1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai

183 338 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 4,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghiên cứu quá trình chuyển đổi từ văn hóa tín ngưỡng truyền thống sang đạo Tin lành trong người Hmông ở tỉnh Lào Cai, cùng những tác động tích cực và tiêu cực của việc người Hmông th

Trang 1

1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGUYỄN QUỲNH TRÂM

VĂN HÓA CỦA NGƯỜI HMÔNG THEO ĐẠO TIN LÀNH Ở TỈNH LÀO CAI

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng

Tác giả luận án

Nguyễn Quỳnh Trâm

Trang 3

Tôi trân trọng cảm ơn Khoa Dân tộc học, Học viện Khoa hộc xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; khoa Dân tộc và Tôn giáo – Học viện Chính trị khu vực I nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi

để tôi hoàn thành khóa học nghiên cứu sinh 2012-1025

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Tôn giáo Chính phủ, Sở Nội vụ tỉnh Lào Cai, Ban Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai, cùng cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan chức năng huyện Sa pa, Bảo Thắng, Bắc Hà, đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình điền dã thu thập tư liệu để viết luận án

Với tinh thần cầu thị, học hỏi, tôi mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp của mọi người để nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 2015

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Quỳnh Trâm

Trang 4

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, 5

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.2 Một số khái niệm, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 15

1.3 Địa bàn và đối tượng nghiên cứu 27

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2 33

QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH

TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HMÔNG Ở TỈNH LÀO CAI 33

2.1 Đạo Tin lành ở Việt Nam và quá trình theo đạo Tin lành của người Hmông tại Lào Cai 33

2.2 Tình hình hoạt động của người Hmông theo đạo Tin lành ở tỉnh Lào Cai 41

2.3 Nguyên nhân người Hmông ở Lào Cai theo đạo Tin lành 46

Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3 57

THỰC TRẠNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI HMÔNG THEO ĐẠO TIN LÀNH Ở TỈNH LÀO CAI 57

3.1 Văn hóa vật chất 57

3.2 Văn hóa xã hội 67

3.3 Văn hóa tâm linh và tôn giáo của người Hmông theo Tin lành 88

3.4 Văn hóa lối sống của người Hmông theo Tin lành 113

Tiểu kết chương 3 119

CHƯƠNG 4 121

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VĂN HÓA HMÔNG 121

THEO TIN LÀNH Ở LÀO CAI 121

4.1 Những ảnh hưởng của việc truyền đạo và theo đạo Tin lành 121

Trang 5

iv

4.2 Xu hướng phát triển của đạo Tin lành trong người Hmông ở Lào Cai 133 4.3 Một số nhận thức mới qua việc biến đổi văn hóa của người Hmông theo

Tin lành 136

4.4 Một số giải pháp đối với văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành ở tỉnh Lào Cai 140

Tiểu kết chương 4 145

KẾT LUẬN 146

CÁC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 6

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CMA The Christian and Missionary Alliance

HTLHCĐVN Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam HTTLTLVN Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam

Trang 7

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số Hmông ở Lào Cai 30

Bảng 1.2: Cư trú của người Hmông ở Lào Cai 31

Bảng 2.1 Phân bố tín đồ đạo Tin lành ở Lào Cai 41

Bảng 2.2: Số lượng tín đồ người Hmông ở các hệ phái tại Lào Cai 43

Bảng 2.3: Lý do theo Tin lành của người Hmông 47

Biểu 3.1 Kiểu trang phục của người Hmông theo 63

Bảng 3.1 Kiểu nhà của dân tộc Hmông 67

Bảng 3.2 : Số hộ có thành viên theo đạo Tin lành 77

Bảng 3.3: Tên Họ của người Hmông ở Lào Cai 79

Bảng 3.4: Số lượng phụ nữ/đàn ông Hmông theo Tin Lành ở 9 huyện 84

của Lào Cai (năm 2012) 84

Bảng 3.5: Số lượng người Hmông tham dự lớp tập huấn Sinh hoạt đạo Tin lành theo pháp luật ở Lào Cai (tháng 3/2013) 85

Bảng 3.6 :Số lượng phụ nữ Hmông tham gia tổ chức xã hội 85

Biểu đồ 3.2 : Tỷ lệ nam/nữ người Hmông tham dự lớp tập huấn sinh hoạt đạo Tin lành theoi pháp luật ở Lào Cai 85

3.3 Văn hóa tâm linh và tôn giáo của người Hmông theo Tin lành 88

Bảng 3.7: Các dạng thức trong tín ngưỡng truyền thống của người Hmông 89

Bảng 3.8: Thay đổi trong tín ngưỡng tôn giáo của người Hmông theo đạo Tin lành 94

Bảng 3.9 Lễ, lễ hội truyền thống của người Hmông 95

Bảng 3.10 Ứng xử của người Hmông theo đạo Tin lành với lễ hội truyền thống 96

Bảng 3.11 Các ngày lễ của người Hmông theo đạo Tin lành ở Lào Cai 96

Bảng 3.13 So sánh giữa đám tang của người Hmông truyền thống và người Hmông theo Tin lành 112

Biểu đồ 3.3 Thực trạng khám chữa bệnh của người Hmông ở Lào Cai 116

Bảng 3.4 Chi phí trong cưới xin, tang ma của người Hmông ở Lào Cai 118

Bảng 4.1: Tình hình di cư của người Hmông ở tỉnh Lào Cai 125

Bảng 4.2: Điểm nhóm Tin lành đã đăng ký tại Lào Cai năm 2014 133

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

So với một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, người Hmông ở Việt Nam chiếm một số lượng khá đông với dân số là 1.068.189 người [3, tr.134], đứng hàng thứ sáu trong tổng số 54 dân tộc Ở Việt Nam, người Hmông cư trú chủ yếu ở vùng núi các tỉnh phía Bắc dọc biên giới Việt - Trung, Việt - Lào; đây là những khu vực trọng yếu về quốc phòng, an ninh và cũng là địa bàn khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội

Cùng với các dân tộc anh em khác, dân tộc Hmông có những nét đặc sắc về

văn hóa mưu sinh, tập quán, lối sống, ý thức cộng đồng, tâm lý tộc người, tín

ngưỡng truyền thống,… tạo nên một nền văn hóa phong phú, đạt được nhiều thành tựu Bên cạnh sự tương đồng văn hoá với các tộc người thiểu số khác, người Hmông ở Việt Nam còn có những đặc điểm văn hóa riêng biệt, có giá trị nhân văn sâu sắc

Bước vào thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay, đặc biệt là dưới tác động của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đã ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa Không nằm ngoài quy luật, văn hóa của các tộc người, trong đó có văn hóa của người Hmông đã, đang chịu sự tác động và có những biến đổi nhất định Ngoài

ra, văn hóa của người Hmông cũng chịu tác động bởi văn hóa tôn giáo, đó là đạo Tin lành Đạo Tin lành thâm nhập vào đồng bào Hmông năm 1985 dưới tên gọi là Vàng Chứ, chỉ trong một thời gian ngắn, đến năm 2014 số người Hmông theo Tin lành đã tăng lên rất nhanh, với tổng số 210.000 người, chiến hơn 20% số người Hmông [7; tr 5]

Dưới sự tác động của Tin lành, văn hóa truyền thống của người Hmông đã

có sự chuyển biến, thay đổi rõ rệt Nó được thể hiện trên các mặt như mối quan hệ gia đình, dòng họ, xã hội; vai trò của những người có uy tín; niềm tin tôn giáo; lễ thức trong hôn nhân, hay tang ma; văn hóa, lối sống, Những biến đổi đó, bên cạnh những mặt tích cực đối với xã hội như xóa bỏ một số hủ tục lạc hậu trong việc thực hành các nghi lễ, làm giảm bớt đi những tệ nạn xã hội,… vẫn có cả mặt hạn chế,

Trang 9

2

như làm mai một đặc trưng văn hóa tộc người, gây mất đoàn kết trong xã hội, bị các đối tượng xấu lợi dụng,… Vấn đề hiện nay là làm sao có thể bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của tộc người Hmông góp phần vào công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và tiếp tục triển khai theo Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về

xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Lào Cai là địa phương có vị trí địa chính trị, địa văn hóa khá đặc trưng ở các tỉnh miền núi phía Bắc Ở Lào Cai, người Hmông có số lượng dân là 137.469 người, đứng thứ hai sau người Kinh Người Hmông ở Lào Cai bắt đầu theo đạo Tin lành từ năm 1989 Sau 25 năm, tính đến năm 2014, trên địa bàn tỉnh Lào Cai có 24.166 người Hmông theo Tin lành của 6 tổ chức ở 8 huyện, thành phố; 64 xã, thị trấn; với 133 điểm nhóm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký sinh hoạt [7; tr.5] Người Hmông theo Tin lành ở tỉnh Lào Cai đã chịu tác động mạnh mẽ của đạo Tin lành làm cho văn hóa truyền thống đã có sự biến đổi quan trọng Điều đó đã ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng của địa phương và khu vực

Với mong muốn đóng góp thêm vào sự hiểu biết về văn hóa dân tộc Hmông

đã thay đổi theo Tin lành tại Lào Cai, từ đó cung cấp những tư liệu khoa học giúp Đảng và Nhà nước ta có những chính sách phù hợp trong việc phát huy những giá trị văn hóa của tộc người Hmông theo Tin lành và hạn chế những yếu tố tiêu cực nảy sinh góp phần phát triển bền vững tỉnh Lào Cai

Vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề: Văn hóa của người Hmông theo đạo Tin

lành ở tỉnh Lào Cai làm nội dung đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Nhân học

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của đạo Tin lành trong người Hmông ở tỉnh Lào Cai, quá trình biển đổi văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành ở Lào Cai Từ đó, đề xuất các kiến nghị và giải pháp trong chính sách dân tộc, chính sách tôn tôn giáo nhằm vừa bảo tồn được những nét văn hóa truyền thống,

Trang 10

3

vừa phát huy những giá trị tích cực của văn hóa, lối sống của đạo Tin lành, góp phần giữ vững ổn định xã hội trên địa bàn tỉnh Lào Cai

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu quá trình truyền bá đạo Tin lành trong vùng đồng bào Hmông

ở Lào Cai, cùng những nguyên nhân của việc một bộ phận người Hmông theo đạo Tin lành

- Nghiên cứu quá trình chuyển đổi từ văn hóa tín ngưỡng truyền thống sang

đạo Tin lành trong người Hmông ở tỉnh Lào Cai, cùng những tác động tích cực và tiêu cực của việc người Hmông theo Tin lành đối với văn hóa, xã hội

- Nghiên cứu những vấn đề đặt ra và xu hướng vận động của việc theo đạo Tin lành của người Hmông ở tỉnh Lào Cai, cùng những đề xuất, kiến nghị

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa truyền thống của người Hmông, văn

hóa của người Hmông theo Tin lành ở Lào Cai

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các thành tố của văn hóa của cộng

đồng người Hmông tỉnh Lào Cai theo đạo Tin lành, như: Văn hóavật chất gồm ẩm thực,trang phục, nhà cửa; Văn hóa xã hội với các mối quan hệ gia đình, dòng họ, xã hội, vai trò của người phụ nữ, người có uy tín; Văn hóa tâm linh và tôn giáo với sự biến đổi tín ngưỡng tôn giáo, thay đổi trong nghi thức cưới xin, tang ma; và văn hóa lối sống Đây là những yếu tố mà trong quá trình khảo sát (về định lượng và định tính) cho thấy sự biến đổi khi theo đạo Tin lành so với yếu tố truyền thống

Luận án xác định mốc 03 mốc thời gian nghiên cứu: (1) Chỉ thị

01/2005/CT-TTg, Về một số công tác đối với đạo Tin lành, đánh dấu công tác đối với đạo Tin

lành được triển khai thực hiện ở tỉnh Lào Cai được qua việc đăng ký sinh hoạt các điểm nhóm theo bản (làng) đưa đạo Tin lành hoạt động theo pháp luật; (2) năm

2012 là thời gian tôi bắt đầu nghiên cứu theo đề tài của luận án với số liệu về Tin lành đã ổn định, ít biến động; (3) năm 2014 là thời mốc luận án hoàn thành việc khảo sát và viết các chuyên đề

3.3 Địa bàn nghiên cứu:Lựa chọn nghiên cứu một số điểm ở tỉnh Lào Cai đáp ứng các tiêu chí là điểm có đa số đồng bào đã theo Tin lành; điểm có một bộ

Trang 11

4

phận theo Tin lành và một bộ phận vẫn giữ văn hóa truyền thống để tiến hành nghiên cứu, so sánh, khai thác thu thập thông tin tư liệu

4 Nguồn tư liệu, tài liệu

- Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ; đề án và đề tài nghiên cứu khoa học; các sách, bài viết liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước đã được công bố

- Các văn bản của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo

- Báo cáo về tình hình và công tác dân tộc, tôn giáo của cơ quan chức năng

ở địa bàn nghiên cứu

- Tư liệu điền dã của tác giả

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

- Nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình truyền bá đạo Tin lành trong người Hmông ở tỉnh Lào Cai; làm rõ quá trình chuyển đổi văn hóa của người Hmông theo Tin lành ở tỉnh Lào Cai

- Cung cấp thêm nguồn tư liệu làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của tộc người Hmông trước bối cảnh mới; đồng thời góp phần thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo đối với cộng đồng người Hmông theo Tin lành

- Làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy những chuyên đề dân tộc học, tôn giáo học

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bài viết của tác giả được công

bố, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được kết cấu làm 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Quá trình du nhập và phát triển của đạo Tin lành trong cộng đồng người

Hmông ở tỉnh Lào Cai

Chương 3: Thực trạng văn hóa của người Hmông theo Tin lành ở tỉnh Lào Cai

Chương 4: Những vấn đề đặt ra đối với văn hóa Hmông theo Tin lành ở Lào Cai

Trang 12

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về người Hmông và văn hóa Hmông

Trong các tài liệu khoa học viết về người Hmông và văn hóa Hmông có

những cuốn sách có giá trị trực tiếp và tiêu biểu là Dân tộc Mông ở Việt Nam của

hai tác giả Cư Hoà Vần và Hoàng Nam [106]; Văn hoá Hmông của Tiến sĩ Trần

Hữu Sơn [78]; Người Hmông của Chu Thái Sơn [81]; Văn hóa người Mông ở Nghệ

An của Hoàng Xuân Lương [52]

Cuốn Dân tộc Mông ở Việt Nam của Cư Hoà Vần và Hoàng Nam được xuất

bản năm 1994 [106] đã cung cấp cho người đọc những tư liệu bổ ích về lịch sử cư trú, đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội và bước đầu cho thấy nét đặc trưng trong bản sắc văn hóa của tộc người Hmông Tuy nhiên, hai tác giả mới chỉ dừng lại ở góc độ

mô tả dân tộc học về một số nét văn hóa của tộc người này mà chưa lý giải, làm rõ việc thực hành các văn hóa đó cùng với sự biến đổi văn hóa của người Hmông

Năm 1996, tác giả Trần Hữu Sơn đã cho ra mắt cuốn sách Văn hóa Hmông

Đây được coi là một chuyên khảo dân tộc học đầu tiên viết về văn hóa tinh thần của người Hmông ở tỉnh Lào Cai Trong cuốn sách này, tác giả Trần Hữu Sơn đã giới thiệu những khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư, dân số, những đặc điểm kinh tế - xã hội cũng như lịch sử tộc người và truyền thống đấu tranh của người Hmông nhằm đặt cơ sở cho việc phân tích, đánh giá những yếu tố cơ bản trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa tộc người, văn hóa địa phương Nội dung cơ

bản của cuốn sách được tập trung ở chương ba Những yếu tố mới trong đời sống

văn hóa tinh thần của người Hmông ở Lào Cai và những vấn đề đặt ra Ở đây, bên

cạnh việc miêu tả những nét văn hóa truyền thống của người Hmông, tác giả cuốn sách đã bước đầu đề cập đến đạo Công giáo và đạo Tin lành trong đồng bào Hmông, quá trình chuyển tín ngưỡng truyền thống sang Tin lành và xác định Tin

Trang 13

người Mông ở Nghệ An [52] Cuốn sách làm sáng tỏ nguồn gốc lịch sử, các đặc trưng văn hóa của tộc người Hmông tại Nghệ An Những nội dung trong cuốn sách được coi là nguồn tư liệu quý, góp phần quan trọng giúp Đảng và Nhà nước, đặc biệt là tỉnh Nghệ An trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát huy các giá trị tích cực của văn hóa tộc người vào sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Nội dung cuốn sách gồm ba chương, chương một và chương hai đề cập đến điều kiện tự nhiên, lịch sử và sinh hoạt vật chất, văn hóa của người Hmông ở Nghệ An; chương ba cung cấp cho bạn đọc những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Hmông ở Nghệ An, từ việc nhận thức đúng đắn văn hóa truyền thống của người Hmông đến việc đưa ra các biện pháp trên lĩnh vực kinh tế - xã hội - chính trị - văn hóa Ở đây tác giả đã đề cập vấn đề truyền đạo Tin lành gắn với khối đại đoàn kết dân tộc, tiếp cận Tin lành ở góc độ chính trị, nêu lên

hệ quả mà Tin lành - Vàng Chứ gây ra đó là Vàng Chứ phát triển tới đâu, cộng đồng người Mông bị chia cắt tới đó [52,tr 191]

Cuốn Văn hóa Hmông của Trần Hữu Sơn và Văn hóa người Mông ở Nghệ

An của Hoàng Xuân Lương nói trên là hai cuốn sách viết về người Hmông ở địa

phương cụ thể là Lào Cai và Nghệ An với những thông tin về nguồn gốc lịch sử, đặc trưng văn hóa của tộc người Cả hai tác giả cũng đã đề cập đến hiện tượng

người Hmông từ bỏ văn hóa tín ngưỡng truyền thống tạo nên sự biến đổi văn hóa

với yếu tố văn hoá ngoại lai là Tin lành hay Công giáo

1.1.2 Nghiên cứu về người Hmông theo Tin lành

Trong những năm trở lại đây, vấn đề Tin lành và truyền đạo Tin lành vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là vùng người Hmông đang nổi lên Vấn đề

Trang 14

7

này có tác động không nhỏ đến chính trị, văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc thiểu

số, vì thế có rất nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu đến hiện tượng này

Nghiên cứu tộc người Hmông đặt trong mối quan hệ với đạo Tin lành có hai cuốn sách mà tác giả thấy rất cần thiết và gần sát với đề tài nghiên cứu của luận án

đó là Văn hoá tâm linh của người Hmông ở Việt Nam - truyền thống và hiện đại

xuất bản năm 2005 của Vương Duy Quang [71] và Giữ “lý cũ” hay theo “lý mới”,

bản chất của những cách phản ứng khác nhau của người Hmông ở Việt Nam với ảnh hưởng của đạo Tin lành xuất bản năm 2009 của Nguyễn Văn Thắng [93]

Cuốn Văn hoá tâm linh của người Hmông ở Việt Nam - truyền thống và

hiện đại của Vương Duy Quang, đã bàn về bản chất và trình bày những nguyên

nhân của việc một bộ phận đồng bào Hmông theo tôn giáo mới - đạo Tin lành, cũng như đã nêu lên những tác động đến xã hội, cộng đồng của người Hmông Cuốn sách

có bốn chương, ngoài phần giới thiệu Đôi nét về người Hmông ở Việt Nam ở

chương một và phần viết về Văn hóa tâm linh truyền thống của người Hmông ở Việt Nam ở chương hai là những tư liệu quý về dân tộc học Phần sáng tạo, đóng góp giá trị về phát hiện mới về Những biến đổi trong văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt nam hiện nay được thể hiện rõ ở chương ba Những trang viết trong chương ba đã cung cấp những thông tin phong phú, sống động về những biến đổi trong đời sống văn hóa tâm linh ở một bộ phận người Hmông tại các tỉnh miền núi

phía Bắc (đặc biệt trong giai đoạn 1987-1998) Chương bốn là Một số nhận xét và

những vấn đề đặt ra, Vương Duy Quang cho rằng: “Dù trong quá khứ hay hiện tại,

sự cải đạo của người Hmông đã cho thấy dân tộc này đã và đang trải qua những thay đổi quyết liệt nhất trong văn hóa và tôn giáo của họ Hành động tiếp nhận Kitô giáo của người Hmông trong suốt thế kỷ qua đã chứng tỏ một bộ phận của cộng đồng này mong muốn đổi đời, cảm nhận sự tự do bằng sự cải đạo thực sự… Tổn thương trong mối quan hệ cộng đồng giữa người cải đạo và không cải đạo là điều không thể tránh khỏi bởi cả hai phía đều cho đức tin của mình là chính thống” [71, tr.269]

Trang 15

8

Cuốn sách Giữ “lý cũ” hay theo “lý mới”, bản chất của những cách phản

ứng khác nhau của người Hmông ở Việt Nam với ảnh hưởng của đạo Tin lành của

Nguyễn Văn Thắng đã đề cập đến những nội dung: (1) Tín ngưỡng truyền thống của người Hmông, từ quan niệm đến lý do tại sao người Hmông phải “làm cúng”,

“làm ma” và nêu lên vai trò của tín ngưỡng truyền thống đối với xã hội và văn hóa Hmông; Tín ngưỡng truyền thống của người Hmông là một phần của văn hóa Nó phản ánh thế giới quan tôn giáo và hệ thống nghi lễ kèm theo và đóng vai trò như dấu hiệu để cố kết người Hmông lại (2) Quá trình thay đổi theo Tin lành của người Hmông; Mối quan hệ của Tin lành với Ki tô giáo; việc truyền đạo vào các tộc người thiểu số ở Việt Nam và người Hmông ở các nước khác (3) Ảnh hưởng của sự thay đổi theo Tin lành tới văn hóa, kinh tế- xã hội và an ninh, quốc phòng ở vùng biên giới; Ảnh hưởng tiêu cực: Làm mất đi các chức năng của tín ngưỡng truyền thống; gây ra sự phân chia, đối lập và sự căng thẳng trong nội bộ người Hmông; gây khó khăn trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa - xã hội truyền thống; gây ra tình trạng di

cư tự do, vượt biên trái phép Song việc theo đạo Tin lành của người Hmông cũng

có những ảnh hưởng tích cực, khắc phục những bất cập của tín ngưỡng truyền thống (4) Nguyên nhân, bản chất của sự thay đổi từ tín ngưỡng truyền thống sang đạo Tin lành của người Hmông Và nội hàm văn hóa truyền thống của người Hmông đã xuất hiện những yếu tố suy thoái đến sự lôi cuốn, lôi kéo của Tin lành [93]

Viết về người Hmông, văn hóa Hmông và người Hmông theo Tin lành còn

phải nói đến công trình Dân tộc Mông Sơn La với việc giải quyết vấn đề tín ngưỡng

tôn giáo hiện nay do Thào Xuân Sùng chủ biên, xuất bản năm 2009 [84] Thào Xuân Sùng và các tác giả nhìn vấn đề người Hmông và tôn giáo từ góc độ của nhà quản lý, đề cập đến thực tế người Hmông ở Sơn La và đưa ra nguyên nhân của việc đạo Công giáo và Tin lành thâm nhập và phát triển trong đời sống của người Hmông tại địa phương này, từ đó đã nêu ra những kinh nghiệm, giải pháp và

phương hướng giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong dân tộc Mông ở Sơn La

[84,tr.98]

Trang 16

9

Cùng với các công trình được xuất bản, viết về người Hmông và văn hóa Hmông, còn có những bài viết đăng trên các tạp chí Nhà nghiên cứu Vương Duy

Quang đã có hàng loạt bài viết về đạo Vàng Chứ mà ông gọi là hiện tượng tôn giáo

mới ở người Hmông ở Việt Nam, về truyền thống văn hóa dân tộc trước các hiện

tượng tôn giáo mới Ông đặt các hiện tượng tôn giáo mới trong phong trào cải đạo

theo Kitô giáo của người Hmông từ cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX trong tổng thể

cả khu vực Đông Nam Á như Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan - những nơi mà cộng đồng người Hmông ở Việt Nam có quan hệ đồng tộc, thân tộc

Các bài nghiên cứu của Vương Duy Quang trên Tạp chí chuyên ngành có

thể điểm lại như: (1) Hiện tượng xưng vua ở người Hmông [69] những năm gần đây phát triển không chỉ ở Việt Nam mà còn ở cả khu vực Đông Nam Á Bắt đầu của phong trào này là hiện tượng “xưng vua” Ở bài viết này, tác giả đã phân tích, giải thích hiện tương xưng vua ở người Hmông, cũng như sự liên quan giữa xưng

vua và bạo loạn và vấn đề Vàng Chứ hiện nay (2) Người Hmông và những hiện

tượng tôn giáo liên quan đến sự phản ứng của họ ở Đông Nam Á: Quá khứ và hiện tại [70] điểm lại những sự kiện tôn giáo liên quan đến động thái phản ứng của người Hmông trong quá khứ và hiện tại, từ đó làm sáng tổ bản chất và thực trạng vấn đề tôn giáo và dân tộc ở người Hmông trong khu vực Đông Nam Á lục địa; đưa ra

nhận xét và kết luận về người Hmông (3) Sự cải đạo theo Ki tô giáo của một bộ

phận người Hmông ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á từ cuối thế kỷ XIX đến nay

[72] đã phân tích quá trình cải đạo từ truyền thống sang đạo Ki-tô giáo của người Hmông ở Việt Nam, Lào, Thái Lan Do bị mất đất, người Hmông phải thiên di, ly tán, bị chèn ép, bị đe dọa diệt vong Điều kiện sống khó khăn đã tạo nên sự khủng hoảng niềm tin trong một bộ phận người Hmông, dẫn đến trông chờ và mong đợi vị cứu tinh Chính điều này đã trở thành một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi để Ki tô giáo thâm nhập vào người Hmông

Nguyễn Văn Thắng có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề được đăng trên các

tạp chí chuyên ngành này như: Về động thái ứng xử với bệnh tật của người Hmông

[92], bài viết được cơ cấu thành ba phần chính gồm: (i) Cách ứng xử truyền thống

Trang 17

10

với bệnh tật của người Hmông, (ii) Sự biến đổi cách ứng xử truyền thống với bệnh tật và bản sắc của người Hmông, (iii) Tác động của hiện đại hóa/toàn cầu hóa tới sự biến đổi cách ứng xử của người Hmông với bệnh tật Sự biến đổi trong cách ứng xử truyền thống với bệnh tật của người Hmông ít nhiều có liên quan đến tôn giáo, biến thể theo các nhóm tôn giáo, như Công giáo, Tin lành (Vàng chứ) Ứng xử với bệnh tật của người Hmông được chế định bởi văn hóa Hmông, trong đó tôn giáo là một trong những yếu tố quan trọng và làm thành một phần bản sắc riêng của họ Vì vậy, việc sử dụng hệ thống y học cổ truyền là chính thì người Hmông sẽ bảo lưu được cơ bản bản sắc riêng trong văn hóa, nhưng hạn chế trong việc kiểm soát bệnh tật Trái lại, khi áp dụng hệ thống y học hiện đại là chính, người Hmông theo Ki-tô giáo kiểm soát được bệnh tật, nhưng lại làm mờ nhạt dần bản sắc riêng trong cách ứng

xử với bệnh tật của họ

Những bài nghiên cứu khác như: Một số vấn đề thực tiễn về đạo Tin Lành ở

các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc hiện nay của tác giả Nguyễn Văn Minh và Hồ Ly

Giang [57] gồm ba nội dung chính: Nội dung thứ nhất giới thiệu về tình hình đạo Tin lành ở Tây Bắc; nội dung thứ hai đưa ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc đạo Tin lành phát triển ở vùng Tây Bắc, từ nguyên nhân chủ quan (như đường lối chính sách, cán bộ đảng viên tại địa phương, tổ chức hệ thống chính trị) đến nguyên nhân khách quan (như điểm lợi thế từ bản thân của đạo Tin lành); Nội dung thứ ba trình bày những ảnh hưởng của sự phát triển Tin lành ở Tây Bắc, từ ảnh hưởng trên lĩnh vực phát triển kinh tế đến sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, văn hóa

Về bài Vài nét về phương thức truyền giáo của đạo Tin lành vào vùng dân

tộc Mông ở Lào Cai [51] Nguyễn Đình Lợi đã tập trung trình bày khá chi tiết vào

hai phần chính Đó là Phương thức truyền giáo của đạo Tin lành vào vùng người Hmông ở Lào Cai và nguyên nhân phát triển đạo Tin lành trong cộng đồng người Hmông ở Lào Cai Trong phần đầu bài nghiên cứu, tác giả đã giới thiệu khái quát về cộng đồng người Hmông ở Lào Cai với nền văn hóa đặc sắc cả về vật chất lẫn tinh thần, người Hmông có đời sống tín ngưỡng phong phú [51,tr.44] Quá trình xâm

Trang 18

11

nhập, phát triển của đạo Tin lành trong cộng đồng người Hmông ở Lào Cai được chia làm bốn giai đoạn, ở mỗi thời điểm khác nhau, hoạt động truyền đạo của tôn giáo này cũng khác nhau, khi âm thầm phát triển, lúc bùng phát thành phong trào [51, tr.45] Ở hai nội dung chính trình bày về phương thức truyền giáo của đạo Tin lành có đưa ra các phương tiện truyền giáo từ nghe đài phát thanh FEBC, nghe băng casette, thông qua khách du lịch, các hoạt động nghiên cứu khoa học như văn hóa học, dân tộc học và phương thức truyền miệng,… cùng với các phương pháp truyền giáo đã đánh trúng tâm lý người Hmông, từ đó nhiều đồng bào đã tin tưởng và theo đạo Tin lành một cách tự nguyện [51, tr 47] Bên cạnh đó, bài nghiên cứu đã đưa ra năm nguyên nhân dẫn đến đạo Tin lành phát triển trong cộng đồng người Hmông tại Lào Cai, có thể kể đến như: chủ trương truyền giáo của đạo Tin lành, đặc điểm lịch sử- văn hóa, đời sống khó khăn của dân tộc Hmông, nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào và do hệ thống chính trị cơ sở còn yếu kém Như vậy, việc một bộ phận không nhỏ đồng bào Hmông chuyển từ tín ngưỡng truyền thống sang Tin lành

có thể coi là một sự thay đổi niềm tin tôn giáo hay một sự cải đạo theo Ki-tô giáo [51, tr.44] và đạo Tin lành thực sự đã có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của một

bộ phận người Hmông [51, tr 45]

Trong bài Biến đổi tín ngưỡng Mông - thực tế và trăn trở của Kiều Trung

Sơn đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian, năm 2013 [83] có nêu rằng, sự biến đổi hay thay đổi tín ngưỡng truyền thống của người Hmông không chỉ vì nguyên nhân

từ việc ảnh hưởng truyền bá của tôn giáo mới là Công giáo hay Tin lành; mà sự chuyển biến này xuất phát từ nội tại của tín ngưỡng người Hmông Họ nhận thấy trong tín ngưỡng văn hóa truyền thống của mình có nhiều điểm lạc hậu và nhận thức rằng, cần có sự cải biến, loại bỏ hoặc đổi mới Trong phần hai của bài nghiên cứu đã nêu ra những yếu tố tín ngưỡng cổ truyền lạc hậu của người Hmông, đặc biệt xoáy sâu phân tích về tang ma với những yếu tố lỗi thời, mang tính hủ tục Cuối bài nghiên cứu cũng đưa ra những động thái cải biến một số yếu tố lạc hậu trong tín ngưỡng Hmông; người Hmông đã chủ động có những điều chỉnh số lượng lễ vật trong nghi lễ, tránh tốn kém lãng phí; họ cũng đưa vào trong quy ước dòng họ, và

Trang 19

12

duy trì những yếu tố tích cực một cách sáng tạo Điều này cho thấy, không chỉ có cải đạo mới tạo ra sự thay đổi, mà ngày từ trong suy nghĩ, từ nội bộ tộc người cũng

đã có những thích ứng văn hóa

1.1.3 Nghiên cứu về đạo Tin lành và văn hóa lối sống Tin lành

Trong các tôn giáo từ nước ngoài truyền vào Việt Nam, đạo Tin lành là tôn giáo được coi là tôn giáo truyền vào muộn hơn cả Năm 1911 là thời mốc đánh dấu việc đạo Tin lành truyền vào Việt Nam Trước năm 1975, đạo Tin lành phát triển chủ yếu ở các tỉnh phía Nam với số lượng tín đồ, chức sắc ít hơn nhiều so với các tôn giáo khác Do vậy, việc nghiên cứu về đạo Tin lành dưới các góc độ lịch sử, tôn giáo, văn hóa,… không được đặt ra Trong giai đoạn này, ở miền Nam chỉ có một số

ấn phẩm, chủ yếu là hồi ký của giới Tin lành viết về thời kỳ đầu truyền đạo Tin lành, về các tổ chức hệ phái Tin lành truyền vào Việt Nam

Cuốn sách Bốn mươi sáu năm chức vụ của Mục sư Lê Văn Thái do Nhà in

Tin lành xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, chủ yếu viết về thời kỳ đầu truyền đạo Tin lành vào Việt Nam với vai trò của các giáo sỹ CMA về những khó khăn, thử thách về xã hội mà các nhà truyền giáo phải đối diện 46 năm chức vụ của mục

sư Lê Văn Thái có nói đến việc truyền giáo lên vùng dân tộc thiểu số, chủ yếu là vùng Tây Nguyên

Sau năm 1975, đúng ra phải đến đầu thế kỷ XXI, khi vấn đề đạo Tin lành ở Việt Nam trở thành vấn đề “vừa mới, vừa lớn, vừa khó”, vừa mang tính thời sự (tính cập nhật liên quan đến đạo Tin lành), vừa mang tính thời đại (liên quan đến tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở của và hội nhập quốc tế, đạo Tin lành phát triển ở Việt Nam tăng với tốc độ rất nhanh), các tác giả Việt Nam mới quan tâm nhiều đến nghiên cứu về đạo Tin lành Thời kỳ này phải kể đến các ấm phẩm và công trình nghiên cứu của Nguyễn Thanh Xuân, Đỗ Quang Hưng, Mã Phúc Thanh Tươi, Nguyễn Xuân Hùng,…

Nguyễn Thanh Xuân trong Một số tôn giáo ở Việt Nam xuất bản năm 1992,

đã đề cập một cách khái quát đến đạo Tin lành ở Việt Nam về các phương diện như lịch sử ra đời, quá trình du nhập, các đặc trưng của đạo Tin lành, đặc điểm đạo Tin

Trang 20

13

lành ở Việt Nam; việc hoạch định và thực thi các chính sách tôn giáo trong đó có đạo Tin lành 10 năm sau, năm 2002, Nhà xuất bản Tôn giáo cho xuất bản ấn phẩm

của Nguyễn Thanh Xuân về đạo Tin lành với tựa đề Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành

trên thế giới và ở Việt Nam Nói là “bước đầu” nhưng ấm phẩm này nghiên cứu

chuyên biệt và cơ bản về đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam với gần 600 trang

từ hai góc độ lịch sử và tôn giáo Đặc biệt, tác giả đã rút ra những nét đặc trưng về đạo Tin lành, trong đó có nhận định từ phương diện tôn giáo học, đạo Tin lành thích hợp với hai tầng lớp dân cư là thị dân của xã hội công nghiệp và dân tộc thiểu số- tộc người, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới Tác giả Nguyễn Thanh Xuân còn

có một số bài viết về Tin lành, đạo Tin lành và công tác đối với đạo Tin lành đăng

trên tạp chí Công tác tôn giáo, Nghiên cứu tôn giáo, như: Vài nét khái quát về tôn

giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn

giáo, số 02/2007, Ba năm thực hiện chỉ thị số 01 Về Một số công tác đối với đạo

Tin lành- Tạp chí Công tác tôn giáo số 7/2008,…

Nhà nghiên cứu tôn giáo, GS.TS Đỗ Quang Hưng tuy không viết một công trình chuyên biệt về người Hmông, văn hóa Hmông hay đạo Tin lành, nhưng qua các công trình nghiên cứu về tôn giáo đã được công bố, chính sách tôn giáo ở Việt Nam, quan hệ giữa nhà nước với giáo hội, tác giả có bàn đến đạo Tin lành, việc

một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam theo đạo Tin lành: Đạo Tin

Lành ở Việt Nam: Một cái nhìn tổng quát [38], Kỷ nguyên truyền giáo của Ki tô giáo tại châu Á và xung đột văn hóa- Trường hợp đạo Tin lành tại các quốc gia Đông Bắc Á nói chung và Việt Nam nói riêng [40]

Trong những năm qua, Nguyễn Xuân Hùng đã công bố những kết quả

nghiên cứu về đạo Tin lành và đạo Tin lành ở Việt Nam, như: Tìm hiểu những hệ

quả của việc truyền giáo Tin lành đối với văn hóa truyền thống và tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam- Tạp chí Ngiên cứu Tôn giáo số 1/ 2000, Đạo Tin lành trong mối tương quan với văn hóa dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Năm 2012, tác giả Mã Phúc Thanh Tươi- mục sư của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ triết học về đạo đức Tin

Trang 21

14

lành ở Việt Nam có bài Vài nét tuowg đồng trong đạo đức Tin lành và đạo đức

truyền thống [104]

1.1.4 Nghiên cứu của các tác giả ngoài nước

Các tác giả nước ngoài nghiên cứu về người Hmông phải kể đến Savina với

tác phẩm Lịch sử người Mèo [75]; Những đặc điểm chủ yến của thuật saman của

người Mèo Trắng ở Đông Dương [28], Thuật Saman của người Hmông [29] của

Guy Morechand là những công trình nghiên cứu đầu tiên về đời sống văn hóa của tộc người Hmông

Các tác phẩm đề cập đến vấn đề người Hmông và sự cải đạo, ảnh hưởng

của việc theo tôn giáo là: Hmong Christianity: Conversion, Consequence, and

Conflict, By Vayong Moua (Đạo Cơ đốc trong người Hmông: Sự chuyển đổi, hệ quả và xung đột của Vayong Moua) [135]; Coming a full circle: historical analysis

of the Hmong church growth 1950 – 1988, by Timonthy T.Vang, September1998

(Tiến tới một vòng tròn đầy đủ: Phân tích lịch sử về sự phát triển đạo Cơ đốc của

người Hmông giai đoạn 1950-1998, của Timonthy T.Vang) [132]; Messianism as A

Factor in Vietnam’s Hmong Mass Conversion to Christianity: 1990-2005, James

F.Lewis _ (Lòng tin vào Chúa cứu thế là yếu tố khiến số đông người Hmông ở Việt

Nam theo đạo Cơ đốc giai đoạn 1990-2005 của James F.Lewis [131],…

Đây là những công trình nghiên cứu về Tin lành và người Hmông cùng với một vài dân tộc khác các nước như Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Mỹ Các công trình này có đề cập đến quá trình truyền bá và phát triển của Tin lành vào dân tộc Hmông, đưa ra những điểm xung đột xảy ra trong cộng đồng dân tộc Hmông do sự phát triển của Tin lành

Viết về Tin lành không thể không nhắc đến công trình khá nổi tiếng với tựa

đề “Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản” của Max Weber xuất bản

năm 1920 tại Đức Max Weber cho rằng nền đạo đức Tin lành có một mối liên hệ

“tương hợp chọn lọc” với “tinh thần” của chủ nghĩa tư bản, và do vậy đã tạo ra một động lực tinh thần cần thiết và thuận lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu [58, tr 13]

Trang 22

15

Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu được công bố ở trong nước và ngoài nước nêu trên khá phong phú và có giá trị liên quan đến người Hmông, văn hóa người Hmông nói chung hoặc người Hmông ở một địa phương cụ thể; về đạo Tin lành, đạo Tin lành ở Việt Nam Những kết quả nghiên cứu của các tác giả là nguồn

tư liệu rất quan trọng và bổ ích để chúng tôi kế thừa trong quá trình thực hiện luận

án Tuy nhiên, các nghiên cứu về quá trình người Hmông theo Tin lành và nhất là việc chuyển đổi từ văn hóa truyền thống sang văn hóa Tin lành của một bộ phận người Hmông chưa được đề cập nhiều Đó cũng là nỗ lực bù đắp của tác giả luận án

1.2 Một số khái niệm, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1.2.1 Các khái niệm cơ bản

- Văn hóa

Văn hóa - Cultura theo tiếng Latinh có nghĩa là trồng trọt, chỉ sự chăm sóc,

canh tác Ở phương Đông, văn hóa với Văn và Hóa, với Văn là kiến thức, Hóa là biến đối, giáo hóa, văn hóa là quá trình biến đổi nhận thức, bao gồm những sáng tạo

của đời sống tinh thần của con người

Hiện nay, trên thế giới có hàng trăm định nghĩa về văn hoá Tuỳ theo góc

độ tiếp cận trên từng lĩnh vực nghiên cứu mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về văn hoá

Năm 1982, UNESCO - Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục Liên hiệp

quốc đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng

thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng (Tuyên bố về những chính sách văn hóa,

Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26-7 đến 06-8- 1982 tại Mêhicô)

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội và nó chứa

Trang 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đưa ra quan điểm của mình về văn hóa như

sau: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra

ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức ử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [54, tr 431]

Trong Nhân học khái niệm văn hóa được E.B.Taylor (1871) đề cập đầu tiên với tư cách là một tổng thể phức hợp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và tất cả những khả năng và tập tục khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội Với cách định nghĩa này của E.B Taylor thì văn hóa đầu tiên là bao gồm những đặc điểm của con người mà học được hoặc có thể học được, chính vì vậy, nó mang tính xã hội và tinh thần; thứ hai, văn hóa là một tổng thể phức hợp, nó bao trùm cả lĩnh vực rộng lớn của đời sống con người, từ kỹ thuật sản xuất lương thực thực phẩm đến các lý luận về cuộc sống sau khi chết của con người

Các nhà Nhân học hiện đại tiếp cận văn hóa theo những cách khác nhau, tất

cả đều được thiết kế để nhận ra quan niệm theo một cách có chất lượng cao hơn và

có sức thuyết phục hơn, vượt ra khỏi lời khẳng định mang tính bảo vệ là văn hóa

không phải là đơn nhất mà là khác nhau tới mức không thể tưởng tượng được và nó làm cho con người khác với các loài động vật khác Ở đây xử lý văn hóa như là một

hệ thống các biểu tượng gồm ngôn ngữ, nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức là tất cả những thứ được thừa nhận trong đời sống xã hội con người

Trang 24

Với việc xác định nội hàm của khái niệm Văn hóa, luận án áp dụng để phân tích các thành tố văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành như ăn, mặc, ở; các mối quan hệ xã hội; văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo; văn hóa lối sống

- Văn hóa tộc người

Văn hoá tộc người là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để phân định tộc người bởi nó có chức năng tộc người Văn hoá tộc người là tổng thể các yếu tố

về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán… để người ta phân biệt tộc người này với tộc người khác Văn hoá tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người Một tộc người bị đồng hoá, bị mất bản sắc văn hoá riêng thì ý thức tộc người sẽ mai một dẫn đến tộc người bị diệt vong Văn hoá tộc người là tổng thể các yếu tố văn hoá mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, thực hiện chức năng cố kết cộng đồng tộc người và phân biệt tộc người

Khi nghiên cứu văn hóa, tùy theo chuyên ngành và ở từng quốc gia mà văn hóa có thể được chia thành các nhóm khác nhau Trong ngành Dân tộc học/Nhân học, các nhà nghiên cứu thường chia văn hóa các dân tộc thành: văn hoá sản xuất, văn hoá vật chất (văn hoá bảo đảm đời sống), văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần

Đặc trưng văn hoá tộc người thể hiện trên toàn bộ đời sống xã hội từ ngôn ngữ, trang phục, tôn giáo tín ngưỡng, văn hoá dân gian, tri thức về tự nhiên, xã hội, con người, tri thức sản xuất, tâm lý và tính cách dân tộc, phong tục tập quán cho đến nhà cửa, ăn uống… Sự tổng hoà các đặc trưng sinh hoạt văn hoá trong mối liên hệ giữa chúng tạo thành truyền thống văn hoá tộc người Truyền thống văn hoá tộc người hình thành trong quá trình lịch sử tộc người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Trang 25

18

- Biến đổi văn hóa tộc người

Con người không chỉ sống trong mối quan hệ bên trong cộng đồng mà còn quan hệ ra ngoài cộng đồng Các quan hệ trao đổi, tiếp xúc ấy đầu tiên là sản phẩm vật chất, các phương tiện sản xuất sinh hoạt, rồi đến tư tưởng, tình cảm,… cùng với

đó là những ảnh hưởng qua lại ở các mức độ đậm nhạt khác nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa; đó là hiện tượng giao lưu văn hóa

Văn hoá luôn biến đổi và phát triển Nếu một nền văn hoá không biến đổi

để phát triển nền văn hoá ấy sẽ tàn lụi Biến đổi văn hoá tộc người là những thay đổi diễn ra trong đời sống xã hội tộc người khác đi so với văn hoá truyền thống Biến đổi văn hoá xảy ra trong quá trình di dân hoặc giao lưu tiếp xúc giữa các cộng đồng tộc người Biến đổi văn hoá bằng cách tiếp thu hoặc vay mượn các yếu tố văn hoá của tộc người khác, thường là những tộc người có trình độ phát triển cao hơn Biến đổi có thể diễn ra trên từng lĩnh vực hoặc toàn bộ Biến đổi văn hoá theo hai xu hướng: Từ bỏ văn hoá truyền thống dẫn đến xoá nhoà bản sắc, hoà tan tộc người (đồng hoá), hoặc biến đổi văn hoá để thích ứng với điều kiện mới tạo ra sự phát triển văn hoá

Tiếp biến và giao lưu văn hóa là quy luật phát triển của văn hóa, quy luật tất yếu của đời sống, một nhu cầu tự nhiên của con người hiện tại Vì vậy, việc người Hmông giao lưu tiếp xúc với đạo Tin lành dẫn đến những biến đổi trong văn hóa, cùng với những ảnh hưởng, tác động qua lại đối với văn hóa Tin lành là điều không thể tránh khỏi Điều này đã tạo cho văn hóa dân tộc của người Hmông có nhiều nét đặc sắc, chuyển biến mới

-Tín ngưỡng, tôn giáo

Do tính phức tạp của hiện tượng tôn giáo cũng như việc nghiên cứu tôn giáo dưới nhiều góc độ khác nhau về hiện tượng này nên đã có không ít những quan niệm về tôn giáo Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm và định nghĩa cũng như lời phân tích, lý giải về tín ngưỡng, tôn giáo Mỗi người ở những hướng tiếp cận khác nhau, hoặc dưới góc độ thần học, hoặc dưới góc độ tư tưởng, triết học, hoặc dưới góc

Trang 26

về tôn giáo,Các Mác định nghĩa

"Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế gới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của một chế độ không có tinh thần" Phê-rê-đê-rích Ăng-ghen cho rằng:“Tất cả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đó mang hỡnh thức những lực lượng siêu trần thế" [124, tr.240]

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội có quan hệ với các hình thái ý thức

xã hội khác, đặc thù của ý thức tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên thần thánh - hay niềm tin hoang đường hư ảo Biểu hiện của bản chất hay đặc thù của ý thức tôn giáo được thể hiện rõ nhất thông qua chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo

Từ các định nghĩa, có một định nghĩa về tôn giáo mang tính bao trùm: “Tôn

giáo là niềm tin của con người về thế giới siêu nhiên và những hành vi (hoạt động) để thực hiện niềm tin đó” [124, tr.36] Theo định nghĩa này, có hai nội dung

cần quan tâm là: niềm tin (đức tin) của con người vào thế giới siêu nhiên (thế giới siêu nhiên là thế giới phi tự nhiện, thế giới không có thật, hư ảnh) và những hành

vi của con người để thực hiện niềm tin (bao gồm những hoạt động cúng bái, thờ,

cầu nguyện và các nghi thức khác) Như vậy, có thể rút gọn lại:“Tôn giáo là đức

tin và sự thờ phụng” [124, tr.36].

Theo sự giải thích trên thì niềm tin là tín ngưỡng Tín ngưỡng và tôn giáo

có quan hệ với nhau, trong đó tín ngưỡng là phạm trù rộng, còn tôn giáo là phạm trù

cụ thể Tôn giáo nằm trong tín ngưỡng, tôn giáo là cái biểu hiện bên ngoài của tín

Trang 27

Tuy nhiên, theo cách phân chia của Việt Nam, các loại hình tôn giáo sơ khai, tôn giáo nguyên thủy và cả các hình thức ở tôn giáo, tiền tôn giáo được gọi chung là tín ngưỡng hay tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng truyền thống Với cách phân chia này, không ít người cho rằng tín ngưỡng là các loại hình tôn giáo cấp thấp- chưa hoàn chỉnh; còn tôn giáo là loại hình tôn giáo cấp cao- tôn giáo hoàn chỉnh

Theo cách phân loại trên, việc thờ cúng tổ tiên, thờ các con ma của người Hmông theo truyền thống là tín ngưỡng, còn đạo Tin lành là tôn giáo

Liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo còn có khái niệm đời sống tôn giáo Đời sống tôn giáo bao gồm bốn nội dung chính là: niềm tin tôn giáo, còn gọi là đức tin tôn giáo; thực hành tôn giáo là thực hiện các nghi lễ tôn giáo, trong đó có hoạt động

từ thiện xã hội; quan hệ trong cộng đồng cùng niềm tin tôn giáo và quan hệ xã hội

- Tin lành:

Tin lành là tên gọi của tôn giáo tách ra từ Công giáo qua cuộc cải tôn giáo đầu thế kỷ XVI ở châu Âu Trên thế giới gọi là đạo Chống đối- Thệ phản (Protestante), đạo Cải cách (Reformed) Tên gọi Tin lành chỉ dùng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, do việc các giáo sỹ Mỹ, Canada khi dịch Kinh Thánh dùng từ Tin lành để chỉ sách Phúc âm, không dịch là Tin mừng như đạo Công giáo, dần dần tạo thành thói quen gọi là đạo Tin lành để phân biệt với đạo Công giáo Đạo Tin lành có

Trang 28

sự kế thừa, tiếp nối, phát huy của các phong trào chống lại quyền lực Giáo hội, giáo triều Roma từ thế kỷ XII trở đi

Chính những tiền đề, bối cảnh ra đời cùng với quá trình phát triển đã tạo cho Tin lành những đặc điểm cơ bản như sau [90]: (1) Đạo Tin lành được tổ chức

và hoạt động theo hướng đơn giản để phù hợp với cuộc sống hiện đại Đây là đặc điểm thể hiện cao nhất về sự cải cách của Tin lành đối với đạo Công giáo, được thể hiện ở các yếu tố như về luật lệ, lễ nghi đơn giản; giáo phẩm và tổ chức giáo hội được thiết lập theo cơ đan chủ (2) Tin lành là một tôn giáo có đường hướng và phương thức hoạt động linh hoạt, liên tục điều chỉnh cả về mặt nội dung và hình thức để phù hợp với thực tiễn thời đại Thể hiện rõ nhất là phương thức truyền giáo của đạo Tin lành hết sức linh hoạt, diễn ra ở khắp mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh một cách kiên trì, sử dụng tất cả các phương tiện, công cụ vào công việc truyền giáo, tìm kiếm tín đồ Cũng trong quá trình truyền giáo, các nhà truyền giáo tìm mọi cách để đơn giản các luật lệ và lễ nghi cho dễ thâm nhập vào đời sống văn hóa, tâm

lý, lối sống của cư dân bản địa (3) Đạo Tin lành chủ trương nhập thế, tham gia rất tích cực vào các hoạt động xã hội Các nhà truyền giáo khi đặt chân đến khu vực nào thì nhanh chóng nghiên cứu về văn hoá, phong tục tập quán ở khu vực đó và rất

“tận tình” trong việc chăm lo, giải quyết các công việc có liên quan đến cuộc sống thường nhật của nhân dân như ăn, ở, đi lại, hiếu hỉ, y tế…để gây thiện cảm, gần gũi với nhân dân, thông qua đó để tuyên truyền đức tin Chủ trương nhập thế này đã làm cho đạo Tin lành trở nên hấp dẫn, dễ thu phục tình cảm của người dân, tạo ra uy

Trang 29

22

tín và khả năng chung sống hoà bình với mọi hoàn cảnh chính trị - xã hội, không phân chia dân tộc, biên giới quốc gia (4) Đạo Tin lành lấy việc truyền giáo làm nội dung của mọi hoạt động Việc phát triển số lượng tín đồ là một trong những hoạt động căn bản, là thiên chức của giáo sỹ, nhà tu hành và cả tín đồ Đạo Tin lành là tôn giáo rất nỗ lực trong việc phát triển tín đồ của mình, họ được thúc giục bởi mệnh lệnh truyền giáo đã được ghi trong Kinh thánh “Hãy đi khắp thế gian rao giảng Phúc âm cho mọi người” (5) Trong quá trình ra đời và phát triển, đạo Tin lành là tôn giáo có tư duy kinh tế và khuyến khích làm giàu, đồng thời đạo Tin lành

có những mặt tiến bộ về xã hội, như tuân thủ luật pháp, sống tiết kiệm, bỏ các thói quen xấu như uống rượu, hút thuốc,… Tuy nhiên, đạo Tin lành là tôn giáo đề cao đức tin nên thường xẩy ra việc ứng xử cực đoan trong mối quan hệ với tín ngưỡng truyền thống nơi đạo Tin lành truyền đến

Đạo Tin lành ra đời ở nước Đức, sau đó lan nhanh ra các nước châu Âu, và cùng với thời gian, đạo Tin lành truyền bá rộng ra thế giới Đến năm 2012, đạo Tin lành có khoảng 750 triệu tín đồ có mặt ở hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng tập trung ở ba khu vực các nước công nghiệp tiên tiến: Tây Âu (Đức, Anh, Hà Lan, một phần của Thụy Sỹ), Bắc Âu (Na Uy, Thụ Điển, Đan Mạch, Phần Lan), Bắc Mỹ (Mỹ, một phần của Canada) Gần đây đạo Tin lành phát triển nhanh ở Hàn Quốc với gần 50% dân số theo đạo Tin lành [119]

- Vàng Chứ hay Vàng Trứ

Danh xưng này có nhiều cách lý giải khác nhau Ông Hoàng Xuân Lương

trong cuốn Văn hóa người Hmông ở Nghệ An (2000) có cùng cách giải thích với tập

Kỷ yếu về Tình hình phát triển của đạo Tin Lành ở miền núi phía Bắc, Trường Sơn

- Tây Nguyên của Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân

văn Quốc gia, là: Vàng Chứ không phải chữ Hmông, mà là thuật ngữ Hán Việt:

Miêu Vương xuất thế, phiên âm tiếng Hán là Miao Wang shu shi, tức là Vua Mèo xuất thế, là xưng Vua hay Vua ra Dương Kim Quí, Trưởng Ban Dân tộc - Tôn giáo

tỉnh Cao Bằng lại cho rằng, Vàng Chứ tức là Vè Chứ, tên gọi tắt của tiếng Hmông:

Véx Chúx ntủx có nghĩa là Chúa Trời hay Đức Chúa Trời Có ý kiến lại cho rằng

Trang 30

23

Vàng Chứ là Vương Chủ, là Đầu đàn…[52]. Trong luận án, tác giả sử dụng cách

viết là Vàng Chứ với ý nghĩa là Vương chủ, để thấy được việc lợi dụng của các nhà

truyền giáo trong tâm lý tộc người và để thấy sự khác biệt của tôn giáo được Nhà nước công nhận là đạo Tin lành với Vàng Chứ

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

Để nghiên cứu sự tác động của đạo Tin lành đến văn hóa Hmông tạo nên những biến đổi trong văn hóa, và ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa của người Hmông theo Tin lành với văn hóa truyền thống của họ; luận án sử dụng những lý thuyết tiếp cận là: lý thuyết chức năng cấu trúc; lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa; lý thuyết

về xung đột

+ Lý thuyết chức năng cấu trúc

Thuyết chức năng với người đi tiên phong là nhà Nhân học người Anh Brownislaw Malinowski (1884-1942) Ông cho rằng, các thiết chế xã hội trong đó

có các thiết chế văn hóa của loài người tồn tại được qua thời gian bởi chúng có chức năng duy trì sự ổn định của cả hệ thống xã hội Nhiệm vụ của các nhà Nhân học chính là nghiên cứu làm rõ các chức năng này của các thiết chế xã hội và văn hóa của loài người

Lý thuyết chức năng tìm hiểu bên trong của những đơn vị - xã hội đa hợp, tìm hiểu cấu trúc bên trong của các bộ phận xã hội, nghiên cứu những quan hệ xã hội gắn các bộ phận với nhau từ đó giải thích sự ổn định của những xã hội phân nhánh Lý thuyết chức năng cho rằng sự tương tác xã hội phải được hiểu một cách

có hệ thống, mọi hành vi xã hội được học hỏi và quyết định bởi sự truyền thừa bên trong truyền thống xã hội Các nhà lý thuyết chức năng quan niệm cơ cấu xã hội như là mạng lưới những vị thế được kết nối bởi những vai trò có liên quan

Với thuyết chức năng cấu trúc, các thiết chế xã hội lại đóng vai trò duy trì

sự cân bằng và sự cố kết của một xã hội Những người theo cách tiếp cận chức năng cấu trúc quan tâm tới việc nghiên cứu cấu trúc nằm bên dưới của các xã hội và những quy luật xã hội chi phối chúng

Trang 31

- Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa

Giao lưu, tiếp biến văn hóa là khái niệm được các nhà Nhân học phương Tây đưa ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhằm nhấn mạnh đến sự biến đổi văn hóa của tộc người Người Anh dùng chữ Cultral Change – trao đổi văn hóa, người Tâu Ban Nha dùng chữ Transculturation – di chuyển văn hóa, người Pháp dùng chữ Interpénnétration des civilizations – sự xâm nhập giữa các nền văn minh Nội hàm của các thuật ngữ trên ở các nước đều có những nét khác nhau nhất định

về sắc thái

Giao lưu, tiếp biến văn hóa là sự vận động thường xuyên của văn hóa và xã hội Giao lưu văn hóa vừa là kết quả của trao đổi, vừa chính là sự trao đổi

Phân biệt hai loại giao lưu, tiếp biến văn hóa: Loại thứ nhất diễn ra khi hai

nền văn hóa thường xuyên tiếp xúc với nhau một cách bình đẳng, dẫn đến nền văn

hóa tự do vay mượn những yếu tố mới rồi thay đổi, hòa nhập cho phù hợp Loại thứ

hai diễn ra khi một nền văn hóa này gặp gỡ nền văn hóa kia trong bối cảnh bị chinh

phục, thống trị; từ đó dẫn đến ba khuynh hướng: Văn hóa thống trị đồng hóa toàn

bộ hay từng phần nền văn hóa kia Dung hợp, ra đời một nền văn hóa mới có tính hỗn hợp của hai nền văn hóa Phản ứng của nền văn hóa bị trị biểu hiện trong đấu tranh chống các yếu tố “ngoại lai”

Trong quan hệ giữa tộc người Hmông với yếu tố “ngoại lai” là đạo Tin lành

và văn hóa Tin lành - văn hóa tôn giáo đều có sự giao tiếp văn hóa với nhau, góp phần làm phong phú văn hóa tộc người Nhưng cũng có tình trạng áp đặt tạo nên hiện tượng mang tính chất “đồng hóa”, gây ra những phản ứng tự vệ của tộc người, ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ và phát triển xã hội (Chẳng hạn như xem xét trong mối quan hệ giữa người Hmông truyền thống với người Hmông theo đạo Tin lành)

Trang 32

25

Do vậy, lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa được sử dụng để nghiên cứu về biến đổi văn hóa và quan hệ giữa tộc người (người Hmông) và yếu tố ngoại

sinh (đạo Tin lành)

- Lý thuyết về xung đột và xung đột tộc người

“Xung đột ” được hiểu là “mâu thuẫn”, “đấu tranh”; trong lịch sử phát triển của nhân loại đã xảy ra nhiều cuộc xung đột, mà phần lớn là xung đột tộc người, xung đột giữa các quốc gia dân tộc (gọi chung là xung đột dân tộc) Nó thường được hiểu là sự đụng độ về lợi ích, các quan điểm, lối sống, văn hóa ứng xử khác nhau,… Cho đến nay vấn đề xung đột xã hội nói chung, xung đột tộc người nói riêng đang trở thành vấn đề cấp bách của lý luận và thực tiễn

Ở Việt Nam có xung đột tộc người ít nhiều liên quan đến tôn giáo Khi một tôn giáo hiện đại truyền bá và thâm nhập vào tộc người cùng với văn hóa đặc trưng của tôn giáo đó đã tạo ra sự tương tác trong văn hóa tộc người Có hai trường hợp

có thể xảy ra: Một là diễn ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa; hai là xuất hiện mâu

thuẫn giữa văn hóa truyền truyền thống và văn hóa tôn giáo của những người trong cùng một tộc người

Lý thuyết này giúp việc tìm hiểu những xung đột tộc người tiến tới hạn chế từng bước và dần dần đi tới loại bỏ hiện tượng xung đột này

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận án, tác giả sử dụng linh hoạt, có lựa chọn một số

phương pháp nghiên cứu Nhân học, trong đó phương pháp chủ đạo là điền dã dân

tộc học, tiếp đến là phương pháp chuyên gia và phương pháp nghiên cứu liên ngành

để xử lý số liệu

- Phương pháp điền dã dân tộc học được tác giả coi trọng trong quá trình

nghiên cứu, bao gồm các thao tác cơ bản như: quan sát tham dự, quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

+ Nghiên cứu biến đổi văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành là một vấn đề rất nhạy cảm và tương đối khó tiếp cận Do đó, để có thể tạo được sự tin cậy

và sẵn sàng chia sẻ thông tin của người dân, tác giả ý thức được tầm quan trọng của

Trang 33

26

quan sát tham dự Việc sử dụng kỹ năng này giúp tác giả luận án dễ dàng hơn trong

việc tiếp cận người dân và tham gia vào các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của họ Điều này giúp tác giả dễ dàng quan sát những hoạt động thường ngày của người dân, ứng xử của họ đối với những thành viên trong gia đình và cộng đồng, thậm chí

là với người ngoài cộng đồng để thu thập được các thông tin về tộc người, những thay đổi trong văn hóa và những vấn đề nhạy cảm khác có liên quan tại địa bàn nghiên cứu

+ Trong quá trình điền dã, tác giả luận án kết hợp sử dụng quan sát trực tiếp

để đánh giá sơ bộ các điều kiện tự nhiên, nơi cư trú, hoạt động kinh tế và các khía cạnh khác trong đời sống văn hóa - xã hội của người Hmông ở địa bàn khảo sát

+ Để tiến hành phỏng vấn sâu, tác giả luận án đã lựa chọn các thông tín

viên là người Hmông, đặc biệt chú trọng những người có uy tín trong cộng đồng (trưởng họ, trưởng bản, thày cúng) và những người khác am hiểu về luật tục Hmông Ngoài ra, tác giả cũng thu hút những người tham gia công tác Đảng và chính quyền các cấp vào các cuộc phỏng vấn sâu Những vấn đề được phỏng vấn sâu là những vấn đề mà bảng hỏi định lượng không thể giải quyết được một cách triệt để hoặc sâu sắc Do đó, nội dung câu hỏi phỏng vấn sâu được ưu tiên lựa chọn

là những câu hỏi mở về đời sống cá nhân, cộng đồng và tác động của đạo Tin lành đối với đời sống văn hóa của người Hmông theo đạo và trong mối quan hệ với người Hmông theo tín ngưỡng truyền thống

- Phương pháp chuyên gia được thực hiện qua các cuộc trao đổi trực tiếp

với các chuyên gia có kinh nghiệm nghiên cứu vấn đề tộc người và tôn giáo, nhằm tranh thủ những hiểu biết và quan điểm của họ khi đánh giá tác động của đạo Tin lành đến sự ổn định, phát triển và việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người cũng như văn hóa tôn giáo Phương pháp này cũng nhằm thu thập ý kiến của lãnh đạo chính quyền các cấp trong việc thực thi chính sách

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành được sử dụng để xử lý số liệu, hệ thống hóa các tư liệu, thông tin đã thu thập Kết hợp với các phương pháp thống

Trang 34

01 Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Sa Pả, huyện Sa Pa; 01 phụ nữ Hmông, theo Tin lành tại xã Xín Chải, huyện Bảo Thắng; chuyên viên Ban Dân vận tỉnh Lào Cai

Về điều tra bảng hỏi: Với 120 phiếu chia làm ba nội dung: (1) Nguyên nhân theo đạo Tin lành; (2) Quan hệ xã hội cộng đồng; (3) Tiếp biến văn hóa (thể hiện ở trang phục, nhà cửa, hôn nhân, tang ma.); mỗi một nội dung có 40 phiếu thu về

1.3 Địa bàn và đối tượng nghiên cứu

1.3.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Tỉnh Lào Cai được thành lập ngày 12/7/1907, gồm hai châu Thủy Vĩ, Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Bát Xát, Phong Thổ, Bắc Hà và đặc khu Sa

Pa Ngày 01/10/1976, Lào Cai sáp nhập với hai tỉnh Yên Bái và Nghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Đến ngày 01/10/1991, tỉnh Lào Cai được tái lập với diện tích

tự nhiên 6.357km2 và đến nay gồm 9 huyện, thành phố là Bảo Yên, Bảo Thắng, Văn Bàn, Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa và thành phố Lào Cai; cùng với 164 xã phường, trong đó có 81 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn Phía Đông tỉnh Lào Cai giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc với 203 km đường biên giới

Trang 35

28

Lào Cai có địa hình khá phong phú, bao gồm vùng đồi núi thấp, vùng núi cao và rất cao (cao nguyên Bắc Hà, dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m) Khí hậu Lào Cai về cơ bản là khí hậu nhiệt đới gió mùa, ngoài ra do đặc điểm địa hình nên Lào Cai còn có tiểu vùng khí hậu ôn đới Lào Cai có nhiều tiềm năng tài nguyên thiên nhiên Tán che phủ rừng 32,4% rất đa dạng về hệ sinh thái, có vườn quốc gia Hoang Liên rộng gần 30.000 ha Trong lòng đất có trên 30 loại khoáng sản, trong đó có Apatit, đồng Sinh Quyền có trữ lượng lớn Kinh tế cửa khẩu, du lịch là thế mạnh đang được khai thác ở Lào Cai

Địa hình vùng cao Lào Cai tạo điều kiện cho người Hmông phát triển kinh

tế nương rẫy với đặc trưng là các thửa ruộng bậc thang Những năm gần đây, người Hmông đã có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trồng cây đặc sản, cây ăn quả (mận Tam Hoa và mận hậu ở Bát Xát, Sa Pa; chè ở thôn Hải Nam, xã Phong Hải, huyện Bảo Thắng; huyện Mường Khương, Bắc Hà), Ngoài sản xuất canh tác, ở Lào Cai hiện rất phát triển du lịch, và công việc hướng dẫn viên du lịch đã trở thành một nghề khá phổ biến của người Hmông tại huyện Sa Pa, Bắc Hà Điều này một mặt giúp cho kinh tế của người Hmông ở đây được cải thiện, mở ra nhiều cơ hội giao lưu tiếp xúc những cái mới; một mặt người Hmông cũng phải lãnh chịu những hậu quả của các góc khuất trong ngành dịch vụ không khói này

Dân số Lào Cai có trên 637 ngàn người thuộc 25 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh có 220.821 người, chiếm 33%; dân tộc Hmông có 137.649 người, chiếm 23,78%, dân tộc Tày có 90.019 người, chiếm 16,27%, dân tộc Dao có 93.610 người, chiếm 14,38%; các dân tộc khác chiếm 19% [3] Tỉnh Lào Cai có 3 tôn giáo chính [7; tr 4-5] là Phật giáo (6.426 phật tử ), Công giáo (2.113 hộ/ 7.987 khẩu, trong đó

có 2.371 tín đồ là người Hmông) và Tin lành (24.750 tín đồ, trong đó có 24.166 tín

đồ là người Hmông) Đồng bào các tôn giáo chiếm 6,23% dân số toàn tỉnh, trong đó

có một bộ phận dân tộc thiểu số theo tôn giáo

Điểm nổi bật của Lào Cai là văn hóa đa tộc người, bản sắc văn hóa đặc trưng vùng rõ rệt như: vùng thấp của người Tày, Thái, Nùng, Giáy với truyền thống

Trang 36

29

văn hóa lúa nước; vùng giữa của người Kháng, La Ha, Phù Lá với văn hóa nưỡng rẫy, phát triển kinh tế đồi rừng; vùng cao của người Hmông, Hà Nhì, Dao với truyền thống ruộng bậc thang, làm nương rẫy Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện rõ rệt Đồng bào luôn phát huy được truyền thống yêu nước, gắn bó, khắc phục mọi khó khăn, tích cực lao động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, tích cực xây dựng nông thôn mới, xây đời sống văn hóa ở khu dân cư

Do đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống tập trung ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh nên đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn; bên cạnh đó, một số tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại, chậm được khắc phục, cùng với sự xâm nhập của các trào lưu văn hóa ngoại lai có tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Với sự đoàn kết các dân tộc dưới sự lãnh đạo của các cấp, các ngành, trong hơn 20 năm đổi mới, Lào Cai đã có những bước phát triển then chốt, đạt được nhiều thành tựu đáng kể Các dân tộc ở Lào Cai đoàn kết ổn định là nguồn nội sinh thực hiện xây dựng Lào Cai giàu mạnh

Lào Cai có một vị trí địa chính trị, địa văn hóa đặc trưng, có đường biên giới với Trung Quốc, tập trung nhiều dân tộc thiểu số, có ý nghĩa quan trọng trong

an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội Việc các tôn giáo du nhập vào các tộc người thiểu số ở Lào Cai, nhất là người Hmông theo đạo Tin lành có tác động đến nhiều mặt của xã hội, văn hóa, an ninh

1.3.2 Người Hmông ở Lào Cai

Theo Tổng điều tra dân số năm 2009 [3], người Hmông ở Lào Cai có 137.649 người, trong đó có 69.212 nam và 68.436 nữ; đứng thứ hai sau người Kinh Người Hmông cư trú ở 606 làng, 109 xã của tám huyện và thành phố Lào Cai; trong

đó có 433 làng người Hmông cư trú độc lập và 173 làng cộng cư với các dân tộc anh em

Người Hmông ở Lào Cai có bốn nhóm chính, được phân bố ở các địa phương như sau:

Trang 37

30

Người Hmông Hoa (Mông Lênhx) có dân số đông nhất, chiếm 70% số

người Hmông toàn tỉnh, cư trú ở tám huyện, tập trung đông nhất ở các huyện Bắc

Hà, Mường Khương, Sa Pa, Bảo Thắng và Bảo Yên

Người Hmông Đen (Mông Đuz) cư trú ở các huyện Bát Xát, Sa Pa

Người Hmông Xanh (Mông Njuôz) sống chủ yếu ở huyện Văn Bàn

Người Hmông Trắng (Mông Đơưz) cư trú ở các huyện Bắc Hà, Bát Xát, Sa

(Nguồn: Điều tra dân số 2009 của Cục thống kê Lào Cai)

Ở Lào Cai tuy phân biệt thành bốn nhóm khác nhau, nhưng thực chất trừ nhóm Hmông Xanh ở xã Nậm Xé, huyện Văn Bàn còn ba nhóm Hmông Hoa, Hmông Trắng, Hmông Đen cơ bản là giống nhau về văn hóa, phong tục tập quán

Trang 38

(Nguồn: Điều tra dân số 2009 của Cục thống kê Lào Cai)

Người Hmông thường cư trú ở các sườn núi, địa hình hiểm trở, vách đá cao chia cắt theo chiều dọc Người Hmông ở Lào Cai thường cư trú tập trung trong mỗi giao (bản) từ vài chục đến vài trăm nóc nhà Ngày nay, việc cư trú của người Hmông ở Lào Cai đã có sự dịch chuyển, nhất là về phía các khu vực trung tâm huyện lỵ, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Điều này giúp cho người Hmông có thể hòa nhập với các dân tộc khác, tăng cường giao lưu, tiếp nhận những yếu tố văn hóa - xã hội mới Kéo theo đó là sự thay đổi nhất định trong sinh hoạt

văn hóa trong quá trình tiếp biến những giá trị văn hóa mới

Tiểu kết chương 1

Người Hmông nói chung, người Hmông ở Lào Cai nói riêng là một trong những dân tộc có nhiều nét đặc trưng về tộc người, từ nguồn gốc, địa bàn cư trú, đến văn hóa, lối sống, tín ngưỡng, phong tục tập quán,… Gần đây, một bộ phận

Trang 39

32

người Hmông, người Hmông ở Lào Cai theo đạo Tin lành đã dẫn đến việc thay đổi

về văn hóa, từ văn hóa, tín ngưỡng truyền thống sang văn hóa, lối sống Tin lành Việc một bộ phận người Hmông ở Việt Nam, trong đó có người Hmông ở Lao Cai theo Tin lành và thay đổi về văn hóa, bên cạnh mặt tích cực là những tiêu cực ảnh hưởng đến các mặt đời sống của người Hmông và của xã hội

Đến nay có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về người Hmông dưới các góc

độ khác nhau, như Dân tộc học, Văn hóa học, Tôn giáo học với nhiều công trình được công bố,… Thời gian gần đây, việc nghiên cứu về đạo Tin lành, người Hmông theo đạo Tin lành cũng đã thu hút được các học giả trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, đa số công trình nghiên cứu có phạm vi rộng, tầm vĩ mô, thiên về chính trị học, triết học; hoặc khi đánh giá về đạo Tin lành và chuyển đổi sang văn hóa Tin lành, chỉ nhấn mạnh mặt tiêu cực; chưa có nhiều nghiên cứu ở góc độ Nhân học, chưa tập trung vào nghiên cứu điểm cụ thể

Để Nghiên cứu luận giải sự chuyển đổi từ văn hóa truyền thống sang văn hóa Tin lành của một bộ phận người Hmông ở một địa phương cụ thể, tức là phải tiếp cận nghiên cứu ba vấn đề lớn: tộc người, tôn giáo, văn hóa nên luận án đã làm rõ những khái niệm công cụ như: văn hóa, văn hóa tộc người, giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, Tin lành Luận án sử dụng ý thuyết về chức năng cấu trúc, giao lưu tiếp biến văn hóa và xung đột được sử dụng để phục vụ nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm Điền dã dân tộc học, chuyên gia, so sánh, liên ngành, để thu thập thông tin, tư liệu phục vụ nội dung nghiên cứu

Trang 40

33

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HMÔNG Ở TỈNH LÀO CAI

2.1 Đạo Tin lành ở Việt Nam và quá trình theo đạo Tin lành của người Hmông tại Lào Cai

2.1.1 Khái quát về đạo Tin lành ở Việt Nam

Đạo Tin lành có mặt ở Việt Nam từ cuối thế kỷ thế kỷ XIX, cùng với binh lính

và nhân viên quân đội viễn chinh Pháp Các mục sư Tin lành người Pháp cố gắng rao giảng Tin lành cho người Việt nhưng không thành công Cuối cùng Tin lành Pháp đành phải rút khỏi địa bàn mới mẻ và hấp dẫn để nhường chỗ cho tổ chức Hội Liên hiệp Cơ đốc và truyền giáo- CMA được thành lập ở Mỹ năm 1897, còn gọi là Hội Truyền giáo CMA

Năm 1911 đánh đấu việc đạo Tin lành truyền vào Việt Nam bằng việc Hội truyền giáo CMA xây dựng chi hội đầu tiên ở Đà Nẵng với công lao của Mục sư AB Simpson- Hội trưởng và các mục sư cộng sự, như: D Seleccheur, CH Recver, R.A Faffaray,… Năm 1915, một tổ chức Tin lành có tên là Cơ đốc Phục lâm cũng có nguồn gốc từ Mỹ truyền vào Việt Nam nhưng không thành công như Hội truyền giáo CMA

Sau nửa thế kỷ truyền giáo, đến năm 1954, đạo Tin lành ở Việt Nam có khoảng 50 ngàn tín đồ, gần 100 mục sư, truyền đạo và một tổ chức chung là Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (quen gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam)

Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền, đạo Tin lành ở miền Bắc

và miền Nam có sự khác nhau Ở miền Bắc vốn ít tín đồ, lại có một bộ phận di cư vào Nam nên số lượng tín đồ giảm xuống, chỉ còn vài ngàn người và 20 mục sư, truyền đạo Năm 1958, những cộng đồng Tin lành ở miền Bắc tổ chức Đại hội đồng thành lập Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), sau đó đến năm 1960, chính thức thông qua bản Điều lệ Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc)

Ở miền Nam những năm 1954-1975, môi trường chiến tranh ác liệt, lại được Hội truyền giáo CMA và các tổ chức Tin lành quốc tế, chủ yếu là Tin lành Mỹ, như: Tầm nhìn thế giới (The World Vision), Viện Ngôn ngữ Mùa hè (Summer Institute

Ngày đăng: 01/05/2016, 12:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Khổng Thị Kim Anh (2002), Kiêng cữ và nghi lễ liên quan đến ngôi nhà của người Hmông, Tạp chí Dân tộc học, số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiêng cữ và nghi lễ liên quan đến ngôi nhà của người Hmông
Tác giả: Khổng Thị Kim Anh
Năm: 2002
3. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương(2010): Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả điều tra toàn bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả điều tra toàn bộ
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương
Năm: 2010
4. Ban Dân tộc Trung ương (2011): Thông tư liên tịch, hướng dẫn thực hiện Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg, ngày 18/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ Về chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, Văn bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch, hướng dẫn thực hiện Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg, ngày 18/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ Về chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số
Tác giả: Ban Dân tộc Trung ương
Năm: 2011
5. Ban Tôn giáo Chính phủ (2012), Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 01 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành, ngày 28 tháng 02, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 01 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2012
6. Ban Tôn giáo Lào Cai (6/2012), Báo cáo tình hình hoạt động công tác tôn giáo 6 thánh đầu năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo Lào Cai (6/2012)
8. Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ (2012), Kế hoạch triển khai công tác đối với đạo Tin Lành ở khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2012-2015, số 15, ngày 12 tháng 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch triển khai công tác đối với đạo Tin Lành ở khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2012-2015
Tác giả: Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2012
9. Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ (2013), Báo cáo tổng kết 08 năm thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, số 111, ngày 12 tháng 9, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 08 năm thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng
Tác giả: Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2013
10. Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ (2014), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Thông báo số160, ngày 15/11/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong lĩnh vực quản lý Nhà nước, số 63, ngày 27 tháng 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Thông báo số160, ngày 15/11/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong lĩnh vực quản lý Nhà nước
Tác giả: Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2014
11. Vi Hoàng Bắc (1997), Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành với văn hóa truyền thống ở vùng đồng bào Hmông huyện Bắc Hà, Tạp chí Dân tộc học, số 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành với văn hóa truyền thống ở vùng đồng bào Hmông huyện Bắc Hà
Tác giả: Vi Hoàng Bắc
Năm: 1997
12. Trần Văn Bính (chủ biên)(2004), Văn hoá các dân tộc Tây Bắc. Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn hoá các dân tộc Tây Bắc. Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
13. Trần Văn Bính (2006), Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
14. Đỗ Thúy Bình (1992), Gia đình Hmông trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay (qua thực tế huyện Mộc Châu, Sơn La), Tạp chí Dân tộc học, số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Hmông trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay (qua thực tế huyện Mộc Châu, Sơn La)
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1992
15. Vũ Đăng Bút (2003), Vàng chứ hết thiêng, Tạp chí Dân tộc và thời đại, số 50, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vàng chứ hết thiêng
Tác giả: Vũ Đăng Bút
Năm: 2003
16. Thanh Cao (2008), Ba năm thực hiện Chỉ thị 01 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 05, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba năm thực hiện Chỉ thị 01 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành
Tác giả: Thanh Cao
Năm: 2008
17. Phan Hữu Dật (Chủ biên) (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 18. Nguyễn Văn Diệu (2003), Tìm hiểu quá trình truyền bá Kitô giáo vào các dân tộc thiểu số, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, tháng 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 18. Nguyễn Văn Diệu (2003), "Tìm hiểu quá trình truyền bá Kitô giáo vào các dân tộc thiểu số
Tác giả: Phan Hữu Dật (Chủ biên) (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 18. Nguyễn Văn Diệu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
19. Nguyễn Hồng Dương (2004), Tôn giáo trong mối quan hệ Văn hóa và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo trong mối quan hệ Văn hóa và phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
20. Đặng Thế Đại, Tôn giáo- Cách nhìn văn hóa học, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 12/ 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo- Cách nhìn văn hóa học
21. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (2006), Một số vấn đề lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học
Tác giả: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
24. Hồ Xuân Định (2013), Thực hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với Tin Lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 12 (126), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với Tin Lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay
Tác giả: Hồ Xuân Định
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ lệ dân số Hmông ở Lào Cai - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 1.1. Tỷ lệ dân số Hmông ở Lào Cai (Trang 37)
Bảng 1.2: Cư trú của người Hmông ở Lào Cai - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 1.2 Cư trú của người Hmông ở Lào Cai (Trang 38)
Bảng 2.1. Phân bố tín đồ đạo Tin lành ở Lào Cai - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 2.1. Phân bố tín đồ đạo Tin lành ở Lào Cai (Trang 48)
Bảng 2.3: Lý do theo Tin lành của người Hmông - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 2.3 Lý do theo Tin lành của người Hmông (Trang 54)
Bảng 3.1. Kiểu nhà của dân tộc Hmông - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 3.1. Kiểu nhà của dân tộc Hmông (Trang 74)
Bảng 3.2 : Số hộ có thành viên theo đạo Tin lành - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 3.2 Số hộ có thành viên theo đạo Tin lành (Trang 84)
Bảng 3.3: Tên Họ của người Hmông ở Lào Cai - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 3.3 Tên Họ của người Hmông ở Lào Cai (Trang 86)
Bảng 3.4: Số lượng phụ nữ/đàn ông Hmông theo Tin Lành ở 9 huyện - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 3.4 Số lượng phụ nữ/đàn ông Hmông theo Tin Lành ở 9 huyện (Trang 91)
Bảng  3.7:  Các  dạng  thức  trong  tín  ngưỡng  truyền  thống  của  người Hmông - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
ng 3.7: Các dạng thức trong tín ngưỡng truyền thống của người Hmông (Trang 96)
Bảng  3.8:  Thay  đổi  trong  tín  ngưỡng  tôn  giáo  của  người  Hmông  theo  đạo  Tin lành - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
ng 3.8: Thay đổi trong tín ngưỡng tôn giáo của người Hmông theo đạo Tin lành (Trang 101)
Bảng 3.9. Lễ, lễ hội truyền thống của người Hmông - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 3.9. Lễ, lễ hội truyền thống của người Hmông (Trang 102)
Bảng 3.11. Các ngày lễ của người Hmông theo đạo Tin lành ở Lào Cai - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 3.11. Các ngày lễ của người Hmông theo đạo Tin lành ở Lào Cai (Trang 103)
Bảng  3.10.  Ứng  xử  của  người  Hmông  theo  đạo  Tin  lành  với  lễ  hội  truyền thống - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
ng 3.10. Ứng xử của người Hmông theo đạo Tin lành với lễ hội truyền thống (Trang 103)
Bảng 3.12. So sánh đám cưới của người Hmông theo Tin Lành và người  Hmông truyền thống - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 3.12. So sánh đám cưới của người Hmông theo Tin Lành và người Hmông truyền thống (Trang 112)
Bảng 4.1: Tình hình di cư của người Hmông ở tỉnh Lào Cai - Văn hóa của người hmông theo đạo tin lành ở tỉnh lào cai
Bảng 4.1 Tình hình di cư của người Hmông ở tỉnh Lào Cai (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w