1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bàn về các giải pháp chống khủng hoảng tài chính 2008 của một số nước trên thế giới và đánh giá gói kích cầu của việt nam

19 547 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 59,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bàn về các giải pháp chống khủng hoảng tài chính 2008 của một số nước trên thế giới và đánh giá gói kích cầu của việt nam

Trang 1

GVHD: Thạc sỹ Trần Mạnh Kiên

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Bàn về các giải pháp chống khủng hoảng tài chính 2008

của một số nước trên thế giới

và đánh giá gói kích cầu của Việt Nam.

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Từ đầu thế kỷ XX đến nay, kinh tế thế giới đã xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế: cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, khủng hoảng nợ Mỹ-La tinh 1980, khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông Á 1997, và mới nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bủng nổ giữa tháng 9 năm 2008 Diễn biến, nguyên nhân và tác động của khủng hoảng này là việc do vay mua nhà dưới chuẩn có độ rủi

ro cao và nguyên nhân sâu xa là sự tích tụ trong nhiều năm các mâu thuẫn, mất cân đối nội tại của nền kinh tế Mỹ cùng với sự lỏng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Cuộc khủng hoảng bùng nổ và lan nhanh trên toàn cầu khiến các nền kinh tế lần lượt rơi vào suy thoái, khiến hàng loạt các vần đế yếu kém và tồn tại của nền kinh tế thế giới được bộc lộ ra ở phạm vi quốc gia và toàn cầu Nếu cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-1998 là khủng hoảng cơ cấu mang tính chất khu vực thì vào thời điểm thì cuộc khủng hoảng lần này đã mang một mức độ trầm trọng và sâu rộng hơn trong bối cảnh toàn cầu, và không chỉ ảnh hưởng trong phạm vi lĩnh vực tài chính ngân hàng mà đã lan sang các ngành sản xuất, dịch vụ và tác động trên quy mô toàn cầu Trầm trọng hơn thế, thế giới không chỉ đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính mà lần này còn phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng khác, đó khủng hoảng năng lưởng, khủng hoảng khí hậu và khủng hoảng lương thực Cuộc khủng hoảng đã và vẫn còn đang để lại nhưng hậu quả tất yếu của nó: kinh tế thế giới suy giảm, hệ thống tài chính- tiền tệ bất ổn, xuất hiện làn sóng phá sản hàng loạt, tỷ lệ thất nghiệm tăng cao,giá cả biến động mạnh, lạm phát gia tăng, an sinh xã hội bị ảnh hưởng, …và nghiêm trọng hơn hết đó chính là khủng hoảng niềm tin và tâm lý của xã hội

Vâng! Cuộc khủng hoảng tài chính đã bủng nổ và lan rộng, việc tìm ra nguyên nhân và hậu quả có lẽ là cần thiết nhưng sẽ không cấp thiết, tìm ra những điều đó vẫn không thể cứu vãn được nền kinh tế thế giới, không thể kéo nền kinh tế các nước ra khỏi suy thoái Điều cấp thiết và thiệt thực nhất mà các quốc gia các chính phủ phải làm đó chính là tìm ra phương hướng, biện pháp và các chính sách phủ hợp để chống và đầy lùi cuộc suy thoái Chỉ có thế thì nền kinh tế mới có thể trở mình và việc tìm ra nhưng nguyên nhân trên mới thực sự có ý nghĩa

Khủng hoảng lan rộng, Danh sách các quốc gia bị ảnh hưởng ngày càng nhiều, mặc dủ vậy, tác động của cuộc khủng hoảng đến mỗi nước đều khác nhau, như vậy Chính phủ các nước đã và đang làm gì để giảm nhẹ và rút ngắn những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng toàn cầu này?

Vì liều lượng có hạn nên trong phạm vi bài tiểu luận này, em không thể đi sâu hơn và trình bày đầy đủ hết các biện pháp, chính sách của tất cả các quốc gia, không thể đi sâu vào nguyên nhân và tác động của cuộc khủng hoảng, tất cả bài tiểu luận này là sẽ cố gắng trình bày một cách chính xác và đầy đủ nhất của một số quốc gia nổi bật trong chính sách và tìm hiểu sâu về chính sách của Việt Nam trong giai đoạn suy thoái này

Trang 3

1 GIẢI PHÁP CHỐNG KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU CỦA CÁC NƯỚC

Những gì mà Chính phủ các nước, từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển đều đã và đang cố gắng tìm mọi cách để cứu dậy nên kinh tế Những nỗ lực của Chính phủ các nước nhằm tăng sức mua thông qua việc bơm tiền vào nền kinh tế được biết đến dưới cái tên kích cầu

1.1 Hành động của chính phủ Mỹ

* Gói lần 1 (Tổng thống Geogre W.Bush 2008)

Cuối năm 2007, nền kinh tế Mỹ đã có những dấu hiệu của sự suy thoái và nhiều dự báo cho rằng năm 2008 sẽ là một năm thực sự đầy khó khăn và biến động với Mỹ Và thực tế điều đó đã xảy ra sớm hơn !

Đầu năm 2008, sự đi xuống của nền kinh tế dẵ buộc Chính phủ Mỹ phải đưa

ra gói kích vầu tổng hợp Ngày 13/02/2008 Tổng thống Mỹ Grogre W.Bush đã ký Đạo luật kích cầu kinh tế năm 2008 ( Economic Stimulus Act of 2008), đó là một gói kích cầu trị giá 168 tỷ USD chủ yếu dưới hình thức hoàn thuế thu nhập cá nhân

Gói kích cầu lần này gồm một số nội dung chủ yếu:

- Hoàn thuế cho các cá nhân nộp thuế ( khoảng 300 USD/người ở mức thu nhập thấp);

- Trợ cấp cho trẻ em dưới 17 tuổi (300 USD/ trẻ em);

- Ưu đãi về thuế đối với các doanh nghiệp;

- Ưu đãi cho phép khấu hao nhanh cho các doanh nghiệp;

- Hỗ trợ cho người gặp khó khăn trong cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn Trước tình hình khủng hoảng tài chính ngày càng trầm trọng đã ép chính quyền Bush phải thông qua Quốc Hội nhanh chóng thông qua gói giải cửu trị giá

700 tỷ USD vào ngày 03/10/2008 nhằm kích thích tiêu dùng người dân, qua đó vực dậy nên kinh tế

* Gói lần 2 (Tổng thống Barack Obama 2009)

Ngay tử khi chưa chính thức nhậm chức, Tổng thống đắc cử Obama đã đưa

ra gói kích cầu của mình để giúp Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng Ngày 17/2/2009, Barack Obama đã đặt bút ký Đạo luật phục hồi và tái đầu tư đất nước Mỹ năm 2009 ( American Recovery and Reinvestment Act of 2009), phê duyệt gói cứu trợ không

lồ, gói kích cầu lớn nhất lịch sử nước Mỹ trị giá 787 tỷ USD gồm những nội dung chủ yếu:

- Cắt giảm thuế (288 tỷ USD): trọng tâm là giảm thuế thu nhập 400 USD mỗi người và 800 USD cho mỗi cặp vợ chồng trong 2 năm 2009-2010

- Chăm sóc sức khỏe (147,7 tỷ USD): chương trình bảo hiểm cho nhửng người thu nhập thấp ở Mỹ, 19 tỷ cho việc số hóa y bạ bệnh nhân, hệ thống bệnh viện

- Giáo dục: Các trường học ở Mỹ và các trung tâm chăm sóc trẻ em được

hổ trợ 90,9 tỷ USD trong vòng 2 năm

- Cơ sở hạ tầng: sự dụng khoảng 51,2 tỷ USD

Trang 4

- Năng lượng và bảo vệ môi trường: đây là lĩnh vực được xem là thắng lợi lớn của Mỹ, đầu tư 70,7 tỷ USD nhằm tìm kiếm năng lượng mới và tiết kiệm năng lượng

- An sinh xã hội: chi hơn 80 tỷ USD nhằm tăng phúc lợi xã hội và tăng trường kinh tế, bào vệ những người khó khăn nhất trong xã hội Mỹ

- Số tiền còn lại được sử dụng trong các mục đích khác như thúc đẩy Nghiên cứu và phát triển (R&D) , quỹ chống khủng hoảng tái chính Đến thời điểm bây giờ (2011) vẫn chưa thể đảm bảo gói kích cầu này đã phát huy tác dụng như mong muốn hay không, nhưng các nàh nghiên cưu đã thấy được các tín hiệu lạc quan của nền kinh tế dù các rủi ro, bất trắc còn tồn tại

1.2 Nỗ lực của khối EU

Việc EU đẵ đưa ra gói kích cầu chung khá trễ so với các nước khác (vào ngày 26/11/2008) là bởi có sự bất đồng nội bộ giữa 27 nước thành viên, một số nước biết mình có nguy cơ bị suy thoái và muốn có những gói kích cầu riêng phủ hợp hơn (Anh, Ý, Pháp, Đức …), còn một số nước thì mong muốn có những kích cầu chung nhẹ hơn do kinh tế vẫn có thể tăng trưởng ( như Ba Lan, Slovakia, Romania, Bulgaria)

Gói kích cầu của EU trị giá 200 tỷ EUR chiếm gần 1,5% GDP khối EU gồm các giảm thuế và chi tiêu công Có thể thấy rõ sự suy thoái của EU nghiêm trọng hơn cả Mỹ bởi nên kinh tế EU dựa dẫm vào các ngân hàng quá nhiều, do đó gói cứu trợ cũng sẽ chủ yếu quốc hưu hóa các ngân hàng bị phá sản

Ngoài các biện pháp tổng thể, đối với một số nước có nguy cơ suy thoái nặng

đã đưa ra có gói cứu riêng cho mình:

- Quốc hội Đức thông qua hai gói kích cầu trị giá 32 tỷ EUR và 60 tỷ EUR

từ tháng 11/2008

- Cùng thời điểm, Chính Phủ Ý đưa ra gói 80 tỷ EUR

- Tháng 12/2008, Pháp cũng công bố gói 26 tỷ EUR chủ yếu tập trung cho

cơ sở hạ tầng

- Chính phủ Hà Lan đưa ra gói 6 tỷ EUR

- Gói kích thích kinh tế Anh trị giá 20 tỷ GBP

1.3 Giải pháp của Nhật Bản

Nền kinh tế thứ hai thế giới cũng là nền kinh tế lớn nhất châu Á đã sụt giảm 2,4% trong quý III/2008 – mức sụt giảm lớn nhất kể từ năm 2001 Nhằm khôi phục tình hình kinh tế và tài chính khó khăn, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra các biện pháp khẩn cấp và táo bạo nhằm hỗ trợ cuộc sống của người dân, cắt giảm thuế, hổ trợ doanh nghiệp… Tổng gói kích cầu của nhật lên tới 43000 tỷ JPY đã được thông qua vào ngày 19/12/2008, gồm các nội dung chủ yếu:

* Chính sách hỗ trợ tài chính:

- Hỗ trợ việc làm ( khoảng 1.100 tỷ JPY): cung cấp nàh và hỗ trợ tái chính cho người thất nghiệp; trợ cấp để thêu công nhân làm việc, mở rộng phạm

vi bào hiểm, trợ cấp cho chính quyền

- Tăng khoản thuế địa phương để tạo công ăn việc làm mới (1.000 tỷ JPY)

Trang 5

- Dành khoản ngân sách đặc biệt (1.000 tỷ JPY) để đối phó với tình hình kinh tế khó khăn

- Cải cách chính sách thuế (1.100 tỷ JPY): Giảm mạnh thuế cho vay, giảm đầu tư vào lĩnh vực năng lượng, giảm tạm thời thuế doang nghiệp

- Thực hiện biện pháp hỗ trợ dân sinh (6.000 tỷ JPY): trợ cấp cho các hộ gia đình ( hộ 4 người sẽ nhẫn được 600 USD/tháng)

* Chính sách tài chính ( 33.000 tỷ JPY)

- Tăng đầu tư vốn của Chính Phủ, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Dỡ bỏ mức trần bắt buộc đối với các khoản vay bào lãnh của Chính phủ

- Thực hiện mở rộng trách nhiệm quản lý rủi ro đối với các thể chế tài chính công

- Các biện pháp khôi phục nhu cầu nhà ỡ và thị trường bất động sản

- Giảm lãi suất cơ bản

Không chỉ dừng lại ở đó, Chính phủ Nhật Bản còn thông qua gói kích cầu 12.000 JPY mang tên “dự luật phát tiền cho từng người dân” có hiệu lực ngày 6/3/2009 có thể coi la nỗ lực “vượt bậc” của thủ tướng Taro Aso Giải pháp này đã gây tranh cãi, nhiểu người tin rằng dù số tiền là quá lớn nhưng cũng không đủ lớn

để tạo được một làn sóng tâm lý cần thiết để đưa tiêu dùng nước Nhật tăng lại

Trước nhiều sức ép, ngày 9/4/2009, Chình phủ Nhật Bản công bố gói kích thích kinh tế kỷ lục 15.400 tỷ JPY, tương đương 3% GDP Đến cuối tháng 4/2009, nền kinh tế “chạm đáy” của Nhật đã có dấu hiệu phục hồi, tốc độ phục hồi hiện nay

đã bằng 170% GDP, thuộc loại cao nhất thế giới

1.4 Trung Quốc với gói kích cầu khác biệt

Nền kinh tế lớn thứ ba thế giới củng không thể thoát được vòng xoáy của suy thoái kinh tế toàn cầu Ngày 9/11/2008, Chính phủ Trung Quốc cũng đã tung ra gói kích cầu trị giá 4000 tỷ CNY (tương đương 586 tỷ USD), tương đương 13% GDP

và được thực hiện trong vòng 2 năm với 3 mục tiêu cơ bản: duy trì tăng trưởng, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế và mở rộng nhu cầu nội địa song song với thúc đầy mở rộng thị trường xuất khẩu ra bên ngoài Nhưng biện pháp này được chia thành 10 nhóm giải pháp theo phương châm 16 chữ “ Ra tay phải nhanh, Ra đòn phải mạnh, Biện pháp chuẩn xác, Công tác phải thực”và đặt trọng tâm mạnh vào doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân, đầu tư mạnh vào nông thôn để tạo việc làm

10 nhóm giải pháp của Trung Quốc được Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện Trung Quốc đề ra rất đồng bộ, kịp thời và có mục tiêu rõ ràng Nội dung của gói kích cầu gồm 10 nhóm giải pháp sau:

- Nhanh chóng xây dựng những công trình an sinh an cư mang tính an sinh;

- Nhanh chóng xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn;

- Nhanh chòng xây dựng các dự án cơ sở hạ tấng lớn và quan trọng;

- Đẩy nhanh các dự án về y tế chữa bệnh, văn hóa và giáo dục;

- Tăng cường xây dựng môi trường sinh thái;

- Nhanh chóng điều chỉnh kết cấu kinh tế và tự chủ sáng tạo;

- Đầy nhanh công tác xậy dựng lại vùng bị thiên tai và động đất;

Trang 6

- Nâng cao thu nhập cho dân cư thành thị và nông thôn;

- Thực hiện cải cách toàn diện chế độ thuế giá trị gia tăng ở tất cả các ngành nghề, các vùng trong cả nước, khuyến khích các doanh nghiệp cải tạo kỹ thuật, giảm nhẹ gánh nặng cho các doanh nghiệp 120 tỷ CNY;

- Tăng mức hỗ trợ của tài chính đối với kinh tế, loại bỏ những hạn chế về quy mô vay nợ đối với các NHTM, mở rộng hợp lý quy mô vay vốn, tăng mức hỗ trợ vay vốn cho các công trình trọng điểm, các doanh nghiệp vừa

và nhỏ …

Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã xây dựng 24 tổ kiểm tra, giám sát chính sách cùng với hệ thống chống tham nhũng với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội Số liệu công bố cho thấy gói kích thích tài chính 586 tỷ USD của Trung Quốc thực sự và nhanh chóng thu được một số thành công nhất định, dấu hiệu chuyển biến tốt của nền kinh tế thứ ba thế giới

Giới chuyên môn cho rắng, một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc thành công đó chính là bám chắc 4 nguyên tắc: mở rộng nội nhu đảm bảo tặng trường; điều chỉnh kết cấu của nền kinh tế đi cùng với tự chủ sáng tạo; tiếp tục cải cách, bỏ bớt những trở ngại trong cơ chế; quan tâm đến đời sống dân sinh, thúc đẩy đảm bảo xã hội phát triển một cách hài hòa Khác với Mỹ và Nhật Bản, Trung Quốc chưa cần phải dùng tới các biện pháp đến tình trạng cho vay dưới chuẩn như ở Mỹ nên không phải chịu nhiều tác động tiêu cực trong lĩnh vực ngân hàng

1.5 Giải pháp của Hàn Quốc

Hàn Quốc, nền kinh tế lớn thứ 4 châu Á, lại một lần nữa gây ngạc nhiên cho các chuyên gia kinh tế bơi những thông tin cho biết nền kinh tế nước này về mặt kỹ thuật đã không bị rơi vào suy thoái và tiến trinh hồi phục kinh tế của Hàn Quốc tốt hơn nhiều so với dự đoán Theo dự đoán của IMF vào tháng 5/2009, Hàn Quốc sẽ là quốc gia thoát khỏi cuộc suy thoái kinh tế nhanh nhất trong 6 nền kinh tế phát triển nhất châu Á (NIEs)

Ngày 03/11/2008, Chính phủ Hàn Quốc công bố kế hoách kích thích kinh tế

có gói trị giá ít nhất 14.000 tỷ KRW( khoảng 11 tỷ USD) Ngày 24/3/2009 Hàn Quốc lại thông qua gói ngân sách bổ sung chưa từng có trong lịch sử trị gia tới 28.900 tỷ KRW ( khoảng 21 tỷ USD) nhằm ngăn chặn đà suy thoái, tạo việc làm mới và kích thích kinh tế, đây là gói bô sung cao nhất trong khu vực Theo Bộ kinh

tế Hàn Quốc, trong vòng 5 năm tới, họ sẽ đầu tư thêm 97.800 tỷ KRW (71,2 tỷ USD) vào 3 lĩnh vực công nghiệp then chốt là công nghệ xanh, công nghệ cao và ngành có giá trị gia tăng

2 GÓI KÍCH CẦU PHỤC HỒI KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC TÁC ĐỘNG CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

2.1 Bài học kinh nghiệm với Việt Nam

* Hợp tác quốc tế cùng hành động để vượt qua cuộc khủng hoảng: cuộc khủng hoảng xãy ra không chỉ riêng đối với quốc gia nào và cũng sẽ chẳng có quốc gia nào có thệ tự mình vượt qua tất cả tác động của cuộc suy thoái, bởi tác động của

Trang 7

nó là không biên giới, nó luôn lan rộng và kết dính mọi quốc gia bằng thứ keo “suy thoái chung” Những bài học từ việc bỏ qua những bất đồng để có thể cùng hợp tác phát triển giữa Nhật Bản và Trung Quốc, ASEAN cùng nhau quyết tâm vượt khủng hoảng, sự thành công của hội nghị G20 tổ chức tại Anh ( 2- 3/4/2009) và tại Mỹ (11/2008),… sẽ giúp Việt Nam hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc đoàn kết cùng nhau chống khủng hoảng và hiểu hơn về vị trí của mình trong quan hệ quốc tế

* Từ những thực tế trên thế giới, từ những gói kích cầu của các nước, nhìn chung chúng ta có thể chia các biện pháp kích cầu thành các nhóm:

- Nhóm biện pháp kích thích tiêu dùng đối với người dân: Đây là cách kích cầu thông qua tăng tiêu dùng hộ gia đình, chủ yếu hỗ trợ dưới việc trợ cấp trực tiếp cho người dân hoặc gián tiếp qua giảm hay miển thuế

- Nhóm biện pháp kích thích đầu tư đối với doanh nghiệp: Là nhóm biện pháp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, tạo thêm việc làm, thông thường nhóm này được thực hiện thông qua hình thức giảm, hoãn thuế cho doanh nghiệp và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

- Nhóm biện pháp kích thích thông qua đầu tư công: Đây được xác định là khâu chủ lực Phần lớn các nước kích cầu đầu tư công mạnh vào cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, y tế, giáo dục, an sinh xã hội (Trung Quốc), hoặc hỗ trợ chính quyền địa phương giảm thuế (Mỹ) hay cho phép chính quyền đi vay để đầu tư phát triển (Ấn Độ), trợ cấp xuất khẩu sang thị trường mới (Đài Loan)

* Những bài học rất tốt từ Trung Quốc trong việc tính toán, lên danh mục cụ thể, từng khoản rõ ràng, đảm bảo tiến độ, tập trung vào giải quyết việc làm; vấn đề nông thôn, nông dân; tái cơ cấu nền kinh tế, không tập trung nhiều vào các doanh nghiệp quốc doanh

* Thực hiện đúng các nguyên tắc kích cầu: Kích cầu phải kịp thời; kích cấu đúng đối tượng; kích cầu chỉ thực hiện trong ngắn hạn

2.2 Chính sách kích cầu của Việt Nam

Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đá và đang vực dậy nền kinh tế trước những tác động và hậu quả của sự suy thoái kinh tế Tháng 11/2008, thường trực Chính phủ đã họp và đưa ra 5 nhóm giải pháp:

- Thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu (vốn, thị trường, tỷ giá, thuế, cơ cấu …)

- Kích cầu đầu tư và tiêu dùng

- Thực hiện chính sách tài chính và tiền tệ

- Thực hiện các chính sách an sinh xã hội

- Nâng cao chất lượng dự báo trên từng lĩnh vực, tạo điều kiện cho đầu tư, kinh doanh phát triển

* Kích cầu ban đầu – 1 tỷ USD liệu có “đủ đô”?

Tại phiên họp 1/2009, Chính phủ đã quyết định sự dụng 17.000 tỷ đồng từ dự trữ ngoại hối để kích thích sản xuất thông qua việc giảm 4% lãi suất vay ngân hàng cho các doanh nghiệp Chương trình hỗ trợ lại suất này nhằm hỗ trợ doanh nghiệp

dễ dáng đầu tư, tiếp cận với các ngân hàng với chi phí hợp lý, tạo điều kiện cho các

Trang 8

tổ chực tín dụng mở rộng hoạt động huy động vốn và cung ứng vốn Quyết định trên gồm một số nội dung:

- Thời gian hỗ trợ tối đa là 8 tháng đối với các khoản tín dụng được ký kết

và giải ngân trong khoảng thời gian từ 1/2 đến 31/12/2009

- Mức hỗ trợ lãi suất cho khách hàng vay là 4%/năm Khi thu lãi vay, các NHTM giảm trừ số tiền lãi phải trả cho khách hàng vay

- Các ngành, lĩnh vực không thuộc đối tượng hỗ trợ lãi suất:

 Khai thác mỏ

 Hoạt động tài chính

 Quãn lý Nhà nước, an ninh quốc phòng

 Giáo dục đào tạo

 Y tế và hoạt động cứu trợ

 Hoạt động văn hóa, thể thao

 Kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn

 Hoạt động phục vụ cá nhân, công cộng

 Dịch vụ tại hộ gia đình

 Hoạt động các tổ chức quốc tế

 Nhập khấu hàng tiêu dùng

 Đầu tư, kinh doanh chứng khoán

 Kinh doanh bất động sản dưới mọi hình thức Trước gói kích cầu 1 tỷ USD trên, Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) cho rằng 1 tỳ là chưa đủ để co thể giải quyết tốt và triệt để trên mọi lĩnh vực Và họ cho rằng với 1 tỷ USD thì đầu tư vào cơ sở hạ tấng là tốt nhất bởi kích cầu vào cơ sở hạ tầng là kích cầu vào khâu then chốt, vì cơ sở hạ tầng của ta còn kém Hơn nữa, nó sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn Còn kích cầu vào tiêu dùng thì chỉ là giải quyết phần ngọn

* Nông nghiệp nông thôn: Điểm đến chính của gói kích cầu

Ngày 17/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hàng Quyết định số 497/QĐ-TTg vể việc hộ trợ lải suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở nông thôn Với đặc thù Việt Nam hiện có 70% là người dân sống ở nông thôn với kế sinh nhai chủ lực là nông nghiệp thì việc cải thiện thu nhập của người dân nông thôn là biện pháp hữu hiệu nhất để tăng sức mua

xã hội một cách rõ ràng

Tuy nhiên trên thực thì gói kích cầu nông nghiệp vẫn còn nhiều trở ngại, đặc biệt là về xuất khẩu Thứ trưởng Bộ NNPTNT Lương Lê Phương nhận định: “gói kích cầu ra đời đúng lúc với chủ trương đúng đắn, tuy nhiên sự hỗ trợ cụ thể đến tay

DN hiện còn hạn chế Nhiều chế tài chưa thật sự hấp dẫn DN, ví dụ mặc dù có trợ giá 4% lãi suất, song ngân hàng đòi hỏi DN buộc phải trả hết nợ cũ mới tiếp tục được vay khoản mới Hệ lụy là mạnh ai nấy "thủ" Bản thân từng ngân hàng chưa có

sự đồng bộ trong hoạt động cho vay vốn, mức hỗ trợ 4% hiện nay chưa thấy rõ nét Tôi đề nghị phía ngân hàng cần có điều chỉnh, nhằm tạo điều kiện cho DN tiếp cận nguồn vốn Tại thời điểm hiện nay, theo tôi cần đầu tư theo trọng điểm và dồn sức cho lĩnh vực đó, sau đó nhân rộng mô hình cho các lĩnh vực khác, sẽ hiệu quả hơn

là đầu tư, hỗ trợ tràn lan, thiếu trọng tâm như hiện nay.”

Trang 9

* Chính thức công bố gói kích cầu trị giá 8 tỷ USD

Đến ngày 12/05/2009 Bộ kế hoạch và Đầu tư đã chính thức công bố gói kích cầu trị giá 8 tỷ USD, được chia thành 8 phần có giá trị khác nhau, bào gốm những khoản sử dụng cho năm 2009 và một số khoản chi cho năm 2010

Nội dung gói kích cầu 8 tỷ USD của Việt Nam

Đơn vị: tỷ đồng

T

T

2 Tạm hoàn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước năm

2009

3.400

(3.1) Ứng trước ngân sách để thực hiện một số dự án cấp bách, có

khả năng hoàn thành trong năm 2009 và 2010 26.700 (3.2) Ứng vốn hỗ trợ thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo

nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo

1.500

4 Chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch 2008 sang 2009 30.200

(4.1) Vốn đầu tư thuộc Ngân sách Nhà nước 22.500

5 Phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ 2009 20.000

7 Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ 17.000

8 Các khoản chi kích cầu khác nhắm ngăn chặn suy giảm kinh tế,

đảm bảo anh sinh xã hội

7.200

(9 tỷ USD)

Nhìn chung, gói kích cầu được Chính phủ đưa ra được thực hiện tổng thể trên 3 nhóm biện pháp:

- Nhóm biện pháp kích thích tiêu dùng nội địa: trợ cấp cho người nghèo mức 200.000VND/người dịp Tết Nguyên Đán; giảm 50% VATcho một số mặt hàng; hổ trợ lao động mất việc làm; tăng lương tối thiểu từ 540.000 VND đến 650.000 VND; tăng lương hưu lên 5% …

- Nhóm biện pháp kích thích đầu tư doanh nghiệp: Hỗ trợ 4% cho các doanh nghiệp vay vốn mở rộng sản xuất; gia hạn nộp thuế thu nhập; hỗ trợ lãi suất

Trang 10

với các khoản vay ngắn và trung hạn cho vay vốn mua máy móc, thiệt bị, vật

tư ở nông thôn…

- Nhóm biện pháp kích thích thông qua đầu tư công: đầy mạnh đầu tư công Xét về lý thuyết, mục tiêu và chính sách ngăn chặn suy thoái của Việt Nam

là rõ ràng và đúng hướng Tuy vậy, liệu cac gói kích cầu đã thực sự “đúng”

và “trúng”

3 ĐÁNH GIÁ GÓI KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM

3.1 Hiệu quả tích cực của gói kích cầu

Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới tại Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (tháng 12/2009), khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong năm 2009, đặc biệt vào quý I năm 2009 Trong quý này, GDP chỉ tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2008 Tuy nhiên, những dấu hiệu phục hồi ủa nền kinh tế thể hiện rõ trong quý II Kết quả là GDP tăng 4,5% trong quý II và 5,8% trong quý III, nâng tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm

2009 lên 4,6% so với cùng kỳ năm 2008

Theo Báo cáo Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của Tổng cục Thống kê, Việt nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tốt hơn nhiều nước khác

Cụ thể: GDP tăng 5,3% trong năm 2009 trong đó quý IV đã đạt mức 6,9% Lạm phát đã giảm từ 19,9% năm 2008 xuống còn 6,5% năm 2009 Quý I/2010 nền kinh

tế Việt Nam vẫn tiếp tục đà phục hồi của những quý cuối năm 2009 với tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước đạt 5,83%, gấp gần 1,9 lần tốc độ tăng trong quý I/2009 GDP quý II tăng 6,2-6,4%, tạo nên mức tăng trưởng kinh tế 6 tháng đạt khoảng 6,1% so với cùng kỳ năm trước

Tóm lại, không thể phủ nhận rằng gói kích cầu thứ nhất đã có những tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam năm 2009, đã bắt đầu có những tín hiệu lạc quan, góp phần đưa Việt Nam sớm thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế

3.2 Tác động tiêu cực của gói kích cầu

Bên cạnh những dấu hiệu khả quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ Xuất khẩu năm 2009 giảm, thâm hụt thương mại lên đến 12 tỷ USD, giá trị đồng Việt Nam suy giảm mạnh Có thể thấy rằng trong thời gian qua chính sách kích cầu của Chính phủ chưa thật sự tác động mạnh đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp (đặc biệt là các DN vừa và nhỏ) bởi còn có một số hạn chế tiềm tàng đối với chính sách này Sau đây là 10 vấn đề của gói kích cầu thứ nhất:

Vấn đề thứ nhất, định hướng chính sách kích cầu là không rõ ràng và không

có sự phân định giữa các khái niệm kích cầu hay kích cung, kích cầu hay giải cứu,

… Tất cả các gói chính sách đều được gộp vào dưới cái tên “kích cầu” trong khi tác động thực tế của nó chưa chắc chắn đã nhằm làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế Như chính sách hỗ trợ lãi suất sẽ là kích cầu nếu doanh nghiệp vay vốn đó để đầu

tư Nhưng nếu DN đó vay vốn để đảo nợ thì sẽ không còn gọi là kích cầu được nữa, mặc dù nó vẫn có thể có tác dụng tích cực nào đó

Ngày đăng: 30/04/2016, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w