tế cần đợc tiếp thu nghiên cứu một cách kỹ lỡng và sâu sắc hơn
Trang 12Năm 1978 ghi nhận sự kiện lịch sử quan trọng của Trung Quốc vào tháng 11/1978 Tại Hội nghị lần 3 của Đại hội 11, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vạch
rõ những quan điểm tả khuynh về kinh tế, chính trị của thời gian trớc đó là nguyên nhân gây nên sự trì trệ về kinh tế xã hội
Tại Hội nghị lần 3 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xem xét đánh giá toàn diện thực trạng của nền kinh tế Trung Quốc với nông nghiệp thì 700 triệu nông dân dòng lao động thủ công là phổ biến, với công nghiệp thì nhiều ngành sản xuất còn lạc hậu Sản xuất công nông nghiệp còn thấp, trình độ khoa học kỹ thuật còn kém, nền kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên còn chiếm tỉ trọng tơng đối lớn trong nền kinh tế
-Với thực trạng kinh tế nói trên, nếu tiếp tục kéo dài sẽ đa đất nớc vào con đờng
bế tắc, khủng hoảng Từ những xem xét và đánh giá thực trạng nền KTXH Trung Quốc đã nhìn nhận lại Trung Quốc đang ở giai đoạn nào của sự phát triển lịch sử
có những nhìn nhận về đất nớc mình nh vậy nên Trung Quốc đã coi đây là một vấn đề rất quan trọng và có nh vậy mới xác lập đợc hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ cuả lực lợng sản xuất trong hoàn cảnh cụ thể Kinh nghiệm lịch sử cho thấy trớc đây Trung Quốc có xu hớng đốt cháy giai
đoạn, đặt đất nớc vào tình trạng mà nó cha đạt tới Do vậy đã áp đặt quan hệ sản xuất "XHCN tiên tiến " vào điều kiện sản xuất thủ công lạc hậu Bức tranh quá khứ về các công xã nhân dân quy mô tới 5000 hộ, khi nông nghiệp mới ở trình
độ "Nền văn minh đòn gánh" bên cạnh đó các công xã này còn áp dụng chế độ phân phối theo nhu cầu, với t tởng "cả nớc ăn chung một nồi cơm to" "Cả nớc cùng quá độ nghèo đi lên chủ nghĩa xã hội" Trên thực trạng kinh tế
*Trung Quốc cho rằng đất nớc đang ở giai đoạn đầu của CNXH, giai đoạn này kéo dài ít nhất là 100 năm Đó là thời gian cần thiết để Trung Quốc thực hiện những việc mà nhiều nớc đang thực hiện trong điều kiện TBCN Trớc khi các n-
ớc này tiền hành cách mạng XHCN, thơng phẩm hoá, xã hội hoá và hiện đại hoá sản xuất
Từ xem xét thực trạng kinh tế xã hội, chuyển sang phơng diện lý luận Trung quốc cho rằng trong quá trình nghiên cứu, C Mác không đặt ra cho mình nhiệm vụ đa ra mô hình cụ thể về xã hội tơng lai, C.Mác đã đa ra những dự án
Trang 13thiên tài về xã hội tơng lai Đó là sự hiện tợng hoá cao độ với nền kinh tế có lực lợng sản xuất đạt tới trình độ cao, nhng trên thực tế, công cuộc xây dựng,
"CNXH hiện thực" ở mỗi nớc lại tiến hành trong điều kiện lịch sử khác nhau và
có khoảng cách rất lớn so với sự trừu tợng hoá của C.Mác Đặc biệt với Trung Quốc, nền kinh tế còn ở trình độ rất thấp với cách xem xét và đánh giá về phơng diện lý luận và thực tiễn nói trên là cơ sở cho việc khởi thảo đờng lối cải cách và
mở cửa của nền kinh tế ở Trung quốc
B- Nội dung và kết quả của công cuộc cải cách kinh tế từ 1978 - 2000.
II- Cải cách nông nghiệp là nhiệm vụ cần thiết.
Cuộc cải cách lần này thực chất là giao ruộng cho nông dân để họ thực sự làm chủ đồng ruộng của mình, chỉ trong 5 đến 6 tháng 5,7 triệu đội sản xuất nông nghiệp đã chuyển thành 180 triệu đơn vị sản xuất gia đình Trong thời gian này, toàn bộ ruộng đất, gia súc, nông cụ và các tài sản công hữu khác đã đợc chia cho các gia đình nông dân Cuộc cải cạch đã cải thiện đáng kể đời sống nông thôn, đồng thời cũng đã làm nảy nhiều vấn đề cần giải quyết
Sau cải cách, toàn bộ số ruộng trên cả nớc đã đợc chia ra nhiều mảnh nhỏ chia cho nông dân Kết quả của cuộc cải cách là đáng mừng cho Trung Quốc đã tìm ra cơ chế, chính sách quản lí nông nghiệp mới phù hợp với quy luật phát triển kinh tế khách quan đi vào cải cách thực hiện khoán trách nhiệm đến từng
hộ nông dân đi đôi với cải cách chính sách giá cả và cơ chế lu thông nông sản, thúc đẩy nông nghiệp tăng trởng và phát triển, đi đôi với khoán hệ tạo điều kiện cho nông nghiệp hơng trấn để phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thời kỳ đầu cải cách, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt đợc những thành tựu to lớn, làm rung động cả nớc, nhng từ 1985 sản xuất nông nghiệp bị chững lại Nông thôn xuất hiện nhiều vấn đề cấp bách làm tổn hại đến lợi ích của nông dân, tác hại đến tính tích cực của sản xuất Nhng không phải tất cả các ngành kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đều gặp khó khăn, các ngành phi nông nghiệp
ở nông thôn lại đang rất phát đạt Cuộc cải cách 1978 đã có 1,5 triệu xí nghiệp xã đội và khoảng 28 triệu lao động, cuộc cải cách ở nông thôn đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát triển các xí nghiệp xã đội nhỏ sản xuất tăng trởng