Nghiên cứu về lịch sử xây dựng và hoạt động của Lực lượng vũ trang cách mạng LLVTCM ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1965 sẽ làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau hiệp định
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Được tham gia và hoàn thành khóa học đào tạo Tiến sỹ (2011 - 2015), tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Trường Đại Học PCCC và Học viện Chính trị CAND là cơ quan đã cử tôi đi học và tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành luận
án Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Học viện Khoa Học Xã Hội, Khoa
Sử học, Phòng Đào tạo của Học viện là cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và luận án Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ về tư liệu của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Phòng lưu trữ quân khu VII - IX, Viện Lịch sử Quân sự, Thư viện quân đội, Tỉnh ủy và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh từ Quảng Trị trở vào, các khu di tích và nhân chứng để tôi hoàn thành luận án Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Đình Lê, người Thầy đã tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, hỗ trợ kịp thời cho tôi hoàn thành tốt khoá học
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả
Lê Đình Hùng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, chƣa từng đƣợc công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Lê Đình Hùng
Trang 3ĐTQS : Đấu tranh quân sự
QĐND : Quân đội nhân dân
QĐSG : Quân đội Sài Gòn
QGPMN : Quân giải phóng miền Nam
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 4
7 Kết cấu của luận án 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung 5
1.1.1 Các công trình tổng kết, sách của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam 5
1.1.2 Các công trình chuyên khảo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam 7
1.2 Nhóm các công trình chuyên khảo về lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam 10
1.2.1 Sách chuyên khảo về lực lượng vũ trang nhân dân và Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam 10
1.2.2 Công trình luận văn, luận án và các bài tạp chí khoa học về lực lượng vũ trang nhân dân và Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam 13
1.3 Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài và của chính quyền Sài Gòn 16
1.4 Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu 18
Chương 2: LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG MIỀN NAM TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1960 20
2.1 Các yếu tố tác động đến quá trình xây dựng và hoạt động của Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam 20
2.1.1 Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương 20 2.1.2 Mỹ và Chính quyền Ngô Đình Diệm, đối tượng đấu tranh mới của cách mạng miền Nam 21
2.1.3 Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1960 22 2.1.4 Bối cảnh quốc tế 23
2.1.5 Miền Bắc Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội 26
2.2 Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1960 28
2.2.1 Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1956 28
2.2.2 Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam 1957 - 1958 35
Trang 52.2.3 Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam trong đồng khởi 1959 - 1960 45
Chương 3: LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG MIỀN NAM TỪ NĂM 1961 ĐẾN
NĂM 1965 60
3.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương chiến lược của các bên ở miền Nam Việt Nam sau phong trào đồng khởi 60
3.1.1 Bối cảnh lịch sử những năm 60 của thế kỉ XX 60
3.1.2 Chủ trương chiến lược của các bên ở miền Nam Việt Nam sau phong trào đồng khởi 65
3.2 Xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam từ năm 1961 đến năm 1965 71
3.2.1 Công tác xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam (1961 - 1965) 71
3.2.2 Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam chiến đấu đánh bại chiến tranh đặc biệt 95 Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG Ở MIỀN NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965 116
4.1 Sự ra đời của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam là yêu cầu tất yếu, là qui luật đấu tranh của công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 116
4.1.1 Ra đời để để bảo vệ thực lực cách mạng miền Nam 116
4.1.2 Gắn với bước nhảy vọt của cách mạng miền Nam qua phong trào đồng khởi 1959-1960 119
4.1.3 C nguồn gốc vững chắc từ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống Chiến tranh Đặc biệt 120
4.2 Đặc điểm xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam trong thời kỳ 1954-1965 123
4.2.1 Kiềm chế địch 123
4.2.2 Thành phần cơ bản là lực lượng lực lượng tại chỗ 124
4.2.3 Cơ cấu của đạo quân thực hiện chiến tranh nhân dân 124
4.2.4 Sở trường 125
4.3 Vai trò của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam trong chống Mỹ, cứu nước 126
4.3.1 Vai trò của lực lượng vũ trang cách mạng trong bước ngoặt Đồng khởi 126
4.3.2 Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam đã tô đậm thêm truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam 128
4.3.3 Quân giải ph ng miền Nam - một hình ảnh mới của “Bộ đội cụ Hồ” trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 130
4.4 Một số kinh nghiệm lịch sử 132
4.4.1 Sự chỉ đạo của Đảng - nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam 132
4.4.2 Phải phải kế thừa và vận dụng linh hoạt nghệ thuật sử dụng phương pháp bạo lực cách mạng 136
Trang 64.4.3 Xây dựng và hoạt động đúng đắn, linh hoạt, sát hợp với thực tiễn 138
4.4.4 Xây dựng lực lượng vũ trang phải thường xuyên chú trọng xây dựng cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, phù hợp với đặc điểm từng vùng chiến trường, từng nhiệm vụ được giao ở mỗi thời kỳ lịch sử 140
4.4.5 Không ngừng tìm tòi, vượt qua thử thách, khắc phục kh khăn tổng kết kinh nghiệm để chiến đấu chống lại những thủ đoạn tinh vi, vũ khí và chiến thuật hiện đại của kẻ thù. 141
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUANĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
PHỤ LỤC 158
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975 của nhân dân ta là một giai đoạn lịch sử có vai trò, ý nghĩa đặc biệt không chỉ của lịch sử Việt Nam hiện đại mà còn là một sự kiện lịch sử có tầm vóc lớn mang tính thời đại của lịch sử thế giới thế kỷ XX
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: chiến tranh là một chiến lược tổng hợp, trong đó mặt trận quân sự có ý nghĩa then chốt, chỉ có sự phát triển của lực lượng vũ trang và những thắng lợi quyết định trên mặt trận đấu tranh quân sự mới có thể đánh bại kẻ thù và đập tan ý chí xâm lược của chúng Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định có hai hình thức bạo lực cách mạng, là bạo lực chính trị của quần chúng và bạo lực vũ trang, hai lực lượng có quan hệ mật thiết, hỗ trợ, phối hợp với nhau góp phần tạo nên chiến công và thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước mọi kẻ thù
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc kháng chiến mà Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và dân tộc ta phải chấp nhận đương đầu với một cuộc chiến tranh xâm lược khốc liệt nhất thế giới từ sau thế chiến 2 với một siêu cường hùng mạnh nhất lúc bấy giờ Phải bắt đầu từ đâu, thời điểm nào và phương pháp cách mạng gì để bảo vệ cách mạng miền Nam, đánh đổ chính quyền Diệm mà đứng đằng sau là Mỹ để thống nhất đất nước, bảo vệ và phát huy những thành quả của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược Chọn phương pháp, không gian và thời gian
mở đầu cho một cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước là vấn đề có tính chất quyết định xuyên suốt cả cuộc chiến, nguyên nhân của sự thắng lợi về sau
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được thắng lợi hoàn toàn cách đây hơn 40 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân niềm Nam, được sự hỗ trợ hết sức, hết lòng của hậu phương lớn miền Bắc về sức người, sức của, đã tiến hành đánh bại các âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tiến lên giành toàn thắng Một trong những nguyên nhân đưa đến chiến thắng đó là quân
và dân miền Nam đã xây dựng được lực lượng vũ trang cách mạng ngày càng lớn mạnh cả về tổ chức, trình độ tác chiến, cùng nhân dân các địa phương ở miền Nam
tổ chức, chiến đấu, xây dựng và phát triển lực lượng, đương đầu và đánh thắng quân thù trong điều kiện số lượng và vũ khí, trang bị vật chất, kỹ thuật thua kém gấp nhiều lần kẻ thù
Mười năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1965) là thời kỳ cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, lực lượng cách mạng nói chung
và lực lượng vũ trang nói riêng bị tổn thất lớn do bị địch khủng bố Một bộ phận ưu
tú tập kết ra miền Bắc theo quy định của Hiệp định Giơnevơ Vì thế, lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam gần như phải xây dựng lại từ đầu Nghị quyết 15 (1959) đã tạo cơ sở để đẩy mạnh việc xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang
Trang 8cách mạng miền Nam hỗ trợ cho đấu tranh chính trị trong phong trào đồng khởi và trong cuộc chiến đấu đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - chính quyền Sài Gòn Cùng với đó, lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam tập kết ra Bắc cùng với các đơn vị bộ đội ở miền Bắc vào chiến trường miền Nam, chiến đấu giải phóng quê hương Nghiên cứu chuyên sâu giai đoạn này sẽ giải đáp được nhiều nội dung, trả lời được câu hỏi vì sao nhân dân miền Nam thắng một siêu cường bậc nhất của thế kỷ XX trong tương quan lực lượng vượt ra ngoài những tính toán cơ học thông thường
Có thể khẳng định, giai đoạn 1954 - 1965 là giai đoạn có tính bản lề, nền tảng vững chắc cho sức mạnh và thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam Nghiên cứu về lịch sử xây dựng và hoạt động của Lực lượng
vũ trang cách mạng (LLVTCM) ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1965 sẽ làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ, những sáng tạo của nhân dân miền Nam trong việc xây dựng và hoạt động vũ trang để nhằm bảo vệ chính mình, làm sáng tỏ vai trò của nó với tiến trình cách mạng nói chung và vai trò quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975 nói riêng
Bước sang thế kỷ XXI, với công cuộc CNH-HĐH, đổi mới, hội nhập quốc tế, đất nước ta đã và đang gặt hái được nhiều thành tựu góp phần xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, trong hoàn cảnh phức tạp của tình hình thế giới cũng như nguy cơ của chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với đất nước
Chính vì vậy, nghiên cứu, tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong đó có quá trình xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1965 sẽ góp phần bổ sung thêm nội dung lịch sử cho thời kỳ quan trọng này; đồng thời cũng gợi mở, đem lại những luận cứ khoa học trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Trong bối cảnh nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đạt được những thành tựu lớn, và đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong giai đoạn 1954 - 1965 Tuy nhiên, những công trình đó chưa nghiên cứu LLVTCMMN giai đoạn 1954 đến 1965 một cách hệ thống liên tục, bài bản và toàn diện Do vậy, một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, hệ thống về LLVTCMMN giai đoạn 1954 -1965 sẽ góp phần vào việc nhận thức đầy đủ hơn vai trò quyết định của LLVTCMMN trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước giai đoạn này, cũng như làm phong phú, đa dạng trong nhận thức về nghệ thuật chiến tranh nhân Việt Nam Công trình cũng gợi mở những luận điểm có
ý nghĩa phương pháp luận trong hoàn cảnh xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
Trang 9Từ những vai trò, ý nghĩa, tính cấp thiết trên, chúng tôi chọn: “Quá trình xây
dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1965” làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống, phân tích, luận giải về quá trình xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1965
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích bối cảnh lịch sử ở miền Nam sau Hiệp định Giơnevơ và yêu cầu khách quan phải xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam
- Phân tích, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam của Đảng
- Hệ thống, phân tích quá trình xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ 1954-1965
- Nêu lên một số nhận xét, luận giải về đặc điểm, vai trò và rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam thời kỳ này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là Quá trình xây dựng và hoạt động của Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm1965 (hay là Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam từ năm 1954 đến năm 1965) Bởi vì không phân biệt nguồn gốc, nơi xuất phát, các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam ở miền Nam được thống nhất và có thể gọi là Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Miền Nam Việt Nam, từ phía Nam vĩ tuyến 17 trở vào
- Về thời gian: Từ khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (1954) đến tháng
7-1965, khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Hoa Kỳ chính thức thực thi
chiến lược “chiến tranh cục bộ”
- Về nội dung: Những nội dung xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ
trang cách mạng ở miền Nam giai đoạn từ 1954 đến 1965
4 Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Bên cạnh việc tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu chính sau:
- Văn kiện Đảng toàn tập và tài liệu của Xứ ủy, Trung ương Cục, Liên khu
ủy khu V từ năm 1954 đến năm 1965
Trang 10- Nguồn tài liệu khai thác từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Quân khu V,VII,IX và lịch sử quân sự các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương từ Quảng Trị trở vào
- Nguồn tài liệu từ sách, báo, tạp chí, luận văn thạc sỹ lịch sử, luận án tiến sỹ lịch sử và các nguồn tài liệu khác có liên quan đến đề tài luận án…
4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án được thực hiện dựa trên những quan điểm cơ
bản của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng
phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và
phương pháp liên ngành nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Một là: Luận án tái hiện bức tranh tổng thể về quá trình xây dựng và hoạt
động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1965
- Hai là: Luận án nêu lên nhận xét và luận giải những đặc điểm, vai trò, ý
nghĩa, rút ra một số kinh nghiệm về quá trình xây dựng và hoạt động của lực lượng
vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1965
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm rõ, tổng hợp, hệ thống và luận giải những nội dung
về quá trình xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam
từ năm 1954 đến năm 1965; đồng thời góp phần gợi mở những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Lịch sử; bên cạnh đó luận án bổ sung tư liệu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, vào truyền thống xây dựng và chiến đấu hơn 70 năm vinh quang của các lực lượng
vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận
án gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam từ năm 1954 đến
năm 1960
Chương 3: Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam từ năm 1961 đến năm 1965 Chương 4: Một số nhận xét về lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ
năm 1954 đến năm 1965
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam Việt Nam là một nội dung trọng yếu khi nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hào hùng của dân tộc, một cuộc chiến tranh khốc liệt nhất của lịch sử thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Đây là một đề tài được nghiên cứu rộng rãi không chỉ ở trong nước mà còn là một đề tài nóng hổi của lịch sử quân sự thế giới Nội dung nghiên cứu của đề tài rất phong phú và tổng hợp ở các lĩnh vực khác nhau, trong đó nghiên cứu về quân sự đạt được thành tựu lớn Nhiều công trình nghiên cứu ở các thể loại khác nhau đã được công bố, đề cập đến lực lượng vũ trang, có thể được khái quát thành các nhóm:
1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước về cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước nói chung
1.1.1 Các công trình tổng kết, sách của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam
Trước hết phải kể đến một số công trình nghiên cứu về chiến tranh và chiến
tranh cách mạng Việt Nam như: Tuyển tập Luận văn Quân sự, Tập III, Nxb Quân đội
nhân dân, Hà Nội; Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn
Chí Thanh, Văn Tiến Dũng, Song Hào (1996), Bàn về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Viện Lịch sử quân sự (2002), Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà
Nội… Nhìn chung, các công trình tuy diễn đạt khác nhau nhưng đều góp phần làm rõ khái niệm đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang cách mạng cách mạng Các công trình đã chỉ ra rằng, đấu tranh vũ trang là một trong hai hình thức cơ bản của bạo lực cách mạng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát động quần chúng đứng lên khởi nghĩa, cũng như sau khi quần chúng đã nổi dậy rồi, tiếp tục tiến công để đưa cách mạng tiến lên, hoặc khi đã phát động đấu tranh vũ trang rồi sẽ không bị sa vào chiến lược phòng ngự mà vẫn kiên quyết giữ vững chiến lược tiến công Lực lượng
vũ trang cách mạng được định nghĩa là các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo nhằm chiến đấu giành và giữ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Đại tướng Văn Tiến Dũng đã viết cuốn Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Sự thật, Hà Nội ngay trong năm 1976 Cuốn sách đã khái quát những năm
tháng mà toàn Đảng, toàn dân trên cả nước ta đã ra quân với một quyết tâm sắt đá và khí thế cách mạng nóng bỏng: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Để giành được thắng lợi, cả dân tộc ta đã phải trải qua những thử thách, gian truân có những lúc tưởng như khó vượt nổi, chịu những hy sinh, tổn thất lớn lao chưa từng thấy trong
Trang 12lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc, hậu quả vẫn còn tác động sâu sắc đến sự nghiệp xây dựng đất nước ta trong giai đoạn hiện nay
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam,
đã viết sách Chiến tranh giải ph ng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1979 Tác phẩm cho thấy là học trò xuất sắc, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có hiểu biết sâu sắc về lý luận chiến tranh cách mạng và đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chỉ đạo, chỉ huy trong xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; làm cho chiến tranh nhân dân phát triển lên tầm cao mới, trở thành một nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam Đó là tư duy về việc tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân 3 thứ quân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; với phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân: kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các đơn vị chủ lực ở các quy mô, hình thức phù hợp; sự kết hợp tác chiến của lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động; của tác chiến du kích với tác chiến chính quy; của cách đánh tiêu hao sinh lực địch rộng khắp với cách đánh tập trung tiêu diệt từng bộ phận địch; kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao…; lấy đấu tranh quân sự trên chiến trường là nhân tố quyết định đánh bại ý chí xâm lược của địch, chủ động kết thúc chiến tranh trong thế có lợi
Tác giả cũng nhận thấy, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc, vấn đề tổng kết cuộc kháng chiến đã được đặt ra Ban Tổng kết chiến tranh B2 (Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ) được thành lập, đã thu thập tư liệu và dựng đề
cương tỉ mỉ cho cuốn sách Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên chiến trường B2 với 5 tập Cuốn sách đã khắc họa về cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường
của quân và dân Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong suốt 21 năm kháng chiến
Lê Duẩn (1985), Thư vào Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, là cuốn sách tập hợp
những bức điện của Tổng Bí thư Trung ương Đảng gửi Trung ương Cục miền Nam, các quân khu nhằm chỉ đạo về phương pháp, nhiệm vụ đấu tranh cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng được coi là nhiệm vụ hàng đầu để đưa cách mạng miền Nam đi từ “khởi nghĩa bộ phận, lập căn cứ địa, có chiến tranh du kích, rồi tiến lên tổng khởi nghĩa” Căn cứ vào sự chỉ đạo đó, quân và dân các tỉnh miền Nam đã không quản ngại khó khăn, hy sinh, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và đẩy mạnh hình thức đấu tranh vũ trang, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng miền Nam
Lịch sử Việt Nam 1954 - 1975, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010 Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 đã chỉ rõ trải
qua 21 năm chiến đấu kiên cường, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hy sinh, được sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng tiến
Trang 13bộ trên thế giới, đã lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ở miền Bắc Thắng lợi oanh liệt mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị tàn bạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước; bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước
Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị được thành lập năm 1990, tiếp
thu những kết quả sau nhiều năm nghiên cứu đã cho xuất bản cuốn sách Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - thắng lợi và bài học vào năm 1996 Công
trình trình bày có hệ thống diễn biến của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước anh hùng của nhân dân ta Qua đó, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, trong đó có
đề cập một số vấn đề liên quan tới lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam
Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội Khi luận giải về một số bài học kinh nghiệm, công trình đặc biệt nhấn mạnh đến bài học dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân trong việc xây dựng, phát huy
và bảo vệ căn cứ địa vững chắc và lực lượng vũ trang cách mạng Công trình cũng phân tích, đánh giá cao vị trí, vai trò của lực lượng vũ trang cách mạng với tư cách là công cụ bạo lực trong cuộc chiến tranh giải phóng; đồng thời còn là lực lượng bảo vệ, duy trì sự tồn tại của cách mạng miền Nam
Cuốn sách Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 của Viện Lịch sử Đảng nêu bật sự chỉ đạo của Xứ
uỷ Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam đối với vai trò, phạm vi, nhiệm vụ hoạt động của mình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trải qua các chặng đường tìm tòi, thể nghiệm lý luận và thực tiễn, để đóng góp xây dựng đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam và từng bước làm phá sản “chiến tranh đơn phương”, đánh bại các chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân 1975 Tuy không đi sâu về lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam, nhưng cuốn sách đã giúp tác giả luận án có cái nhìn khái quát về sự lãnh đạo của Đảng bộ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
1.1.2 Các công trình chuyên khảo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam
Trần Văn Giàu, nhà sử học Việt Nam, cán bộ lão thành cách mạng, đã nhiều
năm trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam, viết cuốn sách Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 2 và tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1965 và 1968 Cuốn sách
đã dành nhiều trang viết về viết về quá trình ra đời và phát triển của lực lượng vũ
Trang 14trang cách mạng miền Nam từ năm 1954-1965, nêu lên một số tư liệu và nhận định
có giá trị khoa học định hướng cho luận án
Các cuốn sách Sự thật mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm nay, Hà Nội, 1979; Về Quan hệ Việt - Xô, Hà Nội, 1985 của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho
thấy trong trật tự thế giới hai cực, chiến trường Việt Nam trở thành điểm nóng đối đầu giữa hai hệ thống chính trị, nơi đọ sức giữa hai chế độ xã hội Do vậy, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thu hút được sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa Song sự đồng tình ủng hộ đó không thực trọn vẹn vì mối mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa hai nước Liên Xô và Trung Quốc, vì tình hình không ổn định trong mỗi nước đó Hơn thế nữa, mỗi nước, thậm chí mỗi phe nhóm, lực lượng trong từng nước đều muốn lái đường lối cách mạng Việt Nam đi theo quan điểm của họ, vì lợi ích của
họ Bởi thế, các tác phẩm đã khái quát lên tính phức tạp của bối cảnh lịch sử thế giới trong lúc Việt Nam phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ
Viện lịch sử quân sự, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975
gồm 9 tập, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong khoảng thời gian hơn 20 năm (1954 - 1975) được tập trung trong 9 tập sách, sắp xếp theo dòng thời gian và chia thành từng giai đoạn quan trọng của cuộc chiến Trong đó nghiên cứu về giai đoạn kháng chiến chống Mỹ 1954 - 1965 được nêu ra trong 03 tập đầu:
Tập 1 có nhan đề Nguyên nhân chiến tranh, gồm 3 chương, tập trung lý giải vì
sao Mỹ xâm lược Việt Nam và vì sao chúng ta lại phải tiếp tục cầm súng chiến đấu sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Tập 2 với nhan đề Chuyển chiến lược, trình bày các sự kiện lịch sử từ sau Hiệp
định Giơnevơ đến cao trào Đồng Khởi năm 1960
Tập 3 Đánh thắng chiến tranh đặc biệt, tập trung miêu tả và phân tích những
đặc điểm đặc thù của chiến tranh trong giai đoạn 1964 đến giữa 1965
Đây là 3 tập sách tập trung nghiên cứu một cách toàn diện cuộc kháng chiến chống Mỹ trong giai đoạn bản lề (1954 - 1975) ở cả hai miền Nam - Bắc Công trình đã nghiên cứu khái quát quá trình ra đời, xây dựng và phát triển, những hoạt động chính có tính điển hình của LLVTCMMN Nghiên cứu quá trình đó được đặt trong tổng thể các hình thức, các nội dung điển hình trên tất cả các lĩnh vực có liên quan của cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn này Vì vậy, bên cạnh tính phổ quát của công trình là có đề cập đến quá trình xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN trong giai đoạn này Nhưng 3 tập sách chưa phải là công trình khoa học chuyên khảo về xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN thời kỳ này
Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập II 1954 - 1975, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2010
Đây là một tập sách thể hiện sâu sắc trí tuệ, kinh nghiệm thực tiễn của chính Nam
Bộ, sách đã khảo cứu công phu trong tất cả các lĩnh vực của cuộc kháng chiến
Trang 15chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Nam Bộ, trong đó có vị trí quan trọng của lực lượng vũ trang cách mạng ở Nam Bộ Nó thể hiện sự kỳ công, tính khái quát, tổng kết nhưng cũng rất chi tiết trên tất cả các lĩnh vực, đã cung cấp cho giới nghiên cứu trong và ngoài nước một bức tranh tổng thể về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Nam Bộ Công trình là sự kết tinh, phản ánh thành quả của hơn 30 năm nghiên cứu Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Lê Hồng Lĩnh, Cuộc đồng khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960, Nxb
Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2006 Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về Đồng khởi, đánh giá đúng tác động như vũ bão của một cao trào nổi dậy đồng loạt của nhân dân, trước hết là từ nhưng vùng nông thôn rộng lớn ở Nam Bộ và cả vùng rừng núi Nam Trung Bộ diễn ra từ cuối 1959 và lên tới đỉnh cao vào năm 1960, làm thất bại âm mưu của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam Nó là sự kế tục truyền thống nhất tề nổi dậy từ trong Cách mạng tháng Tám 1945, là thành quả của đường lối chỉ đạo đúng đắn về con đường giải phóng… Nó cũng là kết quả tất yếu của sự vùng lên của nhân dân trước sự tàn sát man rợ của kẻ thù và tinh thần sáng tạo của những chiến sĩ cách mạng kiên cường luôn có mặt ở nơi đầu sóng ngọn gió dưới sự lãnh đạo của Đảng
Viện Lịch sử quân sự, Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Đánh giá về vai trò của căn cứ địa và của
(1945-hậu phương tại chỗ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, công trình khẳng định hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam là một trong những nhân tố quyết định đến thắng lợi của cách mạng Đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, căn cứ địa - hậu phương tại chỗ là “một trong những nhân
tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cách mạng và phát triển chiến tranh nhân dân trên khắp ba vùng chiến lược” Luận giải về vai trò của hậu phương tại chỗ đối với chiến tranh cách mạng, công trình cho rằng xây dựng hậu phương tại chỗ vững chắc có thể chuyển hóa thế trận từ yếu sang mạnh, hoặc từ mạnh sang yếu Điều này phụ thuộc vào các yếu tố: Tính chất chính nghĩa hay phi nghĩa của chiến tranh mà hậu phương phải phục vụ; phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng hay chiến tranh cổ điển; quy mô tổ chức và huy động nhân dân tham gia; đường lối quân sự sáng tạo hay máy móc; năng lực xử lý cơ sở vật chất sẵn có giỏi hay kém… nhưng trên tất cả là ở lòng dân
Đăng Phong, chuyên gia về lịch sử kinh tế Việt Nam, đã viết cuốn 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008 Tác phẩm cũng chỉ rõ trước đây,
khi nói đến chi viện miền Bắc cho chiến trường miền Nam thì người ta chỉ chủ yếu nghĩ đến đường Trường Sơn Các đường tiếp viện khác, tuy đã đóng góp rất lớn trong việc chi viện cho miền Nam và việc giữ liên lạc giữa hai miền, không được người ta chú ý đến nhiều vì chúng đã được bảo đảm bí mật bởi những người trong cuộc, bởi dân chúng trong nước và những người yêu mến Việt Nam ở nước
Trang 16ngoài Cuốn sách này, lần đầu tiên, giúp cho người đọc biết tương đối rõ rệt bức tranh toàn cảnh của việc chi viện cho miền Nam cũng như những hoạt động cụ thể của từng con đường tiếp viện và của các nhân vật chủ chốt trong đó …
Đây là nhóm các công trình nghiên cứu khoa học toàn diện về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ lý luận về xây dựng và hoạt động của LLVTCM đến chiến tranh nhân dân theo thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và những quan điểm có tính hệ thống của Hồ Chí Minh khi vận dụng lý luận
đó vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam
Những công trình đó có cũng đi vào nghiên cứu cụ thể cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta 21 năm hùng tráng, nhìn nhận cuộc kháng chiến đó một cách tổng quát trên tất cả các mặt trận của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, từ mặt trận quân sự cho đến mặt trận chính trị và tổng hợp trên tất cả các lĩnh vực của cuộc kháng chiến: kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao v.v Cho ta một thành tựu tổng quát khi nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung Nhóm còn có những công trình đi vào nghiên cứu cụ thể một khía cạnh, một lĩnh vực của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Các công trình đó đạt được những thành tựu có ý nghĩa trong lĩnh vực hoặc khía cạnh mình nghiên cứu Nó đã tập hợp và hệ thống hóa, chuyên sâu theo chiều dọc một giai đoạn lịch sử vĩ đại của dân tộc
Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đó, nhóm tác giả nghiên cứu này chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu quá trình xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung và giai đoạn bản lề của cuộc kháng chiến (1954 -1965) với ý nghĩa là một vấn đề, một phương diện quan trọng nhất của một cuộc chiến tranh nhân dân chống lại một siêu cường hùng mạnh nhất thế giới thời kỳ bấy giờ
1.2 Nhóm các công trình chuyên khảo về lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam
1.2.1 Sách chuyên khảo về lực lượng vũ trang nhân dân và Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam
Bộ Quốc phòng, Các chuyên đề về chiến tranh nhân dân địa phương trong bảo
vệ tổ quốc, Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Các tác phẩm này đã làm rõ trong
cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, chiến tranh nhân dân ở từng địa phương đã có vai trò to lớn Lực lượng du kích và tự vệ đã phối hợp với nhân dân tại chỗ đấu tranh quyết liệt chống địch dồn dân lập “khu trù mật”, lập “ấp chiến lược”; độc lập và phối hợp với bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực trong mọi hoạt động, góp phần đánh bại các chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận”, các biện pháp chiến lược của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa Mặc dù
Trang 17địch có phương tiện cơ động bằng máy bay và cơ giới, nhưng chúng vẫn phải phân tán phần lớn quân số để đối phó với lực lượng vũ trang địa phương ta Đó là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng
Các cuốn Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1994; Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005 của Viện Lịch sử quân sự đã thể hiện nguồn gốc, tiến trình của cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bước phát triển rực rỡ của nghệ thuật quân sự hiện đại Việt Nam, những chiến công oanh liệt của quân và dân ta, nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Bộ Tư lệnh Pháo binh, Biên niên sự kiện lịch sử ngành kỹ thuật pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam 1945-1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997 Cuốn
sách đã ghi lại những sự kiện kỹ thuật trong các giai đoạn lịch sử pháo binh nhân dân Việt Nam Góp phần vào việc cung cấp tư liệu tra cứu phục vụ cho nghiên cứu, huấn luyện và xây dựng ngành kỹ thuật của binh chủng, làm cơ sở để viết tổng kết và lịch
sử kỹ thuật pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam
Sách Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2004 của Quân khu VII đã khẳng định trong suốt 15 năm kháng chiến chống
Mỹ (1961-1976), Bộ Chỉ huy Miền đã lãnh đạo chỉ huy các lực lượng vũ trang vượt qua muôn vàn thử thách khó khăn, lập nên những kỳ tích chiến công, góp phần cùng
cả nước hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất tổ quốc Cuốn sách đã cung cấp một số tư liệu và nhận định khoa học về cơ quan đầu não của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam trên mặt trận B2, hình dung được xuất xứ, quá trình hình thành và hoạt động của Bộ Chỉ huy Miền trong cuộc chiến tranh ác liệt nhất để tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu
Năm 2008, Bộ Tổng tham Quân đội nhân dân Việt Nam cho ra đời cuốn sách
Biên niên sự kiện lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách khẳng định sau 21 năm
chiến đấu, đương đầu với không ít thách thức khó khăn, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã đi đến thắng lợi hoàn toàn Trong chiến thắng ấy, có sự góp mặt của nhiều lực lượng, nhiều mặt trận và cơ quan khác nhau Trên bình diện quân sự, bên cạnh quá trình chiến đấu dũng cảm và hy sinh máu xương của từng chiến sĩ, cán bộ lực lượng vũ trang, còn có sự đóng góp quan trọng, to lớn của cơ quan tham mưu chiến lược là Bộ Tổng tham mưu, thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam - một cơ quan đã hoàn thành xuất sắc chức năng tham mưu và chức năng chỉ đạo điều hành hoạt động quân sự
Hồ Sỹ Danh, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, Nxb Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2010 Trong cuốn sách này, tác giả khẳng định giành thắng lợi triệt
để trong chiến tranh thì đi đôi với phát triển chiến tranh nhân dân rộng khắp,
Trang 18nhất định phải tổ chức và thực hành các hoạt động tác chiến, tiêu diệt và làm tan
rã lớn quân địch Nghệ thuật chiến dịch là khâu có tính chất quyết định, thực hiện yêu cầu do chiến lược đề ra Sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch là quy luật phát triển khách quan của chiến tranh nói chung của đấu tranh vũ trang cách mạng nói riêng và nghệ thuật của nó là nghệ thuật quân sự Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân
sự mà cụ thể là nghệ thuật chiến dịch Việt Nam đã phát triển tới đỉnh cao Nắm vững quy luật chiến tranh, vận dụng và thực hiện sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, cách mạng đã từng bước chuyển hoá cục diện chiến trường theo hướng có lợi, luôn đánh địch trên thế mạnh, thế chủ động, thế bất ngờ Nét đặc sắc, độc đáo còn được thể hiện ở chỗ đã kết hợp chặt chẽ các nhân
tố "thế, lực, thời, mưu" trong từng trận đánh, từng chiến dịch một cách linh hoạt,
làm cho địch không thể lường được các hướng, mũi, lực lượng và sức mạnh tiến công của LLVTCM
Hầu hết các quân khu đều đã xuất bản các cuốn sách về lịch sử lực lượng vũ
trang nhân dân hay cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tiêu biểu là Lực lượng
vũ trang Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980 do Hoàng Minh Thảo làm chủ biên; Nam Trung Bộ kháng chiến (1945-1975), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992 của Viện Lịch sử Quân sự; Lịch sử Khu VI (cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên) kháng chiến chống Mỹ 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995 của Quân khu V; Quân khu IX - 30 năm kháng chiến (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999 của Quân khu IX; Khu VIII (Trung Nam Bộ) kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 do Trần Dương làm chủ biên; Lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu VII (1945-2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010 của Quân khu
Trang 191975), tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh An Giang; Lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh Đồng Tháp trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Tháp; Lịch sử cuộc kháng chiến quân dân Tiền Giang (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang; Kiến Tường - lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 2008 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Long An; Quảng Trị, lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bình Dương (1945-2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Dương; Lịch sử Đảng bộ quân sự tỉnh Lâm Đồng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà
Nội, 2014 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng
1.2.2 Công trình luận văn, luận án và các bài tạp chí khoa học về lực lượng
vũ trang nhân dân và Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam
Trương Minh Nhật, Chiến tranh nhân dân vùng ven Tây Nam Sài Gòn - Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ, luận án Tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành
Lịch sử Việt Nam, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 1996 Luận án đã làm rõ chiến tranh nhân dân ở vùng ven Sài Gòn từ khởi nghĩa vũ trang trong Đồng khởi cho đến trước tiến công chiến lược đô thị vào năm
1975 Đồng thời, phân tích những điều kiện cơ bản cho chiến tranh nhân dân ở vùng ven Sài Gòn - Gia Định
Võ Thị Thanh Thảo, Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng cách mạng tại miền Nam từ năm 1954-1960, luận án Tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999 Luận án đã khái quát quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng cách mạng miền Nam giai đoạn 1954-1960, đường lối của Đảng trong việc xây dựng lực lượng vũ trang, trong phong trào Đồng khởi…
Trần Thị Thu Hương, Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách”
ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961-1965), luận án Tiến sĩ
khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000 Đề tài đã phân tích tính chất gay go, quyết liệt, giằng co lâu dài của cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Hệ thống, khái quát, phân tích những chủ trương, biện pháp và kế hoạch chỉ đạo tổ chức thực hiện chống phá chính sách đó của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trần Ngọc Long, Quá trình xây dựng và phát triển căn cứ địa kháng chiến U Minh Hạ (1954-1960), luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Luận văn đã khái quát quá trình xây dựng và phát triển căn cứ địa kháng chiến U Minh Hạ từ 1954-1960, nêu bật vai trò của U Minh Hạ đối với phong trào Đồng
Trang 20khởi năm 1960 Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc hoạch định chiến lược an ninh quốc phòng giai đoạn hiện nay
Thái Thị Lộc, Quá trình xây dựng và phát triển lực lượng an ninh miền Nam giai đoạn 1954-1965, luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt
Nam, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2004 Trong luận văn, tác giả đã dựng lên bức tranh toàn cảnh về sự ra đời, phát triển cũng như những chiến công của lực lượng an ninh tại miền Nam trong những năm đầu kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược từ 1945-1965
Trần Phương Thúy, Đảng lãnh đạo cách mạng miền Nam chuyển từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh nhân dân (1959-1963), luận văn Thạc sĩ khoa học
lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Luận văn đã làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng miền Nam trong giai đoạn 1959-1963, đặc biệt là về chủ trương đẩy mạnh chiến tranh cách mạng từ Đồng khởi cho đến Nghị quyết Trung ương 9 tháng 12-1963
Huỳnh Thị Liêm, Phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở miền Đông Nam Bộ (1961-1965), luận án Tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh,
2006 Luận án nghiên cứu về phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở miền Đông Nam bộ trong giai đoạn 1961-1965, nhằm dựng lại bức tranh toàn cảnh về cuộc đấu tranh anh dũng ngoan cường và mưu trí của quân và dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ; qua đó cung cấp những luận cứ khoa học cho quá trình xây dựng lực lượng cách mạng, phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Nguyễn Thị Ánh Xuân, Lực lượng vũ trang giáo phái ở miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1960, luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt
Nam, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2008 Công trình đã trình bày về điều kiện ra đời, quá trình xây dựng và chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam dưới hình vỏ bọc các giáo phái ly khai chống Diệm trong bối cảnh lịch sử phức tạp những năm 1954-1960
Bùi Thị Trang, Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân
sự ở miền Nam từ năm 1961 đến năm 1968, luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 Luận văn nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự chống đế quốc Mỹ
ở miền Nam từ năm 1961 đến năm 1968
Cũng liên quan đến nhóm các công trình chuyên khảo về lực lượng vũ trang
cách mạng, đã có hàng trăm bài báo khoa học đăng trên các tạp chí Lịch sử quân sự, Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử Đảng Tiêu biểu trong số này có Việt Hồng, Vài nét về
Trang 21đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang ở Nam Bộ trước cuộc “Đồng Khởi”
1959-1960, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 155 năm 1974; Nguyễn Đình Lê, Vài nét về lực lượng vũ trang cách mạng Nam Bộ thời kỳ 1954-1960, Tạp chí Lịch sử quân sự,
số 4 năm 1996; Trần Long, Làng rừng Cà Mau, một hiện tượng “Độc nhất vô nhị”,
Tạp chí Lịch sử quân sự, số 2 năm 1997; Nguyễn Đình Lê, Nghị quyết 15 với lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1 năm 1999;
Nguyễn Tư Đương, Lực lượng vũ trang giáo phái miền Tây Nam Bộ thời kỳ đầu
kháng chiến chống Mỹ, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 5 năm 2001; Hồ Khang, Trận đánh báo hiệu, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1 năm 2003; Nguyễn Xuân Năng, Bắc Ruộng - Trận đánh mở đầu phong trào Đồng khởi ở Bình Thuận năm 1960, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3 năm 2003; Nguyễn Văn Hùng, Chiến thắng Phước Thành,
bước phát triển về trình độ chỉ huy, tham mưu tổ chức và chiến đấu của lực lượng
vũ trang Quân khu VII, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 12 năm 2005; Nguyễn Hữu Đạo, Sự ra đời của đoàn vận tải quân sự 559, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 4 năm 2008;
Võ Cao Lợi, Phong trào giải phóng nông thôn ở Quảng Ngãi, Tạp chí Lịch sử quân
sự, số 1 năm 2010; Nguyễn Đình Lê, Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam
trong tiến trình chuyển hướng chỉ đạo cách mạng của Đảng ở thời điểm bản lề lịch
sử, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1 năm 2010; Hồ Hải Hưng, Đấu tranh chống chiến
lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa ở Khánh Hòa
(1961-1965), Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6 năm 2013…
Nhìn chung, cả hai nhóm công trình chuyên khảo về LLVTCMMN ở trên đã
đề cập ở những góc độ và mức độ khác nhau liên quan đến lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thành quả của các công trình nghiên cứu đó về LLVTCMMN là rất lớn, có thể trong một lĩnh vực cụ thể của xây dựng hoặc hoạt động của LLVTCMMN, hoặc khái quát nó trong một khoảng thời gian nhất định gắn với những sự kiện lịch sử nổi bật, những trận đánh, những chiến dịch có ý nghĩa chiến lược Quy mô, phạm vi nghiên cứu có thể khái quát một giai đoạn bản lề, một thời điểm bước ngoặt của lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong giai đoạn 1954-1965 hoặc một lĩnh vực cụ thể có liên quan đến xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN trong giai đoạn này
Tuy nhiên, chưa có công trình khảo cứu nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, phạm vi, không gian tổng quát, quy luật phổ biến và đặc thù của toàn miền Nam về xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1965, giai đoạn bản lề của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 21 năm thần thánh của dân tộc ta
Những thành quả nghiên cứu của các tác giả và công trình nghiên cứu chuyên khảo trên sẽ là những tư liệu quý báu, là cơ sở để tác giả tập hợp, kế thừa, vận dụng
để triển khai trong quá trình xây dựng và hoàn thiện luận án…
Trang 221.3 Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài và của chính quyền Sài Gòn
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam của các tác giả trong nước, còn có hàng vạn các cuốn sách, công trình của các tác
giả nước ngoài Trong số đó, tiêu biểu là Viet Cong, The organization and techniques of the National Liberation Front of South Vietnam (Việt Cộng, tổ chức
và chiến thuật của Mặt trận dân tộc giải ph ng miền Nam Việt Nam),
Massachusetts Institute of Technology, 1966 của Douglas Eugene Pike, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về chiến tranh Việt Nam Đây có thể được coi
là nghiên cứu sớm nhất, công phu nhất và sâu sắc nhất về lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam của một tác giả người nước ngoài Tác phẩm đã phân tích bối cảnh
ra đời, sự phát triển, quá trình hoạt động của đội quân “cộng sản Nam Việt Nam” theo góc nhìn từ phía bên kia
Một tác phẩm tiêu biểu nữa cần phải kể đến là cuốn Defeating communist insurency The lesson of Malaysia and Vietnam (Đánh bại sự nổi dậy của cộng sản Bài học của Malaysia và Việt Nam) của Robert Thompson (chuyên gia có nhiều
kinh nghiệm về chương trình bình định, chống nổi dậy được đánh giá là thành công
ở Malaysia, được Mỹ - Diệm mời về làm cố vấn cho chương trình ấp chiến lược) Tháng 3-1965, sau thất bại ở Việt Nam, Thompson về nước và đến tháng 7-1965 thì viết cuốn sách này Ông đã đi sâu trình bày mục tiêu, biện pháp và quá trình tiến hành chương trình ấp chiến lược ở Malaisia và Việt Nam, rút ra những nguyên nhân thất bại của chương trình này ở Việt Nam Đây là tài liệu của người trong cuộc, song do đứng ở góc nhìn một phía nên tác giả có những cái nhìn phiến diện khi hạ thấp vai trò nổi dậy của nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam
Quốc phòng Mỹ, Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, được Việt Nam Thông
tấn xã phát hành năm 1971 Tên gọi chính thức của tài liệu này là “Quan hệ Mỹ - Việt Nam, 1945-1967: Một nghiên cứu do Bộ Quốc phòng chuẩn bị” Được xếp loại tuyệt mật, nó nêu chi tiết về sự tham dự chính trị và quân sự ở Mỹ giai đoạn 1945-
1967 Tài liệu được thực hiện tháng 6-1967 dưới thời Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, người muốn đưa ra một tổng kết toàn diện về cuộc chiến tranh Việt Nam Tài liệu này được coi là sẽ tiết lộ ở một mức độ chưa từng có những chi tiết
về tham chiến của Mỹ tại Việt Nam Những hồ sơ Lầu Năm Góc đầu tiên được đăng
tải trên trang nhất của báo New York Times năm 1971, gây ra xôn xao lớn trong dư
luận thời đó, tạo vụ bê bối “Hồ sơ Lầu Năm Góc” nổi tiếng
Daniel Ellsberg viết cuốn Những bí mật của chiến tranh Việt Nam, Nxb Chính
trị quốc gia xuất bản năm 1985 Tác giả là một trong những nhân vật chính trong vụ
bê bối “Hồ sơ Lầu năm góc”, người đã tiết lộ những sự thật khủng khiếp về quá trình xâm lược của Mỹ ở Việt Nam để cho báo giới Mỹ đưa đến với công chúng Bởi thế, tác phẩm đã làm rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của
Trang 23Mỹ tại Việt Nam, những âm mưu, thủ đoạn của các đời tổng thống Mỹ trong cuộc chiến này
Hoành Linh Đỗ Mậu là nhân vật trong chính quyền Sài Gòn cũ, đã viết hồi ký
chính trị, được Nxb Công an nhân dân xuất bản thành sách Tâm sự tướng lưu vong
năm 1987 Cuốn sách tập trung đi sâu về tình hình miền Nam dưới thời chế độ Ngô Đình Diệm từ năm 1954-1963, nêu ra nhiều thông tin về nguyên nhân, diễn biến và bối cảnh của cuộc đảo chính quân sự ngày 1-11-1963 cũng như sự can thiệp của Mỹ vào chính quyền Việt Nam Cộng hòa khi đó
William Westmoreland - người trực tiếp chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam
Việt Nam viết cuốn Tường trình của một quân nhân, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí
Minh xuất bản năm 1988 Westmorelanh - tư lệnh trưởng bộ chỉ huy viện trợ quân
sự Mỹ (MACV) ở Sài Gòn (từ tháng 6-1964) viết tác phẩm này nói về sự thất bại của Mỹ tại Việt Nam Đó cũng là lời biện minh của một trong những tướng lãnh đạo tài ba nhất của nước Mỹ, nhưng lại bị thua trận tại Việt Nam…
Trong tác phẩm Sự lừa dối hào nhoáng, John Paul và nước Mỹ ở Việt Nam,
của Neil Sheehan xuất bản tại Mỹ năm 1988, tác giả đã lên án sự lừa dối của giới cầm quyền Mỹ đối với nhân dân Mỹ và thế giới về cuộc chiến bẩn thỉu Mỹ đã gieo rắc cho nhân dân Việt Nam Quyển sách đã được giải thưởng Pulitzer về người thật việc thật
Gabrien Kolko viết cuốn Giải phẫu một cuộc chiến tranh do Nxb Quân đội
nhân dân xuất bản năm 1989 và 1991 Trong 2 tập sách, tác giả đã lý giải về nguồn gốc của chiến tranh; sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam và khẳng định một kết cục tất yếu là Mỹ sẽ thất bại ở Việt Nam
Năm 1995, sau khi chiến tranh Việt Nam đã lùi xa 20 năm, Robert Strange McNamara, nguyên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, người đã tham gia hoạch định chính sách về Việt Nam dưới 2 đời tổng thống Kennedy và Johnson hoàn thành cuốn hồi
ký Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và những bài học kinh nghiệm về Việt Nam, Nxb
Random House, 1995 Trong tác phẩm này, tác giả thừa nhận công khai rằng:
“Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích vì sao sai lầm như vậy”
George C Herring, Cuộc chiến tranh dài ngày của nước Mỹ và Việt Nam (1950-1975), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004 Dựa vào tài liệu Lầu Năm góc
và rất nhiều bài báo, sách, hồi ký viết về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, George C Herring đã miêu tả sinh động cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cực điểm đầy logic của chính sách ngăn chặn - chính sách đã bắt đầu từ dưới thời Harry Truman vào cuối thập niên 1940 Trải qua năm đời Tổng thống Mỹ theo đuổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam mà không một ai thành công, đã cho thấy những sai lầm cố hữu trong chính sách ngăn chặn toàn cầu
Trang 24Nguyễn Phú Đức, Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 2009
Cuốn sách này được viết bởi một nhân vật quan trọng của chính quyền Sài Gòn, người đã trực tiếp tham mưu cho Nguyễn Văn Thiệu trong các vấn đề quan trong của cuộc chiến “Với tinh thần tôn trọng thực tế khách quan của tác giả dựa vào những chứng cứ chưa từng công bố, cuốn sách là một đóng góp quan trọng vào việc tìm hiểu lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được nói nhiều trong những năm qua nhưng không mấy người thấu đáo về nó”
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã tái hiện được một cách cơ bản về phong trào kháng chiến của quân và dân miền Nam thể hiện trên các mặt hoạt động đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự, xây dựng và bảo vệ căn cứ địa tại địa bàn… Tuy nhiên, do giới hạn bởi phạm vi, đối tượng nghiên cứu nên ở các công trình trên chưa đi sâu phản ánh sâu về hệ thống lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam; đặc biệt là tái hiện quá trình hình thành, phát triển, hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam cũng như làm rõ đặc điểm, vai trò của nó Vả lại một số nhận định, đánh giá vai trò, vị trí của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam trong một số công trình còn chưa đầy đủ và cụ thể; việc trích dẫn tài liệu, tư liệu ở một số
sự kiện chưa được kiểm chứng, nguồn trích dẫn chưa rõ ràng
Do quan điểm lập trường giai cấp tư sản, xuất phát điểm từ phía bên kia những học giả đã cố gắng đề cập đến cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam tiệm cận một cách khách quan nhất Nhưng cách nhìn nhận đánh giá về cuộc chiến tranh có khác nhau, chưa thật sự khách quan, không phù hợp với quan điểm chính thống của Đảng Mặc dù vậy, tác giả luận án coi đây là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để so sánh, đối chiếu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu của mình
1.4 Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Như vậy, nghiên cứu lịch sử kháng chiến chống Mỹ nói chung và nghiên cứu
cụ thể lĩnh vực quân sự trong cuộc kháng chiến vĩ đại 21 năm (1954 - 1975) là một nhiệm vụ khoa học bức thiết, chưa bao giờ mất đi ý nghĩa thời sự của nó bất luận đó
là giới khoa học ở trong nước hay là ở nước ngoài
Các công trình nghiên cứu bất kể là ở trong nước hay ở nước ngoài đều tập trung làm sáng tỏ nội dung, phạm vi nghiên cứu của mình Đều nhìn nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà nhân dân Việt Nam chiến đấu và giành thắng lợi là vĩ đại nhất sau chiến tranh thế giới thứ 2 Đều đặt nó trong một chiến lược tổng hợp, nghĩa là một cuộc chiến trên tất cả các mặt trận từ quân sự, chính trị, kinh
tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao… trong đó đều thống nhất cho rằng đấu tranh trên mặt trận quân sự là mặt trận có ý nghĩa quyết định, đập tan ý chí xâm lược của một đạo quân, một quốc gia siêu cường
Thống nhất với nhau về ý nghĩa của vai trò đấu tranh vũ trang - nhân tố quyết định đánh bại đối phương Các công trình khoa học đã cố gắng tùy theo nội dung, phạm vi nghiên cứu của mình, đã đưa vấn đề xây dựng và hoạt động của
Trang 25LLVTCMMN chiếm lĩnh vị trí tương xứng trong đề tài của mình Tuy nhiên, chưa
có một công trình khoa học cụ thể, tầm cỡ luận án nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ quy luật ra đời, hoạt động, đặc điểm, vai trò xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN trong giai đoạn bản lề của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
1954 - 1965
Để bù lấp khoảng trống trong nghiên cứu khoa học về lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam trong giai đoạn 1954-1965, luận án nhằm hướng đến đi sâu làm rõ, luận giải khoa học một số nội dung sau:
- Phân tích các yếu tố, hoàn cảnh lịch sử tác động sâu sắc đến quá trình ra đời của đường lối cách mạng bạo lực của Đảng, cơ sở cho sự ra đời, xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN trong giai đoạn từ 1954 đến năm 1965
- Phân tích quy luật ra đời, hoạt động, đặc điểm, vai trò của công tác xây dựng
và hoạt động LLVTCMMN trong giai đoạn 1954 -1965
- Trên cơ sở hệ thống, tổng thể, có tính đến những yếu tố khu vực, đặc thù đối với quá trình đó Luận án cố gắng luận giải thành quy luật, đánh giá khách quan vai trò của lực lượng vũ trang ở miền Nam đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam trong giai đoạn 1954 - 1965
- Đúc rút đặc điểm, vai trò của quá trình xây dựng và hoạt động của lực lượng
vũ trang cách mạng miền Nam Gợi mở những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Tóm lại, cho đến nay, chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách có hệ thống về quá trình xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam trong giai đoạn 1954-1965 Đây là vấn đề còn thiếu khuyết, cần được cấp bách bổ sung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ hơn nữa sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nó đặt ra nhiệm vụ khoa học cho Luận án sử học: Quá trình xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN trong giai đoạn từ 1954 đến năm 1965 yêu cầu nghiên cứu và làm sáng tỏ vai trò của nó đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và gợi mở những luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận đối với công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay
Trang 26Chương 2 LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG MIỀN NAM
buộc bởi hiệp định này
Nội dung của Hiệp định Giơnevơ có 13 điều khoản, trong đó chú ý các điểm quan trọng như:
- Chấm dứt chiến sự, lập lại hòa bình ở Đông Dương
- Lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời cho hai miền Bắc - Nam, các bên tham gia Hội nghị nhấn mạnh rằng: Dù bất cứ trường hợp nào, không thể coi đó là biên giới chính trị hay lãnh thổ Sự chia cắt đó chỉ là tạm thời Quân Pháp phải rút quân khỏi Bắc vĩ tuyến 17 và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rút khỏi Nam vĩ tuyến 17 trong thời hạn 300 ngày
- Hai bên Việt Nam sẽ tiến hành Tổng tuyển cử vào tháng 7-1956
CMMN đã nghiêm chỉnh thực hiện hiệp định Giơnevơ, đã tập kết chuyển quân theo đúng quy định Trị - Thiên, nơi địa đầu tiếp giáp miền Bắc, theo Hiệp định, hai tỉnh bàn giao lại ngay cho đối phương quản lý và chuyển quân tập kết sớm nhất Ngày 18-8, tỉnh Quảng Trị tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Phước Môn, có trên 6.000 quần chúng nhân dân biểu dương lực lượng và tổ chức dự lên đường tập kết Lực lượng bộ đội địa phương tỉnh Thừa Thiên tổ chức thành Trung đoàn 268 Ngày 26-8, Trung đoàn đã hành quân ra Bắc [34, tr 27, 28, 29] Ở khu V, ngày 16-5-
1955 các đơn vị vũ trang cuối cùng đã rời cảng Quy Nhơn Không kể hàng vạn cán
bộ dân chính, tổng số LLVT khu V tập kết ra miền Bắc là 43.609 người, bao gồm:
sư đoàn 305; các trung đoàn 90,93,803, trung đoàn 812 (của Cực Nam) và trung đoàn 120 (các dân tộc ít người ở Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng); tiểu
đoàn đặc công 323 và trung đoàn 673 quân tình nguyện Hạ Lào.[43, tr, 26]
Lực lượng ở miền Đông Nam Bộ đi tập kết được biên chế thành 5 trung đoàn
thuộc 5 tỉnh: Tỉnh Thủ Biển, 4 tiểu đoàn, Tỉnh Bà Chợ, 4 tiểu đoàn Tỉnh Gia Ninh,
3 tiểu đoàn Tỉnh Mỹ Tho, 4 tiểu đoàn Tỉnh Long Châu Sa, 2 tiểu đoàn Chủ lực Phân liên khu, 2 tiểu đoàn Tất cả hành quân tập kết và Xuyên Mộc (Bà Chợ) và
Cao Lãnh (Long Châu Sa), tổ chức học tập chính trị và lên tàu ra Bắc.[87, tr 211]
Trang 27Ngày 08-02-1955, chuyến tàu cuối cùng ở khu vực tập kết 200 ngày ở Cà
Mau dời bến ra Bắc
Như vậy, đến giữa năm 1955, công cuộc chuyển quân tập kết, sắp xếp lực lượng của ta ở miền Nam đã hoàn thành Mười hai vạn bộ đội, cán bộ các ngành ở miền Nam tập kết ra Bắc, đem theo 500 tấn súng đạn, 600 tấn máy móc, khí tài và
236 xe ô tô các loại.[34, tr 31]
Trong khi đó, cũng thực hiện hiệp định Giơnevơ Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam do Pháp lập nên cũng di chuyển về phía Nam vĩ tuyến 17 Bằng các thủ đoạn khác nhau đối phương đã đưa được 887.000 người vào Nam (trong đó 764.000 người là giáo dân) [133, tr 320] Đây là lực lượng quần chúng mà Mỹ - Diệm dự kiến sẽ làm chỗ dựa, là lực lượng nòng cốt cho âm mưu phá hoại hiệp định
Giơnevơ chia cắt lâu dài nước ta
Ngày 16-5-1955, Pháp và lực lượng Quốc gia Việt Nam hoàn tất di chuyển lực lượng về Nam vĩ tuyến 17 Mặc dù quân đội quốc gia Việt Nam là một đội quân
do Pháp lập nên và thiếu tinh thần chiến đấu, nhu nhược và khủng hoảng nghiêm trọng sau chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng với việc tập trung về Nam vĩ tuyến 17, sau đó được sự viện trợ của Mỹ, tổ chức huấn luyện theo giáo trình của Mỹ… cũng
chuyển biến theo hướng nhà nghề hơn
Như vậy, thực hiện nghiêm chỉnh hiệp định Giơnevơ phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã di chuyển ra Bắc vĩ tuyến 17 tới 120.000 bộ đội và cán bộ Cách mạng miền Nam từ chỗ có chính quyền, có vùng giải phóng, có LLVT 3 thứ quân hoạt động công khai mạnh mẽ chuyển sang tình trạng không chính quyền, không vùng giải phóng, không có các lực lượng vũ trang mà 9 năm kháng chiến dày công xây dựng Lại phải đối phó với kẻ thù mới nham hiểm hơn, tàn bạo hơn, mạnh hơn gấp nhiều lần so với thực dân Pháp Cách mạng miền Nam lại quay trở lại thời kỳ phát triển từ không đến có, quy luật lấy ít thắng nhiều, quy luật trường kỳ kháng chiến, vừa đánh vừa phát triển lực lượng… từ thuở mới kháng chiến 9 năm chống thực dân
Pháp được phát huy trong hoàn cảnh mới
Những đặc điểm đó có gắn chặt với quá trình xây dựng và hoạt động của
LLVTCMMN trong giai đoạn đầu của kháng chiến chống Mỹ cứu nước
2.1.2 Mỹ và Chính quyền Ngô Đình Diệm, đối tượng đấu tranh mới của cách mạng miền Nam
Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết buộc Pháp phải kết thúc cuộc chiến tranh, điều này khiến Mỹ lo sợ “Cộng sản sẽ kiểm soát toàn bộ Đông Nam Á sẽ làm cho vị trí của Mỹ ở các mắt xích gồm các đảo ngoài khơi Thái Bình Dương trở nên mong manh và sẽ phá hoại nghiêm trọng lợi ích an ninh cơ bản của
Mỹ ở viễn đông” [5, tr.237] Vì thế, Mỹ quyết định chọn Việt Nam làm nơi thí nghiệm chiến lược toàn cầu phản cách mạng nhằm đè bẹp cách mạng Việt Nam, ngăn chặn và đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương và Đông Nam Á Qua đó
Trang 28răn đe các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới; áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam; thiết lập căn cứ quân sự
ở Đông Nam Á
Trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết ngày 16-6-1954, Mỹ ép Pháp và Bảo Đại buộc thủ tướng Bửu Lộc từ chức và đưa Ngô Đình Diệm lên thay Ngày 7- 7-1954, một nội các mới với nhiều thành phần thân Mỹ thành lập do Ngô Đình
Diệm làm Thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng
Để xây dựng một chính quyền thực dân mới vững mạnh, Mỹ tìm mọi cách để tiêu diệt các thế lực thân Pháp nhằm xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của Pháp, xây dựng cơ cấu chính trị, quân sự trung thành với Mỹ Tháng 10 - 1955, Mỹ tổ chức
“Trưng cầu dân ý” nhằm phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống
chính quyền Sài Gòn, tuyên bố thành lập chính thể Việt Nam Cộng hoà
Một đối thủ khá lợi hại của Mỹ - Diệm trong những năm đầu tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam là lực lượng vũ trang của các giáo phái thân Pháp Lực lượng này bao gồm quân Bình Xuyên của Bảy Viễn, lực lượng vũ trang Hoà Hảo và Cao Đài có vũ trang Trong hơn một năm (từ tháng 4 - 1955 đến tháng 6 - 1956) Mỹ
- Diệm đã lần lượt thanh toán xong lực lượng quân sự để tiêu diệt nốt lực lượng các đảng phái tay chân của Pháp như Đại Việt, Quốc Dân Đảng nhằm loại bỏ tận gốc
ảnh hưởng của Pháp, trừ hậu họa sau này
Như vậy, tới cuối năm 1956, Mỹ đã hoàn toàn loại bỏ Pháp ra khỏi Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương Chính thức thực hiện mục đích biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của mình Để thực hiện mục đích đó
Mỹ gấp rút xây dựng chính quyền Sài Gòn và cải tổ Quân đội quốc gia Việt Nam
làm công cụ thực hiện chính sách xâm lược thực dân kiểu mới
2.1.3 Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1960
Tháng 3-1956, dưới sự bảo trợ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội Tháng 10-1956, Diệm ban hành hiến pháp của “nền
Đệ nhất cộng hoà” - một chính quyền với danh nghĩa “hợp hiến, hợp pháp” đã được xây dựng Chính quyền đó đã thi hành hàng loạt các biện pháp nhằm chống phá cách mạng, tiêu diệt phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam, phá hoại Hiệp định Giơnevơ
Về quân sự, Mỹ tăng cường cố vấn, chuyên viên quân sự sau đó lập ra
Bộ chỉ huy quân sự của Mỹ ở Sài Gòn Bên cạnh đó, Mỹ còn tổ chức lại hệ thống quân chủ lực gồm cấp sư đoàn khinh chiến và các trung đoàn quân độc lập địa phương Quân chính quy được trang bị vũ khí Mỹ, quân nhu Mỹ Hệ thống cố vấn
Mỹ đặt từ Bộ tổng tham mưu Sài Gòn, đến các sư đoàn, trung đoàn, các quân khu, các trường huấn luyện, đến các căn cứ quân sự, kho tàng quan trọng Các tiểu đoàn
Trang 29ở giới tuyến cũng có cố vấn Mỹ Quân đội Sài Gòn dần dần biến thành một thứ
quân đội Hoa Kỳ bản xứ [69, tr.295]
Năm 1957, Hoa Kỳ và CQSG bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm xây dựng
quân đội Phương pháp, mục tiêu của kế hoạch này là chú trọng chất lượng hơn số lượng, lấy lục quân làm chủ yếu, tổ chức tương đối chính quy và hiện đại, có thể tác chiến trên mọi địa hình Về quân số, địch vẫn duy trì ở mức trên dưới 150.000 người song về tổ chức bỏ hình thức sư đoàn dã chiến và khinh chiến, thống nhất tên gọi là sư đoàn bộ binh Từ 10 sư đoàn, CQSG chấn chỉnh còn bảy sư đoàn Các cơ quan chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, Bộ Tư lệnh Hải quân, các bộ tư lệnh quân đoàn lần lượt được tổ chức Không quân, hải quân cũng từng bước được kiện toàn [32, tr.30] Bên cạnh đó, để xây dựng đội quân trung thành, Mỹ - CQSG đã gửi
nhiều sĩ quan đi học ở trường quân sự ở các nước phương Tây, nhất là ở Mỹ
Về chính trị, để tạo chỗ dựa cho chính quyền, tháng 8-1954 Ngô Đình Diệm
thành lập Đảng Cần lao nhân vị do Ngô Đình Nhu, em ruột của Diệm cầm đầu
“Trong hầu hết các trường hợp, viên chức cao cấp nhất của chính quyền tại một địa phương hay một cơ quan nào đồng thời cũng là lãnh tụ địa phương của Đảng Cần
lao” [100, tr.315] Đảng Cần lao nhân vị được coi là nòng cốt của chế độ Diệm cả
về phương diện chính trị tinh thần cũng như thực lực lãnh đạo
Về mặt hành chính, Mỹ - Diệm xây dựng một bộ máy cai trị từ trung ương đến tận thôn, xã rất chặt chẽ, kìm kẹp có bóng dáng của những nhà tù trá hình
Khi chính quyền Mỹ - Diệm đã được xây dựng một cách hoàn bị từ Trung ương đến cơ sở Việt Nam Cộng Hòa bắt tay vào thực hiện “bình định” miền Nam Việt Nam, thực hiện ngay chính sách “tố cộng, diệt cộng”
Như vậy, trong vài năm đầu sau Hiệp định Giơnevơ, trong khi toàn Đảng, toàn dân cố gắng thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản được ký kết trong Hiệp định Giơnevơ thì Mỹ - Diệm lại ra sức phá hoại Hiệp định và triệt phá cách mạng “Trong thời gian khá dài, từ năm 1955 đến năm 1958 … địch thẳng tay khủng bố, tàn sát, gây tổn thất không kể xiết cho nhân dân miền Nam, đưa cách mạng vào tình thế rất hiểm nghèo” [7, tr 47, 48] Trước tình hình như vậy, yêu cầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng đối với cách mạng miền Nam ngày càng trở nên cấp thiết
2.1.4 Bối cảnh quốc tế
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cục diện chính trị quốc tế đã phân thành hai cực với hai siêu cường dẫn đầu cuộc chiến tranh lạnh Đặc điểm này chi phối toàn bộ nền bang giao thế giới cũng như tác động sâu sắc tới nền chính trị của từng quốc gia
Liên Xô đã sản xuất được bom nguyên tử (1949), tên lửa tầm xa (1957) và vượt qua Mỹ trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ: đưa vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik (1957) và con người đầu tiên (Yuri A Gagarin) lên quỹ đạo trái đất (1961) Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng có những bước phát triển và củng cố sức mạnh của một cường quốc, mà dư luận quốc tế coi là một tiền đồn của phe xã hội
Trang 30chủ nghĩa (XHCN) ở châu Á trong những năm 1950 của thế kỷ XX So sánh lực lượng giữa hai phe đã có sự thay đổi lớn Uy tín và ảnh hưởng của Liên Xô, của phe XHCN lên rất nhanh và có mặt lấn lướt phe tư bản chủ nghĩa (TBCN) trong những thập niên 50 và 60
Sự lớn mạnh của phe XHCN đã thu hẹp khoảng cách sức mạnh của hai phe, dần tiến tới trạng thái cân bằng, ổn định tạm thời trong quan hệ quốc tế Hình thái
đó là xu hướng chủ lưu, chi phối sự vận động trong quan hệ quốc tế, là đặc điểm của giai đoạn này
Với đặc điểm đó, hệ quả của nó dẫn đến một số quốc gia xảy ra tình trạng chia cắt đất nước với hai chế độ chính trị khác nhau Những động tác làm xoay chuyển cục diện, phá vỡ hình thái, màu sắc chính trị trong một quốc gia dân tộc nhằm mục đích thống nhất không còn đơn thuần tính chất giải phóng và thống nhất dân tộc nữa Cuộc đấu tranh đó còn ít nhiều chi phối bởi tính chất giai cấp, tính chất xung đột phe phái điển hình của chiến tranh lạnh
Hoàn cảnh quốc tế như vậy buộc đội tiên phong của cách mạng Việt Nam phải tính đến yếu tố thuận lợi: Đó là, những bước leo thang của Mỹ - Việt Nam Cộng Hòa nhằm mở rộng chiến tranh ra miền Bắc phải tính đến phản ứng của Liên
Xô và Trung Quốc Tất nhiên, đội tiên phong của cách mạng Việt Nam muốn giải phóng miền Nam thống nhất đất nước cũng phải dự tính đến phản ứng của đối phương mà cụ thể ở đây là Mỹ, để đưa ra nhưng chủ trương, hành động phù hợp, không để cho cách mạng Việt Nam trở thành đốm lửa nhỏ làm bùng cháy lò lửa chiến tranh thế giới như lo ngại của các bạn
Tính đến phản ứng của Mỹ, mức độ can dự của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam là một câu hỏi xuyên suốt, một bài toán xuyên suốt cần có lời giải trong suốt hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước Giải được bài toán đó chính là chìa khóa, đáp số để đội tiên phong đánh bại Mỹ - VNCH giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Cùng với sự lớn mạnh của phe XHCN, phong trào giải phóng dân tộc trong những năm 50 của thế kỷ XX được đánh giá là một trong 3 dòng thác cách mạng tiến công vào chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, làm suy yếu sức mạnh của nó
Phong trào giải phóng dân tộc từ các nước Trung Đông lan nhanh sang châu Phi và Mĩ Latinh, năm 60 của thế kỷ XX được gọi là “năm châu Phi” Chủ nghĩa đế quốc thực dân không thể ngăn cản nổi phong trào giải phóng của các dân tộc Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã nhanh chóng, góp phần tăng cường sức mạnh cho phong trào cách mạng thế giới
Phong trào công nhân đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ
ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh trở thành một mũi tiến công quan trọng đánh vào giai cấp tư sản phản động, vào chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Trang 31Ở bán đảo Đông Dương, sau hiệp định Giơnevơ chính phủ Vương quốc Campuchia - do hoàng thân Sihanouk đứng đầu - đi theo con đường trung lập, không tham gia liên minh quân sự hay chính trị nào Đường lối này đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, bởi cùng chung một mái nhà “Trường Sơn”, hai dân tộc, hai vị trí có mối liên hệ gắn bó với nhau, nương tựa nhau
Ở Lào, Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra hoạt động công khai năm 1955 và Mặt trận Lào yêu nước (thành lập ngày 6-1-1956) là lực lượng cách mạng và yêu nước Đây là một lực lượng chính trị lớn ở Lào, được nhân dân Lào ủng hộ, sức mạnh của cách mạng Lào có lợi cho cách mạng Việt Nam
Tuy nhiên, phong trào cộng sản và công nhân các nước cũng có những chuyển động bất lợi, nổi lên ở các điểm:
Tại Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 14 đến ngày 25 -2- 1956) chủ trương các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau có thể “chung sống hòa bình”, “thi đua hòa bình với nhau”, các nước tư bản chủ nghĩa có thể “hòa bình tiến lên chủ nghĩa xã hội” thông qua con đường đấu tranh nghị viện, không cần bạo lực cách mạng
Như vậy, khi nhân dân miền Nam buộc phải đứng lên tiến hành cuộc chiến đấu chính nghĩa của mình, thì đúng thời điểm đó, chủ nghĩa xét lại đang có ảnh hưởng rất lớn Với lý thuyết “chung sống hòa bình”, những nhà lãnh đạo Liên Xô lúc đó không tán thành Việt Nam sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ chính quyền Sài Gòn Họ lo ngại rằng sử dụng bạo lực chống Hoa Kỳ có thể dẫn đến xung đột khu vực và quốc tế Quan niệm này của bạn đã gây không ít khó khăn cho cách mạng Việt Nam trong khoảng 10 năm đầu nhân dân miền Nam tiến hành chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam (1954 - 1964)
Trong khi Đảng Cộng sản Liên Xô chưa chia sẻ với Việt Nam về con đường chống Mỹ, cứu nước, thì ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc góp ý với Việt Nam rằng hãy: “trường kỳ mai phục, súc tích lực lượng, chờ đợi thời cơ” Chưa nên tiến hành đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, chấp nhận tạm thời sự chia cắt làm hai miền bằng cách tập trung củng cố những thành quả mà cách mạng
đã giành được ở miền Bắc.[41, tr 29-33]
“Tình hình thực tế hiện nay là việc thống nhất Nam Bộ không phải là việc mấy năm mà là một việc trường kỳ Muốn thống nhất thì chỉ có hai phương pháp, một là đánh, hai là tổng tuyển cử Nhưng hiện nay đánh thì không có lợi mà tổng tuyển cử thì cũng khó thành… Vấn đề miền Nam phải trường kỳ là vì hiện nay không thể dùng phương pháp vũ trang được Từ Bắc Bộ đánh vào thì không có lợi,
mà Nam Bộ đứng dậy khởi nghĩa cũng không lợi Như vậy chỉ có một cách là hòa bình thống nhất.”.[145, tr 13]
Như vậy, dù có thể có ý đồ khác nhau khi góp ý với ta về con đường đấu tranh thống nhất nước nhà, nhưng tựu trung lại các nước lớn trong hệ thống XHCN
Trang 32lúc đó đều không muốn nhân dân Việt Nam sử dụng bạo lực để giải phóng miền Nam Bởi theo họ, thời cơ giải quyết vấn đề miền Nam chưa chín muồi, không nên manh động làm tổn thương đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Quan điểm như trên của các Đảng Cộng sản lãnh đạo hai quốc gia lớn nhất trong hệ thống XHCN lúc đó về giải pháp thống nhất đất nước cùng những đặc điểm nổi bật của cuộc chiến tranh lạnh đã tác động không nhỏ đến quá trình hoạch định đường lối chống Mỹ, cứu nước của Đảng Cộng sản Việt Nam Bởi nếu không
có sự ủng hộ to lớn của phong trào cách mạng thế giới, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trước hết của Liên Xô và Trung Quốc thì nhân dân Việt Nam rất khó khăn khi tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc
2.1.5 Miền Bắc Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngày 10-10-1954, đoàn quân chiến thắng tiến vào tiếp quản thủ đô Hà Nội Miền Bắc đã giải phóng, bắt tay ngay vào hoàn thành nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng DTDCND - cách mạng ruộng đất và hàn gắn vết thương chiến tranh
Năm 1957 sau khi thực hiện công cuộc cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, miền Bắc đã ổn định về xã hội và phục hồi về kinh tế Trong thời gian đó, diện mạo miền Bắc đã thay đổi: cơ chế của chế độ thực dân, phong kiến bị giải thể; cơ chế xã hội dân chủ được thiết lập đồng bộ trên phạm vi toàn miền Miền Bắc đã chuẩn bị xong những nhân tố để tiến hành cuộc cách mạng xã hội và xây dựng những tiền đề cần thiết cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét về thời kỳ này như sau: “Trải qua thời gian 3 năm, nhân dân ta ở miền Bắc đã ra sức khắc phục khó khăn, lao động sản xuất, thu được những thành tích to lớn trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hóa, giảm bớt khó khăn và dần dần cải thiện đời sống cho nhân dân ở cả miền đồng bằng và miền núi Cải cách ruộng đất căn bản đã hoàn thành, công việc sữa chữa sai lầm, phát huy thắng lợi trong nhiều địa phương đã làm xong và thu được kết quả tốt… An ninh trật tự mới được giữ vững,
quốc phòng được củng cố”.[104, tr 483]
Năm 1958 miền Bắc thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển một bước về kinh tế - văn hóa Kết quả của kế hoạch 3 năm (1958 - 1960) về cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến to lớn trên miền Bắc nước ta
Tháng 3 năm 1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II, mở rộng) họp Hội nghị lần thứ 12 chỉ rõ phương hướng xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong thời kỳ mới Quân đội ta đã bước vào xây dựng theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất (1955 - 1960) Nhiệm vụ và phương châm lúc này là: “Tích cực xây dựng Quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại”.[67, tr 201]
Từ năm 1957 trở đi, quân đội thường trực được phát triển nhanh Thanh niên đến tuổi đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ quân sự 3 năm tương đối đông, nên lực
Trang 33lượng quân đội thường trực có số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao, đặc biệt lực lượng dự bị rất nhiều Cơ cấu lực lượng vũ trang cách mạng với 3 thứ quân được cũng cố, phát triển rộng khắp mọi địa bàn
Các đơn vị trong toàn quân đã tiến hành chấn chỉnh tổ chức, thống nhất biên chế Các liên khu được tổ chức lại thành các quân khu Các đại đoàn bộ binh trong kháng chiến chống Pháp được củng cố, tăng cường và đổi mới trang bị, được xây dựng thành các sư đoàn tương đối hiện đại Các đơn vị tập kết từ miền Nam và từ chiến trường Lào, Campuchia được tổ chức thành một số sư đoàn mới Các binh chủng: Pháo binh, Phòng không đều phát triển Một số đơn vị mới (Hóa học, Thiết giáp, Ra đa) được thành lập Các chế độ, chính sách, quy định được ban hành Luật
Sĩ quan và việc phong quân hàm trong quân đội, Luật Nghĩa vụ quân sự được Quốc hội (khóa I) thông qua
Đến năm 1960, quân đội nhân dân đã hoàn thành các nhiệm vụ theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất; có bước trưởng thành mới, từ lực lượng chủ yếu là bộ binh với tổ chức chưa thật thống nhất, vũ khí, trang bị còn thiếu thốn đã trở thành quân đội chính quy, ngày càng hiện đại, gồm các lực lượng: Lục quân, Hải quân, Phòng không - Không quân Đây là bước phát triển rất quan trọng, tạo nền móng cho xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại, sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ mới
của cách mạng
Nhằm vận chuyển sức mạnh của hậu phương miền Bắc cho tiến tuyến lớn miền Nam Ngày 19 tháng 5 năm 1959, Đoàn 559 được thành lập với nhiệm vụ mở đường dọc dãy Trường Sơn bảo đảm cho lực lượng cách mạng, lương thực, súng đạn từ miền Bắc vào miền Nam chiến đấu Tiếp đó, Đoàn 759 cũng được thành lập với nhiệm vụ vận chuyển, tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam theo đường biển
Với vai trò quyết định trong việc đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ,
là trụ cột, là niềm tin, động lực đấu tranh thống nhất nước nhà Miền Bắc trong thời gian ngắn đã hoàn thành nốt nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng DTDCND, tiến hành hàn gắn vết thương chiến tranh 1954 -1957, cải tạo XHCN phát triển một bước
về kinh tế văn hóa 1958 -1960 Miền Bắc mạnh về mọi mặt, trong đó có quân đội nhân dân là chỗ dựa cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà
Như vậy trước, trong và sau khi ký hiệp định Giơnevơ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam đã bị đặt, chi phối, lôi cuốn vào dòng chảy của thời đại và hoàn cảnh quốc tế hết sức phức tạp trong giai đoạn này Việt Nam đã không có tổng tuyển cử thống nhất nước nhà như trong những điều khoản quy định của Hiệp định Hoa Kỳ đã hất cẳng Pháp thiết lập chế độ thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, xây dựng chính quyền, quân đội tay sai hùng mạnh, sẵn sàng lao vao cuộc khủng bố đàn áp điên cuồng nhân dân miền Nam
Có thể nói, bức tranh chung của cách mạng miền Nam trước ngày Đồng khởi
1959 -1960 là một mặt kẻ thù đang tiêu diệt đồng bào, đồng chí yêu nước ở miền
Trang 34Nam ngày một tàn khốc, mặt khác môi trường quốc tế ở thời điểm đó chưa thuận lợi cho các lực lượng cách mạng tiến hành đấu tranh cách mạng bằng con đường bạo lực
Đấy là những cơ sở, những tiền đề cho quyết sách của Đảng trong chỉ đạo cách mạng miền Nam Là những nhân tố quyết định tạo nên đường lối, giải pháp cho cách mạng miền Nam, tạo nên đặc điểm, tính chất, nội dung, hình thức, nhịp điệu quá trình xây dựng và đấu tranh của các LLVTCM ở miền Nam, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
2.2 Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1960
2.2.1 Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1956
2.2.1.1 Một số đặc điểm của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Pháp
LLVTCMMN là một bộ phận của Lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam,
có đầy đủ phẩm chất của anh “Bộ đội cụ Hồ” Dưới sự lãnh đạo của Đảng, LLVTCMMN phát triển nhanh chóng theo quy luật phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam ở miền Nam Đó là phát triển từ nhân dân, từ lực lượng chính trị hùng hậu, ban đầu khi mới nhóm họp thì vừa yếu, vừa thiếu thốn trang bị rồi dần dần phát triển mạnh cả về lượng về chất, từ nhỏ lẻ đến chính quy LLVTCM
ở miền Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân đùm bọc che chở Xây dựng và hoạt động của LLVTCMMN phải đồng đều, phối hợp chặt chẽ ba thứ quân, phát triển dựa vào ba thứ quân
Do điều kiện chiến trường miền Nam ở xa Trung ương, xa thủ đô kháng chiến Việt Bắc, là chiến trường sau lưng địch, là chiến trường tác chiến chủ yếu của chiến tranh du kích Miền Nam có nhiệm vụ phối hợp chiến trường chính Bắc Bộ phân tán lực lượng cơ động và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch mở rộng căn cứ địa, thích ứng với hoạt động quân sự nhỏ, linh hoạt, phù hợp với chiến trường sau lưng địch Vì vậy, việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích phải được đặc biệt coi trọng Xây dựng và hoạt động của LLVTCM cũng phải tính đến yếu tố này, thực tế để cùng với cả nước chuyển sang “giai đoạn tổng phản công” năm
1951, Nam Bộ thành lập các liên trung đoàn là nóng vội, không hiệu quả đã phải giải thể mà tái lập lại các tiểu đoàn và trung đoàn chủ lực
Chiến trường miền Nam đã chứng tỏ, qua 9 năm kháng chiến, lực lượng vũ trang ở đây có tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, vừa sản xuất và chiến đấu phù hợp với điều kiện, khả năng của cách mạng miền Nam, thích ứng với một chiến trường đánh
du kích trong hậu phương của địch Mặc dù quân viễn chinh Pháp đã huy động một lực lượng áp đảo, hiện đại hơn gấp nhiều lần cố gắng tiêu diệt nhưng không thể giành thắng lợi; Và ngược lại, chính lực lượng vũ trang lợi hại đó đã phát huy sở
Trang 35trường của mình, đã tiêu diệt tiêu hao được nhiều sinh lực địch, giữ vững vùng căn
cứ và mở ra một số vùng giải phóng, làm cho địch không thể nào bình định được
LLVTCMMN đã phối hợp nhịp nhàng và khá hiệu quả với chiến trường chính Bắc Bộ, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần làm nên những chiến thắng lừng lẫy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Đặc biệt, sự phối hợp rất hiệu quả trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký kết hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương Sau hiệp định Giơnevơ, các LLVTCMMN chuẩn bị bước vào thời kỳ mới với nhiệm vụ mới: Tập kết chuyển quân ra Bắc vĩ tuyến 17, thực hiện cách mạng XHCN ở miền Bắc và tiếp tục cuộc cách mạng DTDCND ở miền Nam
2.2.1.2 Chủ trương thi hành hiệp định Giơnevơ và đấu tranh thi hành hiệp định Giơnevơ
Ngày 5-9-1954, Bộ chính trị Trung ương Đảng họp nhằm cụ thể hóa nhiệm
vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn hiện tại là: “lãnh đạo nhân dân miền Nam thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ (tự
do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lại, v.v.), cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập…”.[64, tr 308]
Bộ chính trị vạch rõ sách lược của cách mạng ở miền Nam lúc này là tranh thủ tập hợp mọi người tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ vào Mặt trận dân tộc thống nhất, tập trung mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và tay sai Phương châm là: “khéo công tác, khéo che giấu lực lượng”, “kết hợp công tác hợp pháp và công tác không hợp pháp”, lợi dụng hình thức tổ chức và hoạt động hợp pháp để tập hợp và lãnh đạo quần chúng đấu tranh, chú trọng bảo tồn lực lượng của ta
Cụ thể hóa thực hiện Hiệp định Giơnevơ, liên khu ủy khu V họp hội nghị mở rộng (27 và 28-7-1954) đề ra ba công việc cấp bách phải làm ngay, trong đó:
Biên chế lại và tổ chức lực lượng vũ trang thành các sư đoàn, trung đoàn để
biểu dương chiến thắng và chuyển quân theo đúng kế hoạch.[43, tr 13]
Thực hiện hiệp định đình chiến, thời gian bàn giao địa bàn cho đối phương khác nhau Ở Trung Bộ: Quảng Ngãi, Bình Định là 300 ngày, các tỉnh khác bàn giao xong trước ngày 31-8-1954 Ở Nam Bộ: Hàm Tân và Xuyên Mộc là hai vùng tập kết 80 ngày Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười là 100 ngày Cà Mau là khu tập kết
200 ngày
Cách mạng miền Nam đã tập kết 120.000 bộ đội và cán bộ ra Bắc vĩ tuyến 17,
đã thực hiện nghiêm chỉnh hiệp định Giơnevơ Điều này đã khiến cho lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam “làm lại từ đầu” Tuy nhiên dựa trên những dự báo về âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, muốn chia cắt lâu dài đất nước ta, cách mạng đã để lại một lực lượng lớn, nòng cốt có kinh nghiệm, rút vào hoạt động bí mật phòng khi tình huống xấu xảy ra, và chôn giấu một số lượng lớn vũ khí cho LLVTCMMN sử dụng
Trang 36Tháng 10-1954, Hội nghị thành lập Xứ ủy Nam Bộ được tổ chức Quán triệt chủ trương của Đảng, Xứ ủy chuyển từ hình thức đấu tranh quân sự sang đấu tranh chính trị Hội nghị nhận định tình hình có hai khả năng, trong đó khả năng thứ hai Mỹ - Diệm không chịu thi hành hiệp định là xấu nhất, phải chuẩn bị cho khả năng đó Nam Bộ đã
để lại 60.000 đảng viên và rút vào hoạt động bí mật, các hoạt động chôn giấu vũ khí
được bí mật thực hiện chuẩn bị cho phương án xấu nhất.[84, tr 41, 42]
Tháng 3-1955, Thường vụ khu ủy Khu V đã họp, phân tích nhận định âm mưu của đối phương đã quyết định để lại 3.603 đồng chí và 170 giao liên Tổ chức gọn, nhẹ, phù hợp với tình hình mới.[34, tr 31] Cụ thể là: “Tỉnh Kon Tum có 120 cán bộ ở lại hoạt động bất hợp pháp, trong số này có 30 cán bộ quân đội, tỉnh Gia Lai có 131, trong đó có 59 là cán bộ quân đội, tỉnh Đắc Lắc - 110, Ninh Thuận -
2.2.1.3 Hình thành và các hình thức hoạt động vũ trang cách mạng của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam những năm từ 1954 đến năm 1956
a Hình thành và các hình thức hoạt động vũ trang cách mạng của lực lượng
vũ trang cách mạng ở Nam Bộ những năm từ 1954 đến năm 1956
Trong hoàn cảnh khó khăn, các hình thức linh hoạt chủ động sáng tạo LLVTCMMN ra đời để đáp ứng nhiệm vụ lịch sử đó Ra đời trong bối cảnh Đảng đang củng cố những luận chứng, nuôi dưỡng những ý chí, quyết tâm, vượt qua những thử thách, trở ngại của bối cảnh quốc tế phức tạp, độc lập, tự chủ hoạch định đường lối cách mạng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Do vậy, hoạt động của các LLVTCMMN trong những năm 1955- 1956 được kiềm chế trong khuôn khổ đấu tranh chính trị, hòa bình Mục tiêu của nó là phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị có hiệu quả Đặc biệt khi Mỹ - Diệm dẹp các lực lượng vũ trang giáo phái, cách mạng đã sử dụng hình thức LLVT giáo phái để không bị vượt qua khuôn khổ của hòa bình, không để kẻ thù lợi dụng vu cho phía cách mạng phá hoại hiệp định Giơnevơ
Khi nổ ra cuộc xung đột giữa giáo phái và chính quyền Mỹ - Diệm, một số hình thức đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang chống Diệm xuất hiện ở nhiều nơi Xứ ủy Nam Bộ chủ trương: “Về quân sự: Duy trì tình trạng mâu thuẫn càng lâu càng hay giữa bọn thống trị Diệm và các giáo phái để kịp thời nắm lực lượng vũ
Trang 37trang riêng”[149] Trong năm 1955, hầu hết các cơ quan lãnh đạo liên tỉnh ủy, khu, tỉnh, đều tự tổ chức các đơn vị bảo vệ nơi đóng quân Ở nông thôn, do nhu cầu chống bắt bớ cán bộ, cướp bóc tài sản của nhân dân, các đội tự vệ tuyên truyền
được thành lập tại các thôn xóm, với danh nghĩa các đội “dân canh chống cướp”
Trung bình mỗi xã ở Nam Bộ đều có số lượng người tương đương từ một, hai tiểu đội đến một, hai trung đội Lực lượng nòng cốt là những thanh niên yêu nước, một
số vốn là du kích, bộ đội trở về quê cũ làm ăn Họ cùng nhân dân tham gia đấu tranh
chính trị và khi cần thiết chống lại CQSG bằng vũ khí tự tạo
Tháng 8 - 1955, Nguyễn Hữu Xuyến và Phạm Ngọc Sến (Phó Bí thư Tỉnh ủy
Cà Mau) được Xứ ủy giao nhiệm vụ xây dựng các đơn vị vũ trang bí mật tại căn cứ
U Minh, Năm Căn Trong vòng 4 tháng (từ tháng 8 đến tháng 12 - 1955), cách mạng đã mở được ba lớp huấn luyện quân sự, tổ chức thành 6 trung đội, phân tán về các địa phương hoạt động theo phương châm: “Giữ bí mật, không xưng danh là giải
phóng quân, hoạt động từng tổ với danh nghĩa cán bộ binh vận”.[29, tr 92]
Khi Ngô Đình Diệm mở các chiến dịch tiêu diệt các lực lượng vũ trang giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên Trung ương Đảng chỉ thị cho Xứ ủy Nam Bộ giúp đỡ các giáo phái duy trì lực lượng vũ trang chống Diệm, đồng thời cài người của cách mạng vào hàng ngũ lực lượng vũ trang giáo phái, đưa họ đi vào con đường yêu nước chân chính Một số đơn vị có người của phía cách mạng cài vào đều chạy
về các căn cứ cách mạng Khi được giáo dục, thuyết phục, giác ngộ, tập hợp, bổ sung thêm cán bộ, du kích mật, lực lượng này được tổ chức thành các đơn vị vũ
trang cách mạng tập trung, mang danh nghĩa “lực lượng của giáo phái”
Tháng 6 - 1956, tại Vĩnh Long đã xây dựng một đại đội, nhưng lấy danh nghĩa giáo phái là Tiểu đoàn Lý Thường Kiệt, hoạt động ở Trà Ôn, Sa Đéc, Lấp Vò Sau khi thủ lĩnh Hòa Hảo là Lê Quang Vinh (Ba Cụt) bị Diệm tử hình, cách mạng tiếp tục cảm hóa, tập hợp được 400 người Hòa Hảo, ngày 8-7-1957, theo chỉ thị của Khu ủy, bộ đội giáo phái của Vĩnh Long phát triển thêm 3 tiểu đoàn mới mang tên Quang Trung, Phan Đình Phùng và Đinh Tiên Hoàng (thực binh mỗi tiểu đoàn không đủ một đại đội)…[61, tr 47-48]
Ở Rạch Giá, Hà Tiên, cách mạng tập hợp lực lượng Hòa Hảo ly khai, với nòng cốt là thanh niên và du kích, xây dựng thành các đơn vị giáo phái ly khai lấy tên là Tiểu đoàn Ngô Văn Sở, hoạt động ở khu vực từ U Minh lên tới nam sông Cái
Bé Tiểu đoàn Lê Quang (mang danh nghĩa một trung đoàn), hoạt động từ Hà Tiên đến bắc sông Cái Bé, vùng Bảy Núi và vùng giáp ranh với tỉnh Cần Thơ
Tại Cần Thơ, cách mạng tập hợp lực lượng giáo phái ly khai, do một số cán
bộ tỉnh làm nòng cốt, thành lập ba đại đội, lấy tên đại đội Lê Lợi, đại đội Nguyễn Trung Trực, đại đội Phan Đình Phùng, hoạt động chủ yếu ở các huyện Phụng Hiệp, Châu Thành, Long Mỹ
Trang 38Sau khi Mỹ - Diệm cơ bản thanh toán xong lực lượng vũ trang của giáo phái, một bộ phận lực lượng vũ trang giáo phái không chịu đầu hàng kéo về ẩn náu và hoạt động tại các vùng Tân An, Mộc Hóa, Vàm Cỏ Đông, Giồng Dinh, Giồng Lức, Bình Thành, Thủy Đông, dọc theo biên giới Campuchia
Nhằm tranh thủ tập hợp lực lượng giáo phái ly khai chống Diệm, chuyển hóa
họ ngả về với cách mạng Liên tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ một mặt liên lạc với các
bộ phận giáo phái, một mặt cho phép các tỉnh móc số vũ khí đã chôn giấu hồi năm
1954 lên, để thành lập lực lượng vũ trang cách mạng, mang danh nghĩa giáo phái, tiếp tục hoạt động hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, giữ thế cách mạng ở vùng Đồng Tháp Mười.[84, tr 116, 117]
Ở miền Đông Nam Bộ, lực lượng Bình Xuyên bại trận chạy về đóng quân rải rác từ Rừng Sác (Nhơn Trạch), núi Thị Vải… Liên tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ đã
cử một số cán bộ binh vận gặp bộ tham mưu Bình Xuyên để bàn việc liên hiệp với cách mạng chống chế độ Mỹ - Diệm Sau hai cuộc thảo luận, cách mạng đã thuyết phục được trung tá Võ Văn Môn (tức Bảy Môn) chỉ huy một tiểu đoàn tàn quân Bình Xuyên ly khai về nuôi dưỡng ở Bàu Lâm (Xuyên Mộc), rồi chuyển về chiến khu Đ xây dựng LLVTCM miền Đông Nam Bộ
Song song với việc thành lập các đơn vị tự vệ vũ trang tuyên truyền, vận
động tổ chức “lực lượng vũ trang giáo phái” Xứ ủy chủ trương xây dựng, mở rộng
các căn cứ địa cách mạng làm chỗ đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo và lực lượng
vũ trang Việc xây dựng cơ sở, giáo dục chính trị, đào tạo, huấn luyện cán bộ cũng được xúc tiến đi đôi với việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất để đảm bảo đời sống cho cán bộ, lực lượng vũ trang Các căn cứ trong kháng chiến chống Pháp như: Chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Đồng Tháp Mười, U Minh, Năm Căn… ở Nam Bộ đều được củng cố
Chủ trương xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang tuyên truyền và các căn cứ địa cách mạng đã hạn chế một phần sự khủng bố của kẻ thù, giữ gìn lực lượng cách mạng trong thời gian đầu và chuẩn bị điều kiện cho việc kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong những năm tiếp theo
Đến cuối năm 1955, tình hình miền Nam cho thấy Mỹ - Diệm xé bỏ Hiệp định Giơnevơ, chuẩn bị mọi điều kiện để tiến công tiêu diệt lực lượng và phong trào cách mạng miền Nam
Trước sự tráo trở và khủng bố tàn bạo của Mỹ - Diệm, từ 200 cán bộ, chiến sĩ để lại hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, lực lượng tự vệ vũ trang tuyên truyền Nam
Bộ đã phát triển thành 37 trung đội vũ trang tuyên truyền, nhưng chỉ hoạt động có mức
độ, do sợ trái với đường lối, chủ trương của Đảng tại thời điểm đó là đấu tranh chính trị
Đường lối cách mạng miền Nam lúc này vẫn là “Thực hiện thống nhất theo đường lối
hòa bình; trên cơ sở độc lập, dân chủ, tiến hành thống nhất từng bước”[65, tr 572, 573] Tính đến tháng 5 - 1956, riêng tại vùng căn cứ U Minh Hạ (Cà Mau), Liên tỉnh ủy miền
Trang 39Tây đã xây dựng được 14 “Đại đội” vũ trang (mỗi đại đội tương đương một trung đội); các tỉnh đều xây dựng được lực lượng tự vệ mật
Từ giữa năm 1956 trở đi, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên và miền Nam Trung Bộ bị tổn thất nặng nề Riêng Nam Bộ vẫn giữ được phong trào đấu tranh chính trị với các khẩu hiệu: Chống bầu cử gian lận, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống cướp đất, đòi giảm tô, đòi dân sinh, dân chủ… Đối phương phải thừa nhận:
“Sau chiến dịch Nguyễn Huệ, hầu hết lực lượng giáo phái tan rã, tình hình Tiền Giang, Hậu Giang tương đối yên tĩnh Nhưng Việt Cộng đã lại xúc tiến mạnh mẽ hoạt động tổ chức ra các đoàn thể vũ trang, cùng với tàn dư của các giáo phái hoạt động quấy rối, vũ trang áp sát ở cả miền Tây và miền Đông Nam Bộ”.[132]
b Hình thành và các hình thức hoạt động vũ trang cách mạng của liên khu V trong giai đoạn 1954 -1956
Tháng 10 - 1955, Liên tỉnh ủy 4 (gồm 3 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk) đề
ra phương châm đấu tranh: Triệt để lợi dụng thế hợp pháp để chống địch, đồng thời tận dụng phong tục tập quán để đấu tranh không hợp pháp Ngày 25 - 10 - 1955, hội nghị tỉnh ủy Quảng Ngãi chủ trương: xây dựng hạt nhân trung kiên, xây dựng và phát triển các tổ chức vũ trang; xây dựng căn cứ địa miền núi và vùng giáp ranh,
đưa thanh niên vào quân đội Sài Gòn để nắm một số đơn vị của chúng
Tuy mức độ có khác nhau, nhưng ngay từ đầu ở miền núi khu V đã biết kết hợp đấu tranh hợp pháp với đấu tranh không hợp pháp, lấy đấu tranh chính trị là chính, nhưng đã có tổ chức vũ trang tự vệ và xây dựng lực lượng vũ trang dưới
danh nghĩa các hội quần chúng để che mắt địch.[49, tr 15]
Chống lại sự đàn áp khủng bố của kẻ thù, một số nơi, nhân dân đã tự động đứng lên diệt thù, từng bước kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang tự vệ Càng ngày tình hình càng đòi hỏi không thể chỉ đơn thuần đấu tranh chính trị Tình thế bức bách, một số nơi ở miền núi, quần chúng nhân dân dưới sự chỉ đạo của các cấp
ủy đảng địa phương đã đi đúng định hướng đó Đây là một sáng tạo của các đảng bộ
và nhân dân ở địa bàn khu 5
Ở Bình Định, nổi bật là cuộc đấu tranh của nhân dân huyện Vĩnh Thạnh Tháng 8 - 1955, nhân dân làng Hóc Điều thuộc xã Vĩnh Bình (Vĩnh Thạnh) do Bốc Tới - người chủ làng đầy mưu trí, dũng cảm chỉ huy đã mang dáo, mác, cung tên đánh trả một trung đội Sài Gòn Sau đó làng Hóc Điều mang tên làng Bốc Tới và dời hết vào rừng sâu bất hợp tác với quân thù, mở đầu cho phong trào rào làng tự vệ khắp miền Tây tỉnh Bình Định.[19, tr 53]
Sau 2 năm đấu tranh kiên trì, sáng tạo (1954 - 1956) nhân dân khu V nói chung và đặc biệt là nhân dân miền Tây các tỉnh đồng bằng khu V đã bước đầu giành được những kết quả thắng lợi nhất định và quan trọng, mở ra chiều hướng đấu tranh mới trong toàn Khu Từ thực tiễn cọ xát với đối phương, lại được cán bộ, đảng viên cơ sở trực tiếp chỉ đạo hướng dẫn, nhân dân miền Tây khu V đã phát huy thế
Trang 40mạnh của phong tục tập quán truyền thống vừa đấu tranh chính trị, vừa tự vệ một cách hợp pháp bằng vũ khí thô sơ theo nếp cổ truyền của đồng bào dân tộc Do đó
đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị giành thắng lợi và tiêu diệt một số thám báo,
chỉ điểm, gián điệp, hạn chế sự lùng sục của kẻ thù
Hình thức tự vệ độc đáo mang tính tự phát của cán bộ và đồng bào miền Tây khu V, nhưng nó là bước đầu của sự kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang tự vệ
Nó vạch ra một chiều hướng đi mới của phong trào cách mạng ở khu V là phải tiến tới dùng cách mạng bạo lực mới có thể tiêu diệt được quân thù Đó cũng chính là con đường cách mạng miền Nam phải đi qua Vấn đề đáng lưu ý trong cuộc đấu tranh của nhân dân miền Tây khu V là dù dưới hình thức nào đấu tranh chính trị hay rào làng, cắm chông tự vệ, nhưng vẫn luôn giữ thế hợp pháp cho quần chúng Vì vậy, dù thất bại về âm mưu áp đặt hệ thống chính quyền ở đây, lực lượng lại bị hao mòn, nhưng Mỹ - Diệm vẫn không có lí do khủng bố Ngược lại kẻ thù dè dặt, lo sợ
khi đưa quân lên miền Tây đồng bằng khu V [97, tr 35]
Nhờ sớm kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang tự vệ, nên tuy bị đối phương đánh phá ác liệt có nơi bị tổn thất nặng, nhưng phong trào đấu tranh ở miền núi khu V căn bản vẫn giữ được và phát triển Một số nơi ở phía tây Đường 14 trong kháng chiến chống thực dân Pháp còn là vùng trắng (cách mạng và thực dân
đều chưa đến) nay đã là vùng cơ sở của cách mạng
Như vậy, sau hai năm đối phó với các thủ đoạn đàn áp tàng bạo của kẻ thù,
lực lượng vũ trang tuyên truyền đã tăng nhanh về số lượng, có ban chỉ huy, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của thường vụ, cấp ủy nhất là ở Nam Bộ Thực tế hoạt động vũ trang tự vệ đã hạn chế được sự lùng sục của kẻ thù, nhất là lực lượng mật thám, chỉ điểm và tác động hạn chế guồng máy gây chiến tranh của Mỹ - Diệm Quần chúng
dễ thở hơn, bắt đầu nhóm họp, sinh hoạt trở lại, đấu tranh với đối phương và bảo vệ hiệu quả cán bộ Cán bộ, đảng viên trong thế đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ do
đó ít bị tổn thất hơn
Cùng với sự hình thành lực lượng vũ trang tự vệ tuyên truyền, các căn cứ địa cách mạng từng bước được xây dựng lại, trở thành địa bàn đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo và lực lượng vũ trang Việc xây dựng cơ sở cách mạng, giáo dục chính trị, đào tạo huấn luyện cán bộ cũng được xúc tiến, đi liền với công tác đẩy mạnh tăng gia sản xuất để đảm bảo đời sống cho cán bộ và lực lượng vũ trang Phần lớn các căn cứ được khôi phục, củng cố và mở rộng là các căn cứ được xây dựng từ trong kháng chiến chống Pháp như Chiến khu Đ, Long Nguyên, Rừng Sác, Dương Minh Châu, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Năm Căn Ở cực Nam Trung Bộ có các căn cứ ở phía Tây các tỉnh Đồng bằng và Nam Tây Nguyên như: căn cứ Bác Ái (Ninh Thuận), Tánh Linh (Bình Thuận), Di Linh (Lâm Đồng)
Có thể nói hai năm đầu sau hiệp định Giơnevơ, tình thế cách mạng miền Nam vô cùng khó khăn khi đế quốc Mỹ nhanh chóng gạt Pháp ra khỏi miền Nam,