4.2.3 Kết quả giám định một số đặc tính nuôi cấy và sinh hóa và định danh của các chủng Salmonella phân lập đ−ợc tù mẫu bệnh phẩmU .... 64 4.4 kết quả xác định độc lực; kết quả nghiên cứ
Trang 1Trường đại học thái nguyên
Nghiên cứu tỉ lệ nhiễm, phân lập, xác định một số đặc tính vi
khuẩn Salmonella phân lập trên gà công nghiệp ở một số
địa điểm tại tỉnh Bắc Ninh và đề xuất biện pháp phòng trị
Chuyên ngành: thú y
M số: 62:60.50
Người hướng dẫn khoa học: ts đỗ trung cứ
Pgs.ts trần thị hạnh
Trang 34.1.3 Tû lÖ nhiÔm Salmonella gallinarum pullorum theo mïa vô ë 2
gièng Gµ ISA vµ L−¬ng Ph−îng t¹i c¸c c¬ së ch¨n nu«i ë B¾c NinhUT 52
Trang 44.2.3 Kết quả giám định một số đặc tính nuôi cấy và sinh hóa và định
danh của các chủng Salmonella phân lập đ−ợc tù mẫu bệnh phẩmU 64
4.4 kết quả xác định độc lực; kết quả nghiên cứu yếu tố gây bệnh của vi
khuẩn Salmonella gallinarum pullorum và định khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorumU 2-6
Trang 5B¶ng 4.5.a : KÕt qu¶ kiÓm tra sù « nhiÔm vi khuÈn Salmonella spp Trong thøc
¨n t¹i 3 c¬ së ch¨n nu«i ë B¾c NinhU 55
B¶ng 4.5.b : KÕt qu¶ kiÓm tra sù « nhiÔm vi khuÈn Salmonella spp trong n−íc
uèng t¹i 3 c¬ së ch¨n nu«i.U 56
B¶ng 4.8: KÕt qu¶ ph©n lËp vi khuÈn Salmonella tõ trøng, tõ thai Gµ chÕt ng¹t
21 ngµy (ë m¸y në) vµ Gµ con chÕt.U 62
Trang 6Bảng 4.18 Kết quả xác định khả năng kháng kháng sinh của các chủng
Salmonella gallinarum pullorumU 81
Trang 7Danh mục các biểu đồ
Trang 8sự giúp đỡ quí báu của Tiến sĩ – Cù Hữu Phú bộ môn vi trùng Tiến sĩ Phạm Thị Ngọc, cùng anh chị em đồng nghiệp Bộ môn Vệ sinh Thú y – Viên Thú y đã giành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ tôi hoàn thành phần lớn nội dung quan trọng của luận văn
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, hội đồng quản trị, tổng Công ty cổ phần nông sản Bắc Ninh, Giám đốc nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi cao cấp TopFeeds, Giám đốc xí nghiệp gà và trang trại gà gia đình Thanh Lương huyện Yên Phong luôn tạo điều kiện giúp đỡ, thời gian, vật chất để tôi hoàn thành được nhiệm vụ học tập của mình
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn tới khoa đào tạo sau
Đại học Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã cùng chung lo và luôn động viên tôi hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này
Học viên
Nguyễn Văn Chiến
Trang 9Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Với sự cố
gắng của bản thân và sự giúp đỡ chân thành của Bộ môn Vệ sinh Thú y – Viện Thú y, các cơ sở chăn nuôi và các đồng nghiệp Các số liệu và kết quả trong
luận văn là trung thực, mọi trích dẫn đều chỉ rõ nguồn gốc
Các số liệu và kết quả này ch−a từng đ−ợc ai công bố và sử dụng để bảo
vệ bất kỳ một luận văn Thạc sĩ nào
Học viên
Trang 10Phần 1
Đặt vấn đề
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Ngành chăn nuôi Gà công nghiệp Viêt Nam được Cu Ba giúp đỡ đặt
nền móng xây dựng đầu tiên năm 1974 Đến nay đã trải qua hơn 30 năm phấn
đấu, xây dựng và phát triển, nhiều xí nghiệp chăn nuôi Gà tập trung và trang
trại tư nhân được xây dựng, mở mang góp phần cung cấp một số lượng lớn thịt
và trứng đáp ứng phần nào nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân Đặc biệt
trong những năm gần đây ngành chăn nuôi Gà ở Việt Nam đang phát triển
mạnh mẽ Do chính sách mở cửa của Nhà nước, nhiều quốc gia có nền chăn
nuôi Gà tiên tiến trên thế giới đã đến hợp tác, liên doanh liên kết với ngành chăn nuôi Gà Việt Nam và đã có những bước tiến rõ rệt Theo sự phát tiển của
nền kinh tế thị trường mà các dịch vụ về con giống, thức ăn và kỹ thuật chăn nuôi đã nhanh chóng tiếp cận được với các hộ nông dân Hiện nay người nông dân ở nhiều vùng, miền trên khắp đất nước đã thực sự quan tâm đầu tư cho chăn
nuôi Gà Chăn nuôi là một nghề đem lại thu nhập và cải thiện đời sống, góp phần xoá đói, giảm nghèo, thậm chí chăn nuôi Gà đã làm giàu cho người nông
dân Đồng thời chính sách kinh tế thị trường cũng tạo sự cạnh tranh mãnh liệt
về mọi mặt trong ngành chăn nuôi gia cầm Một số giống Gà chuyên thịt và
chuyên trứng nhập nội trước đây đã được nuôi thuần chủng trong nước, nay đã không còn đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của đời sống nhân dân ngày càng cao
Nhiều giống Gà cao sản mới như ISA(Isavedette), AA (Arbor Acres); Lohmann, Ros 308 một bộ phận không nhỏ các giống gà lông màu nuôi theo hướng công
nghiệp hoặc bán công nghiệp, đã được nhập về cung cấp cho các đơn vị xí
nghiệp và bà con nông dân Gà ISA màu của Pháp và một số giống Gà Trung Quốc đã được trở nên quen thuộc với người chăn nuôi Trong đó Gà Hoa Lương
Trang 11Phượng do xí nghiệp chăn nuôi Gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc tạo ra Hiện nay các giống Gà này đang được nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau, bằng nhiều cách khác nhau Gà giống được chuyển tới tay người chăn nuôi Ngoài hệ thống cung cấp các giống Gà tại các
trại của nhà nước hoặc các công ty liên doanh với nước ngoài đang có mặt tại
Việt Nam, còn có một bộ phận cung cấp con giống đáng kể là các hộ gia đình
tự chăn nuôi Gà bố mẹ, ấp và bán Gà con Như vậy số lượng quy mô các đàn
Gà giống công nghiệp sinh sản tăng lên nhanh chóng kéo theo hàng loạt vấn
đề nẩy sinh trong quy trình kỹ thuật nuôi duỡng và vệ sinh thú y, phòng chống
dịch bệnh trong đó có Salmonellosis Bệnh do vi khuẩn Salmonella gallinarum gây ra cho Gà ở mọi lứa tuổi Bệnh có thể lây từ Gà ốm sang gà khoẻ, qua
máy ấp, qua thức ăn nước uống, các loại thiết bị, trang trại, dụng cụ chăn nuôi,
nguy hiểm hơn là bệnh lây truyền qua trứng Salmonellosis cần được đăc biệt
chú trọng đối với các cơ sở sản xuất con giống Bởi lẽ bệnh này không những
ảnh hưởng tới các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của đàn Gà mà còn reo rắt mầm bệnh cho các thế hệ sau Theo báo cáo của Pro Kopheev, 1975 Salmoellosis
có thể làm giảm tỉ lệ đẻ của đàn gà từ 10 - 20% Theo Nguyễn Thị Tuyết Lê (1999) [11], mầm bệnh có thể gây chết phôi và Gà con, bệnh có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của Gà con, làm giảm chất lượng của các đàn Gà giống Mặt khác Salmonellosis còn là nguyên nhân gây chi phí lớn về thuốc thú y,
ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng và không ngừng tác động xấu tới vệ
sinh môi trường Theo Trương Quang(1998) [14] bệnh thương hàn còn gây
ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch chống Newcastle của đàn Gà Theo Trần Thị Hạnh và cộng sự (1997) [4], Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp (1997) [8], Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho(1998) [9], Đinh Bích Thuỷ(1995) [18]
thì việc điều trị bệnh bằng các loại kháng sinh không chỉ đem lại kết quả hạn
chế, mà còn gây ra sự tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm gia cầm làm
Trang 12phương hại đến sức khoẻ của cộng đồng và gây tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn
Kháng nguyên bạch ly ( Salmonellosis gallinarum pollorum antigen) dùng để chuẩn đoán Salmonellosis ở nước ta hàng năm vẫn phải nhập từ các hãng thuốc Thú y của nước ngoài với giá thành cao, nên các cơ sở sản xuất gà
giống không sử dụng hoặc chỉ sử dụng ở mức độ rất hạn chế
Vì thế việc tìm hiểu Salmonellosis trên đàn Gà đẻ bố mẹ nuôi ở cơ
sở, trong nông hộ là rất cần thiết, nhằm đưa ra những thông tin khẳng định sự nguy hiểm của bệnh, giúp cho những cơ sở chăn nuôi có đánh giá đúng về thiệt hại do bệnh gây ra, từ đó có những biện pháp phòng chống hữu hiệu để giảm bớt thiệt hại, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi Giúp các cơ sở chăn nuôi có ý thức tự quản tốt hơn góp phần kiểm soát và khống chế
Salmonellosis trên các đàn Gà
Trong bối cảnh đó chúng tôi đặt ra vấn đề thực hiện đề tài:
Nghiên cứu tỉ lệ nhiễm, phân lập, xác định một số đặc tính vi khuẩn Salmonella phân lập trên Gà công nghiệp ở một số địa điểm tại tỉnh Bắc Ninh và đề xuất biện pháp phòng trị
2 Mục tiêu của đề tài :
• Xác định tỉ lệ nhiễm Salmonella spp của giống Gà ISA và Lương Phượng bố mẹ tại một số cơ sở chăn nuôi tại tỉnh Bắc Ninh
• Phân lập định tuýp kháng huyết thanh các kháng chủng Salmonella spp phân lập được
• Xác định ảnh hưởng của Salmonella đến sức sản xuất trứng, đến tỷ
lệ ấp nở
• Giám định một số đặc điểm sinh vật, hoá học của các chủng
Salmonella spp phân lập được
Trang 13• Đề suất một số biện pháp phòng và khống chế mầm bệnh
Salmonella nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiệt hại trong chăn nuôi
Gà giống ở nước ta hiện nay
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài :
Bổ xung thêm những hiểu biết khoa học cơ bản về đặc tính dịch tễ học của bệnh
Làm rõ thêm những ảnh hưởng của bệnh do Salmonell Gallinarum và Salmonella pullorum gây ra đối với một số Gà công nghiệp sinh sản và chuyên dùng thịt trong chăn nuôi Gà công nghiệp tại Việt Nam
Xác định các yếu tố gây bệnh của một số chủng Salmonella gallinarum
và Salmonella pullorum phân lập được
Đề xuất biện pháp phòng trị để khống chế thiệt hại, loại trừ mầm bệnh
nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiệt hại cho những cơ sở sản xuất Gà ở
nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Hệ thống chuồng trại, hai giống Gà bố mẹ ISA và Lương Phượng đang
được nuôi tại một số trang trại tại Gà giống tỉnh Bắc Ninh
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007
5 Địa điểm nghiên cứu:
Bộ môn Vệ sinh Thú y - Viện thú y
Các cơ sở chăn nuôi Gà giống công nghiệp ở Bắc Ninh
Trang 14Phần 2
Tổng quan tài liệu
2.1 Giống vi khuẩn Salmonella và bệnh thương hàn Gà :
2.1.1 Giống vi khuẩn Salmonella nói chung :
Salmonella là thành viên của họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, giống vi khuẩn này được gọi theo tên của bác sỹ Thú y Daniel E Salmon, để kỉ niệm người đầu tiên tìm ra nó Kể từ năm 1985, sau khi Daniel E Salmon và Smith phân lập được vi khuẩn Salmonella đến nay người ta tìm thấy trên 2100 chủng (serova) khác nhau của loài vi khuẩn này Trong tự nhiên Gà là loại tàng trữ Salmonella lớn nhất
Vi khuẩn Salmonella là trực khuẩn Gram âm, hai đầu tròn, không hình thành nha bào Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum gây bệnh cho
Đặc tính này được ứng dụng trong phân lập Salmonella, nhằm ức chế sự phát
triển của các vi khuẩn khác, trong trường hợp bệnh phẩm bị tạp nhiễm
(Timoney, 1988)
Trong quá trình nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Salmonella, người ta cần
phải sử dụng một số môi trường chọn lọc đặc biệt sau:
Môi trường B.G.A (Brilliant Green Agar): Vi khuẩn Salmonella mọc
hình thành các khuẩn lạc trắng hồng có vòng sáng, bao bọc xung quanh bởi môi trường màu đỏ hồng
Trang 15Môi trường Macconkey: Nuôi cấy vi khuẩn trong tủ ấm 37P
0
C sau 18- 24 giờ, vi khuẩn hình thành những khuẩn lạc tròn, trong sáng, màu trắng, nhẵn bóng và hơi lồi ở giữa
Môi trường Kligler: Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn sản sinh HB
2 BS làm
đen môi trường và sinh hơi làm nứt thạch
Môi trường Endo: Vi khuẩn Salmonella mọc hình thành khuẩn lạc màu
hồng, tròn trơn nhẵn bóng, trông giống giọt sương trên nền hồng nhạt của môi trường
Trong tất cả các môi trường nuôi cấy, khuẩn lạc đều có thể thay đổi theo thời gian, đôi lúc cũng có sự dị thường về hình thái của khuẩn lạc
(Snoyenboc.G.H, 1991)
2.1.1.2 Đặc tính sinh hoá :
Đặc tính không lên men đường lactoza và sucrose được dùng để phân
biệt Salmonella với các loài khác trong họ vi khuẩn đường ruột như E.coli,
Klebsiella pneumoniae, Enterobacter aerogenes, Serratia rubidae, vi khuẩn Salmonella không sinh Indol, các phản ứng urea, phản ứng VP (Voges- Proskauer) âm tính Phản ứng Metyl - red, HB
2 BS dương tính (Edwing- Edwards, 1970 ) Salmonella tham gia phản ứng khử nitrat thành nitrit
2.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella :
Vi khuẩn Salmonella có cấu trúc kháng nguyển rất phức tạp, được chia thành các nhóm sau: Kháng nguyên thân O (O.antigen) Kháng nguyên vỏ bọc
K (Kapsula) Kháng nguyên lông H (Hauch) Kháng nguyên màng ngoài vi khuẩn (OMP) và kháng nguyên Pili (Fimbriae antigen)
* Kháng nguyên thân O ( Ohne Hauch)
Kháng nguyên thân O nằm ở thành tế bào vi khuẩn Tính chất đặc thù
của kháng nguyên này được xác định bởi thành phần cấu trúc
Lypopolysaccharide (LPS) bao gồm hai nhóm:
Trang 16• Nhóm Polysaccharide nằm bên trong không mang tính đặc trưng
của kháng nguyên mà có vai trò tạo ra sự khác biệt về hình thái khuẩn lạc từ
dạng (Smouth) sang dạng R (Rough)
• Nhóm Polysaccharide nằm ngoài quyết định tính kháng nguyên và
đặc trưng cho từng chủng vi khuẩn
Khi thuỷ phân tử Polysaccharide người ta thu được 5 loại đường là: heptose, 2 – keto - 3 dexyoctonate (KDO), glucose, galactose và glucosamine Qua nghiên cứu người ta xác định kháng nguyên O có bản chất là các chuỗi
đường nằm trên phân tử Polysacchacride mà đơn vị cơ bản của nó là monogosaccOligosaccharide, đây là những đường đa (một phân tử Oligosaccharide được cấu tạo từ 2-10 phân tử đường haride)
Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã tìm thấy kháng
nguyên O của Salmonella có 65 yếu tố cấu thành khác nhau Mỗi loại Salmonella lại có một hay nhiều yếu tố đó Các yếu tố này được ký hiệu bằng các chữ số La Mã
Người ta chia vi khuẩn Salmonella thành 34 nhóm khác nhau về cấu
trúc kháng nguyên, được ký hiệu bằng chữ in hoa A, B, C, D1, D2, X.Y.Z
Kháng nguyên O của vi khuẩn Salmonella là kháng nguyên chịu nhiệt,
Trang 17- Kháng nguyên (4-5-Antigen): Kháng nguyên này không liên quan
đến động lực của vi khuẩn, kém chịu nhiệt hơn kháng nguyên O, bị HCl phá
huỷ, nhưng không bị phân huỷ bởi cồn
- Kháng nguyên Vi: Kháng nguyên này phát hiện thấy ở hai loại
Salmonella paratyphi gây bệnh thương hàn cho người Đây là kháng nguyên
độc Felix và Pitt cho rằng kháng nguyên Vi chịu nhiệt tốt, có sức đề kháng cao đối với cồn và axit HCl
- Kháng nguyên M (Mucoid Antigen): là loại kháng nguyên của các
dòng Mucoid có khuẩn lạc dạng nhầy
Theo Heys 1953, kháng nguyên K chính là Hexapolysaccharide vỏ bọc
được sắp xếp giống các mạch thẳng của hỗn hợp cao phân tử dạng(-1-4,2
deoxy-2-5 Actey Galactose) Kháng nguyên K thường thấy ở các type K1, K2, K3,K5,K12,K13 (Orskor, 1977 – 1978)
* Kháng nguyên màng ngoài vỏ bọc (Outer Membrane Protein-OMP):
Lớp màng ngoài của các chủng Salmonella chứa protein có độc tính Thành phần này chiếm 50 % toàn bộ kháng nguyên OMP Theo Smith và Nikaido, 1978 OMP của Salmonella typhimurium có 4 loại protein OMP là yếu tố đề kháng với men phân giải protein như trypsin làm cho vi khuẩn mất
khả năng chống lại huyết thanh và bị hạn chế hoạt động hay bị phá huỷ
* Kháng nguyên Pili (Fimbriae Antigen)
Đặc tính hoá học của kháng nguyên Pili là protein Trong một thời gian dài chức năng kháng nguyên Pili được xếp chung vào kháng nguyên K gây
bệnh tiêu chảy cho đàn gia súc non, được ký hiệu K88, K99…Đến nay đã phát
hiện một số nhóm kháng nguyên Pili của Salmonella gây bệnh tiêu chảy cho người và động vật như CFA (Colonization Factor Antigen) I và II
2.1.1.4 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella
Trang 18Vi khuẩn Salmonella mẫn cảm với nhiệt độ và các chất sát trùng mạnh (Các loại thuốc Allicide, biocide, famfluid S, NaOH, Longlife, Virkon…đều
nhanh chóng diệt vi khuẩn)
ở nhiệt độ 60 P PC/ 1 giờ, 75P
o
C/ 5 phút, ánh sáng mặt trời chiếu thẳng trong 3 giờ có thể diệt được vi khuẩn
Một số chủng Salmonella có khả năng đề kháng với nhiệt như Salmonella Stenberg, chỉ bị tiêu diệt ở 75P
o
C/ 5 phút
Salmonella có thể tồn tại vài năm trong môi trường thích hợp Vi
khuẩn có thể tồn tại trong chất độn chuồng 30 tuần, trong phân vịt 28 tuần, trong máy ấp ở nhiệt độ phòng tới 5 năm Vi khuẩn có thể sống trong đất ở độ
sâu 5 m trong vòng 2 tháng và có thể tồn tại trong máng gỗ 108 ngày (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1986)
2.1.2 Các yếu tố gây bệnh của Salmonella :
2.1.2.1 Các yếu tố không phải độc tố :
- Kháng nguyên O và K
Chúng ta biết rằng chất lượng, thành phần hoá học, cấu trúc của kháng
nguyên O, đều ảnh hưởng đến độc lực của vi khuẩn Salmonella Ví dụ vi khuẩn Salmonella typhimurium nếu thay đổi thành phần kháng nguyên O từ
công thức 1.4.12 sang 1.9.12, thì vi khuẩn từ dạng có độc lực sang dạng không
có độc lực (Valtonen, 1997) Kháng nguyên O là yếu tố giúp vi khuẩn chống
lại khả năng phòng vệ của vật chủ, giúp vi khuẩn phát triển trong tế bào tổ
chức, chống lại sự thực bào của đại thực bào (Morris và cộng sự, 1976 Tương
tự kháng nguyên O, kháng nguyên K cũng có ý nghĩa về mặt độc lực vì nó
tham gia bảo vệ vi khuẩn trước các yếu tố phòng vệ của cơ thể và chống lại quá trình thực bào
- Kháng nguyên H
Trang 19Tuy kháng nguyên H không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh, không quyết định yếu tố độc lực, nhưng kháng nguyên H có vai
trò bảo vệ vi khuẩn không bị tiêu diệt trong quá trình thực bào Chúng còn giúp vi khuẩn nhân lên trong các tế bào gan, thận, kể cả tế bào đại thực bào
(Tonita,1982; Weinstein DL và cộng sự, 1984
- Yếu tố bám dính (Fimbriae)
Bước đầu quan trọng trong yếu tố gây bệnh là khả năng bám dính của vi
khuẩn Salmonella lên tế bào nhung mao ruột Mỗi loại vi khuẩn đều sinh ra
yếu tố đặc trưng, có cấu trúc đặc trưng để liên kết giữa chúng với các điểm
tiếp nhận trên tế bào vật chủ Ví dụ đối với Staphylococcus, yếu tố bám dính
là protein M, còn đối với Salmonella yếu tố bám dính là Fimbriae type 1 (Jones GW; Richardson 1981)
Khi yếu tố bám dính của Salmonella có diện tích ion bề mặt trái dấu với
diện tích ion bề mặt nhung mao ruột, thì điểm tiếp xúc có tương tác (hút) xảy
ra và vi khuẩn bám dính lên bề mặt của tế bào (Jones, 1982)
Khả năng bám dính là một yếu tố quan trọng của vi khuẩn xâm nhập vào tế bào vật chủ Những vi khuẩn có độc lực cao thì sẽ có khả năng bám dính tốt hơn so với các vi khuẩn có độc lực thấp
- Khả năng xâm nhập và nhân lên:
Khả năng xâm nhập vào tế bào Eukaryota và vào lớp mucosa đường ruột là đặc tính của một số chủng Salmonella cường độc Các biến chủng Salmonella không có khả năng xâm nhập vào tế bào, thường là các chủng
không có độc lực
Thep Finlay B.B và cộng sự, 1988 vi khuẩn xâm nhập vào trong tế bào Eukaryota là bước cần thiết tạo khả năng độc lực Đây là quá trình tổng hợp
gồm nhiều quá trình tham gia
Trên bề mặt tế bào thấy xuất hiên nhiều loại protein do vi khuẩn sản
sinh ra cần cho quá trình xâm nhập và vai trò độc lực Theo những nghiên cứu
Trang 20mới gần đây trong môi trường nuôi cấy 37P
o
C, 5 loại protein được vi khuẩn tạo
ra Một trong số đó là SOP E (Salmonella Outer Protein) Nó là một loại protein phân tiết kết hợp với protein xâm nhập SOP E nằm trên PMW3 trong
đoạn ADN ME1B
1 Bcủa plasmid Phân tử protein SOP E là chuỗi polypeptide gồm 240 axit amin có khối lượng 26.705 Da và ở độ đẳng điện là 10-33 [48] Sau khi xâm nhập được vào trong tế bào, vi khuẩn Salmonella tiếp tục hình thành xuyên bào (Transtose) qua mặt đối diện của tế bào (Finlay B.B/ 1988
thời gian đòi hỏi cho quá trình xuyên bào tối thiểu là 4 giờ Khả năng sống sót
và nhân lên của vi khuẩn Salmonella trong tế bào Eukaryota phụ thuộc vào
các chất dinh dưỡng khác nhau chứa trong tế bào của vật chủ Quá trình sinh tổng hợp purine của vi khuẩn biến dị, có thể xuất hiện các chủng nhược độc
Các chủng Salmonella biến dị thì có độc lực thấp, thường được dùng để chế
tạo vacxin
- Khả năng tổng hợp sắt của vi khuẩn Salmonella
Đây là khả năng quan trọng của vi khuẩn Salmonella Tuy khả năng này
không phải là độc lực nhưng nó là yếu tố làm suy yếu khả năng chống đỡ của vật chủ do thiếu sắt và đồng thời giúp vi khuẩn tăng nhanh về số lượng Vi
khuẩn Salmonella có phản ứng đối với sự thay đổi cơ chế chu chuyển sắt (Iron– transfermechanism) khi quá trình tổng hợp sắt bị ức chế, chúng sẽ chuyển toàn bộ protein mang điều phối sắt ( Iron Regulated Outer membrane protein – IRP) lên bề mặt của vi khuẩn làm cho khả năng hấp thụ sắt tăng
cường một cách tích cực
- Khả năng kháng kháng sinh
Việc sử dụng thường xuyên các thuốc kháng sinh đề phòng và trị bệnh
cho một số loại gia súc, gia cầm là nguy cơ tăng khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn (Griggs và cộng sự, 1996 , Cũng theo Griggs và cộng sự, 1991,
từ năm 1988-1991 ở Mỹ đã phân lập được 98 chủng Salmonella từ Gà, Gà
Trang 21Tây,Ttrứng, Chim hoang kháng lại nhóm kháng sinh Quinolone (Axit Nalidixic)
Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1998) [9] cho thấy trong 98
chủng Salmonella được nghiên cứu về tính kháng thuốc với Ampicillin, Chloramphenicol, Penicillin, Chlotetracillin, Neomycin, Furazolidon, Streptomycin và Sulphonamide cho thấy 100 % số chủng Salmonella đề kháng với Penicillin và Sulphonamide
Theo Glyles và Thone, 1993, thì Salmonella có khả năng đề kháng lại với các loại kháng sinh Streptomycin, Sulphonamide, Tetracyclin Một tỷ lệ lớn các chủng Salmonella phân lập được có khả năng đề kháng với Ampicilin, Kanamycin, Neomycin, Gentamycin
Trong thực tế hiện nay ngành chăn nuôi phát triển mạnh, kháng sinh
được sử dụng ồ ạt, cho nên nguy cơ kháng thuốc của vi khuẩn nói chung và
Salmonella nói riêng ngày càng tăng Vì vậy cần phải có những khuyến cáo,
những chỉ dẫn cụ thể cho người sử dụng thuốc, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và an toàn trong chăn nuôi
2.1.2.2 Các yếu tố độc tố của vi khuẩn Salmonella
- Độc tố đường ruột (Enterotoxin):
Vi khuẩn Salmonella có khả năng sinh sản độc tố đường ruột Độc tố này có cấu trúc, tính năng và đặc điểm kháng nguyên giống với choleratoxin (LT) do vi khuẩn E.coli sản sinh ra Do vậy độc tố của Salmonella có tên là CT – like Enterotoxin
CT – like Enterotoxin có bản chất là một protein, khối lượng phân tử là
25KDa và 12 KDa ứng với tiểu phần A và B Độc tố này dễ dàng bị phân huỷ ở
60P
o
C và các men giải protein CT – like Enterotoxin, có tác dụng kích thích hoạt
động của Aderylate có mặt trong màng tế bào biểu mô ruột non do vậy làm tăng AMPB
c B( Adenozin Mono Phosphat-cyle) dẫn đến tăng cường phân tiết và bài xuất
chất điện giải từ tế bào vào xoang ruột gây nên hiện tượng ỉa chảy
Trang 22- Nội độc tố (Endotoxin)
Nội độc tố của vi khuẩn Salmonella đóng vai trò quan trọng trong việc
gây nên những biến đổi bệnh lý, nhất là trong giai đoạn nhiễm trùng huyết
Lypopolisaccharide (LPS), một thành phần cấu trúc nên màng tế bào vi khuẩn, được coi là nội độc tố của Salmonella LPS tác động lên các tế bào
thực bào, tế bào bạch cầu đa nhân, lâm ba cầu, tiểu cầu, gan, thận, hệ tim
mạch, hệ tiêu hoá, cơ và hệ thống miễn dịch Vai trò của LPS là bảo vệ tế bào
vi khuẩn với Lysosomes, phá huỷ Mitochondria của tế bào thực bào LPS giúp
tế bào vi khuẩn đề kháng với quá trình liên kết trung gian bổ thể, giảm tính
mẫn cảm với kháng huyết thanh, làm chậm quá trình hoạt hoá bổ thể, LPS
còn giúp cho vi khuẩn tồn tại trong dạ dày, ruột, tăng cường xâm nhập vào tế bào biểu mô
LPS tác động lên quá trình trao đổi gluxit do làm tăng hoặt động của men Pyruvatlinaza, Phosphorylaza phân giải đường glucoza Cụ thể là sau khi tiêm LPS 2 giờ, hàm lượng đường trong máu tăng cực đại, sau đó hạ dần, dẫn tới hạ
đường huyết do suy kiệt glycogen dự trữ ở gan, làm tăng lactaza và Pyruvat trong máu, ức chế hoạt động của men Succinadehydrogenaza ở cơ và gan
2.2 Bệnh thương hàn
2.2.1 Căn bệnh:
Trước đây người ta chia thành hai loại bệnh là:
Bệnh bạch lỵ (Pullorosis hay Pullorum Disease) ở gà con Bệnh này
được Retger phát hiện và mô tả lần đầu tiên vào năm 1899 ở Mỹ , mầm bệnh Pullorum được Retger và Havvey phân lập năm 1907 Năm 1994, Hinshan và McNell phân lập được Salmonella pullorum ở gà Tây
Bệnh thương hàn gà lớn (Typhus hay Fowl Typhoid) Bệnh do vi khuẩn Salmonella gallinarum gây ra Bệnh được Smith phát hiện lần đầu tiên vào năm 1989 trên 400 Gà đẻ bố mẹ ở Anh
Trang 23Tuy nhiên căn bệnh của hai bệnh này giống nhau về hình thái, tính chất nuôi cấy, cấu tạo kháng nguyên nên hiện nay người ta coi bệnh này là một và
gọi tên chung là Salmonellosis do trực khuẩn Salmonella pullorum gây ra cho
Gà ở mọi nứa tuổi
* Hình thái
Salmonella gallinarum pullorum là loại trực khuẩn ngắn, hai đầu tròn, nhuộm màu gram âm, không có lông, không di động Vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum không hình thành nha bào và giáp mô, vi khuẩn có kích
thước từ 0,4 - 0,6 x 1 - 3 àm
* Đặc tính nuôi cấy
Salmonella gallinarum pullorrum là loại vi khuẩn hiếu khí dễ nuôi cấy
trên các môi trường thông thường Trên môi trường thạch thường sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tròn, nhỏ trông như giọt sương, rìa
gọn hơi lồi ở giữa, khuẩn lạc ướt láng bóng Khác với Salmonella pullorum; Salmonella gallinarum trong môi trường đường glucoza, galactose, mantose, dulxit, levulose, arabinose, rhamose chúng tạo axit, nhưng không sinh hơi Salmonella gallinarum lên men đường mantose đặc tính này chỉ có ở vài typ Salmonella pullorum nhưng quá trình lên men chậm từ 24 giờ đến vài ngày Tuy nhiên sự khác nhau giữa Salmonella pullorum và Salmonella gallinarum
về sinh hoá và nuôi cấy là không cố định Trabulst và Edwards cho rằng chỉ
có phản ứng Ornithin decarboxylase có thể phân biệt được Sallmonella gallinarum và Sallmonella pullorum Đôi khi dựa vào các tính chất lên men
đường không có khả năng xác định sự khác nhau giữa Salmonella gallinarum
và Salmonella pullorum Vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum có khả
năng sinh HB
2 BS, không làm tan chảy gelatin, không tạo ra Indol, không làm vón
và pepton hoá sữa
* Cấu trúc kháng nguyên
Trang 24Vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum thuộc nhóm cấu trúc kháng
nguyên IX XII kháng nguyên XII lại bao gồm các thành phần XII; XIIB
*Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum
ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp có thể diệt vi khuẩn trong thời gian
ngắn (Kaupp B.F và Dearstyne R.S, 1994) Theo Prokopheev, vi khuẩn có thể
tồn tại trong phân gà đến 100 ngày, trong nước 200 ngày, trong chất độn chuồng vi khuẩn tồn tại 30 – 360 ngày, ở vỏ trứng vi khuẩn có thể tồn tại 80 ngày ở môi trường thuận lợi vi khuẩn có thể tồn tại vài năm Các chất sát trùng đều tiêu diệt vi khuẩn nhanh chóng
2.2.2 Dịch tễ học :
ở điều kiện tự nhiên Gà và gà tây là vật chủ quan trọng của Salmonella
gallinarum pullorum trong đó gà mẫn cảm hơn Gà Tây Snoenyenbos G.H,
1991 Ngoài ra Gà Lôi, Vịt, Gà Nhật, chim Cút, chim Sẻ, chim Yến, chim Sẻ ngực đỏ Châu Âu và Diều Hâu cũng có thể mắc bệnh Người ta còn gây bệnh trong phòng thí nghiệm cho động vật có vú như Thỏ rừng, Lợn, Sóc, Mèo, Chó, kể cả Tinh Tinh Châu Phi
Nguồn bệnh chủ yếu là Gà ốm đã hết triệu chứng bên ngoài nhưng mang mầm bệnh và các chất thải ở trạm ấp có chứa Salmonella Các loài chim
ăn thịt, các loài gặm nhấm đều có thể là yếu tố trung gian truyền lây mầm
bệnh Trong quần thể Gà, sự lây truyền mầm bệnh theo chu trình khép kín mà nguồn đầu tiên là những Gà đẻ bị bệnh Những trứng của Gà mẹ bị bệnh này
được đưa vào các máy ấp, trong thời kỳ phát triển của phôi thai mầm bệnh nhiễm vào xoang nước ối, mầm bệnh phát triển Đến cuối giai đoạn ấp khi nước ối tiêu hết, vi khuẩn đọng lại trên lông bào thai Từ đó vi khuẩn nhiễm vào gà con ngay trong máy nở qua đường hô hấp Cũng từ đó mầm bệnh có từ
những Gà con này và lây bệnh bất cứ lúc nào
2.2.3 Cơ chế sinh bệnh :
Trang 25Vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum xâm nhập vào cơ thể Gà
bằng những con đường chủ yếu sau:
* Nhiễm qua đường tiêu hoá: gà thường nhiễm bệnh qua thức ăn, nước
uống, qua dụng cụ chăn nuôi, chất độn chuồng bị ô nhiễm Sau khi xâm nhập
qua đường tiêu hoá, vi khuẩn cư trú ở niêm mạc manh tràng gây viêm và hoại
tử Từ đây vi khuẩn theo mạch máu đi đến các cơ quan nội tạng đồng thời do
tác động của Endotoxin làm giảm sức đề kháng của Gà, bệnh nặng thêm, cơ
thể suy nhược dần và chết
* Nhiễm qua đường hô hấp: Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua niêm
mạc đường hô hấp, gây ra các ổ viêm Từ các ổ viêm đó vi khuẩn đi vào máu và
đến khắp cơ quan nội tạng khác Trường hợp mầm bệnh có độc lực mạnh, số lượng vi khuẩn lớn bệnh tiến triển quá cấp thì chưa kịp có triệu chứng, mà chỉ
biểu hiện nhiễm trùng máu, trường hợp này thường gặp ở một số đàn Gà con
* Nhiễm qua trứng: ở những đàn Gà mẹ bị bệnh, trứng có thể nhiễm vi
khuẩn từ ống dẫn trứng Cũng có thể vi khuẩn đi vào máu Gà mẹ, tác động
làm thoái hoá các nang trứng, cũng có thể vi khuẩn tập trung ở lòng đỏ trứng Trong quá trình ấp vi khuẩn có thể xâm nhập vào bào thai để gây bệnh Vi
khuẩn có thể làm chết bào thai trước khi nở hoặc Gà con nở ra ốm yếu có thể chết ngay trong những ngày đầu Số Gà con sống do được điều trị khỏi bệnh, nhưng rất nhiều trong số chúng sẽ mang mầm bệnh suốt đời Những Gà này là nguồn lây nhiễm bệnh cho những Gà khác Khi bệnh ở dạnh nhiễm trùng huyết, vi khuẩn gây bệnh có trong gan, túi mật, lách, tuỷ xương, trong các ổ hoại tử ở tim, phổi Gà con 10 ngày tuổi mắc bệnh thì Salmonella phân bố nhiều nhất ở máu (66%) ở gan 61% còn ở lách 54% Gà trưởng thành mắc bệnh vi khuẩn phân bổ ở gan 32- 35%, mật 28 – 30%, buồng trứng 27- 29% [55] Theo Doyle và Mathews ở gà bệnh thì gan là nơi có vi khuẩn nhiều nhất, sau đó đến tim, ruột và các cơ quan khác
2.2.4 Triệu chứng :
Trang 26Tuỳ theo tuổi của Gà mắc bệnh và tuỳ theo độc lực của vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum mà triệu chứng và thời gian ủ bệnh của Salmonellosis khác nhau Theo Rao và cộng sự, thời gian ủ bệnh của Salmonellosis trong điều kiện thí nghiệm là từ 4- 5 ngày, cũng có thể 8 - 12
giờ hoặc 2 - 4 ngày
* Triệu chứng ở Gà con
Nếu gà nở từ trứng bị nhiễm bệnh, gà sẽ mất sức sống, có thể quan sát
thấy Gà con chết ngay trong máy nở hoặc một thời gian ngắn sau khi nở
Gà con biểu hiện ủ rũ, mắt lim dim, yếu ớt, giảm tính thèm ăn Bệnh phát triển mạnh vào lúc 5- 10 ngày sau khi nở Gà gầy còm và chết trong 2-3 tuần đầu Trước khi chết Gà biểu hiện mệt mỏi, một số có khuynh hướng tụm vào nhau ở dưới đèn chụp úm, xù lông, sã cánh, ngủ gật, Gà kêu liên tục Chất
bài tiết dính bết lại trông như phấn trắng, đôi khi có màu xanh xám ở trong và
xung quanh hậu môn Một vài trường hợp Gà thở mạnh, há mồm có thể nhận
biết được đó là bệnh lý ở phổi
Trường hợp bệnh quá cấp do nhiễm vi khuẩn với số lượng lớn, độc lực
truyền qua trứng thì Gà sẽ chết ngay 1-2 ngày sau khi nở mà không biểu hiện
cụt Quan sát trứng gà bị bệnh thấy xuất hiện trứng dị hình, méo mó và vấy máu ở vỏ và lòng trắng
Trang 27Gà trống bị bệnh thường viêm ruột ỉa chảy và chết đột ngột do viêm và
vẫn chưa tiêu Nguời ta cho rằng vi khuẩn làm cản trở việc tiêu hủy lòng đỏ
Nhìn chung bệnh tích khi mổ khám Gà con mắc Salmonellosis có các
biểu hiện chính sau:
+ Gan sưng màu vàng nhạt, cứng, vệt máu ,có thể có các điểm hoại tử trên mặt gan
+ Phổi viêm, các vùng tổn thương có máu
+ Lách sưng to có các hạt phó thương hàn tạo ra các u cục
+ Thận sưng có uric, đôi khi xuất huyết
+ Cơ tim có những điểm hoại tử như hạt kê
+ Một số trường hợp Gà bị viêm bao hoạt dịch của các khớp xương
+ Ruột viêm dày lên, viêm phúc mạc đôi khi có các u cục ở manh tràng
và mề
* Bệnh tích ở Gà lớn
Xác chết gầy, gan sưng to có các nốt hại tử màu trắng xám Lách to 3-5 lần, túi mật sưng to
Trang 28Tim Gà lớn bị bệnh có các u, cục hoại tử, to đạt đến mức làm thay đổi hình dạng của tim, xoang bao tim tích nước có fibrin
Ruột viêm hoại tử và loét thành từng vệt trên niêm mạc
Buồng trứng viêm và thoái hóa, vòi trứng có thể chứa dịch nhầy làm cho chúng to lên, các nang trứng bị biến dạng, bị phủ một lớp dịch màu vàng, xanh hoặc đen, có hiện tượng xơ cứng Nhiều trường hợp noãn nang vỡ, được bao bọc bởi lớp dịch nhày, nhớt, thối
Gà trống bị bệnh thì bệnh tích chủ yếu là viêm dịch hoàn
2.2.6 Chuẩn đoán bệnh :
Với mục đích xác định Salmonellosis, ngoài những chuẩn đoán lâm
sàng, người ta còn sử dụng chuẩn đoán phi lâm sàng hoặc áp dụng các khoa học kỹ thuật khác, mau chóng tìm ra bệnh để có biện pháp sử lý thích hợp
- Lấy máu hoặc phủ tạng Gà bệnh làm tiêu bản, nhuộm gram để xem
hình thái vi khuẩn
- Nuôi cấy bệnh phẩm trên môi trường đặc biệt để phân biệt Salmonella
và E.coli Sau đó nuôi cấy trên môi trường phân lập và giám định bằng các
phản ứng sinh hóa
Tiêm động vật thí nghiệm: Chuột bạch, thỏ sau 4-5 hoặc 8-10 ngày con
vật chết, mổ khám kiểm tra bệnh tích
* Chuẩn đoán huyết thanh học
Theo NPIP (The National Poultrry Imphroverment Plan), 1996 , đã mô tả cách làm và chấp nhận 4 phản ứng kiểm tra Salmonella là:
- Phản ứng ngứng kết trong ống nghiệm TA (Tube Agglutination Test)
- Phản ứng ngưng kết toàn huyết WB (Whole Blood Test)
- Phản ứng ngưng kết huyết thanh nhanh (RS) (Rapid Serum Test)
- Phản ứng vi ngưng kết MA (Micro Agglutination test)
Trang 29Theo S.Stepkovxki và A Koslak, 1953 khi so sánh kết quả của phản ứng
ngưng kết trên phiến kính và phản ứng ngưng kết trong ống nghiệm thấy rằng,
số Gà cho phản ứng dương tính trên phiến kính nhiều hơn 5,4% so với phản
ứng ngưng kết trong ống nghiệm Phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính
đơn giản, nhanh, tiện lợi cho việc kiểm tra đại trà Kháng nguyên chuẩn để thử
phản ứng là chủng Salmonella gallinarum pullorum có cấu tạo kháng nguyên
đàn Gà cần xét nghiệm cũng ảnh hưởng đến kết quả của phản ứng Nếu xét nghiệm vào lúc Gà nghỉ đẻ thì hàm lượng kháng thể trong máu Gà giảm mạnh nên có thể không phát hiện được Gà mang bệnh Ngược lại vào lúc
Gà đẻ rộ, vi khuẩn hoạt động trở lại, hàm lượng kháng thể cao hơn, dễ dàng
phát hiện ra bệnh [15]
* Chuẩn đoán Salmonellosis bằng phản ứng ELISA
Nguyên lý: Kháng nguyên đã biết được gắn lên một mặt nhựa đặc biệt,
cho kết hợp với tổ hợp enzym đã được gắn kháng thể, sẽ tạo thành phức hợp kháng nguyên – kháng thể có thể gắn enzym và không bị rửa trôi Dùng cơ chất phù hợp với enzim Nó sẽ bị phân hủy bởi enzym tạo ra màu Đọc kết quả qua máy đọc ELISA để phát hiện mẫu huyết thanh dương tính Tùy theo mục
đích của phản ứng phát hiện kháng nguyên hay kháng thể, người ta chia các
loại phản ứng ELISA sau:
Phản ứng ELISA trực tiếp, phản ứng ELISA gián tiếp, phản ứng Sandwich ELISA;…Kháng nguyên sử dụng trong phản ứng ELISA để chẩn
đoán Salmonellosis là toàn bộ tế bào vi khuẩn Vi khẩn đã được phá vỡ bằng
các tác nhân siêu âm, nhiệt độ, áp suất cao,…Kháng nguyên chiết suất của tế
Trang 30bào vi khuẩn hoặc kháng nguyên là những phần đã được tinh khiết như màng ngoài của tế bào vi khuẩn Sử dụng bảng nhựa 96 lỗ, các dung dịch đệm để
gắn kháng nguyên là 50àl Carbonat pH=9,6; 20àl Trichlohidirit pH=8,5; 10àl PBS pH=7,2
2.3 Tình hình ngiên cứu Salmonellosis ở Gà :
Salmonellosis là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của đàn Gà ở mọi lứa tuổi Bệnh do vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum gây ra, lây lan mạnh
và phức tạp Bệnh là nguyên nhân làm thiệt hại kinh tế trong chăn nuôi
2.3.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Năm 1888 ở Anh, Klein đã chuẩn đoán Salmonellosis từ 200 Gà đẻ bố
mẹ chết trong số 400 gà ốm Đặc biệt Salmonella không những chỉ gây cho
động vật mà một số chủng Salmonella còn gây bệnh cho Người Có lẽ vì thế
mà từ rất lâu con người đã có ý thức rằng nghiên cứu Salmonellosis là hết sức
cần thiết
Những nghiên cứu của Snoeyenobos G.H, 1991 cho biết, Gà con nở ra
từ những trứng nhiễm bệnh thường yếu ớt, chúng sẽ chết sau 5 – 10 ngày
Evans và cộng sự kết luận rằng Gà con bị nhiễm Salmonella sẽ ảnh hưởng đến
sự phát triển của xương đùi và xương cánh Ferguson và cộng sự còn cho biết thêm Salmonella tác động làm sưng khớp của Gà con Doyle và Mathews đã nghiên cứu những bệnh tích ở gan, phổi, tim, manh tràng và thận của Gà mắc bệnh Các nghiên cứu cho biết gan Gà con mắc bệnh bị thoái hóa Sunganuma
đã nghiên cứu bệnh tích của 459 trường hợp Salmonellosis trên nhiều loại Gà (Gà dò, Gà mái đẻ, Gà trống) thấy tế bào tăng sinh, phổi và ruột viêm cata Shawabkeh.K, 1996 đã công bố tình hình nhiễm Salmonella của các trại chăn nuôi ở Jordani Tác giả tiến hành phân lập vi khuẩn từ 604 Gà chết và 150 Gà sống nghi Salmonellosis Kết quả cho thấy 164 mẫu bệnh phẩm từ gà chết và
31 mẫu bệnh phẩm từ Gà sống đã phân lập được Salmonella Trong đó có 94/
Trang 31604 và 22/ 150 là Salmonella gallinarum pullorum; 48/64 và 4/150 trường hợp
là Salmonella enteritidis; 11 trường hợp Salmonella typhimurium….Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao nhất ở Gà đẻ (20,5 %) tiếp theo là Gà thịt 18,09 % và
Gà con là 17,9 % Năm 1990, Javed I và cộng sự đã kiểm tra Salmonella ở
753 mẫu bệnh phẩm (251 mẫu gan, 251 mẫu lách, 251 mẫu ruột) của Gà có biểu hiện bên ngoài khỏe mạnh lấy từ các cửa hàng tại Pakistan cho biết có 43
(5,7 %) mẫu dương tính (25 mẫu ruột, 15 mẫu gan và 3 mẫu lách), trong đó
với 31 mẫu là Salmonella gallinarum và 2 mẫu khác là Salmonella có khả
năng di động
SimKo.S đã phân lập được 1370 chủng Salmonella ở các trại có mầm bệnh Trong đó Salmonella gallinarum pullorum chiếm 30,75%, Salmonella typhimurium 21,65 %, Salmonella agona 9,18 %, Salmonella infantis 8,24 %, Salmonella enteritidis 7,8 % Bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính, El-Hassan và Kheir, 1989 , đã kiểm tra 753 mẫu huyết thanh của Gà ở Sudan, kết quả có 6/753 mẫu dương tính Cũng bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính với kháng nguyên chuẩn Salmonella pullorum, năm
1990 Mahato và cộng sự đã kiểm tra 406 mẫu huyết thanh của Gà đẻ, kết
quả dương tính là 52-67% (ở 3 trung tâm lấy mẫu khác nhau), các vi khuẩn
xác định là Salmonella gallinarum pullorum
Năm 1991 Kim CJ và cộng sự đã dùng phản ứng ELISA để phát hiện kháng thể chống Salmonella enteritidis ở Gà, thấy kết quả của phản ứng ELISA nhanh và chính xác hơn các phương pháp chuẩn đoán khác (ngưng kết nhanh, vi ngưng kết…) Các tác giả, Minga U.M; Semuguruka W.D và Macda Maachngu A.D, năm 1988 , đã kiểm tra tỷ lệ nhiễm Salmonella của các đàn
Gà ở Morogoro bằng phương pháp ELISA, phản ứng ngưng kết huyết thanh và nuôi cấy Khi kiểm tra 77 con Gà nghi mắc thương hàn và 112 Gà nghi mắc phó thương hàn với Salmonella nhóm D, thu được kết quả 94,8 % Gà nhiễm
Trang 32thương hàn dương tính khi kiểm tra bằng ELISA, so với 32,5 % dương tính
bằng phản ứng ngưng kết huyết thanh và 1,3 % dương tính bằng phương pháp nuôi cấy Tương tự có 71,4% gà mắc bệnh phó thương hàn dương tính khi
kiểm tra bằng ELISA
Nicolas và cộng sự, 1991 , đã tiến hành thí nghiệm phát hiện kháng thể IgG trong máu Gà nhiễm Salmonella enteritidis bằng phương pháp ELISA Sử dụng kháng nguyên Lypo-polysaccaharide (LPS) và kháng nguyên chịu nhiệt Heat – Entracted Antigen (HE), kết quả cho thấy kháng nguyên LPS phát hiện kháng thể sớm hơn HE, nhưng sử dụng HE- ELISA phát hiện được hầu hết các kháng thể Gà kiểm tra, còn LPS - ELISA chỉ phát hiện được 60 % số Gà bệnh
Năm 1990, Chart H và cộng sự đã sử dụng phản ứng ELISA để phát hiện kháng thể chống Lypopolysaccaharide (LPS) của Salmonella pullorum
và Salmonella enteritidis trên các đàn Gà đẻ Đồng thời sử dụng kháng nguyên chuẩn Salmonella pullorum để làm phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính trong cùng đàn Gà đó Các tác giả kết luận: Tuy kết quả ở phản ứng ELISA là cao hơn, nhưng phản ứng này phức tạp, khó sử dụng Còn phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính có thể kiểm tra Salmonella với số lượng lớn máu Gà ngay tại cơ sở chăn nuôi Phương pháp này nhanh, ít tốn kém cho
nên có thể sử dụng đại trà
Tuchili LM và cộng sự 1996, đã sử dụng phương pháp PCR, với một cặp primer đặc hiệu của Salmonella để phát hiện ADN của Salmonella trong phôi Gà Kết quả kiểm tra 45 mẫu phôi ngạt đã phát hiện 20 mẫu dương tính
(44,4%), với phương pháp phân lập vi khuẩn chỉ phát hiện được 11/45 mẫu dương tính (24,4%)
* Những nghiên cứu về phòng chống và điều trị Salmonellosis
Khacchimo A.V, 1975 cho rằng xử lý phân gia cầm bằng cách trộn với
mùn cưa, dăm bào theo tỉ lệ 1/ 4, ủ sâu 1 m có thể diệt được mầm bệnh
Trang 33Hysnhow và Mc Neil ,dùng formol để xông lò ấp đã hạn chế đáng kể sự lây truyền bệnh cho Gà con lúc mới nở
Năm 1995, Bailey JS và cộng sự , đã tiến hành thử nghiệm đánh giá
hiệu quả của việc cải thiện điều kiện vệ sinh không khí máy ấp bằng tia cực tím (UV) CB 254 Bnm; 146 migro W/s); (020n CB 03 B) 0,2 hoặc 0,4 ppm) hoặc
Hydroperocide trong 3 ngày ấp Sau khi xử lý tổng số khuẩn lạc Salmonella
kiểm tra các mẫu không khí của tủ ấm giảm từ 75 – 95 % Tỷ lệ ấp nở không
có dấu hiệu giảm khi sử lý bằng các phương pháp trên Hydroperocide còn làm giảm Salmonella nhiễm ở trứng
Trong thí nghiệm năm 1989, Oyozo và cộng sự đã dùng đường mannose pha vào nước uống với tỷ lệ 2,5 % để phòng bệnh Salmonella Theo nghiên cứu thì đường mannose có khả năng ngăn chặn sự bám dính của vi khuẩn Salmonella ở ruột non của Gà, với tỷ lệ 2,5 % đường mannose không ảnh hưởng tới tăng trọng của Gà
Oyozo cũng tiến hành thí nghiệm dùng nước uống có 2,5% Carbonhydrat với liều 2,5% đã làm giảm quá trình xâm nhiễm Salmonella typhimurium trên gà Scheneirtz và cộng sự, 1990 , cho biết dung dịch Broilact không pha loãng cho Gà uống hoặc phun đều trong ô chuồng với liều
0,18 - 0,25ml/ mP
2
Có thể pha loãng liều 1/ 8 với nước ấm cho uống đều có kết
quả trong việc chống lại sự nhiễm Salmonella Chế phẩm Baytril 10% với liều
0,5 ml/ lít nước uống trong 5 ngày, sau khi điều trị, tỷ lệ chết còn 8,4%, trong khi các đàn khác được điều trị bằng các loại thuốc kháng sinh thông thường,
sau khi điều trị tỷ lệ chết vẫn là 17 % Theo các tác giả, nếu dùng Baytri để phòng bệnh cho Gà từ lúc 3-5 ngày tuổi với liều 0,5ml/ lít nước thì tỷ lệ chết
đến cuối quá trình nuôi chỉ có 4,8 %
Berchieri và Barrows, 1996, tiến hành thí nghiệm trên hai lô Gà PhodeIslerd-Red Một lô 42 con có bổ sung hỗn hợp axit propionic (Bio-add) trong thức ăn và một lô 41 con làm đối chứng Cả hai lô Gà đều được lây
Trang 34nhiễm qua đường miệng với Salmonella gallinarum 9R Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc và chết so Salmonellosis của Gà ở lô thí nghiệm là 14/ 42 (33 %); trong
ghép nhiều nhóm kháng sinh với nhau và thấy có hiệu lực hơn Tuy nhiên
Sulfonamide thường làm giảm tăng trọng, giảm hấp thu thức ăn và đặc biệt là
ảnh hưởng đến sản lượng trứng nên cách điều trị bằng Sulfonamide chỉ dùng
trong thời gian ngắn
Bottorft, C.A và Kiser, J.S cho rằng Sulfonamide, Sulfadiazine và Sulfamerazine trộn với thức ăn với liều 0,75% dùng cho Gà 5-10 ngày tuổi
đầu Pomeroy, B.S và cộng tiên, có tác dụng tốt trong phòng chống Salmonellosis sự đã kiểm tra công hiệu của 5 loại kháng sinh trong nhóm Sulfonamide đối với Salmonellosis ở Gà (gồm Sulfamerazine, Sulfadiazine, Sulfapyrazine, Sulfaquiloxalin và Sulfamerazine) cho kết quả Sulfamerazine, Sulfadiazine, Sulfapyrazine có hiệu lực kém so với các loại kháng sinh khác
Nhóm hóa dược Nitrofurans được Smith kiểm tra, trong điều trị Salmonellosis với liều 0,04 % Furazolidone trong thức ăn dùng 10 -14 ngày,
có hiệu quả rất cao Cũng theo Smith thì trong điều kiện thí nghiệm, Furazolidone có hiệu quả cao hơn Chloramphenicol và Sulfamerazine trong
điều trị Salmonellosis Gordon và Tucker cùng Wilson , dùng Furazolidone với liều 0,04 % trong thức ăn trong 7 ngày đã làm giảm tỷ lệ chết của Gà mắc Salmonellosis Henderson và cộng sự dùng Furazolidone 0,01 % trong thức ăn
trong 5 tuần, bắt đầu từ thời gian gây nhiễm Trong thời gian dùng thuốc
không có trường hợp bệnh nào phát ra trên đàn Gà thí nghiệm
Trang 35Richey D.J và morgan C.L cho biết dùng Furazolidone liều cao 0,06%
những gà khỏi bệnh sau 20 ngày lại có thể mắc bệnh trở lại
Graugruber.W và Kissling.R dùng Chlotetracycine 200 mg/ kg P đã ngăn chặn được Gà chết trong thí nghiệm gây nhiễm Salmonella qua miệng cho gà 1 ngày tuổi Kháng sinh Colistin được Biondi.E và Schiavo ,kết luận là
có tác dụng tốt với Gà bệnh và có khả năng làm tăng sức sống của Gà nhiễm Salmonellosis
Kháng sinh nhóm Aminoglucoside (Apromycine) được Tacconi.G và
cộng sự , dùng với liều 150 hay 225 mg / l nước uống, có kết quả cao trong
điều trị và giảm tỷ lệ chết của Gà một cách rõ rệt
Hiện nay một số loại kháng sinh dùng điều trị Salmonellosis đã bị cấm
sử dụng như Ampicillin, Chloromycetin, Chloramphenicol, Neomyxin…cấm dùng ở Mỹ và Châu Âu
Vaccine phòng Salmonellosis ở Gà đã được nhiều nước trên thế giới
quan tâm nghiên cứu
Đầu tiên phải kể đến vaccine keo phèn focmol Vaccine chế từ chủng Salmonella được làm giảm hoạt tính bằng focmol Đây là nghiên cứu của các tác giả thuộc Liên Xô (cũ) P.V.Xizor.GX.Xavellev, V.M.Xadovxki… Schiemann và cộng sự, 1991 , đã sử dụng chủng Aro biến dị của Salmonella typhimurium tiêm dưới da kết hợp với 2 lần uống cho Gà mái, thấy đáp ứng miễn dịch chống Salmonella typhimurium tăng rõ rệt Brron.P.A.199, đã dùng vi khuẩn Salmonella gallinarum được xử lý plasmid độc lực, chủng cho Gà vào ngày tuổi
thứ 1 và 14 Sau đó 14 ngày đã gây nhiễm qua đường miệng với liều 50% liều chí
tử, dùng vi khuẩn Salmonella gallinarum chủng IX còn nguyên độc lực Tỷ lệ chết ở các nhóm Gà đã được chủng ngừa là 3 % trong khi ở các nhóm đối chứng
là 36 % Tuy nhiên tiêm chủng cho Gà bằng Salmonella gallinarum đã xử lý
plasmid độc lực thì cho kết quả miễn dịch kém
Trang 36Bouzouban và cộng sự, 1989 , đã nghiên cứu khả năng sử dụng protein
từ chủng Salmonella gallinarum MS 61 và vaccin sống Salmonella gallinarum 9R để phòng Salmonellosis Kết quả cho thấy sử dụng protein từ một chủng Salmonella gallinarum MS61 có trong tự nhiên có hiệu quả chống bệnh tốt hơn so với các vaccine sống Salmonella.gall R
Harrington và cộng sự, 1991 đã phát hiện tỷ lệ gia tăng nhanh chóng của loài Salmonella sofia ở Gà từ 33 - 49%, bên cạnh đó không quan sát được
sự gia tăng của các Salmonella khác Người ta đã giả thiết rằng Salmonella sofia có khả năng ức chế các loài Salmonella khác Đây là một hướng nghiên cứu mới nhất trong phòng chống Salmonella Trong khi các loại vaccine đang dùng hiện nay để phòng Salmonellosis đều cho đáp ứng miễn dịch trong thời
gian ngắn
2.3.2 Tình hình nghiên cứu Salmonellosis trong nước :
ở nước ta vấn đề Salmonellosis cũng được các nhà khoa học quan tâm
từ lâu Trong các năm 1985 – 1989 [15] các tác giả Phạm Quân, Nguyễn Thị Nội đã dùng kháng nguyên Salmonella gallinarum pullorum tự chế để chẩn
đoán Salmonellosis ở các trại Gà An Khánh, Đông Anh, Thành Tô Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm chung của đàn Gà là 15 %, trong đó Gà Leghorn ở An Khánh nhiễm 25%, Gà Sasso ở Đông Anh nhiễm 13,3 %, Gà Ross ở Đông Anh nhiễm 13,6%, Gà Cocnic và Plymouth ở Thành Tô nhiễm 0,16 % Theo các tác giả thì Gà đẻ có tỷ lệ nhiễm cao nhất (41,5%), Gà hậu bị có tỷ lệ nhiễm
15 %
Trương Quang, 1999 [14] đã tiến hành nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella ở đàn Gà Hybro là 9,6 %, đàn Gà ISA là 8,8 % Tác giả cũng kết luận Salmonellosis đã gây ảnh hưởng xấu đến đáp ứng miễn dịch chống Newcaste của Gà Gà nhiễm Salmonellosis khi sử dụng vaccin Newcaste phòng bệnh đều cho hiệu giá HI thấp 82-98, tỷ lệ bảo hộ đạt 83-94%
Trang 37Trần Thị Lan Hương, (1991-1994) [10] dùng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính kết hợp với mổ khám để xác đinh tỷ lệ nhiễm Salmonellosis ở
xí nghiệp Gà Nhân Lễ và trại Gà Tổng cục Hậu Cần của hai giống Hybro và Plymouth Kết quả cho thấy Gà Hybro 30-35 ngày tuổi nhiễm 28,1%, gà Plymouth 30 ngày tuổi nhiễm 22,5 % Tác giả đã dùng Furazolidone liều 0,05
% trộn vào thức ăn liệu trình 6 ngày, tỷ lệ khỏi bệnh là 80 %
Dương Thị Yên, năm 1997 nghiên cứu tình hình nhiễm Salmonella ở 4 giống Gà AA, Lohmann, ISA, Goidine nuôi tại xí nghiệp Gà Tam Dương cho biết Gà AA có tỷ lệ nhiễm cao nhất 8,29 %, sau đó Gà ISA nhiễm 7,2 %; Gà Lohmann nhiễm 4,26 % và Goidine nhiễm 3,19% Tác giả cũng cho biết tỷ lệ nhiễm Salmonella phụ thuộc vào mùa vụ, trong đó vụ Hè thu (tháng 5- tháng 10) tỷ lệ nhiễm 8,79 % cao hơn so với vụ Đông Xuân (tháng 11 – tháng 4 năm
sau), tỷ lệ nhiễm là 4,68 %
Trần Thị Hạnh và cộng sự đã nghiên cứu tình trạng ô nhiễm Salmonella trong môi trường chăn nuôi Gà công nghiệp và trong các sản phẩm chăn nuôi
ở các cơ sở nuôi miền Bắc Theo tác giả cho biết tỷ lệ nhiễm Salmonella bình
quân là 26%, trong nước uống là 31,08%, trong nước thải là 79,59%, trong
chất độn chuồng là 80%, trong lòng đỏ trứng Gà tươi là 28,29% và trong bệnh phẩm là 30,91% Các loài Salmonella phân lập được là Salmonella enteritidis nhiều nhất Sau đó Salmonella typhimurium, Salmonella paratyphy A, Salmonella gallinarum pullorum và Salmonella cholerae suis
Nguyễn Thị Tuyết Lê, 1999 [11] bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính tác giả đã xác định được tỷ lệ nhiễm Salmonella ở Gà Tam Hoàng
là 9,27 %, Gà ISA là 11,6 % Tác giả cho biết thêm về ảnh hưởng của Salmonellosis đến tỷ lệ đẻ của Gà Tam Hoàng, cũng như sự phát triển của phôi thai Gà
Trang 38Trần Quang Diên, 2001 [1]: Đã xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella ở một
số đàn Gà giống của các khu vực khác nhau: kết quả cho thấy ở Hà Nội giống
AA nhiễm 12,62 %, giống Avian nhiễm 13,69 %, giống ISA ở Hà Tây nhiễm 7,4 %, ở Hải Dương nhiễm 5,33 %, ở Hòa Bình nhiễm 1,19 % Tác giả cũng thông báo tỷ lệ nhiễm Salmonella theo các lứa tuổi và mùa vụ khác nhau
Trần Thị Hạnh và cộng sự, (1996-2000) Đã sử dụng một số kháng sinh để hạn chế Salmonella ở Gà công nghiệp Thí nghiệm được bố trí trên 3 lô: Lô 1 sử dụng Neomycylin với liều 120 mg / kgP, bổ xung vào nước uống
điều trị trong 5 ngày liên tục, sau đó cứ 2 tuần nhắc lại một lần Lô 2 sử dụng
Colistin với liều 400 ppm trộn vào thức ăn, điều trị 5 ngày liên tục, sau 5 ngày nhắc lại 1 lần Lô 3 đối chứng sử dụng Anflox chỉ dùng khi cần thiết (khi thấy
gà có dấu hiệu đi ỉa chảy), với liều 12mg / kgP
Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella giảm đáng kể sau khi điều trị:
ở lô 1 giảm từ 25,63 % xuống còn 6 %, lô 2 giảm 11,63 % Tiến hành nuôi cấy bệnh phẩm là cơ quan phủ tạng của phôi thai không nở được sau 21 ngày
ấp, gà con chết ở lúc 1 ngày tuổi ở các lô 1 và 2 đều không tìm thấy
Salmonella Từ đó chứng tỏ rằng 2 loại kháng sinh dùng cho lô 1 và lô 2 đã hạn chế Salmonella lây truyền qua trứng Việc sử dụng các kháng sinh trên
không làm giảm tỷ lệ đẻ và tỷ lệ ấp nở trứng
Trần Thị Hạnh và Gerald Martin, 1996-2000 Đã thông báo kết quả thử nghiệm khả năng ức chế của 5 chủng Salmonell.sofia của Úc và một chủng Salmonella ubandaka phân lập từ gà công nghiệp nuôi ở Việt Nam đối với các chủng Salmonell enteritidis PT4, PT1, Salmonell typhimurium và các chủng Salmonella khác trong ống nghiệm Tác giả cho thấy Salmonell sofia 7905 có khả năng ức chế chủng Salmonella enteritidis PT1 (SE 38N); PT27 (SE 43N) SE33N, Salmonella typhimurium (421N) và Salmonella brandenburg, chủng Salmonellasofia 7906 có khả năng ức chế Salmonella enteritidis PT4 của Đức
Trang 39(55N) chñng VN2 ®−îc ph©n lËp ë ViÖt Nam còng cã t¸c dông øc chÕ Salmonella enteritidis PT4 (515N) g©y bÖnh ë ng−êi
Ngµnh ch¨n nu«i ë ViÖt Nam kh«ng ngõng ph¸t triÓn, hÖ thèng cung
cÊp con gièng phøc t¹p, quy m« ch¨n nu«i nhá lÎ ViÖc nghiªn cøu tiÕp theo
vÒ Salmonella cµng cÇn thiÕt, gãp phÇn lµm cho ng−êi nu«i cã nh÷ng nhËn thøc vÒ thiÖt h¹i do Salmonella g©y ra, gióp hä thùc hiÖn nh÷ng biÖn ph¸p h÷u
hiÖu phßng trõ bÖnh lµm s¹ch m«i tr−êng ch¨n nu«i vµ n©ng cao n¨ng suÊt ch¨n nu«i
Trang 40Phần 3 Nội dung, nguyên liệu và phương pháp
nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu :
- Điều tra tình hình quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y
của 3 cơ sở chăn nuôi Gà giống bố mẹ với 2 giống Gà ISA và Lương Phượng ở Bắc Ninh
- Xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella của hai giống Gà đẻ ISA và Lương
Phượng đang nuôi tại các cơ sở
- Phân lập, xác định vi khuẩn Salmonella spp từ Gà có phản ứng huyết
thanh dương tính với Salmonella
- ảnh hưởng của Salmonellosis đến tỷ lệ đẻ của Gà ISA và Lương
Phượng
- ảnh hưởng của Salmonellosis đến tỷ lệ trứng loại của Gà ISA và
Lương Phượng
- Xác định ảnh hưởng của Salmonellosis đến sự phát triển của phôi thai Gà
- ảnh hưởng của Salmonellosis đến tỷ lệ trứng có phôi, trứng chết phôi
và thai ngạt ở ngày ấp thứ 21 (ngày nở)
- Phân lập vi khuẩn Salmonella từ trứng chết phôi và phôi ngạt ở ngày ấp
sthứ 21 và Gà con chết 1 ngày tuổi
- Xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella spp trong thức ăn, nước uống tại cơ sở
chăn nuôi
- Định tuýp kháng huyết thanh, giám định một số đặc tính sinh vật,
hóa học các chủng Salmonella spp phân lập được ở hai giống Gà ISA và Lương Phượng