1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên

89 214 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN THỊ HOAN NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN Ủ XANH ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ SỮA NUÔI TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành : CHĂN NUÔI ĐỘNG

Trang 1

TRẦN THỊ HOAN

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN Ủ XANH ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ SỮA NUÔI TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ

TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LIÊN

THÁI NGUYÊN - 2007

Trang 2

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Trần Thị Hoan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong qúa trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và địa phương Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:

Đảng uỷ, Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Sau Đại học, phòng Đào tạo Khoa học và Hợp tác quốc tế và các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Liên và các thầy giáo: GS.TS Từ Quang Hiển, PGS.TS Nguyễn Quang Tuyên, PGS.TS Nguyễn Văn Bình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Công ty TNHH Thái Việt, Ban Quản lý dự án chăn nuôi bò sữa tỉnh Thái Nguyên, Phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ

Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lỏng cảm ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2007

Tác giả

Trần Thị Hoan

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CSDT : Chỉ số dài thân CSKL : Chỉ số khối lượng CSTM : Chỉ số tròn mình CSRN : Chỉ số rộng ngực CSTX : Chỉ số to xương ĐVT : Đơn vị tính VCK : Vật chất khô

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu, biểu đồ và đồ thị

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

2.1 Mục đích của đề tài 2

2.2 Yêu cầu của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của bò 3

1.1.1.1 Khái niệm về sinh trưởng 3

1.1.1.2 Các quy luật của qúa trình sinh trưởng 3

1.1.1.3 Khả năng sinh sản, sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng sữa của bò 7

1.1.2 Thức ăn ủ xanh 14

1.1.2.1 Nguyên lý ủ xanh 14

1.1.2.2 Kỹ thuật ủ xanh 17

1.1.2.3 Tác dụng của thức ăn ủ xanh 18

1.1.2.4 Lượng thức ăn ủ xanh cần thiết 19

1.2 Tình hình chăn nuôi trong và ngoài nước 20

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 20

1.2.1.1 Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng 20

Trang 6

1.2.1.2 Nghiên cứu về khả năng sinh sản của bò 22

1.2.1.3 Ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất và chất lượng sữa bò 24

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

1.2.2.1 Sự phát triển và phân bố đàn bò sữa trong nước 25

1.2.2.2 Các giống bò sữa nuôi tại Việt Nam 28

1.2.2.3 Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và khả năng sinh sản 31

1.2.2.4 Ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến sản lượng và chất lượng sữa bò 31

1.3 Một số thông tin chính về tỉnh Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ 33

1.3.1 Một số thông tin chính về tỉnh Thái Nguyên 33

1.3.2 Một số thông tin chính về huyện Đồng Hỷ 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Đối tượng nghiên cứu 41

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 41

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 41

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 41

2.3 Nội dung nghiên cứu 41

2.3.1 Thực trạng đàn bò sữa ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 41

2.3.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh trưởng của đàn bê sữa hậu bị và đàn bò sinh sản huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên ở các lứa tuổi từ sơ sinh đến lớn hơn 36 tháng tuổi, gồm các chỉ tiêu 41

2.3.3 Nghiên cứu khả năng sinh sản và khả năng sản xuất sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện Đồng Hỷ 42

2.3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến khả năng sản xuất của bò sữa 42

Trang 7

2.4 Phương pháp nghiên cứu 42

2.4.1 Nghiên cứu tình hình phát triển chăn nuôi tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 42

2.4.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh trưởng của bê và đàn bò sữa của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên ở các lứa tuổi từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi, gồm các chỉ tiêu 42

2.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thức ăn ủ xanh đến khả năng sản xuất của bò sữa 44

2.5 Ph−¬ng ph¸p xö lý sè liÖu 46

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47

3.1 Tình hình phát triển chăn nuôi bò của huyện Đồng Hỷ 47

3.1.1 Số lượng và phân bố đàn bò của huyện Đồng Hỷ 47

3.1.2 Số lượng và phân bố đàn bò sữa tại huyện Đồng Hỷ 48

3.1.3 Cơ cấu đàn bò sữa theo lứa tuổi và theo hiện trạng tại các xã điều tra ở huyện Đồng Hỷ năm 2006 49

3.1.4 Cơ cấu đàn bò sữa theo giống tại các xã điều tra của huyện Đồng Hỷ từ năm 2003 đến năm 2006 50

3.2 Khả năng sinh trưởng của đàn bê sữa huyện Đồng Hỷ 51

3.2.1 Khối lượng tích luỹ của đàn bê sữa qua các độ tuổi 51

3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của đàn bê sữa huyện Đồng Hỷ 53

3.2.3 Kích thước một số chiều đo cơ thể của đàn bê sữa huyện Đồng Hỷ 55

3.2.4 Một số chỉ số cấu tạo thể hình của đàn bê sữa tại huyện Đồng Hỷ 56

3.3 Khả năng sinh trưởng của đàn bò sữa huyện Đồng Hỷ 57

3.3.1 Khối lượng tích luỹ của đàn bò sữa qua các thời kỳ 57

3.3.2 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của bò sữa huyện Đồng Hỷ 58

Trang 8

3.3.3 Kích thước một số chiều đo cơ thể của đàn bò sữa huyện Đồng Hỷ 60

3.3.4 Một số chỉ số cấu tạo thể hình của bò sữa tại huyện Đồng Hỷ 61

3.4 Các chỉ tiêu sinh lý sinh sản và khả năng sản xuất của bò sữa tại huyện Đồng Hỷ 62

3.4.1 Các chỉ tiêu sinh sản của đàn bò sữa 62

3.4.2 Khả năng sản xuất và chất lượng sữa của bò sữa tại huyện Đồng Hỷ 63

3.5 Kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc sử dụng thức ăn ủ xanh đến khả năng sản xuất của bò sữa 64

3.5.1 Kết quả phân tích thành phần hoá học của cỏ voi tươi và thức ăn ủ xanh 64

3.5.2 Ảnh hưởng của khẩu phần ăn có cỏ ủ xanh đến năng suất sữa của đàn bò thí nghiệm 66

3.5.3 Hiệu quả kinh tế 70

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Đề nghị 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 45

Bảng 3.1 Số lượng đàn bò của huyện Đồng Hỷ từ năm 2003 - 2006 47

Bảng 3.2 Số lượng và phân bố đàn bò sữa tại huyện Đồng Hỷ từ năm 2003 - 2006 48

Bảng 3.3 Cơ cấu đàn bò sữa theo lứa tuổi và theo hiện trạng tại huyện Đồng Hỷ năm 2006 49

Bảng 3.4 Cơ cấu đàn bò sữa của huyện Đồng Hỷ từ năm 2003 đến năm 2006 50

Bảng 3.5 Khối lượng của đàn bê sữa 51

Bảng 3.6 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của đàn bê sữa qua các giai đoạn (từ SS -18 tháng tuổi) 53

Bảng 3.7 Kích thước một số chiều đo chính của bê sữa tại huyện Đồng Hỷ 55

Bảng 3.8 Một số chỉ số cấu tạo thể hình của đàn bê sữa ở các lứa tuổi 56

Bảng 3.9 Khối lượng của đàn bò sữa 57

Bảng 3.10 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của bò sữa qua các giai đoạn (từ 24 - lớn hơn 36 tháng tuổi) 59

Bảng 3.11 Kích thước một số chiều đo chính của bò sinh sản huyện Đồng Hỷ 61

Bảng 3.12 Một số chỉ số cấu tạo thể hình của đàn bò sữa ở các lứa tuổi 61

Bảng 3.13 Các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn bò sữa tại huyện Đồng Hỷ 62

Bảng 3.14 Khả năng sản xuất và chất lượng sữa 63

Bảng 3.15 Kết quả phân tích cỏ voi tươi và thức ăn ủ xanh 65

Bảng 3.16 Ảnh hưởng của khẩu phần ăn có cỏ ủ xanh đến năng suất sữa của đang bò 66

Bảng 3.17 Ảnh hưởng của khẩu phần có thức ăn ủ xanh đến chất lượng sữa của bò 69

Bảng 3.18 Chi phí thức ăn trong thời gian thí nghiệm 70

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Biểu đồ 3.1: Sinh trưởng tích luỹ của đàn bê sữa huyện Đồng Hỷ 52

Biểu đồ 3.2: Sinh trưởng tuyệt đối của đàn bê sữa huyện Đồng Hỷ 53

Biểu đồ 3.3: Sinh trưởng tích luỹ của bò sữa huyện Đồng Hỷ 58

Biểu đồ 3.4 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn bò sữa huyện Đồng Hỷ 59

Đồ thị 3.1: Sinh trưởng tương đối của bê sữa huyện Đồng Hỷ 60

Đồ thị 3.2: Sinh trưởng tương đối của đàn bò sữa huyện Đồng Hỷ 60

Đồ thị 3.3: Năng suất sữa của bò thí nghiệm 68

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong những năm qua, nhất là giai đoạn 2001 - 2005, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa Đặc biệt, Quyết định số 167/2001/QĐ - TTg ngày 26/10/2001 của Chính phủ về một số chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 được xem như một định hướng chiến lược, là một cơ hội mới tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chăn nuôi bò sữa ở nước ta Kể từ sau khi có Quyết định

167, chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đã phát triển nhanh chóng Số lượng đàn

bò sữa tăng với tốc độ bình quân 26,1%; năng suất sữa của đàn bò sữa tăng mỗi năm trung bình 3,9% (bò lai) đến 4,9% (bò thuần); sản lượng sữa tăng bình quân 32,2% Thực hiện Quyết định số 167/2001/QĐ - CP, Tỉnh Thái Nguyên là một trong 28 Tỉnh trong cả nước đã xây dựng dự án phát triển chăn nuôi bò sữa và UBND tỉnh Thái Nguyên đã phê duyệt dự án này tại Quyết định số 2019/QĐ - UB ngày 28/8/2003 Các huyện và thành thị là: Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, thị xã Sông Công, Phú Bình, Phổ Yên đã triển khai thực hiện dự án này Trong các huyện, thị nói trên, Đồng Hỷ là địa bàn duy nhất thuộc khu vực miền núi Địa hình của Huyện chủ yếu là đồi và núi thấp, diện tích đất bằng phẳng để sản xuất nông nghiệp và đất để trồng cỏ không nhiều Dân trí cũng như trình độ chăn nuôi của người dân so với 4 huyện thị còn lại cũng thấp hơn Những kỹ thuật ở nơi khác có thể đã áp dụng từ nhiều năm trước đây, nhưng ở Đồng Hỷ, người dân vẫn chưa được tiếp cận; ví dụ như kỹ thuật ủ xanh thức ăn để dự trữ thức ăn cho gia súc trong vụ đông

Huyện Đồng Hỷ đã nhập bò sữa và nuôi từ năm 2003 Với những lý do nêu trên, đàn bò sữa phát triển như thế nào? Cần có những biện pháp kỹ thuật nào để khuyến cáo cho nông dân dự trữ thức ăn xanh cho bò trong vụ đông

Trang 12

Để góp phần giải đáp những vấn đề trên, đồng thời góp phần phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện Đồng Hỷ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên"

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

Đánh giá được thực trạng về số lượng cũng như chất lượng đàn bò sữa của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, đồng thời xác định được hiệu quả của việc thay thế thức ăn xanh bằng thức ăn ủ xanh trong khẩu phần thức ăn của

bò sữa, trên cơ sở đó khuyến cáo cho người chăn nuôi ủ xanh thức ăn để dự trữ thức ăn cho bò vào vụ đông

2.2 Yêu cầu của đề tài

Các số liệu thu được phải trung thực, khách quan và có ý nghĩa thực tiễn, chúng có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học

và thực tiễn sản xuất

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của bò

1.1.1.1 Khái niệm về sinh trưởng

Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực, 1975 [21], Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, Nguyễn Tiến Vởn, 1992 [22] cho biết một số nhận xét đánh giá của một số nhà khoa học về qúa trình sinh trưởng như sau:

F.S.Lee (1898) cho rằng, sinh trưởng bao giờ cũng phải có các quá trình: tế bào phân chia, thể chất tăng lên và hình thành các chất giữa các tế bào, trong đó hai quá trình đầu là quan trọng nhất Thêm vào khái niệm chỉ ở phạm vi tế bào, W.roux (1892), H.Driech (1900) cho rằng, sinh trưởng là sự tăng thể tích và khối lượng cơ thể do các khoang và thể khối của cơ thể đều tăng Theo Gartner - 1992, qúa trình sinh trưởng được xem trước tiên như là kết quả phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống

Như vậy, sinh trưởng là sự tăng về kích thước, khối lượng tế bào, mô hay bộ phận cơ quan trong cơ thể Đó là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do quá trình đồng hóa và dị hóa của gia súc Sự sinh trưởng (biến đổi về số lượng) và sự phân hóa (biến đổi về chất lượng) tạo nên sự phát triển của cơ thể từ bào thai đến lúc già chết

1.1.1.2 Các quy luật của qúa trình sinh trưởng

Trong chăn nuôi muốn đánh giá đúng sự phát triển của gia súc, cần nắm được quy luật chung về sinh trưởng, phát dục cũng như nhu cầu về chất dinh dưỡng của cơ thể và những yếu tố tác động của ngoại cảnh ảnh hưởng đến quá trình này

Hiểu biết thực chất của quá trình sinh trưởng, đi sâu vào quy luật của quá trình này, biết điều khiển sự phát triển của cá thể sẽ tạo ra nhiều sản phẩm

Trang 14

của gia súc Quá trình sinh trưởng tuân theo những quy luật nhất định, phổ biến là quy luật sinh trưởng theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều, quy luật sinh trưởng phát dục theo chu kỳ Trong đó quy luật quan trọng nhất là quy luật sinh trưởng theo giai đoạn Tính chất giai đoạn của sự sinh trưởng đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý, điều đó đã xác định đây là một hiện tượng được xác định rõ rệt (Trần Đình Miên, 1975) [19] (trích dẫn bởi Dương Thị Khang, 2001) [19]

* Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn

Sự sinh trưởng theo giai đoạn được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Theo tác giả Nguyễn Ân và CTV (1983) [1] đã cho rằng: Thời gian của giai đoạn dài hay ngắn, số giai đoạn ít hay nhiều, sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể trong phạm vi giống đó Hơn nữa, tính giai đoạn không phải là đặc trưng của cả cơ thể nói chung mà là của từng bộ phận trong cơ thể Theo quy luật này, sinh trưởng của gia súc được chia thành hai giai đoạn rõ rệt đó là: Giai đoạn trong bào thai và giai đoạn ngoài bào thai

- Giai đoạn trong bào thai: Giai đoạn này được xác định từ khi trứng được thụ tinh (tạo hợp tử) cho đến khi con vật được sinh ra ngoài Trong giai đoạn này cả hai quá trình sinh trưởng và phát dục đều rất mãnh liệt Bào thai được nuôi bằng dưỡng chất của mẹ thông qua hệ thống nhau thai Thời kỳ này thai phát triển mạnh, bình quân tăng từ 220 - 230g/ngày (thai trâu, bò)

Đối với các loài động vật khác nhau, giai đoạn trong bào thai cũng dài ngắn khác nhau, nhưng quá trình sinh trưởng, phát dục của tất cả các gia súc đều phải trải qua ba thời kỳ: Thời kỳ phôi, thời kỳ tiền phôi và thời kỳ thai nhi Giai đoạn trong thai giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của cơ thể vì chính giai đoạn này hình thành các cơ quan, hệ thống, xác định cơ chế thích ứng của cơ thể với điều kiện ở giai đoạn sau Vì vậy, việc chăm sóc, nuôi dưỡng tốt gia súc mẹ trong giai đoạn này là cần thiết Nó sẽ đem lại hiệu quả cao cho sức sinh sản sau này

Trang 15

- Giai đoạn ngoài thai: Bắt đầu từ lúc con vật được sinh ra cho đến lúc con vật già và chết hay bị giết thịt Ở giai đoạn này cơ thể vẫn tiếp tục quá trình sinh trưởng phát dục của nó Người ta chia giai đoạn này thành các thời

kỳ sau: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi

Ở giai đoạn ngoài bào thai tốc độ sinh trưởng phát dục của cơ thể vẫn rất mạnh, nhưng trong mỗi thời kỳ có những đặc thù riêng, chẳng hạn trong thời kỳ mới đẻ và bú sữa các loại xương ngoại vi phát triển mạnh, do đó con vật tăng về chiều cao Nếu trong thời kỳ đầu khối lượng cơ thể tăng lên do sự phát triển của mô, cơ và xương thì ở thời kỳ sau khi con vật trưởng thành cơ thể bắt đầu tích lũy mỡ

Nói chung, sự phân chia giới hạn của các thời kỳ trong từng giai đoạn còn phụ thuộc vào sự tác động của con người Tính giai đoạn trong sự phát triển không những biểu hiện ở đặc tính chung như tăng sinh, tăng khối mà còn biểu hiện tăng tiến hoàn chỉnh dần Thời kỳ này nhất thiết nối tiếp thời kỳ kia, liên tục và không đi ngược lại

Cùng với quy luật sinh trưởng phát dục nêu ở trên, sự sinh trưởng của gia súc còn tuân theo quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều và quy luật sinh trưởng, phát dục theo chu kỳ

* Quy luật sinh trưởng, phát dục không đồng đều

Cơ thể gia súc không phải bất cứ lúc nào, hay lứa tuổi nào cũng phát triển theo một quy luật, một sự cân đối từ đầu đến cuối Sự sinh trưởng phát dục của gia súc trên toàn bộ cơ thể hay ở từng cơ quan, bộ phận còn có sự thay đổi theo tuổi Sự thay đổi này cũng khác nhau về cường độ, tốc độ ở các lứa tuổi khác nhau Tính biệt trong sự phát triển đó cũng chính là quy luật phát triển không đồng đều của gia súc và được biểu hiện ở nhiều mặt như: Sự không đồng đều về tăng trọng: lúc gia súc còn nhỏ, khả năng tăng trọng ít

Trang 16

nhưng sau đó tăng trọng nhanh hơn, đến thời kỳ trưởng thành tăng trọng lại giảm đi, rồi ổn định Cuối cùng nếu được nuôi dưỡng tốt gia súc sẽ tích lũy

mỡ (giai đoạn nuôi vỗ béo)

So sánh trong cùng loài với nhau, thì ở bất kỳ loài gia súc nào, hệ số tăng trọng ở trong thời kỳ trong thai đều vượt xa thời kỳ ngoài thai (trích Nguyễn Đức Chuyên, 2004) [7]

Tính không đồng đều còn thể hiện ở sự phát triển của hệ thống xương qua các lứa tuổi khác nhau, qua sự phát triển cá thể, khi ra khỏi cơ thể mẹ nhìn chung gia súc phát triển mạnh chiều dài tiếp theo là chiều sâu, rộng Sự phát triển tuần tự chiều dài, sâu, rộng cũng tuân theo quy luật nhất định và ở từng giai đoạn cũng có khác nhau

Các bộ phận, tổ chức trong cơ thể cũng phát triển không đều Sự hình thành và phát triển của từng bộ phận còn phụ thuộc vào vị trí, chức năng và vai trò của nó Sự phát triển không đồng đều của các bộ phận cuối cùng dẫn đến sự phát triển cân đối của cơ thể Vì thế, nó khẳng định: Sự cân đối của cơ thể thay đổi theo sự phát triển

* Quy luật sinh trưởng phát dục theo chu kỳ

Tính chu kỳ trong quá trình sinh trưởng không phải là một hiện tượng

lạ Qua nghiên cứu người ta thấy rằng, tính chu kỳ có ngay trong sự tăng sinh của tế bào: Có thời kỳ phát triển mạnh, có thời kỳ yếu đi, sau đó có thời kỳ phát triển mạnh lại Sự lặp đi lặp lại đó một cách nhịp nhàng tạo nên một sự phát triển có tính chu kỳ và có thể chu kỳ nối tiếp chu kỳ (Nguyễn Ân và cộng

sự, 1983) [1]

Vì vậy có thể nói: Sự phát triển của cơ thể gia súc không những chỉ tuân theo hai quy luật, quy luật phát triển theo giai đoạn và quy luật phát triển không đồng đều mà còn tuân theo quy luật mang tính chu kỳ nữa Điều đó có thể thấy ở một số mặt sau:

Trang 17

Tính chu kỳ trong hoạt động sinh lý của cơ thể: Hoạt động của thần kinh

đi theo một nhịp độ và cường độ nhất định Tính chu kỳ trong hoạt động của hệ thần kinh biểu hiện ở trạng thái khi thì hưng phấn khi thì ức chế Sự ức chế và hưng phấn đó cũng liên quan đến qúa trình đồng hóa và dị hóa của cơ thể

Trong chăn nuôi việc hiểu rõ chu kỳ rất quan trọng, từ đó lên kế hoạch thụ tinh cho gia súc, điều khiển được thời gian đẻ, tránh hiện tượng vô sinh cho gia súc

Tính chu kỳ trong qúa trình tăng trọng của gia súc: Quá trình trao đổi chất cũng được thể hiện rõ ràng và được minh họa trong các đồ thị về tăng trọng của gia súc, gia cầm Hoặc qúa trình đồng hóa và dị hóa trong trao đổi chất, việc chuyển hóa đường thành năng lượng là ví dụ điển hình chứng minh tính chu kỳ lặp lại không ngừng và tính chu kỳ ở sinh vật là một quy luật khách quan

1.1.1.3 Khả năng sinh sản, sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng sữa của bò

* Sinh sản và sức sản xuất

Sinh sản là một quá trình sinh lý phức tạp, chịu tác động của tính di truyền và môi trường xung quanh Hoạt động sinh dục do tuyến yên điều khiển, thông qua một loạt các tuyến nội tiết và hệ thần kinh thể dịch

Sự thành thục về tính

Trên cơ sở di truyền cơ thể bò cái khi sinh ra đã có đầy đủ các bộ phận sinh dục Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, tích lũy protein đến giai đoạn thành thục về tính, bộ máy sinh dục bắt đầu hoạt động Khi đó cơ quan sinh dục bắt đầu sản sinh ra các tế bào sinh dục có khả năng thụ tinh Đồng thời dưới tác động của hormone, các đặc điểm sinh dục phụ xuất hiện, bò có những phản xạ về tính

Trang 18

Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào đặc tính di truyền của từng giống, từng loài Ngoài ra, tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào các yếu tố: Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và khí hậu

Bò cái thành thục về tính lúc 8-12 tháng tuổi, bò đực 12-18 tháng tuổi Tuổi thành thục về tính thường đến sớm hơn so với tuổi thành thục về thể vóc Đối với bò, tuổi thành thục về thể vóc có thể kéo dài đến 5 năm

Chu kỳ tính và hiện tượng động dục

Khi đã thành thục về tính cứ sau một khoảng thời gian nhất định trong

cơ thể quá trình trao đổi chất có nhiều thay đổi, trong cơ quan sinh dục con cái cũng có sự thay đổi như: Niêm mạc tử cung, âm đạo xung huyết, buồng trứng phát triển về khối lượng, chất lượng, trứng chín và rụng, con cái có biểu hiện bên ngoài bất thường về trạng thái thần kinh Hiện tượng đó gọi là động dục

Sự động dục này mang tính chu kỳ Thời gian từ lần động dục trước đến lần động dục sau gọi là chu kỳ tính Ở loài vật nuôi khác nhau thì chu kỳ tính là khác nhau, ví dụ như bò là 21 ± 3 ngày

Sự rụng trứng

Quá trình rụng trứng chịu sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương, thông qua sự hoạt động của các tuyến nội tiết Ở mỗi chu kỳ động dục chỉ rụng 1 trứng và thay đổi giữa hai buồng trứng

Sau khi trứng rụng chỗ bao noãn vỡ sẽ hình thành thể vàng Thể vàng tồn tại lâu hay ngắn phụ thuộc vào trứng có được thụ tinh hay chưa Thời gian rụng trứng của các loài vật nuôi là không giống nhau Trong cùng một loài gia súc nó cũng thay đổi phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng, quản lý, nhiệt độ, khí hậu hay đặc tính cá thể Nếu điều kiện về dinh dưỡng, môi trường sống phù hợp thì sự rụng trứng xảy ra đều đặn theo chu kỳ và đúng thời gian

Trong trường hợp con vật bị suy dinh dưỡng, đường sinh dục bị viêm nhiễm, hay điều kiện khí hậu của môi trường sống có nhiều trở ngại, dẫn đến rối loạn nội tiết thì trong chu kỳ trứng rụng hoặc không rụng

Trang 19

Sự thụ tinh

Khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng và

có sự đồng hoá của hai giao tử để hình thành hợp tử, tức là quá trình thụ tinh

đã xảy ra Quá trình này xảy ra qua 4 giai đoạn:

Sức sản xuất sữa:

Dưới tác động của hormone, như tuyến phát triển và hoạt động sinh sữa, thải sữa Sữa được tạo thành trong các nang nhũ tuyến từ chất dinh dưỡng của thức ăn Để tăng lượng sữa, từ lúc còn nhỏ phải thường xuyên xoa bóp bầu vú, đầu vú để kích thích nhũ tuyến phát triển Ngay lúc gia súc có mang và lúc vắt sữa cũng phải thường xuyên xoa bóp vú

Trong quá trình sản xuất sữa người ta phân biệt:

- Chu kỳ cho sữa: Thời gian từ khi đẻ đến khi cạn sữa : 300 hay 305 ngày

- Thời gian khô sữa: Sữa ngừng tạo thành, gia súc ngừng tiết sữa

- Thời gian nghỉ đẻ: Từ lúc nghỉ vắt sữa đến khi đẻ lứa mới (ở bò thường 2 tháng)

Trang 20

- Thời gian thuần sữa: Thời gian từ lúc đẻ đến khi phối giống thụ thai lứa tiếp theo (chỉ có nhu cầu sản xuất sữa mà không có nhu cầu nuôi thai)

Ở những năm đầu sản lượng sữa bò tăng dần lên: Sản lượng sữa lứa thứ nhất bằng 75 - 80% lứa 3, lứa 2 bằng 85- 90% lứa 3 (Dương Mạnh Hùng, 2004) [7]

* Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của bò

Để kiểm tra và đánh giá khả năng sinh sản của bò cái người ta thường dựa trên một số chỉ tiêu cơ bản sau:

Tuổi động dục lần đầu

Khi gia súc thành thục về tính sẽ có biểu hiện chu kỳ động dục Tuổi động dục lần đầu là một chỉ tiêu quan trọng Nó phản ánh tính dục và khả năng sinh sản sớm hay muộn, có liên quan chặt chẽ với số lứa đẻ của một đời con vật

Tuổi động dục của loài gia súc khác nhau thì khác nhau Nó phụ thuộc vào giống, trong cùng một giống thì các cá thể khác nhau có tuổi động dục cũng khác nhau Ngoài ra, các điều kiện về nuôi dưỡng, chăm sóc và môi trường cũng ảnh hưởng đến tuổi động dục lần đầu

Tuổi phối giống lần đầu: Là tuổi mà bò cái tơ động dục được phối

giống lần đầu Tính trạng này phụ thuộc vào tuổi động dục lần đầu cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nó, nhưng không phải tương ứng với một tuổi động dục lần đầu sẽ có tuổi phối giống lần đầu tương ứng Thông thường người ta

bỏ qua một vài chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống

Tuổi đẻ lứa đầu

Tuổi đẻ lứa đầu cũng là một tính trạng có liên quan chặt chẽ tới tuổi phối giống lần đầu và kết quả của nó là tỷ lệ thụ thai

Tuy nhiên, tỷ lệ thụ thai còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời điểm phối giống, kỹ thuật phối, chất lượng sinh dục, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và thời tiết khí hậu

Trang 21

Khoảng cách lứa đẻ

Khoảng cách lứa đẻ phản ánh khả năng sinh sản của toàn đàn cũng như giá trị kinh tế cơ bản của đàn giống Nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: giống, thức ăn dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý

Tỷ lệ sống của bê

Bê là kết quả cuối cùng của mọi quá trình hoạt động sinh sản của bò cái Bởi vậy, việc nâng cao tỷ lệ sống của bê sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò sinh sản, tỷ lệ nuôi sống của bê phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Sức sống của giống, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý, tình hình bệnh tật và tác động của ngoại cảnh

* Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng sữa của bò

- Sản lượng sữa: Là toàn bộ lượng sữa mà cơ thể bò mẹ tiết ra trong một chu kỳ khai thác sữa

- Sức sản xuất sữa: Người ta quy về sữa tiêu chuẩn để đánh giá khả năng sản xuất sữa của bò Sữa tiêu chuẩn là sữa có tỷ lệ mỡ sữa 4% và sữa tiêu chuẩn = 0,4S + 15F

Trong đó: S: sản lượng sữa thường (kg)

F: sản lượng mỡ của sữa thường (kg)

Các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa:

- Nhân tố di truyền

Qua nghiên cứu cho thấy các tính trạng như: Tỷ lệ mỡ sữa, protit sữa

có hệ số di truyền cao, sản lượng sữa có hệ số di truyền thấp hơn Theo Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2004 [3], hệ số di truyền của một số tính trạng ở bò sữa như sau:

Trang 22

- Tuổi có thai lần đầu: Tuổi thành thục về tính thường đến sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, do đó trong trường hợp phối giống qúa sớm sẽ kìm hãm sự sinh trưởng của cơ thể và sự phát dục của tuyến sữa, các tuyến bào phát triển kém, sức sản xuất thấp Vì vậy, nên phối giống lần đầu cho trâu, bò vào

16 - 18 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 65 - 70% khối lượng trưởng thành

- Tuổi của bò cái: bò cái hướng sữa cao nhất ở lứa đẻ 4 - 5 và ổn định trong 2 - 3 năm, sau đó lại giảm

Những bò cái thành thục sớm, sản lượng cao nhất vào 6 năm tuổi (chu

kỳ sữa thứ 4), trong khi đó ở những bò cái thành thục muộn thì sản lượng sữa cao nhất vào 8 - 9 năm tuổi (chu kỳ sữa thứ 5 - 6)

Trang 23

- Dinh dưỡng: Các nguyên liệu để hình thành sữa có nguồn gốc từ các chất dinh dưỡng trong thức ăn, do đó mức độ dinh dưỡng có ảnh hưởng rõ rệt tới sản lượng sữa

Theo thí nghiệm của Makengli: Khi giảm thấp tỷ lệ protein tiêu hóa từ

15 - 20% so với tiêu chuẩn thì chưa có ảnh hưởng tới khả năng sản xuất sữa, nhưng khi giảm thấp hơn nữa hoặc bằng 34% (75 - 77g/1ĐVTA) thì dẫn tới làm giảm sức sản xuất sữa đến 251,3 kg/chu kỳ, ngược lại khi nâng cao mức protein tiêu hóa lên quá cao đến 122% so với tiêu chuẩn thì sản lượng sữa cũng bị giảm tới 9%

- Khối lượng cơ thể: Trong cùng một giống những con có khối lượng cao hơn thì năng suất sữa sẽ cao hơn

- Ảnh hưởng của môi trường: Sức sản xuất của vật nuôi chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của điều kiện môi trường như: nhiệt độ, ẩm độ, gió, bức

xạ mặt trời, lượng mưa Những nhân tố này ảnh hưởng thông qua năng suất

và phẩm chất cây thức ăn và ảnh hưởng trực tiếp qua sự kích thích hệ thống thần kinh - thể dịch và hệ thống enzym

- Thời gian từ khi đẻ đến khi phối lại: Khi có thai sản lượng sữa của bò giảm 15 - 20% và giảm nhiều hơn khi chửa trên 5 tháng Do đó, cần xác định thời gian của một chu kỳ sữa, thời điểm phối giống lại cho bò hợp lý để đạt được chỉ số ổn định về năng suất sữa Qua nghiên cứu, các nhà chăn nuôi đã thống nhất thời gian thích hợp cho một chu kỳ tiết sữa là 270 - 300 ngày, bò cái cần được phối lại sau khi đẻ từ 60 - 80 ngày

- Kỹ thuật vắt sữa: Quá trình tổng hợp và phân tiết sữa chịu sự điều tiết của thần kinh - thể dịch, do đó khi thời gian tiết sữa kéo dài, oxytoxyl kém hiệu lực, vắt sữa không đúng quy định thì sẽ ức chế qúa trình tiết sữa, tăng tỷ

lệ sữa sót Số lần vắt sữa/ngày cũng ảnh hưởng nhiều tới năng suất sữa

Trang 24

- Bệnh tật: Những bò mắc bệnh thường kém ăn, thể trạng yếu dẫn đến khả năng tạo sữa kém

1.1.2 Thức ăn ủ xanh

Theo Vũ Duy Giảng, 1997 [13]: Ủ xanh là một quá trình lên men, thông qua đó để bảo quản thức ăn xanh trong thời gian dài mà giá trị dinh dưỡng của thức ăn xanh này thay đổi ít Ủ xanh là một qúa trình đấu tranh sinh tồn giữa

vi sinh vật có lợi và vi sinh vật có hại

1.1.2.1 Nguyên lý ủ xanh

Thực chất của việc ủ xanh là xếp chặt thức ăn tươi vào hầm hố ủ kín không có không khí Nhờ kết quả của tác dụng lên men vi sinh vật sản sinh các loại axit hữu cơ chủ yếu là axit lactic Chính những axit hữu cơ này là

"thuốc bảo tồn" thức ăn, vì với nồng độ nhất định nó có thể ngăn ngừa sự phân giải của thực vật do tác dụng của vi sinh vật (Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên, 2000) [20]

* Hai quá trình xảy ra trong ủ xanh:

- Quá trình sinh lý thực vật:

Sau khi thức ăn được đưa vào hố ủ, sự hoạt động của tế bào thực vật không phải là đã ngừng, nó vẫn tiếp tục sống và hô hấp sử dụng oxy còn lại trong hố ủ Quá trình này xảy ra sự oxy hóa chất hữu cơ Sản phẩm cuối cùng của quá trình hô hấp này là CO2 và H2O

C6H12O6 + 6O2 -> 6CO2 + 6H2O + 674 Kcal

Vì vậy, hiện tượng đầu tiên của quá trình này là nhiệt độ tăng cao Quá trình này xảy ra tương đối mạnh và kéo dài trong khoảng 6-8 giờ sau khi ủ

Khi đã sử dụng hết oxy trong hố ủ, tế bào thực vật chưa bị chết ngay,

mà nhờ có quá trình hô hấp đặc biệt nên tế bào vẫn có thể sống thêm một thời gian nữa Trong quá trình này, chất đường tích lũy trong thức ăn tiếp tục bị phân giải cho ra rượu và axit hữu cơ

Trang 25

C6H12O6 + 6O2 -> 2CO2 + 2C2H5OH + 25 calo

C2H5OH + 2O2 -> C2H4O2 + H2O

Những sản phẩm này tích lũy dần trong tế bào, cuối cùng làm cho tế bào chết Lượng đường và lượng nước trong thức ăn ủ xanh càng nhiều, quá trình hô hấp yếm khí trong tế bào càng lâu Nhưng số lượng các axit hữu cơ sản sinh ra trong qúa trình này cũng vẫn rất ít nên không có tác dụng bảo tồn thức ăn

Một hiện tượng khác xảy ra trong qúa trình sinh lý thực vật là sự phân giải protit, nguyên nhân phân giải đó là: Sự hoạt động của vi khuẩn và tác dụng của men thực vật Trong môi trường trung tính, toan hoặc kiềm yếu thì nguyên nhân phân giải protit chủ yếu là vi khuẩn Đặc điểm sản vật trao đổi của nó là tính độc, ảnh hưởng đến sức khỏe của gia súc

- Quá trình lên men vi sinh vật: Là quá trình quan trọng nhất của thời

kỳ ủ xanh Sau khi vi sinh vật cùng với thức ăn được đưa vào hố ủ thì thời kỳ đầu sự sản sinh rất nhanh Tới ngày thứ 5 thì sự phát dục tới độ cao nhất, sau

đó số lượng giảm dần Số lượng những loại vi khuẩn này trong thức ăn rất lớn Thí dụ: Trong 1cm3 cỏ tươi, đậu 3 lá, có tới 5 triệu vi khuẩn axetic và các loại vi khuẩn gây thối khác

* Vi khuẩn lactic:

Có rất nhiều loại vi khuẩn có khả năng hình thành axit lactic Nhưng với ủ xanh thì loại vi khuẩn lactic điển hình là tốt nhất Sự sinh trưởng phát dục của nó chỉ cần rất ít protit, mà chỉ dựa vào sự phân giải đường để bổ sung cho nhu cầu về nhiệt năng Đặc điểm trao đổi chất của các loại vi khuẩn này

là tiêu hao ít chất dinh dưỡng mà hình thành được nhiều axit lactic, hình thành các loại vật chất khác ít Axit lactic sản sinh ra nồng độ hơi cao một chút cũng không ảnh hưởng gì tới phát dục của vi khuẩn này Nhưng nếu nồng độ này đạt tới một giới hạn nào đó thì vi khuẩn lactic cũng có thể bị chết

Trang 26

* Vi khuẩn butyric:

Sự phân bố của nó khá rộng trong thiên nhiên, nó cùng đất, thức ăn đi vào hố ủ Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của loại vi khuẩn này cũng giống như yêu cầu của vi khuẩn lactic Nó cũng phụ thuộc loại yếm khí kiềm tính Trong điều kiện thiếu oxy sự sinh trưởng rất mạnh, khả năng chịu đựng tới một phạm vi nhất định, khi pH giảm thấp tới dưới 4,2 thì sự sinh sản bị gặp trở ngại, nếu axit lactic có nồng độ cao hơn chút nữa thì chúng sẽ chết

Khác với vi khuẩn lactic thì vi khuẩn butyric có khả năng phân giải protit tạo nên các sản vật phân giải trung hòa phản ứng toan tính

Vi khuẩn này còn giết và phá hoại chất diệp lục Kết qủa là hình thành các điểm màu vàng ở mức độ khác nhau trên thức ăn ủ xanh

Vi khuẩn butyric còn có khả năng hình thành bào tử, trong điều kiện bất lợi nó cũng không chết được, khi pH thấp tới khoảng 4,2 bào tử vẫn được bảo tồn Bào tử của loại vi khuẩn này cũng không thể chết được khi đi qua đường tiêu hóa và do đó theo phân thải ra ngoài dễ nhiễm bẩn vào sữa

Qua trên ta thấy cần tránh sự hình thành axit butyric, trước hết là phải tạo điều kiện phát dục tố cho vi khuẩn lactic Điều kiện trước tiên là phải có đủ chất dinh dưỡng, bởi vì sự phát dục của bào tử để hình thành vi khuẩn butyric

là khá chậm Điều kiện thích hợp cho loại vi khuẩn này là 35-40oC, vì vậy cần tránh nhiệt độ cao như vậy và ủ xanh nên tiến hành ở nhiệt độ 25-30oC (Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên, 2000) [20]

Nhưng theo Vũ Duy Giảng, 1997[13] thì cho rằng: vi khuẩn butyric phát triển tốt ở nhiệt độ 20 - 50oC Nhiệt độ 35oC là nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn này phát triển với pH lớn hơn hoặc bằng 4,2 Nếu pH<4,2, vi khuẩn này sẽ chết

* Vi khuẩn axetic: Không có tác dụng lớn trong qúa trình ủ xanh, bởi vì

sự lên men của nó phần lớn là cần có không khí

Trang 27

1.1.2.2 Kỹ thuật ủ xanh

* Địa điểm:

- Chọn địa điểm nên gần chuồng trại để dễ lấy thức ăn, đỡ phải vận chuyển xa Những hố đất chìm phải đảm bảo không để nước, phân nước tiểu của gia súc có thể chảy ngấm vào được

- Khô ráo, cách mạch nước ngầm ít nhất từ 0,5 - 1m

- Chỗ đào hầm hố ủ xanh, đất phải chắc, không bị vỡ lở

Trước khi ủ xanh cần đảm bảo được hai tiêu chuẩn sạch và khô

Nên cắt cỏ vào giai đoạn trước khi ra hoa, không nên cắt cỏ quá non, vì chứa nhiều nước, khó ủ, cũng không nên chờ cỏ quá già Đối với cỏ trồng, như cỏ voi chẳng hạn, nên cắt ở lứa tuổi 40 - 45 ngày

Thái cỏ dài khoảng 3 - 4cm Khi cỏ càng khô thì càng phải thái nhỏ, vì như vậy mới dễ nén và dễ lên men

Sau khi băm thái, phơi tái cỏ để có độ ẩm 65-70% (là độ ẩm thích hợp nhất) Cỏ mới cắt thường có độ ẩm cao (75 - 85%), đặc biệt là cỏ hòa thảo Kiểm tra độ ẩm của cỏ theo cách đơn giản sau đây: Lấy đầy một nắm cỏ đã thái

Trang 28

nhỏ trong lòng bàn tay Ép mạnh nắm cỏ trong vòng nửa phút rồi từ từ thả tay

ra, xem xét trạng thái nắm cỏ trong lòng bàn tay để suy ra độ ẩm của cỏ:

+ Nếu thấy nắm cỏ vẫn giữ nguyên hình dạng, tay ướt hoặc có dịch chảy theo kẽ ngón tay: Độ ẩm khoảng 70-80%, không thích hợp để ủ, cần phơi thêm 2 - 3 ngày thử lại

+ Nếu khi mở tay ra, nắm cỏ từ từ nở ra, tay không bị ướt: Độ ẩm 65-70%, thích hợp để ủ chua

+ Khi mở tay, nắm cỏ bung ngay ra: Độ ẩm < 60%, cỏ đã hơi bị khô

Bổ sung rỉ mật đường: Một hố ủ 1,5m3 bổ sung 5 lít rỉ mật đường đối với những loại cỏ nhiều đường như cỏ voi và 10 lít rỉ mật đường đối với loại cỏ ít đường như cỏ sả Nếu không có rỉ mật đường có thể dùng các loại thức ăn nhiều tinh bột thay thế (Phùng Quốc Quảng, Nguyễn Xuân Trạch, 2003) [25]

Theo Vũ Duy Giảng, 1997 [13], hàm lượng đường tối thiểu là lượng đường cần thiết đảm bảo cho hoạt động của vi khuẩn lactic hình thành axit lactic cần thiết để đạt nhanh pH = 4,2, yếu tố quan trọng để bảo quản thức ăn

ủ xanh

Cỏ Pangola (Dgitaria decumbens) tỉ lệ đường tối thiểu là 5,0 lít

Cỏ voi (Pennisetum pupuraum) tỉ lệ đường tối thiểu là 3,7 lít

Cỏ Ghi ne (Panicum maximum) tỉ lệ đường tối thiểu là 6,0 lít

Để dễ ủ xanh nên hỗn hợp các loại cỏ nhiều đường cùng với các loại cỏ

ít đường

1.1.2.3 Tác dụng của thức ăn ủ xanh

- Thức ăn ủ xanh, các chất dinh dưỡng ít bị tổn thất hơn các phương pháp chế biến khác, thí dụ các loại cỏ đem phơi khô trong điều kiện bình thường, chất dinh dưỡng bị tổn thất trên dưới 30%, nếu phơi trong điều kiện xấu thì tổn thất có thể lên tới 40-50% Nhưng nếu đem ủ xanh đúng phương pháp thì chất dinh dưỡng chỉ tổn thất không quá 10%, trong đó chất protit hầu

Trang 29

như không bị hao hụt gì, các loại vitamin cũng giữ được nhiều hơn so với phương pháp phơi khô

- Thức ăn đem ủ xanh có tỷ lệ tiêu hóa tương đối cao Sau khi ủ, tuy một

số chất dễ hòa tan bị hao hụt nhưng những chất khó tiêu (như chất xơ), sau qúa trình lên men lại mềm ra hoặc chuyển sang trạng thái khác mà gia súc dễ hấp thu hơn

- Thức ăn đem ủ xanh có thể dự trữ được trong một thời gian tương đối dài mà không sợ bị biến chất, ủ xanh còn là phương pháp chủ yếu để dự trữ thức ăn nhiều nước trong suốt mùa đông

- Chế biến, dự trữ bằng phương pháp ủ xanh rất ít bị phụ thuộc vào điều kiện khí hậu nên có thể làm vào bất cứ mùa nào cũng được, và tránh được những tổn thất (có khi rất lớn) do điều kiện khí hậu gây ra Phơi khô nếu bị mưa không những chất dinh dưỡng bị mất nhiều mà còn có thể bị mốc hoặc lên men, thối, hỏng

- Ủ xanh có thể tận dụng được rộng rãi các nguyên liệu thức ăn Một số thức ăn để nguyên hoặc phơi khô, gia súc không thích ăn hoặc ăn ít, nhưng nếu đem ủ xanh, những thức ăn này có thể mềm hơn, có mùi vị thơm ngon nên gia súc thích ăn hơn

- Có thể diệt trừ được sâu bệnh và nấm mốc

- Về mặt kinh tế thì làm hầm hố ủ xanh chi phí thấp hơn làm nhà kho Dung tích chứa thức ăn ủ xanh nhỏ hơn dung tích chứa thức ăn phơi khô rất nhiều (2-2,5 lần): phơi khô 1m3 có khoảng 60 kg vật chất khô, ủ xanh 1m3 có khoảng 150 kg vật chất khô

1.1.2.4 Lượng thức ăn ủ xanh cần thiết

Theo Nguyễn Thị Liên, 2000 [20] Đối với bò sữa một ngày cho ăn 7 - 15kg,

bò giống 4 - 7kg, bò cày kéo, bò thịt 5 - 10kg, bê 2,8 - 3,5kg, lợn 1 - 1,5kg, lừa và ngựa 5 - 7kg, dê và cừu 0,6 - 1,2kg

Trang 30

Chú ý trong khi sử dụng thức ăn ủ xanh: Đối với gia súc lấy thịt ở cuối giai đoạn vỗ béo, nhất là đối với lợn nên giảm bớt lượng thức ăn ủ xanh cho

ăn hàng ngày hoặc không cho ăn thức ăn ủ xanh nữa Đối với gia súc có chửa

ta không nên cho gia súc ăn thức ăn ủ xanh vì thức ăn ủ xanh có tính tẩy nhẹ nên không cho gia súc có chửa ăn, đề phòng sẩy thai

Thức ăn ủ xanh có thể sử dụng thay thế thức ăn thô xanh hoặc thay thế một nửa

Vào thời gian đầu do chưa thích nghi tốt với thức ăn, ta có thể lấy một lượng thức ăn cần thiết trong một ngày phơi ra ngoài một lúc để mùi của axit lactic bay hơi đi thì cho gia súc ăn, cho ăn từ từ để tránh hiện tượng choáng cho gia súc, khi đã thích ứng quen thì không cần phơi khô như vậy mà ta cho

ăn trực tiếp luôn

Khi cỏ ủ đã bị hỏng ta phải loại bỏ hoàn toàn để tránh gây ngộ độc Không nên cho gia súc ăn thức ăn ủ xanh riêng mà cần trộn lẫn các loại thức ăn khác (Nguyễn Xuân Trạch, 2005) [ 31])

1.2 Tình hình chăn nuôi trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.2.1.1 Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng

* Những nghiên cứu về quy luật sinh trưởng

Qúa trình sinh trưởng của gia súc chịu sự tác động của 2 yếu tố chính

đó là:

- Đặc điểm di truyền của giống

- Môi trường nuôi dưỡng và chọn lọc

Ewald Sasimonski (1987) [37] có nhận xét khối lượng của động vật phụ thuộc vào bản chất của loài, giống, tuổi, tính biệt và thức ăn cung cấp

Thực tiễn cho thấy các giống khác nhau thì sinh trưởng khác nhau Những giống bò thịt như Santa Gertrudis, Hereford có tốc độ sinh trưởng

Trang 31

nhanh, đạt 1000-1200 g/con/ngày, trong khi các giống kiêm dụng thịt-sữa như Zebu, Redsindhi chỉ có thể đạt tốc độ sinh trưởng 600-800 g/con/ngày

Mensikova H và Branner.D (1984) [45] khi nghiên cứu về năng suất sinh trưởng của 71 bò cái tơ giống Czech pied và 91 con lai Red và White Holstein x Czech pied; 79 con lai Ayrshire với Czech pied thấy tăng khối lượng/ngày đêm từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi của chúng có sự sai khác là 883g, 927g và 835g/con/ngày; tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng tăng tương ứng là 2,23; 2,01; 2,23

* Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng

Một trong những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia súc

là con giống Khi so sánh con lai giữa bò Russian Black pied và Holstein với

bố mẹ, tác giả Ertuev M.M, Koltosova I Y.U (1984) [38] đã cho biết bò lai có khối lượng lớn hơn rõ rệt ở lúc 3, 6, 12 và 18 tháng tuổi Sự khác nhau trung bình từ 11,2-21,6 kg/con trong cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Khi so sánh con lai F1 của các giống khác nhau: Brow Swiss, Chairolais, Chiania, Indo-Brazilian, với bò Zebu, tác giả Montano M và CTV (1991) [47] đã thấy: Sinh trưởng của bò chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố, bò lai F1 Chairolais và Chiania có khối lượng sơ sinh và tốc độ sinh trưởng lớn hơn các bò lai giống khác từ 4-10%

Tác giả Saint.M (1991) [50] khi so sánh năng suất sinh trưởng của giống thuần Chairolais, Holstein, Mentbeliard, Aberdeen và con lai giữa chúng với bò cái Adama cho thấy sự khác nhau rõ rệt giữa các giống thuần chủng và giống lai, giữa con đực và con cái Khối lượng sơ sinh là 24,8±0,6 kg và 30,4±1,1 kg (ở con đực); 23,2±6,6 kg và 30,9±0,09 kg (ở con cái) Tăng trọng trên ngày là 470±22g và 663±17,6g ở con đực và 452±18g và 469±14g ở con cái

Khối lượng của từng giống cũng ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ sinh trưởng của bê ở giai đoạn 11 tháng tuổi Theo tác giả Dash damirov.K.Sh (1991) [36] khi nghiên cứu bò đực Aberdeen-Angus (AA), Cubanzebu (Cz),

Trang 32

F1 (AA x Cz) và F2 đã thu được kết quả tương ứng là: khối lượng sơ sinh trung bình 29,9; 31,3 và 32,0 kg, chênh lệch nhau không nhiều nhưng khi 12 tháng tuổi, khối lượng lại có sự chênh lệch đáng kể tương ứng là: 207,9 kg; 281,6 và 293,8 kg

Các nghiên cứu của Sung.Y.T và Wang.K.C, (1988) [52] về năng suất của giống bò Redsindhi (RS), Santa Gertrudis (SG) và con lai của chúng với

bò Taiwanyellow cho thấy: Khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, khối lượng 1 tuổi ở bò SG tương ứng là 27,6; 130,7 và 117,7 kg, cao hơn rõ rệt so với các bò khác (20,0-24,3; 89,4-105,4 và 113-138kg) Tốc độ sinh trưởng của bò Redsindhi nhìn chung thấp nhất

Theo Abassa K.P và cộng sự (1989) [33] khi nghiên cứu trên 1401 bò Gobsa thì hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, 12 và 18 tháng tuổi tương ứng là 0,14; 0,134; 0,33 và 0,15

Một số yếu tố khác được đánh giá là điều kiện nuôi dưỡng, điều kiện môi trường, ngoại cảnh, thời tiết, khí hậu, và các vùng sinh thái khác nhau ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của gia súc

Các điều kiện tự nhiên như: khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, ẩm độ đều ảnh hưởng tới sinh trưởng của bò nhất là đối với cơ thể non Thực tế cho thấy bò ở vùng khí hậu ôn đới có tốc độ sinh trưởng lớn bò ở vùng khí hậu nhiệt đới

Kết quả nghiên cứu của Johnson (1958-1961) [42] về khả năng tăng trọng của bò cho thấy: Ở vùng khí hậu nóng bò sinh trưởng chậm hơn so với

bò ở vùng khí hậu ôn đới có nhiệt độ trung bình là 100C

1.2.1.2 Nghiên cứu về khả năng sinh sản của bò

* Tuổi động dục lần đầu

Các loại gia súc khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau và giữa các cá thể trong cùng một giống cũng có tuổi động dục lần đầu khác nhau Tuổi động dục lần đầu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố

Trang 33

Tuổi đẻ lứa đầu cũng chịu ảnh hưởng của giống Nghiên cứu trên 1717 con

bò Bungarian Red (BR), 339 bò Holstein Friesian (HF) và 195 bò HF x BR Georiev G S và cộng sự (1983) [40] thu được kết quả tuổi đẻ lứa đầu của các nhóm tương ứng là 870; 878 và 860 ngày

Tuổi động dục lần đầu của bò sữa thường cao hơn bò thịt (Joubert 1954) [43] Cụ thể tuổi động dục của một số giống bò như sau:

Bò Jersey: 359,6±42,8 ngày

Bò Holstein Friesian 401,0±50,9 ngày

Bò châu Phi 645,2±41,9 ngày

Tuổi động dục lần đầu cũng chịu ảnh hưởng của điều kiện sống: chăm sóc và nuôi dưỡng Joubert cho biết: Ở chế độ dinh dưỡng cao bò có tuổi động dục lần đầu là 440,1±31,1 ngày, ở mức độ dinh dưỡng thấp thì tuổi động dục lần đầu là 710,7±62,1 ngày, mức độ chênh lệch tới 271 ngày

* Tuổi đẻ lứa đầu:

Tuổi đẻ lứa đầu liên quan đến tuổi phối giống lần đầu, tuy nhiên nó phụ thuộc vào thời điểm phối giống, kỹ thuật phối và chất lượng tinh Do vậy, tuổi

đẻ lứa đầu có thể kéo dài do các yếu tố trên

Kết quả nghiên cứu của Tischenko A.V (1988) [53] trên 35 bò Russian Black pied (RBP) và 35 bò Cubazebu cho biết tuổi đẻ lứa đầu là 1004 và 1068 ngày

* Khoảng cách lứa đẻ

- Khoảng cách lứa đẻ là một tính trạng quan trọng, nghiên cứu với 40 bò Jersey, 40 bò lai Jersey x Redsindhi, 40 bò Jersey x Hariana và 40 bò Redsindhi, tác giả Kar B.K và cộng sự (1987) (trích của Dương Thị Khang, 2001) [19] đã tính được khoảng cách lứa đẻ tương ứng là: 446,2; 451,6; 465,6 và 518,9 ngày

Zimbra A W C (1990) [54] đã tính được khoảng cách lứa đẻ của bò Malawizebu trung bình là 401 ngày

Trang 34

Khoảng cách lứa đẻ của các giống bò khác nhau thì khác nhau Theo Nyson B, Hansel M (1990) [48] cho thấy khoảng cách lứa đẻ của giống bò Simental; Aberdeen Angus, Hereford; Blonde Aquitaine; Charolais và Limousine nuôi ở Đan Mạch tương ứng là: 401; 371; 338; 434; 387 và 383 ngày

So sánh ảnh hưởng của mức độ dinh dưỡng thấp và cao đến năng suất của bò cái tơ Hereford, Pitalugor O và Vaz Martins D (1982) [49] cho biết: khoảng cách lứa đẻ trung bình giữa hai nhóm có khác nhau với giá trị tương ứng là 384 và 373 ngày

* Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ nuôi sống của bê là chỉ tiêu quan trọng trong nuôi bò cái sinh sản Vì vậy, việc nâng cao tỷ lệ sống của bê là vấn đề nhiều nhà chăn nuôi quan tâm Singh-R.B và Mishra- R.R (1990) [51] khi nghiên cứu về tỷ lệ sống ở giai đoạn đầu của 252 bê Friesian Hariana, 176 bê Brownswiss x Hariana và

150 bê Jersey x Hariana, đã thấy tỷ lệ chết trong tuần đầu trung bình tương ứng là 37,9; 28,6 và 31,6% Những bê chết thường có khối lượng sơ sinh đạt

1.2.1.3 Ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất và chất lượng sữa bò

A.O Felipe (1965) [39] cho rằng 5 kg cỏ ủ tương đương với 1 đơn vị thức ăn

Wall và cộng sự (1996) qua nghiên cứu và thấy rằng hiệu suất sử dụng đạm của gia súc cao hơn khi ăn cỏ khô so với cỏ ủ, tuy nhiên với cỏ ủ héo thì khác nhau không rõ rệt

Trang 35

J.F.D Greenhalgh (1971) [41] cho rằng có một số loài cỏ khi ủ xanh sẽ mềm hơn và ngon hơn cỏ khô nhưng nói chung thì số lượng cỏ khô gia súc ăn nhiều hơn cỏ ủ

Theo McDonald (1995) [44]: Khi nguyên liệu ủ chua có hàm lượng nước cao và hàm lượng đường thấp, chất lượng thức ăn ủ chua sẽ kém và không còn đường dễ tan trong thức ăn ủ chua Chất lượng thức ăn ủ chua kém khi pH lớn hơn 5, hàm lượng axit butyric cao và axit lactic thấp

Basak và cộng sự (1993) [34]: Đã sử dụng chồi ngọn của quả dứa ủ chua thay thế 50% cỏ tươi trong khẩu phần của bò đang sinh trưởng Kết quả tăng trọng giữa lô thí nghiệm và lô đối chứng không có sự sai khác nhau Paul Pozy và cộng sự (2001) [23] cho rằng: Trong điều kiện khí hậu ở miền Bắc Việt Nam, ủ tươi cho phép người chăn nuôi bò sữa có nguồn thức

ăn ổn định quanh năm, và nhất là khi thiếu thức ăn tươi xanh: Trong thời kỳ khô hạn kéo dài, trong mùa đông, khi ngập úng Sau khi được ủ tươi giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ tươi giữ nguyên trong suốt thời gian bảo quản hoặc

bị mất rất ít

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.2.1 Sự phát triển và phân bố đàn bò sữa trong nước

Trong những năm qua, nhất là giai đoạn 2001- 2005, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa Đặc biệt, Quyết định số 167/2001/QĐ - TTg ngày 26/10/2001 của Chính phủ về một số chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 được xem như một định hướng chiến lược, là một cơ hội mới tạo điều kiện thuận lợi cho lộ trình phát triển chăn nuôi bò sữa ở nước ta Kể từ sau khi có quyết định 167, chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đã phát triển nhanh chóng Số lượng đàn bò sữa đã tăng với tốc độ tăng bình quân 26,1% (tốc độ tăng nhanh nhất

từ trước đến nay) Bò sữa được đưa vào cơ cấu vật nuôi của nhiều tỉnh thành

Trang 36

Năng suất sữa đàn bũ sữa tăng mỗi năm trung bỡnh 3,9% (bũ lai) đến 4,9% (bũ thuần) so với năng suất trung bỡnh ở bũ lai là 3.500 kg/con/chu kỳ và 4.600 kg/con/chu kỳ Sản lượng sữa tăng bỡnh quõn 32,2% so với mức tăng của tổng đàn là 26,1%, cho thấy đó cú sự cải thiện một cỏch đỏng kể về cụng tỏc di truyền của đàn bũ nhờ vào biện phỏp kỹ thuật Đõy là những chỉ số tớch cực cho thấy sự phỏt triển đỳng định hướng của đàn bũ sữa cả nước Về phương thức nuôi dưỡng, việc áp dụng từng bước các kỹ thuật tiên tiến trong chăn nuôi bò sữa như sử dụng các máy vắt sữa, chuồng trại với hệ thống làm mát, trồng cỏ cao sản cho thấy trình độ, tay nghề của người chăn nuôi bò sữa đã được nâng cao Đặc biệt quy mô chăn nuôi cũng từng bước nâng lên với sự ra đời của nhiều trang trại chăn nuôi bò sữa quy mô hàng trăm con, cho thấy mức độ chuyên nghiệp của người chăn nuôi bò sữa đã được cải thiện (Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi, 2007) [26]

Bên cạnh những thành tựu cơ bản trên, vẫn còn những tồn tại cần được giải quyết Việc nhiều địa phương phát triển chăn nuôi bò sữa mang tính

“phong trào” một cách ồ ạt làm cho nhu cầu con giống tăng cao, từ đó dẫn đến việc giá con giống bò sữa tăng bất thường Để đáp ứng cho nhu cầu con giống trong nước nhiều đơn vị, công ty đã vội vàng nhập giống bò sữa từ nước ngoài

và trong số đó cũng có những con có chất lượng tốt, nhưng cũng có nhiều con không đạt yêu cầu Trong khi đó, việc chuẩn bị về con người (cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, người chăn nuôi ) chưa đáp ứng cho yêu cầu quản lý, nuôi dưỡng chăm sóc cho đàn bò nhập về điạ phương Kết quả là các đơn vị nhập

bò về nuôi hầu như thất bại, ngoại trừ một số nơi có điều kiện phù hợp, sự chuẩn bị tích cực từ cơ sở vật chất và con người đã bảo đảm cho việc nuôi các

bò sữa nhập một cách thành công như công ty giống bò sữa Lâm Đồng là một

điển hình Quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, phương thức chăn nuôi phân tán cũng là một trong những nguyên nhân làm cho chi phí sản xuất cao Bên cạnh đó, do tình hình thế giới biến động, giá nguyên liệu (xăng dầu) tăng dẫn đến giá

Trang 37

nguyên liệu thức ăn quá cao nên cũng góp phần làm chi phí thức ăn tăng cao, trong khi giá thu mua sữa nguyên liệu của các nhà máy chế biến sữa không thay đổi hoặc thay đổi chậm, làm cho lợi nhuận trong chăn nuôi bò sữa không còn hấp dẫn người chăn nuôi Nhiều hộ chăn nuôi bò sữa, đặc biệt là những vùng mới phát triển, cảm thấy công việc chăn nuôi bò sữa không dễ dàng như

đã nghĩ và bán bò, bỏ nghề Trong tình hình đó, nhiều địa phương đã đánh giá chăn nuôi bò sữa là không phù hợp với địa phương mình và không quan tâm,

hỗ trợ kịp thời làm cho những người chăn nuôi muốn đeo đuổi với nghề nhưng cũng mất phương hướng Một trong những kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh trong việc phát triển chăn nuôi bò sữa là sự quan tâm của các cấp lãnh

đạo một cách liên tục, lâu dài Chăn nuôi bò sữa tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng có những thăng trầm, có lúc người nông dân phải bán thịt bò sữa hay đổ sữa đi vì không bán được, và những lúc như thế thì vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng để tìm ra những giải pháp và khi vượt qua được thì phát triển ở mức độ tốt hơn Hiện nay, nhiều Tỉnh phát triển bò sữa một cách nóng vội nên gặp nhiều khó khăn và có tư tưởng buông suôi và loại bỏ, như thế sẽ làm cho người chăn nuôi mất lòng tin và chán nản

Tuy nhiên, khía cạnh khác của vấn đề khó khăn trong chăn nuôi bò sữa hiện nay chính lại là yếu tố tích cực cho việc phát triển ngành chăn nuôi bò một cách bền vững Giá con giống trở về đúng với giá trị thực của nó, tạo điều kiện cho những hộ chăn nuôi bò sữa cần mua con giống sẽ mua được con giống tốt hơn Người chăn nuôi sẽ chú ý nhiều hơn trong công tác giống, sẵn sàng loại bỏ những con giống xấu, chỉ giữ lại những con giống tốt, năng suất cao Chi phí sản xuất đặc biệt là chi phí thức ăn tăng cao, buộc người chăn nuôi phải thực hiện ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, giải pháp giảm thiểu chi phí sản xuất Người chăn nuôi từng bước sẽ chuyên nghiệp hơn, hiểu biết hơn

và đầu tư nhiều hơn vào các giải pháp giảm thiểu chi phí, từ đó sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo nền chăn nuôi bò sữa bền vững

Trang 38

Mặc dù, gặp nhiều khó khăn nhưng chăn nuôi bò sữa của nước ta phát triển mạnh trong những năm gần đây; năm 2003 cả nước có 79.243 con bò sữa nhưng đến năm 2006 đã lên tới 126.923 con Số lượng bò sữa tập trung không

đều ở các vùng miền trong cả nước, chủ yếu được nuôi ở miền Nam nước ta

Số lượng bò sữa được nuôi ở miền Nam qua các năm từ 2003 đến năm 2006 tăng gấp từ 3 - 4 lần so với miền Bắc Năm 2006: miền Bắc có: 28.758 con bò sữa; miền Nam có: 98.165 con bò sữa

1.2.2.2 Cỏc giống bũ sữa nuụi tại Việt Nam

Nguyễn Văn Bỡnh và cộng sự, 2004 [3] cho rằng nước ta cú 03 giống

bũ sữa Nhưng trong đú, bũ sữa chủ yếu là giống bũ Holstein Frisean

* Bũ Hà Lan (Holstein Frisean - HF)

- Nguồn gốc: Giống bũ này được tạo ra từ tỉnh Fulixơn, phớa Bắc Hà Lan từ thế kỷ 14 Ngày nay giống bũ này được phõn bố rộng rói trờn thế giới

và đõy là một trong 6 giống bũ sữa nổi tiếng trờn thế giới

- Đặc điểm ngoại hỡnh:

Về màu lụng, bũ Hà Lan cú cỏc màu lang trắng đen, lang trắng đỏ và đen tuyền Trong đú màu lang trắng đen là chủ yếu; cú 7 điểm trắng bạc đặc trưng: ở trỏn, vệt khoang trắng từ vai xuống kộo xuống bụng; 4 chõn trắng và đuụi trắng

Bũ cỏi cú đầu thanh nhẹ, tai to, trỏn phẳng và cú đốm trắng; sừng thanh

và cong về phớa trước

Bũ đực cú đầu to, thụ, bắp thịt nở nang, lưng thấp, ngực nở, tớnh tỡnh đa

số hung dữ

- Sức sản xuất

Khối lượng của bũ cỏi đạt trung bỡnh 450-750kg; bũ đực là 750-1100kg; Khối lượng bờ sơ sinh đạt trung bỡnh 33-45kg; Tỷ lệ thịt xẻ đạt trung bỡnh 40-45%

Trang 39

Bò Hà Lan có sức sản xuất sữa tốt, sản lượng sữa bình quân/chu kỳ 300 ngày đạt từ 5000 - 6000kg; Tỷ lệ mỡ sữa bình quân là 3,42% Kỷ lục là bò Canaim Ormby Madcapayne đạt 18.750kg/chu kỳ 365 ngày với tỷ lệ mỡ sữa 3,32% (bình quân cho 52,3kg sữa/ngày đêm)

Về khả năng sinh sản, bò Hà Lan thành thục sớm, 15 - 20 tháng tuổi có thể đưa vào chu kỳ sản xuất; khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là: 12 - 13 tháng; chu

kỳ động dục từ 19 - 23 ngày; thời gian mang thai 270 - 285 ngày Đối với bò đực, tuổi sử dụng tốt nhất là từ 3 - 6 tuổi

Giống bò này ưa khí hậu mát mẻ, khô ráo, nhiệt độ trung bình vào khoảng 18 - 20oC Yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, cung cấp đầy đủ thức ăn dinh dưỡng Bò Hà Lan thuần khó nuôi ở những vùng nóng ẩm, nhiệt độ cao hơn 25oC Khi đó khả năng thích nghi của bò kém, dễ bị mắc bệnh (bệnh lao, bệnh ký sinh trùng đường máu ), khi đó sức sản xuất bị giảm sút

- Phương hướng sử dụng bò Hà Lan ở nước ta

Bò Hà Lan đã được nhập vào nước ta từ những năm 60 - 70 và tiếp tục được nhập thêm cho đến nay từ nhiều nước khác nhau như: Cu Ba, Mỹ, Úc với 2 phương hướng sử dụng chính là:

- Nhập nội nuôi thuần ở những vùng có khí hậu thích hợp như: Mộc Châu, Đức Trọng (Lâm Đồng) Bò đực giống được nuôi ở các Trung tâm giống (Môncađa)

Nhập nội để cho lai tạo với đàn bò Laisind, tạo ra các đàn bò sữa lai F1, F2, F3 cho sức sản xuất sữa tốt, thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc của các nông hộ ở các vùng khác nhau trong cả nước Hiện nay, đàn

bò sữa lai chiếm 95% trong tổng đàn bò sữa nước ta với tỷ lệ máu bò HF chủ yếu là 50 - 75% (con lai 1/2 và con lai 3/4) và một số ít bò lai 87,5% (con lai 7/8) Đàn bò sữa thuần HF chỉ chiếm khoảng 5% và được nuôi ở 2 cơ sở giống là Mộc Châu và Lâm Đồng

Trang 40

* Bò Jecxây (Jersey)

- Nguồn gốc: Được tạo ra ở đảo Jersey của nước Anh, nơi có khí hậu

ôn hòa, đồng cỏ xanh tốt quanh năm Bò Jersey được tạo ra do sự tạp giao

giữa giống bò Bơstanhơ (Pháp) và bò địa phương

- Đặc điểm ngoại hình:

Bò có lông màu xám hoặc vàng xám, đầu nhỏ, mặt cong, mắt lồi, cổ thanh dài có yếm phát triển Vai cao và dài, ngực sâu, xương sườn dài, lưng dài - rộng, mông dài - rộng - phẳng

- Sức sản xuất: Bò đực có khối lượng cơ thể đạt từ: 450 - 500kg

Bò cái có khối lượng cơ thể đạt từ: 300 - 350kg

Sức sản xuất sữa: Sản lượng sữa bình quân đạt 3000kg/chu kỳ, tỷ lệ

- Sức sản xuất: Bò đực có khối lượng cơ thể đạt từ: 650 - 750kg

Bò cái có khối lượng cơ thể đạt từ: 400 - 450kg

Sức sản xuất sữa: sản lượng sữa bình quân đạt 3600 - 4500kg/chu kỳ,

tỷ lệ mỡ sữa từ 3,5 - 4%

Khả năng sinh sản: nếu nuôi tốt thì bò cái có thể phối giống lần đầu vào lúc 12 - 16 tháng tuổi

Ngày đăng: 29/04/2016, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ân và CTV “(1983), Di truyền học động vật, Nxb Nông nghiệp, tr61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1983), "Di truyền học động vật
Tác giả: Nguyễn Ân và CTV “
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1983
2. Báo Vĩnh Phúc, Dự án phát triển chăn nuôi bò sữa của huyện Vĩnh Tường, Trang Web: http:// www.vinhphucdost. gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án phát triển chăn nuôi bò sữa của huyện Vĩnh Tường
3. Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường. Giáo trình chăn nuôi trâu bò, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi trâu bò
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
4. Bùi Văn Chính, Bùi Đức Lũng, Vũ Duy Giảng, Hoàng Văn Tiến (1995), “Ủ chua thức ăn thô xanh” Thức ăn và dinh dưỡng gia súc, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, tr52 - 67, 85 - 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủ chua thức ăn thô xanh” Thức ăn và dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Bùi Văn Chính, Bùi Đức Lũng, Vũ Duy Giảng, Hoàng Văn Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
5. Bùi Văn Chính, Nguyễn Thiện, Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc - gia cầm Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 1995, tr64, 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc - gia cầm Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
6. Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, Hội thảo về dinh dưỡng và gia súc nhai lại, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về dinh dưỡng và gia súc nhai lại
7. Nguyễn Đức Chuyên, Đánh giá thực trạng và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng của đàn trâu nuôi tại huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Luận Văn thạc sĩ KHNN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng của đàn trâu nuôi tại huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên
8. Cục chăn nuôi, Tình hình sản xuất thức ăn thô xanh giai đoạn 2001 - 2005 và định hướng phát triển thời kỳ 2006 - 2010, http://www.cucchannuoi.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sản xuất thức ăn thô xanh giai đoạn 2001 - 2005 và định hướng phát triển thời kỳ 2006 - 2010
9. Lê Xuân Cương và CTV, Kết quả nghiên cứu chăn nuôi bò sữa 1988 - 1993, thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chăn nuôi bò sữa 1988 - 1993
10. Vũ Chí Cương, Vũ Văn Nội và CS, 2005, Khoa học công nghệ và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học công nghệ và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
12. Nguyễn Văn Đức, Trần Trọng Thêm và CTV, 2005, Khoa học công nghệ và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học công nghệ và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
13. Vũ Duy Giảng, Dinh dưỡng và thức ăn gia súc, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng và thức ăn gia súc
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
14. Nguyễn Văn Hải, Bùi Văn Chính, Chu Mạnh Thắng, Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 2004, tr81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
15. Từ Quang Hiển và cộng sự, Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 2002, tr96 - 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
16. Tân Hoa, Thức ăn ủ tươi đối với trâu bò, Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp, 1973, tr66-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp
17. Dương Mạnh Hùng, 2004, Bài giảng giống vật nuôi, Đại học Nông lâm, tr42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giống vật nuôi
18. Điền Văn Hưng, Vương Văn Thể, Vũ Duy Giảng, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Văn Hùng, Thức ăn dinh dưỡng gia súc, Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1970, tr102 - 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn dinh dưỡng gia súc, Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp"
19. Dương Thị Khang. Điều tra, đánh giá khả năng sinh trưởng, sinh sản và sức sản xuất của bò lai F 1 (RS × ĐP) và bò địa phương tại tỉnh Quảng Nam. Luận văn thạc sĩ KHNN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá khả năng sinh trưởng, sinh sản và sức sản xuất của bò lai F"1" (RS "× "ĐP) và bò địa phương tại tỉnh Quảng Nam
20. Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên, Giáo trình vi sinh vật chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật chăn nuôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp hà Nội
21. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực (1975), Chọn giống và nhân giống gia súc, Giáo trình dành cho các trường đại học nông nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr48,49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc, Giáo trình dành cho các trường đại học nông nghiệp
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1975

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 55)
Bảng 3.3. Cơ cấu đàn bò sữa theo lứa tuổi và theo hiện trạng - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3. Cơ cấu đàn bò sữa theo lứa tuổi và theo hiện trạng (Trang 59)
Bảng 3.6. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối (Trang 63)
Bảng 3.8. Một số chỉ số cấu tạo thể hình của đàn bê sữa ở các lứa tuổi (%) - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8. Một số chỉ số cấu tạo thể hình của đàn bê sữa ở các lứa tuổi (%) (Trang 66)
Bảng 3.9. Khối lượng của đàn bò sữa (kg) - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Khối lượng của đàn bò sữa (kg) (Trang 67)
Bảng 3.10. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của bò sữa - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của bò sữa (Trang 69)
Đồ thị  đã minh hoạ sự giảm  đi rõ rệt về sinh trưởng tuyệt  đối của bò  sữa ở các lứa tuổi: - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
th ị đã minh hoạ sự giảm đi rõ rệt về sinh trưởng tuyệt đối của bò sữa ở các lứa tuổi: (Trang 70)
Bảng 3.12. Một số chỉ số cấu tạo thể hình   của đàn bò sữa ở các lứa tuổi (%) - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.12. Một số chỉ số cấu tạo thể hình của đàn bò sữa ở các lứa tuổi (%) (Trang 71)
Bảng 3.11. Kích thước một số chiều đo chính của bò sinh sản - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Kích thước một số chiều đo chính của bò sinh sản (Trang 71)
Bảng 3.13. Các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn bò sữa tại - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13. Các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn bò sữa tại (Trang 72)
Bảng 3.14. Khả năng sản xuất và chất lượng sữa - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14. Khả năng sản xuất và chất lượng sữa (Trang 73)
Bảng 3.15. Kết quả phân tích cỏ voi tươi và thức ăn ủ xanh - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15. Kết quả phân tích cỏ voi tươi và thức ăn ủ xanh (Trang 75)
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của khẩu phần ăn có cỏ ủ xanh - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của khẩu phần ăn có cỏ ủ xanh (Trang 76)
Đồ thị 3.3: Năng suất sữa của bò thí nghiệm - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
th ị 3.3: Năng suất sữa của bò thí nghiệm (Trang 78)
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của khẩu phần có thức ăn ủ xanh - Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của đàn bò sữa nuôi tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của khẩu phần có thức ăn ủ xanh (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w