Việc đo vẽ chi tiết bản đồ đều dựa vào tất cả các điểm khống chế trắc địa có ở trong khu vực chính vì vậy việc thành lập lưới không chế đo vẽ là việc làmđầu tiên và quan trọng nhất trong
Trang 1CHƯƠNG I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quản lý đất đai là nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước vềđất đai nói riêng và ngành quản lý đất đai nói chung, được thực hiện đồng bộ từtrung ương cho tới địa phương Với đặc thù của việc quản lý đất đai thành lậpbản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính,… là việc làm không thể thiếutrong công việc quản lý này Đối với việc thành lập bản đồ địa chính, bản đồhiện trạng sử dụng đất và các loại bản đồ chuyên ngành khác việc nắm rõ quytrình thành lập, phương pháp thành lập bản đồ và các thành phần bản đồ là điềurất quan trọng mà mỗi sinh viên ngành quản lý đất đai sau khi ra trường phảinắm rõ được
Trong môn trắc địa đại cương của chuyên ngành quản lý đất đai có viết rất
rõ về quy trình, phương pháp đo vẽ bản đồ địa chính, bản đồ địa hình… Về cơbản quy trình đo vẽ một loại bản đồ gốm bốn bước cơ bản , bước thứ nhất là lậplưới khống chế đo vẽ, bước thứ hai đo vẽ chi tiết, bước thứ ba tính toán, bướcthứ tư vẽ bản đồ
Việc đo vẽ chi tiết bản đồ đều dựa vào tất cả các điểm khống chế trắc địa
có ở trong khu vực chính vì vậy việc thành lập lưới không chế đo vẽ là việc làmđầu tiên và quan trọng nhất trong việc đo vẽ bản đồ trong ngành quản lý đất đainói riêng và các ngành khác nói chung Thành lập lưới khống chế sẽ tránh sai sốtích lũy và nâng cao độ chính xác trong suốt quá trình đo vẽ bản đồ
Chính vì sự quan trọng của lưới không chế trắc địa trong việc đo vẽ cácloại bản đồ, sau khi học xong môn học trắc địa đại cương chúng em quyết định
chọn đề tài là |” Thành lập lưới không chế mặt bằng đo vẽ khu vực nhà A0 trường Đại học Vinh dạng lưới tam giác nhỏ” để làm đề tài cho bài tập lớn
kết thúc học phần môn trắc địa Trong quá trình làm bài chúng em đã nhận được
sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Ths Nguyễn Văn Hóa cùng các bạn để
hoàn thành tốt bài tập lớn Tuy nhiên do còn hạn chế về kiến thức và kinhnghiệm nên trong đề tài vẫn còn gặp nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sựgiúp đỡ và bổ sung ý kiến từ các thầy cô!
Vinh, tháng 12 năm 2014
Sinh viên
Trang 23 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi bài tập này chúng em chỉ nghiên cứu “Lưới khống chế trắcđịa đo vẽ dạng lưới tam giác nhỏ” là một trong những dạng cơ bản của lướikhống chế mặt bằng đo vẽ
+ Diện tích khu vực này phù hợp với quy mô lưới khống chế mặt bằng đo
vẽ chúng em thiết kế Do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nên chúng em chỉlựa chọn thiết kế lưới khống chế đơn giản với mục đích chủ yếu là sau khi kếtthúc học phần môn trắc địa có thể nắm được những kiến thức cơ bản để thiết kế
và tính toán bình sai một lưới khống chế trắc địa
+ Mặt khác, đây là lần đầu tiên tiếp xúc với công việc đo vẽ ngoại nghiệp,còn thiếu nhiều kinh nghiệm thì việc lựa chọn một khu vực gần gũi, thuận tiện,khi có vấn đề thắc mắc sẽ dễ dàng nhận được sự giúp đỡ của thầy giáo cũng như
Trang 3các anh chị đi trước để tránh sự bỡ ngỡ để kết việc đo đạc diễn ra nhanh chóng,chính xác, hiệu quả hơn.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Thành lập lưới khống chế mặt bằng đo vẽ
dạng lưới tam giác nhỏ sử dụng hệ tọa độ giả định
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thực địaPhương pháp này được sử dụng trong quá trình lựa chọn khu vực tiếnhành đo lưới khống chế Sau quá trình tìm hiểu nhận thấy khu vực nhà A0trường Đại học Vinh là địa điểm rất phù hợp vì vậy chúng em đã lự chọn khuvực này để nghiên cứu
- Phương pháp xử lý và tính toán số liệu
Trong bài tập này chúng em tính toán và xử lý số liệu theo phương phápbình sai lưới tam giác nhỏ dạng chuỗi tam giác, sử dụng phần mềm Excel hỗ trợtrong tính toán
6 Cấu trúc bài tập lớn
Trong đề tài chúng em đặt ra và khảo sát, nghiên cứu các nội dung sau:
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHƯƠNG III TÍNH TOÁN, THỰC NGHIỆM CHƯƠNG IV KẾT LUẬN
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. Tổng quan về lưới khống chế trắc địa
Một số đặc điểm của lưới khống chế trắc địa
Trang 4Lưới khống chế trắc địa là tập hợp những điểm cố định ở ngoài thực địa
có tọa độ (x,y,H) được xác định chính xác để làm cơ sở đo vẽ bản đồ, bố trícông trình,…
Hệ thống các điểm cơ sở trắc địa hay mạng lưới khống chế trắc địa là hệthống các điểm được lựa chọn và đánh dấu mốc vững chắc trên mặt đất, chúngliên kết với nhau tạo thành các mạng lưới Tiến hành đo đạc các yếu tố cần thiết,
xử lý số liệu và tính ra tọa độ, độ cao của các điểm theo một hệ thống tọa độthống nhất
Mạng lưới không chế trắc địa được xây dựng theo nguyên tắc từ toàn diệnđến cục bộ, từ độ chính xác cao đến đố chính xác thấp Trước hết người ta xâydựng mạng lưới điểm khống chế có mật độ thưa và độ chính xác cao phủ trùmtoàn bộ lãnh thổ cần nghiên cứu Sau đó chêm dày bằng các lưới khống chế cómật độ điểm cao hơn và độ chính xác thấp hơn Lưới cấp thấp nhất có mật độ và
độ chính xác đáp ứng yêu cầu của công tác trắc địa chi tiết như đo vẽ các loạibản đồ
Lưới trắc địa Việt Nam theo Quyết định số 83/2000/QĐ -TT ngày12/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ thì từ tháng 8 năm 2000 nước ta sẽ sử dụng
hệ quy chiếu và hệ tọa độ VN-2000
I.2. Phân loại
I.2.1. Phân loại lưới khống chế trắc địa theo quy mô và độ chính xác
Có thể chia lưới khống chế trắc địa thành ba loại:
- Lưới khống chế trắc địa nhà nước
- Lưới khống chế trắc địa khu vực
- Lưới không chế đo vẽ
I.2.2. Phân loại lưới khống chế trắc địa theo phương pháp xây dựng lưới
Các phương pháp trắc đại cơ bản đã và đang được sử dụng trong thực tếlà:
- Phương pháp đo tam giác: Lưới tam giác, lưới tam giác đo góc, lưới tamgiác đo cạnh
- Phương pháp đo đường chuyền
Trang 5- Trắc địa vệ tinh
I.2.3. Phân loại lưới khống chế trắc địa theo bản chất
Có thể chia làm hai loại là :
- Lưới khống chế mặt bằng(nếu các điểm chỉ có tọa độ x,y)
- Lưới khống chế độ cao(nếu các điểm chỉ có độ cao H)
II Lưới khống chế mặt bằng
Lưới khống chế mặt bằng được lập trên khu vực xây dựng công trìnhcông nghiệp, thành phố, khu vực xây dựng cầu cảng, đường hầm…là cơ sở trắcđịa phục vụ cho khảo sát thiết kế, thi công xây dựng và cho khai thác sử dụngcông trình
Lưới khống chế mặt bằng được xây dựng nhằm mục đích tạo cơ sở thốngnhất, chính xác về mặt tọa độ cho các điểm khống chế phục vụ đo vẽ bản đồ địachính Lưới khống chế mặt bằng được tính toán trong hệ tọa độ nhà nước dùngcác điểm hạng cao nhà nước làm điểm khởi tính
Tùy theo quy mô và độ chính xác giảm dần, lưới khống chế mặt bằngđược chia ra làm:
- Lưới tọa độ quốc gia GPS cấp “0”
- Lưới nhà nước: Hạng I, Hạng II, Hạng III, Hạng IV
- Lưới khu vực: giải tích I, giải tích II
- Lưới đo vẽ: đường chuyền kinh vĩ, lưới tam giác nhỏ
Có 2 phương pháp chính để xây dựng lưới khống chế mặt bằng là : tamgiác và đường chuyền
II.3.1 Phương pháp lưới tam giác
a, Lưới tam giác đo góc
Hình 01
Trang 6Tiến hành đo các góc trong mạng lưới tam giác và từ tọa độ điểm gốc đochiều dài cạnh gốc, góc phương vị gốc ta tính ra được tọa độ các điểm trongmạng lưới.
- Ưu điểm: Lưới có kết cấu đồ hình chặt chẽ khống chế toàn bộ khu đo,trong lưới có nhiều trị đo thừa nên có nhiều điều kiện để kiểm tra kết quả đo
- Nhược điểm: Công tác chọn điểm rất khó khăn vì các điểm được chọnđòi hỏi phải thông hướng nhiều nên việc bố trí mạng lưới khó khăn ở nơi có địahình phức tạp
b, Lưới tam giác đo cạnh
Hình 02
Trong lưới tam giác đo cạnh, tất cả các cạnh của tam giác được đo Lướitam giác đo cạnh thường có ít trị đo thừa hơn lưới tam giác đo góc, độ chính xáctính chuyền phương vị trong lưới tam giác đo cạnh kém hơn so với lưới tam giác
đo góc vì các góc trong lưới được xác định gián tiếp qua các cạnh đo,do vậy lướitam giác đo cạnh có độ tin cậy không cao Trong điều kiện kỹ thuật như nhau thìlưới tam giác đo góc vẫn có tính ưu việt hơn lưới tam giác đo cạnh
- Ưu điểm: Độ chính xác các yếu tố trong lưới tam giác đo cạnh ít phụthuộc vào đồ hình hơn lưới tam giác đo góc Với sự phát triển của các máy đo xađiện tử thì phương pháp xây dựng lưới mặt bằng theo phương pháp lưới tamgiác đo cạnh sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Trang 7- Nhược điểm: Lưới có ít trị đo thừa nên không có điều kiện để kiểm trachất lượng trong lưới Để có trị đo thừa và nâng cao độ chính xác của lưới tamgiác đo cạnh người ta thường chọn lưới có đồ hình bao gồm các đa giác trungtâm hay tứ giác trắc địa hoặc lưới tam giác dày đặc với đồ hình phức tạp Nhưvậy thì sự thông hướng gặp rất nhiều khó khăn.
c Lưới tam giác đo góc cạnh
Trong phương pháp này cần đo tất cả các góc và tất cả các cạnh hoặc đotất cả các góc và một số cạnh nào đố trong lưới
- Ưu điểm: Phương pháp đo góc cạnh kết hợp có kết cấu đồ hình chặt chẽ,
có nhiều trị đo thừa do vậy lưới cho độ chính xác cao hơn các phương pháp đãxét trên
- Nhược điểm: Công tác bố trí lưới gặp nhiều khó khăn do phải thonghướng nhiều, cùng một lúc phải xác định cả hai đại lượng là trị đo góc và trị đocạnh nên công tác ngoại nghiệp cũng như tính toán bình sai gặp nhiều khó khăn,phức tạp, thời giant hi công bị kéo dài, kinh phí tốn kém
II.3.2 Phương pháp lưới đường chuyền.
a Khái quát về đường chuyền kinh vĩ
Đường chuyền kinh vĩ thuộc lưới khống chế đo vẽ, nó được phát triển từlưới trên hoặc được xây dựng độc lập Là tập hợp các điểm được liên kết vớinhau bởi các đoạn thẳng kẹp giữa là các góc phẳng tạo thành đường gẫy khúchoặc duỗi thẳng
Yêu cầu kỹ thuật:
- Các góc phẳng đo bằng máy kinh vĩ với sai số trung phương đo góc
mβ = ± 30’’, các cạnh đo bằng thước thép hoặc các máy đo xa quang điệnvới sai số trung phương tương đối 1/T = 1/2000
- Chiều dài cạnh đường chuyền kinh vĩ được quy định như sau:
Bảng 01
Trang 8Chiều dài cạnh đường chuyền kinh vĩ từ 20m đến 350m.
Trong trường hợp đặc biệt, đươc phép bố trí đường chuyền kinh vĩ treovới tổng chiều dài không quá so với quy định nêu trong bảng sau Số cạnhđường chuyền kinh vĩ treo không được nhiều hơn 4 ở vùng đã xây dựng vàkhông được nhiều hơn 3 ở vùng chưa xây dựng
Phạm vi ứng dụng: đường chuyền kinh vĩ là một dạng của lưới khống chế
đo vẽ, được áp dụng phổ biến ở những nơi rậm rạp, tầm nhìn khó khăn, được đặttheo hướng của các công trình dạng thẳng phục vụ trực tiếp cho đo vẽ bản đồ
Đường chuyền kinh vĩ có các dạng: đường đơn, khép kín, hệ thống có mộthoặc nhiều điểm nút
a, Đường chuyền kinh vĩ khép kín b, Đường chuyền kinh vĩ phù hợp
Hình 03 Một số dạng cơ bản của đường chuyền kinh vĩ
b Phương pháp lưới đường chuyền có các ưu điểm và nhược điểm sau:
Trang 9- Ưu điểm: Khi đo các thành phố, thị xã, làng mạc, vùng đông dân cư,vùng đồi núi có địa hình, địa vật phức tạp, tầm thông hướng kém thì việc xâydựng cơ sở khống chế mặt bằng dưới dạng lưới đường chuyền là phương án hợp
lý nhất Hiện nay, với sự phát triển của máy đo dài điện tử cho phép ta xác địnhchiều dài một cách thuận tiện và nhah chóng với độ chính xác cao, nên phươngpháp này đang được ứng dụng rộng rãi trong thực tế sản xuất
- Nhược điểm: Lưới có ít trị đo thừa nên ít có điều kiện kiểm tra ngoàithực địa, kết cấu đồ hình yếu hơn lưới tam giác
Bảng 03 Chỉ tiêu, yêu cầu kỹ thuật của lưới khống chế mặt bằng
1 Chiều dài cạnh tam
400
(7-20)km1/300000
300
(5-10)km1/200000
300
(2-6)km1/200000
300
III Lưới khống chế mặt bằng đo vẽ
Lưới khống chế đo vẽ là cấp lưới khống chế cuối cùng về tọa độ và độcao phục vụ trực tiếp cho việc đo vẽ bản đồ địa hình Lưới khống chế đo vẽ làdạng lưới chêm dày dựa vào các điểm khống chế tọa độ và độ cao nhà nước vàkhu vực đã có trên khu đo
3.2 Phương pháp thành lập
Lưới khống chế mặt bằng đo vẽ được thành lập theo các phương phápnhư: lưới tam giác nhỏ, đường chuyền kinh vĩ, đường chuyền toàn đạc hoặc giaohội góc, giao hội cạnh,… Việc lựa chọn phương pháp thành lập lưới khống chế
đo vẽ sẽ được dựa trên đặc điểm địa hình, địa vật của khu đo, tỷ lệ bản đồ địahình cần đo vẽ và phương pháp đo vẽ thành lập bản đồ địa hình
3.3 Yêu cầu chỉ tiêu kỹ thuật
Trang 10Độ chính xác của lưới khống chế mặt bằng đo vẽ phụ thuộc chủ yếu vào
tỷ lệ bản đồ địa hình cần đo vẽ Người ta xây dựng lưới khống chế mặt bằng đo
vẽ sao cho sai số tọa độ của điểm khống chế ảnh hưởng không đáng kể đến độchính xác bản đồ
IV. Khảo sát phương pháp bình sai lưới tam giác nhỏ
4.1 Khái niệm chung về lưới tam giác nhỏ
4.1.1 Định nghĩa, phân loại
Lưới tam giác nhỏ là tập hợp các điểm được cố định chắc chắn ngoài thựcđịa, giữa chúng lên kết với nhau bởi các hình tam giác và các điều kiện toán họcchặt chẽ Được xác định chung trong hệ thống toạ độ thống nhất, làm cơ sở phân
bố chính xác các yếu tố nội dung bản đồ và hạn chế sai số tích luỹ
Lưới tam giác nhỏ thuộc lưới khống chế mặt bằng đo vẽ Lưới tam giácnhỏ được bố trí để tăng dày mạng lưới khống chế khu vực thay đường chuyềnkinh vĩ( phụ thuộc vào điều kiện địa hình)
Lưới tam giác có các dạng: tứ giác trắc địa, đa giác trung tâm, chuỗi tamgiác, mạng tam giác
Hình 04 Một số dạng đồ hình của lưới tam giác nhỏ
a, Đa giác trung tâm b, Chuỗi tam giác c, Tứ giác trắc địa
4.1.2 Yêu cầu kỹ thuật
Khởi tính của tam giác nhỏ là những điểm từ đường chuyền và giải tíchcấp II trở lên Không được bố trí lưới treo
Trường hợp không lợi dụng được cạnh cấp cao thì phải đo cạnh đáy vớisai số trùng phương tương đối không lớn hơn 1:5000
Bảng 04 Yêu cầu kỹ thuật của lưới tam giác nhỏ
Trang 11- Tổng chiều dài chuỗi tam giác không được dài hơn chiều dài đường chuyềnkinh vĩ
- Góc trong của tam giác không được nhỏ hơn 300 và không được lớn hơn 1400
- Cạnh của tam giác không được ngắn hơn 150 m, trung bình từ 300 đến 500 m
- Số tam giác nằm giữa hai cạnh góc không lớn quá một giới hạn nhất định tùythuộc vào tỷ lệ bản đồ địa hình cần đo vẽ,tỷ lệ đo vẽ càng lớn thì số tam giáccàng ít
- Các điểm tam giác lân cận nhau phải đảm bảo ngắm thông nhau Trường hợptầm ngắm bị che khuất thì phải dựng tiêu cao để đảm bảo đo góc
- Điểm tam giác đặt ở nơi cao, nền đất vững chắc
4.1.3 Các phương pháp xác định điểm khống chế.
a, Phương pháp giao hội góc thuận
Khi xác định điểm khống chế bằng phương pháp giao hội thuận phải tiếnhành từ 3 điểm của lưới cấp cao hơn Góc giao hội tại điểm xác định khôngđược nhỏ hơn 300 và lớn hơn 1500.
Gỉa sử ta có 2 điểm A và B đã biết tọa độ, để xác định điểm P bằng phươngpháp giao hội góc thuận, ta đặt máy ở A và B tiến hành đo góc α,β
Tọa độ điểm P được xác định như sau:
Các yếu tố đặc trưng Quy định kỹ thuật
1 : 500
4 Sai số khép tam giác giới hạn
5 Sai số trùng phương đo góc
6 Sai số tương đối cạnh khởi đầu
7.Sai số tương đối cạnh yếu nhất
150m
300
20171510
90”
30”
1:50001:2000
Trang 12Hình 05 Phương pháp giao hội góc thuận
b, Phương pháp giao hội ngược
Khi xác định bằng phương pháp giao hội ngược phải tiến hành từ 4 điểmcủa lưới cấp cao hơn với điều kiện điểm xác định không nằm gần đường tròn điqua 3 điểm khởi tính
Biết tọa độ A,B,C và vị trí của chúng ngoài thực địa Đặt máy kinh vĩ tạiđiểm cần xác định P, tiến hành đo hai góc p1 và p2 có thể tính được tọa độ điểmP
Hình 06 Phương pháp giao hội ngược
c, Phương pháp giao hội góc thuận nghịch
Khi xác định bằng phương pháp này thì số điểm khởi tính không được íthơn 3
4.2 Bài toán bình sai lưới tam giác nhỏ
4.2.1 Điều kiện trong lưới tam giác nhỏ.
1 Điều kiện hình: tổng các góc trong mỗi tam giác phải bằng 1800
Trang 132.Điều kiện góc tổng: tổng các góc nhỏ mới phải bằng giá trị của góc kẹp giữa hai hướng góc ngoài cùng
3 Điều kiện góc đầy: tổng các góc có chung một đỉnh phải bằng 3600
4 Điều kiện cạnh sườn
5 Điều kiện đa giác trung tâm
6 Điều kiện cạnh đáy
7 Điều kiện góc định hướng
8 Điều kiện tọa độ
Các điều kiện trên sẽ được nói rõ hơn trong các bước tính toán bình saidưới đây
4.2.2 Các bước tính toán bình sai.
Có chuỗi tam giác đơn, biết tọa độ 2 điểm A,B đo góc Ai,Bi,Ci, Nếu chọnđường tính chuyền cạnh Sđ về phía cạnh Sc thì ta có:
Trang 14+= 0
Số hiểu chỉnh góc đo là :
=
Góc sau điều kiện bình sai là :
Theo định lý hàm Sin ta tính được các cạnh :
Điều kiện ràng buộc là cạnh an tính được qua các góc đo phải bằng giá trị đochính xác Sc.Logarit hai vế công thức trên ta có :
Thay góc sau bình sai bằng góc đo cộng với số hiểu chỉnh, một số hạng củacông thức Rồi khai triển vế phải theo chuỗi taylor giữ lại số hạng bậc nhất, ta
có :
Lg sin(Ai + vi)= lgsin Ai + d(lgsin Ai)/d Ai vAi/ρ
Trong đó :
µ = 0.4343 là hệ số đổi từ Logarit Nepe ra Lgarit thập phân
δA gọi là gia số Logarit sin A khi A thay đổi 1
Trang 15Tổng các góc trong từng tam giác sau hiệu chỉnh điều kiện đã bằng 1800 Sốhiệu chỉnh lần thứ 2 của góc được tính theo nguyên tắc phân phppos đều sai sốkhép điều kiện cạnh Mạt khác để không phá vỡ điều kiện hình, ta xác định sốhiệu chỉnh lần hai cho góc và sao cho :
V Lý thuyết đo đạc
5.1 Các bước tiến hành đo
5.1.1 Công tác chuẩn bị tại trạm đo
a Đặt máy
- Định tâm sơ bộ: Giữ cho trục máy gần thẳng đứng( để bọt nước của ốngthủy tròn gần ở giữa) Nhìn qua bộ phận định tâm quang học, dịch chuyển bachân máy sao cho tâm máy vào gần đỉnh góc cần đo
- Cân bằng sơ bộ: Nhìn vào ống thủy tròn, dặn các chân máy sao cho chắcchắn, nhưng vẫn đảm bảo cho bọt nước của ống thủy tròn gần ở giữa Vặn các
ốc để rút các chân máy lên xuống sao cho bọt nước thủy tròn vào giữa Vặn ba
ốc cân máy để cho bọt nước thủy tròn vào đúng giữa
- Cân bằng chính xác: Đặt cho ống thủy dài trên bàn độ ngang nằm songsong với đường thẳng nối 2 ốc cân máy bất kỳ văn 2 ốc cân máy này theo chiều
Trang 16ngược nhau cho bọt nước thủy dài vào giữa Xoay máy một góc 900, chỉ vặn ốccân máy thứ 3 còn lại sao cho bọt nước ống thủy dài vào giữa.
Hình 08 Cân bằng chính xác
- Định tâm chính xác: Nới lỏng ốc liên kết giữa máy với chân máy ra,nhìn qua bộ phận định tâm quang học, dịch chuyển máy cho tâm của nó vàođúng góc cần đo
Lúc này điều kiện cân máy có thể bị phá vỡ, ta phải làm lại tiếp tục từbước cân máy chính xác trở đi cho đến khi cả hai điều kiện đồng thời được đảmbảo
b Kiểm nghiệm và hiệu chỉnh máy kinh vĩ
- Trường hợp đo góc: Để đo được góc bằng thì các bộ phận của máy kinh
vĩ phải liên kết với nhau sao cho các trục, các mặt phẳng phải hoặc là nằmngang hay thẳng đứng, hoặc là song song hay vuông góc với nhau Trong quátrình làm việc phải định kỳ kiểm nghiệm lại những tính chất đó của máy kinh vĩ.Nếu thấy những tính chất đó không còn đảm bảo nữa thì phải điều chỉnh lại chođúng Cụ thể là:
+ Trục của ống thủy dài trên bàn độ ngang phải vuông góc với trục quay thẳng đứng của máy.
Đặt ống thủy dài trên bàn độ ngang song song với đường thẳng nối 2 ốccân máy, xoay 2 ốc cân máy này theo chiều ngược nhau để đưa bọt nước về giữaống Quay máy đi 900, xoay ốc cân máy thứ 3 đưa bọt nước vào giữa Quay máy
đi 1800, nếu thấy bọt nước vẫn ở giữa hay chỉ lệch khỏi giữa không quá nửakhoảng thì coi như tính chất này được thỏa mãn Nếu thấy bọt nước lệch quánửa khoảng chia thì phải điều chỉnh lại: vặn vít điều chỉnh của ống thủy dài để