MỞ ĐẦU Đặt vấn đề Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển với tốc độ phát triển bình quân của những năm qua là 5%/năm và chăn nuôi gà chất lượng ca
Trang 1núi đá của tỉnh Hà Giang
luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp
Thái nguyên, năm 2006
Trang 2đại học thái nguyên
Trang 3Lời cam đoan
ôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu trong luận văn là trung thực và ch−a đ−ợc công bố trong bất
kỳ công trình nào Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài đ
đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Văn Sinh
T
Trang 4Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới ban Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, ban Giám đốc Trung tâm TT&CGCN mới Hà Giang, l nh đạo phòng Kinh tế 3 huyện: Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, bạn bè và gia đình đ tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin trân trọng gửi tới tất cả các thầy cô trong Hội đồng, các bạn, anh em đồng nghiệp sự biết ơn sâu sắc và lời chúc tốt đẹp nhất
Thái nguyên, ngày 25 tháng 11/2006
Tác giả
Nguyễn Văn Sinh
T
Trang 5Chương: 2
Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 36
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 36
Trang 62.1.2 Địa điểm và thời nghiên cứu 36
3.1 Cơ cấu đàn gà nuôi tại 3 huyện của tỉnh Hà Giang 49 3.2 Tình hình chăn nuôi gà mèo trong các hộ tại 3 huyện của tỉnh
Hà Giang
50
3.4 Đặc điểm màu sắc lông của gà Mèo (gà H’mông, gà đen) Hà Giang 53 3.5 Một số chỉ tiêu sinh sản và chất lượng trứng của gà Mèo 54 3.5.1 Một số chỉ tiêu sinh sản của gà mái 54
3.5.3 Trứng, đặc điểm về chất lượng trứng 56
3.6 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và sản xuất thịt của gà Mèo 58
3.6.2.1 Kích thước các chiều đo của cơ thể 60
Trang 73.6.2.2 Sinh trưởng tích lũy 60 3.6.2.3 Sinh trưởng tuyệt đối Sinh trưởng tương đối 64
Trang 8Danh mục các bảng
Nội dung Trang
Bảng 3.3 Tỷ lệ gà mèo trong nông hộ tại3 huyện 52 Bảng 3.4 Đặc điểm màu sắc lông của gà Mèo Hà Giang 53
Bảng 3.12 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối 64 Bảng 3.13 Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa T.ăn của gà mèonuôi thịt 69
Bảng 3.15 Thành phần hóa học của thịt gà Mèo 12 tuần tuổi nuôi khảo sát 72 Bảng 3.15 Thành phần hóa học của thịt gà Mèo 12 tuần tuổi nuôi tự nhiên 72
Trang 9Danh mục các biểu đồ, đồ thị
Nội dung Trang
Đồ thị 3.1 Sinh trưởng tích lũy của gà Mèo Hà Giang 63
Đồ thị 3.2 Sinh trưởng tương đối của gà Mèo Hà Giang 67 Biểu đồ Sinh trưởng tuyệt đối của gà Mèo Hà Giang 65
Trang 10MỞ ĐẦU Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển với tốc độ phát triển bình quân của những năm qua là 5%/năm
và chăn nuôi gà chất lượng cao đang là vấn đề được nhiều người quan tâm Chăn nuôi gà đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu khả quan: tổng đàn tăng lên về số lượng và chất lượng được cải thiện Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng thực phẩm có chất lượng cao của người dân lại càng tăng lên
Hiện nay, xu thế chung của ngành chăn nuôi trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, bên cạnh việc phát triển thâm canh chăn nuôi cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, gìn giữ các giống vật nuôi địa phương nhằm bảo tồn và khai thác hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học mang lại tính ổn định bền vững cho phát triển lâu dài Đây là vấn đề cấp bách, khó khăn, phức tạp mang tính toàn cầu, cần được nhiều ngành quan tâm
Ở Việt nam có rất nhiều giống vật nuôi truyền thống có giá trị kinh tế thấp nên đang bị thu hẹp về không gian phân bố, giảm dần về số lượng và có nguy cơ bị tuyệt chủng ví dụ như: lợn Ỉ, lợn Thanh Hóa, gà Hồ, gà Đông Tảo, vịt Kỳ Lừa… Gà Mèo cũng là một trong những giống vật nuôi nói trên, mặc
dù xét về ý nghĩa kinh tế của giống gà này thì không lớn, song đây là giống gà được cộng đồng người dân tộc H‘
Mông nuôi từ ngàn đời nay, nó gắn liền với tập quán văn hóa và đời sống tinh thần của người H‘Mông (Nguyễn Văn Trụ,
Trang 11các giống nhập nội vào nuôi là vấn đề hết sức khó khăn Song song với vấn đề đưa các giống gà ngoại và gà lai vào phát triển kinh tế hộ nhưng đồng thời cần phải nghiên cứu, chọn lọc các giống gà nội có chất lượng thịt cao, để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và phù hợp với điều kiện kinh tế và chăn nuôi của từng vùng là việc làm cần thiết
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía bắc với nét đặc trưng là địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi tạo ra các thung lũng Dân cư gồm 22 dân tộc anh em cùng sinh sống bằng canh tác nông nghiệp và chăn nuôi Cùng với các gia súc, gia cầm khác, con gà đã được các dân tộc địa phương nuôi dưỡng từ lâu đời với phương thức quảng canh, tập quán dân địa phương là sử dụng thịt và trứng gà rộng rãi như một nguồn thực phẩm giàu đạm và đặc biệt gà còn được
sử dụng trong các nghi thức đình đám, tín ngưỡng từ ngàn xưa Giống gà Mèo được đồng bào H'mông và một số ít dân tộc khác ở Hà Giang nuôi nhiều ở những vùng núi cao, vùng sâu với phương thức chăn thả quảng canh không có đầu tư Đây là giống gà có tầm vóc tương đối lớn từ 3 - 4 kg , gà có chân cao, tốc độ sinh trưởng khá, lông có nhiều màu: xám, vằn đen và đen mà các chỉ tiêu sản xuất chưa được khảo sát, theo dõi đầy đủ Đặc biệt là các vùng miền núi chăn nuôi còn mang những nét hoang sơ như những giống gà nguyên thuỷ, đây là một trong những nguồn gen quý, rất phong phú và có tiềm năng
di truyền cao đối với công tác lai tạo do đó cần được bảo tồn Gà Mèo không những là món ăn đặc sản mà còn được Hội nghị Quốc tế về dinh dưỡng trị liệu tại Hà Nội (ngày 07/4/1996) công nhận có tác dụng tăng khả năng sinh lý
và giá trị dược liệu cao, rất tốt cho những người bị bệnh tim mạch Đồng bào người H’Mông dùng xương, thịt của gà đen như một loại thuốc bồi dưỡng sức khỏe cho những người ốm yếu (Nguyễn Văn Trụ, 1999 [31])
Trang 12Trong thực tế các giống gà nội thuần rất ít, do có sự pha tạp một cách
tự nhiên, nhưng do điều kiện địa hình và tập quán sinh sống của người
H’Mông nên gà Mèo (Hà Giang) là một trong số ít các giống gà nội thuần Để
có thêm kết quả nghiên cứu về giống gà này, góp phần vào việc xem xét, đánh giá giá trị kinh tế, làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu bảo tồn và lai tạo, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà Mèo
nuôi tại 3 huyện vùng cao núi đá của tỉnh Hà Giang"
Nhằm phục vụ cho việc bảo tồn qũi gen và là cơ sở để có thể khai thác tiềm năng di truyền của giống gà đen địa phương này
Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
+ Mục tiêu của đề tài
- Nhằm bảo tồn được quỹ gen và khai thác tiềm năng di truyền lâu dài của gà đen địa phương
- Xác định được, cơ cấu, số lượng, sức sống, sinh trưởng, sinh sản, tình hình chăn nuôi gà Mèo trong nông hộ tại 3 huyện vùng cao núi đá của tỉnh Hà Giang
- Xác định các đặc điểm ngoại hình, một số đặc tính sinh học và tính năng sản xuất của giống gà Mèo tại các địa phương khác nhau trong tỉnh
- Xác định ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sản xuất của gà Mèo nuôi ở nông hộ
+ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin đầu tiên về giống gà Mèo tại một số huyện vùng cao núi đá của tỉnh Hà Giang
- Các số liệu thu được phục vụ cho công tác bảo tồn qũi gen vật nuôi, đồng thời làm cơ sở cho định hướng công tác giống sau này Mặt khác kết quả của đề tàisẽ là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu phát triển tiếp theo
Trang 13xã hội Hay nói cách khác, ngoài các yếu tố di truyền, tác động của con
người, thì các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, mùa vụ
có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các đặc tính sinh trưởng, phát dục, sinh sản của giống
Tất cả các đặc điểm của một giống như: các đặc tính sinh học, ngoại hình, tính năng sản xuất Đều là tính trạng di truyền số lượng và chất lượng Các tính trạng chất lượng được quy định bằng một hoặc nhiều cặp gen có hiệu ứng lớn, chúng được di truyền tuân theo các định luật của Mendel và ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường; Các tính trạng sản xuất được quy định bằng nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ, chúng được di truyền cho đời sau theo các mức độ khác nhau, sự thể hiện của chúng ở đời sau chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Sự biểu hiện kiểu hình của các tính trạng số lượng chịu sự tác động rất lớn của yếu tố ngoại cảnh Mối liên hệ này được thể hiện trong biểu thức:
Trang 14một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát huy hoặc hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi Thông qua việc nắm được các yếu tố di truyền, môi trường ngoại cảnh tối thích, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật hợp lý, con người sẽ không chỉ bồi dưỡng duy trì được các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn tạo ra các giống mới theo những hướng sản xuất khác nhau
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức xản xuất thịt của một giống gà, nó
có tính di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm về trao đổi chất, kiểu hình của dòng, giống Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo (dài lườn, rộng ngực, dài đùi ) Để nâng cao năng lực sản xuất thịt của một giống gà nào đó, người ta thường cho lai giữa mái của giống đó với trống của một giống khác có tốc độ sinh trưởng lớn hơn
Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng sinh sản bao gồm: khả năng đẻ trứng, tỉ lệ trứng cho phôi, tỉ lệ ấp nở, tỉ lệ nuôi sống của gà Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng ấp trứng của gà mái, nguồn thức ăn (với gà nuôi thả)
Sức sống và khả năng kháng bệnh: trong cơ thể gia cầm có hệ thống miễn dịch hoàn hảo gồm tuỷ xương, tuyến ức, hạch lâm ba, lách khi kháng nguyên vào cơ thể, cơ thể sẽ thông qua hệ thống đáp ứng miễn dịch sinh ra những cơ chế tiêu diệt kháng nguyên, khi cơ thể gia cầm khoẻ mạnh thì khả năng đáp ứng miễn dịch cao, khả năng kháng bệnh tốt đây chính là yếu tố quan trọng giúp cho người chăn nuôi đạt hiệu quả cao
Trang 151.1.2 Đặc điểm về sinh trưởng di truyền và một số tính trạng sản xuất của gia cầm
1.1.2.1 Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá
và dị hoá của cơ thể, là sự tăng về các chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật Đồng thời sinh trưởng chính
là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là Protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992)[17]
Về mặt sinh học: Sinh trưởng là quá trình tổng hợp Protein nên thường lấy tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng
Theo Johanson, 1972 [5] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn ra theo sơ đồ sau:
HỆ THỐNG TIÊU HÓA NỘI TIẾT - HỆ THỐNG XƯƠNG - HỆ THỐNG CƠ BẮP - MỠ
Thực tế chăn nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng thì thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô cơ, một phần rất ít lưu giữ cho cấu tạo của mỡ Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi
hệ thống cơ xương, nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích lũy dinh dưỡng để cấu tạo mỡ
Theo J.R Chambers, 1990 [37] thì Mozan (1927) định nghĩa: sinh trưởng
là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt, da, xương Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực
Trang 16sự phải là tăng các tế bào của mô cơ tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể Tóm lại sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là:
- Phân chia để tăng khối lượng tế bào
- Tăng thể tích tế bào
- Tăng thể tích giữa các tế bào
Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của các bộ phận trong cơ thể hình thành nên quá trình sinh trưởng là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền từ đời trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn thiện hay không hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường
Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất từ: 42 - 45% khối lượng cơ thể Khối lượng cơ thể của con trống luôn lớn hơn con mái (không phụ thuộc thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994 [14] )
* Các giai đoạn sinh trưởng của gà
Đối với gà, quá trình tích luỹ các chất thông qua quá trình trao đổi chất đó, là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào, số lượng tế bào và dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở tính di truyền Sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn dần của các mô, đó là sự tăng lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn
gà con và giai đoạn trưởng thành
+ Giai đoạn gà con
Giai đoạn này gà sinh trưởng rất nhanh do lượng tế bào tăng nhanh, một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh như các men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá chưa đầy đủ do vậy thức ăn giai đoạn này cần chú ý đến thức ăn dễ tiêu, vì thức ăn giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến tốc
độ sinh trưởng của gà Quá trình thay lông diễn ra trong cùng giai đoạn này là quá trình phát triển sinh lý, nó làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hoá và
Trang 17hấp thu, do đó cần chú ý đến hàm lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin thiết yếu trong khẩu phần thức ăn
+ Giai đoạn trưởng thành
Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục Quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng trong giai đoạn này một phần để duy trì cơ thể, một phần để tích luỹ mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn giai đoạn gà con
* Số đo sinh trưởng của gà
+ Khối lượng cơ thể
Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của
cơ thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về
tỷ lệ sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ tuổi Đơn vị tính được tính bằng g/con hoặc kg/con
+ Sinh trưởng tuyệt đối
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39 - 77, 1997) [21] Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại
+ Sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của
khối lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát
so với thời điểm đầu khảo sát (TCVN 2.40 -77, 1997)[22] Gà còn non có sinh trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi
Sau giai đoạn trưởng thành là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng không tăng mà có chiều hướng giảm Nếu vẫn có hiện tượng tăng khối lượng thì đây là do quá trình tích luỹ mỡ Thời kỳ này sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tuổi và điều kiện sống của con vật Thời kỳ già cỗi được tính
Trang 18từ khi con vật ngừng sinh trưởng, khả năng sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm (Lê Huy Liễu và cs, 2004 [10])
- Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng của gia súc gia cầm nói chung Theo J.R Chambers, 1990 [37], đường cong sinh trưởng của gà có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha:
+ Pha sinh trưởng tích lũy tăng tốc nhanh sau khi nở
+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất + Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
+ Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành
Đồ thị sinh trưởng tích lũy biểu thị một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng
Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác nhau giữa các dòng, giống, giới tính (H.Knizetova, J.Hyanck, B.Knize and J.Roubicek, 1991) [46]
Trần Long, 1994 [11] khi nghiên về đường cong sinh trưởng của các dòng V1, V3, V5 trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy các dòng đều phát triển theo đúng quy luật sinh học Đường cong sinh trưởng của 3 dòng có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái cũng có sự khác nhau: Sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi với gà trống và 6 -7 tuần tuổi đối với gà mái
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như: dòng, giống, tính biệt, tốc độ mọc lông, dinh dưỡng và các điều kiện chăn nuôi…
+ Ảnh hưởng của dòng, giống
Theo J.R Chambers, 1990 [37] có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của của cơ thể, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen thì ảnh hưởng theo nhóm tính trạng và có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ
Trang 19E.F Goedfrey và R.G Jaap, 1952 [42] cùng một số tác giả khác cho rằng các tính trạng số lượng được quy định bởi ít nhất 15 cặp gen
Theo R.G Jaap và cộng sự, 1969 [44]; A.B Champman, 1995 [39] đều cho rằng kiểu di truyền về khối lượng cơ thể, phải do nhiều gen quy định và ít nhất phải có một gen liên kết với giới tính
Cook và cộng sự, 1956 [40] đã xác định được hệ số di truyền tại 6 tuần tuổi về khối lượng là 0,50; hệ số di truyền khối lượng cơ thể theo Godman và Godgry (1956) là 0,43, ở 10 tuần tuổi theo Cook tính được là 0,5 và ở 6 tuần tuổi là 0,4
Phùng Đức Tiến, 1996 [30] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng từ 0,4 - 0,5 Các tài liệu của J.R Chambers, 1984 [38]; Siegel và cs,
1962 [53] đã tổng kết một cách hoàn chỉnh về hệ số di truyền và tốc độ sinh trưởng Kết quả tính toán qua phân tích phương sai của con đực từ 0,4 - 0,6
Theo K.F Kushner, 1978 [9] hệ số di truyền khối lượng cơ thể sống của gà 1 tháng tuổi là 0,33; 2 tháng tuổi là 0,46; 3 tháng tuổi là 0,44; 6 tháng tuổi là 0,55 và của gà trưởng thành là 0,43 Của Nguyễn Ân và cộng tác viên, 1998 [1] gà 3 tháng tuổi là 0,26 - 0,5
Nguyễn Mạnh Hùng và cộng tác viên, 1994 [8] cho biết sự khác nhau giữa các giống gia cầm rất lớn, giống kiêm dụng nặng hơn hướng trứng khoảng 500 - 700g (từ 15 - 30%)
Kết quả nghiên cứu 3 dòng AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái Nguyên của Nguyễn Thị Thúy Mỵ, 1997 [18] cho thấy: khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09g; 2423,28g và 2305,14g
+ Ảnh hưởng của tính biệt
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể còn ảnh hưởng bởi tính biệt, gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái Những
Trang 20sai khác này được biểu hiện về mặt cường độ sinh trưởng, được quy định không phải do hoocmon sinh dục mà là do các gen liên kết với giới tính
Theo M.A Jull, 1923 [45] cho biết gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái từ 24 - 32% Các tác giả cho rằng sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái M.O North,
1990 [48], đã rút ra kết luận: lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng thì sự khác nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi hơn 5%, 3 tuần tuổi hơn 11%, 5 tuần tuổi hơn 17%, 6 tuần tuổi hơn 20%, 7 tuần tuổi hơn 23%, 8 tuần tuổi hơn 27%
+ Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới từng mô khác nhau, gây nên sự biến đổi trong quá trình phát triển của mô này đối với mô khác, dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến biến động di truyền về sinh trưởng
Theo Bùi đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993 [13] để phát huy khả năng sinh trưởng cần cung cấp thức ăn với đầy đủ các chất dinh dưỡng và được cân bằng Protein, các axit amin với năng lượng, ngoài ra những năm gần đây trong thức ăn hỗn hợp chúng ta đã bổ sung một số các chế phẩm hoá học không mang ý nghĩa về dinh dưỡng, nhưng nó có tác dụng kích thích về sinh trưởng và làm tăng chất lượng thịt
Lê Hồng Mận và cộng sự, 1993 [16] xác định được nhu cầu dinh dưỡng về Protein nuôi gà Broiler cho năng suất cao, thì ngoài tỷ lệ năng lượng/Protein (ME/CP) trong khẩu phần thức ăn cũng là vấn đề rất quan trọng cần được quan tâm
Dinh dưỡng của gia cầm gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần đều có tầm quan trọng và ý nghĩa riêng của nó
Ở gà Broiler, một phần năng lượng để duy trì, một phần để tăng khối lượng, cá thể có tốc độ tăng trưởng nhanh thì sẽ cần ít năng lượng để duy trì
Trang 21hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn Tăng khối lượng nhanh do cơ thể đồng hoá tốt, trao đổi chất được tăng cường làm cho việc sử dụng thức ăn có hiệu quả tốt hơn Theo J.R Chambers và cộng sự, 1984 [38] thì mối tương quan giữa khối lượng của gà Broiler với lượng thức ăn tiêu tốn từ 0,5 - 0,9 Gà có tốc độ tăng khối lượng cao thì yêu cầu thức ăn có tỷ lệ Protein cao hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn (J.A Paudman và cộng sự, 1970 [9]); (R.A.E Pym và cộng sự,
1978 [50]) Dinh dưỡng không chỉ cần thiết cho quá trình sinh trưởng mà còn cần thiết để thể hiện khả năng di truyền của sinh trưởng
Meller David Soares, J.R Josepbb, 1981 [19] đã xác định được sự ảnh hưởng của hàm lượng Clorocid, Sulfat và lượng Natri, Phot pho trong chế độ dinh dưỡng tới sinh trưởng của gà
1.1.2.2 Tiêu tốn thức ăn
Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng phản ánh khả năng chuyển hoá thức ăn để sinh trưởng, hay nói cách khác tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Để đạt được một khối lượng cơ thể nào đó, với cơ thể sinh trưởng chậm sẽ mất thời gian dài hơn, năng lượng giành cho duy trì cao hơn dẫn đến thức ăn tiêu tốn nhiều hơn
so với cơ thể có tốc độ tăng khối lượng nhanh Khi sinh trưởng nhanh thì quá trình trao đổi chất của cơ thể tốt hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn do đó tiêu tốn thức ăn giảm
J.R Chambers và cộng sự, 1984 [38] đã xác định hệ số tương quan di truyền giữa tăng khối lượng của cơ thể với tiêu tốn thức ăn, hệ số tương quan này thường rất cao từ: 0,5 - 0,9 còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là thấp và âm (từ: - 0,2 đến - 0,8)
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng còn phụ thuộc vào độ tuổi, đối với
gà thịt thì giai đoạn đầu tiêu tốn thức ăn thấp hơn giai đoạn sau
Trang 22Các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau J.R Chambers, 1990 [37] cho biết giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ, hay năng suất thịt đùi, thịt ngực (phần thịt
ăn được không có xương).Ngoài ra năng xuất thịt còn phụ thuộc vào tính biệt và chế độ dinh dưỡng
đã xác định được hệ số di truyền về tỷ lệ thịt xẻ như: Độ ẩm là 0,38; Protein là 0,47; mỡ là 0,48 và khoáng là 0,25 (dẫn Theo J.R Chambers, 1990 [37])
Trang 23Ngoài ra việc đánh giá chất lượng thịt còn dựa theo độ béo, tròn của thân hình, mùi vị, độ ngọt, độ mềm và cứng của thịt Các khuyết tật như lở loét
da, có chứa u và tổn thương, gãy lườn , cũng ảnh hưởng tới chất lượng thịt
1.1.2.4 Sức sống và khả năng kháng bệnh
Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm là yếu tố quan trọng giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả Tổn thất do dịch bệnh ở gia cầm là rất lớn nên cần phải có những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa để giảm bớt tổn thất đó Khi đàn gà bị mắc bệnh tỷ lệ chết tăng cao, dễ lây nhiễm và mắc các bệnh khác, nhất là các bệnh truyền nhiễm Để điều trị và đề phòng các loại dịch bệnh phải cần rất nhiều kinh phí để mua vacxin tiêm phòng, thuốc kháng sinh để chữa bệnh, cùng hàng loạt các biện pháp thú y khác
A.S Marco và cộng sự (1992) (dẫn Theo Hoàng Toàn Thắng, 1996 [27]) cho biết: sức sống được thể hiện ở thể chất và xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở động vật có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh
Theo Ngô Giản Luyện, 1994 [14] thì mối liên quan giữa chỉ tiêu sinh
lý, sinh hóa máu đối với sức sống và sản lượng trứng được Kotris và cộng
sự tại Viện Thú y Matxcơva (1988) xác định: Số lượng bạch cầu trong máu
gà Hybro liên quan đến sức sống và sản lượng trứng, những gà mái có số lượng bạch cầu cao giai đoạn 60 - 110 ngày thì tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao
Theo J.S Gavano, 1990 [43] hệ số di truyền tỷ lệ chết ở gia cầm
là 0,07; hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25 Robertson và Lerner, 1949 [52] xác định hệ số di truyền tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thấp, phụ thuộc và dòng, giống, giới tính và phụ thuộc nhiều nhất vào yếu tố nuôi dưỡng
Trang 24Trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ, được bao bọc bởi lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng
có chức năng tạo thành lòng đỏ, còn các bộ phận khác như lòng trắng, màng
vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo thành (Ngô Giản Luyện, l994) [14]
Số lượng tế bào trứng của gia cầm là rất lớn, Theo Hull (1978)[47] thì số lượng tế bào trúng của gà mái có thể lên tới hàng triệu Tuy nhiên mặc dù số lượng tế bào trứng lớn, nhưng trên thực tế, sức đẻ trứng thấp hơn nhiều so với số lượng tế bào trứng trong buồng trứng
Người ta thường xác định số lượng trứng sau một chu kỳ đẻ trứng sinh học hoặc sau một năm đẻ trứng Chu kỳ đẻ trứng sinh học được tính
từ khi đẻ quá trứng đầu tiên tới khi ngừng đẻ thay lông - đó là chu kỳ thứ nhất, chu kỳ thứ hai tính từ khi gia cầm bắt đầu đẻ lại (sau khi thay lông) tới khi ngừng đẻ và thay lông lần thứ hai Qua nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian hình thành trứng trong ống dẫn trứng dao động trong khoảng từ 23,5 - 24 giờ (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998) [6]
Nếu gà mái có thời gian hình thành trứng trong ống dẫn trứng dưới 24 giờ thì có thể dẻ trứng liên tục đều đặn Trong trường hợp này, quá trình rụng trứng diễn ra sau khi dẻ trứng khoảng nửa giờ thì gà đẻ sẽ không liên tục
Trang 25Sức đẻ trứng phụ thuộc và liên quan trực tiếp với giống, dòng gia cầm,
sự phát triển của cá thể, tuổi, độ béo, trạng thái sức khỏe, thể trạng, sự thay lông, tính ấp bóng, độ thành thục, cường độ và sức bền đẻ trứng, chu kỳ và nhịp độ đẻ trứng Đồng thời phụ thuộc vào các đặc trưng di truyền và chọn
giống, thức ăn dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng và các yếu tố tiểu khí hậu khác
Giống, dòng ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp như: Giống
gà Leghorn có sản lượng 250 - 270 trứng/mái/năm, trong khi đó gà Ri chỉ có
90 - 110 trứng/mái/năm Những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao sản hơn những dòng chưa chọn lọc kỹ khoảng 15 - 30% về sản lượng trứng
Mùa vụ cũng có ảnh hưởng tới khả năng đẻ trứng của gia cầm ở nước ta do mùa hè nắng nóng nên sức đẻ trứng giảm xuống rất nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu lại tăng lên Tuổi gia cầm cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức đẻ trứng, sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất (ở vịt sản lượng trứng lại cao nhất vào năm tuổi thứ hai)
Ngoài ra các yếu tố khác như nhiệt độ, ánh sáng, cũng ảnh hưởng nhiều đến sản lượng trứng
Từ trước đến nay các công trình nghiên cứu đều đi đến kết luận: gia cầm lai do sự phối hợp giữa nhiều dòng đã xuất hiện ưu thế lai về sản lượng trứng khối lượng trứng, thời gian của chu trình đẻ trứng, tỷ lệ có phôi, tỷ lệ
nở, tỷ lệ nuôi sống với dòng thuần
1.1.2.6 Tỷ lệ ấp nở
Chất lượng trứng ấp ảnh hưởng rất lớn đến các chỉ tiêu tỷ lệ nở Một đàn giống gia cầm được nở ra từ những quả trứng có chất lượng không cao do các yếu tố như di truyền, ngoại cảnh không thuận lợi gây nên thì khó có thể là một đàn gia cầm khỏe mạnh Vậy để nâng cao chất lượng trứng ấp và tỷ lệ ấp
nở cần phải tác động đến các yếu tố như:
Trang 26* Chọn giống nhằm nâng cao tỷ lệ ấp nở
Chọn giống là biện pháp có nhiều hy vọng để cải tiến chất lượng trứng
ấp Mục đích của nó là nâng cao tỷ lệ ấp nở của trứng gà tỷ lệ gà con loại I Điều này có thể đạt được bằng cách chọn lọc trực tiếp trên cơ sở tính đến sản lượng trứng và năng suất thịt của đàn bố mẹ
Một trong những chỉ tiêu chọn giống quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ nở
Có vòng máu
Chết phôi muộn
Nở chậm
Ngoài khối lượng, các chỉ tiêu hình thái của trứng, độ biến dạng của vỏ trứng
ở các mức độ khác nhau đều có ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở là chất lượng gà con
* Chăm sóc tối ưu cho đàn gà bố mẹ
Chăm sóc nuôi dưỡng tối ưu cho đàn bố mẹ có ý nghĩa rất lớn trong việc cải thiện chất lượng trứng và nâng cao tỷ lệ ấp nở của trứng ấp Qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm người ta đã xác định được rằng việc giảm tỷ lệ nở trong khoảng 25% trường hợp liên quan lới sự khiếm khuyết trong chăm sóc nuôi dưỡng, trên 25% phụ thuộc vào điều kiện bảo quản trứng, trên 7,5% do vi
Trang 27phạm chế dộ ấp và trên 5% do yếu tố di truyền Còn lại 37,5% trường hợp liên quan tới sự tổng hợp của nhiều yếu lố
Thường thì khi trong thức ăn của đàn gà bố mẹ thiếu một số chất cần thiết thì sẽ dẫn tới hậu quả chết phôi cao, tỷ lệ ấp nở thấp Điều dễ nhận thấy nhất là khi trong khẩu phần thiếu Vitamin nhóm B thiếu chất khoáng đa lượng và vi lượng thì không những sản lượng trứng bị giảm mà
cả tỷ lệ ấp nở cũng giảm theo Cho đàn bố mẹ ăn đầy đủ số lượng và chất lượng thức ăn còn phải kết hợp với các điều kiện chăm sóc chu đáo không riêng với con gà mái mà phải đối với cả con gà trống Tỷ lệ trống mái trong các giai đoạn độ tuổi cần được duy trì và bố trí tỷ lệ hợp lý Khi đàn
gà bố mẹ khỏe mạnh thì mới có được tỷ lệ ấp nở cao, gà con nở ra mới khỏe mạnh tức là trong các điều kiện được đảm bảo
Bởi vậy trong quá trình nuôi dưỡng chăm sóc đàn bố mẹ cần định kỳ kiểm tra chất lượng tinh dịch của gà trống để kịp thời có biện pháp xử lý thích hợp
Nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến chất lượng trứng ấp, ở nước ta vào mùa hè nhiệt độ không khí cao không những làm giảm năng suất mà còn làm giảm cả chất lượng ấp trứng Để khắc phục ảnh hưởng bất lợi đó, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau Trước tiên là điều chỉnh hàm lượng dinh dưỡng trong khẩu phần
Nhiều tác giả đã khuyến cáo rằng trong những ngày nhiệt độ thời tiết nóng bức cần tăng tỷ lệ Protein thô trong khẩu phần từ 2 - 3% so với những ngày nhiệt độ bình thường Vì trong những ngày nhiệt độ cao, lượng thức
ăn tiêu thụ của gia cầm bị giảm xuống, trong khi đó gia cầm lại tiêu tốn năng lượng đáng kể để thải nhiệt do đó năng lượng cho nhu cầu duy trì và sản xuất càng thiếu
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng trứng và tỷ lệ ấp nở đó là các yếu tố gây Stress, tiếng ồn lớn…Theo số liệu của Viện nghiên cứu gia cầm
Trang 28toàn liên bang (Liên xô cũ) sau khi dùng Vacxin cho gà đẻ có thể làm giảm
tỷ lệ nở xuống l9,4% nhưng nếu đồng thời bổ sung thêm chất chống stress thì tỷ lệ nở chỉ giảm 7,3%: Và việc làm giảm tỷ lệ nở do stress còn có thể kéo dài trong 10 ngày, nhưng nếu dùng chế phẩm chống stress, thì hiện tượng đó chỉ diễn ra trong 3 ngày
* Điều kiện thu nhặt và vận chuyển trứng
Chất lượng trứng ấp còn thuộc vào sự thu nhặt và vận chuyển trứng đến cơ sở ấp Thu nhặt và vận chuyển trứng sau khi đẻ ra là khâu cần được lưu ý vì trứng là một vật thể sống, tần suất thu nhặt có ảnh hưởng lớn đến chất lượng trứng ấp, nếu như trứng khi đẻ ra lưu lại trong ổ lâu thì sự nhiễm bẩn và gây dập vỡ sẽ cao Qua kết quả khảo sát cho thấy trên 1 cm2
vỏ trứng bẩn chứa tới 60 - 110 ngàn vi khuẩn, trong đó trực khuẩn đường ruột chỉ biến động từ 0 - 15 Cho nên chế độ thu nhặt trứng cần phải phù hợp với đặc điểm sinh học của các loại gia cầm khác nhau
Hầu hết các cơ sở chăn nuôi gia cầm ở nước ta, việc vận chuyển trứng ấp từ chuồng đến nơi bảo quản thường được sử dụng xe kéo, hoặc xe vận tải nhỏ, chưa có xe chuyên dụng Vì vậy cần lưu ý là mức độ xóc của
xe cũng có ảnh hưởng, làm giảm chất lượng trứng, do xóc tạo chấn động gây cho buồng khí bị lệch vị trí
Vận chuyển trứng khi đi xa cần phải bao gói cẩn thận, có thể dùng khay chuyên dụng để trứng cho vào lồng nhựa hoặc hộp giấy coston Trứng được vận chuyển đến nơi nhận cần được dỡ ra và để trứng cố định từ 10 - 12 giờ
trong phòng có nhiệt độ thích hợp, không khí thoáng mát
* Điều kiện bảo quản trứng
Ngoài đảm bảo sự tối ưu các thông số về nhiệt độ, ẩm độ, trao đổi khí trong quá trình bảo quản trứng, người ta còn đưa ra nhiều biện pháp
Trang 29khác nhau tác dộng đến trứng trước khi đưa trứng vào ấp nhằm nâng cao chất lượng ấp nở của gia cầm
1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt gia cầm
Mức sống của con người càng cao thì nhu cầu tiêu thụ thịt càng lớn và những sản phẩm thịt chất lượng cao (ít mỡ giàu Protein) đòi hỏi ngày càng nhiều Thịt gia cầm là một trong những loại thịt có thể đáp ứng được yêu cầu này Nâng cao năng suất thịt và cải thiện chất lượng thịt là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các nhà chăn nuôi
1.1.3.1 Những yêu cầu đối với chất lượng thịt
Khi gia cầm còn sống, cần đặc biệt chú ý đến sức khỏe của chúng, tốc
độ mọc lông, thời điểm thay lông đều ảnh hưởng đến chất lượng thịt Gia cầm mọc lông muộn đặc biệt là lông lưng, các chân lông ở dưới da làm giảm chất lượng thịt Sự biến dạng của xương ngực, xương chân và xương chậu đều làm cho chấtlượng thịt không đạt yêu cầu Mỗi nước có sự đánh giá gia cầm sống khác nhau, chủ yếu người ta xét đến cấu trúc thân, khối lượng, phát triển của bộ lông Sự phát triển của cơ ngực và cơ dưới đùi có ý nghĩa lớn không
chỉ đến số lượng mà cả đến chất lượng thịt
Sau khi giết thịt, việc đánh giá chất lượng thịt dựa vào các chỉ tiêu: Lườn không được nhô ra, hướng của lườn song song với trục của thân Da phải nhẵn, không rách, không có lông măng Thịt tươi, ngon, mịn, sáng, hàm lượng mỡ không quá cao Sự hao hụt nhiều hay ít sau khi mổ, sau khi bảo quản và sau khi chế biến phản ánh chất lượng thịt tốt hay không tốt Trong thịt có chứa hàm lượng nước nhất định, điều đó sẽ làm tăng sự ngon miệng của thịt Các công trình nghiên cứu đã chứng minh là độ ngon miệng phụ thuộc vào hàm lượng tuyệt đối của nước trong thịt Thịt có hàm lượng nước tuyệt đối cao do khả năng giữ nước kém nên mất nhiều nước làm giảm giá trị
Trang 30Ngược lại, thịt có hàm lượng nước tuyệt đối thấp có khả năng giữ nước cao, thì loại thịt này chất lượng cao ăn ngon hơn
1.1.3.2 Các biện pháp cải thiện chất lượng thịt gia cầm
Để cải thiện chất lượng thịt gia cầm người ta đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau như: việc nghiên cứu chọn lọc lai tạo để tạo ra được các giống mới có chất lượng thịt cao, đặc điểm của các giống gia cầm quí hiếm, việc áp dụng phương thức chăn nuôi, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc, phương thức giết mổ và bảo quản tất cả đều có tác động đến chất lượng thịt gia cầm
- Giống gia cầm: Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan chặt chẽ đến chất lượng thịt, thông qua việc chọn lọc, nhân thuần qua nhiều thế hệ, các nhà khoa học đã chọn ra các giống gia cầm có chất lượng thịt có đặc thù riêng
Trong các loại gia cầm thì thịt gà và thịt gà tây có chất lượng dinh dưỡng tốt như: Thịt gà và gà tây màu trắng (thịt thủy cầm có màu đỏ), cơ trắng có giá trị sinh học cao lơn cơ đỏ vì trong đó không chỉ chứa nhiều protein, mà tỷ lệ giữa prolein toàn phần và không toàn phần cũng như giữa các axitmin đều tốt hơn Phần lớn các nhà nghiên cứu đều công nhận rằng: Các giống gia cầm địa phương chăn nuôi tự nhiên như: Gà Ri, Gà thịt đen, Vịt
Cỏ, Ngỗng Cỏ… đều có chất lượng thịt tốt hơn so với các giống mới do con người tạo ra thông qua lai tạo Giữa chất lượng thịt và năng suất thịt có mối quan hệ nghịch, thường các giống có năng suất cao thì cho chất lượng thịt kém Để giải quyết vấn đề này các nhà lạo giống đã cho lai tạo giống gia cầm địa phương, có chất lượng thịt cao với các giống cao sản, vừa giữ được chất lượng thịt vừa nâng cao năng suất chăn nuôi Ngoài yếu tố giống, vấn đề chăm sóc, quản lý nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng tới chất lượng thịt Rudlf
và Frodshe đã nghiên cứu ảnh hưởng của các hàm lượng ngô khác nhau trong thức ăn hỗn hợp đến kết quả vỗ béo vịt thấy rằng: Ngô có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng cơ thể vịt khi vỗ béo Những lô được ăn thức
Trang 31ăn hỗn hợp có chứa 50% ngô trong khẩu phần sẽ có tỷ lệ lipit và vật chất khô cao hơn các lô có ít tỷ lệ ngô trong khẩu phần (nhỏ hơn 50% tỷ lệ ngô) Trong khi đó tỷ lệ protein thì không thay đổi giữa các lô Ngoài ra
ăn ngô còn ảnh hưởng đến tỷ lệ mỡ bụng, nhưng ưu điểm của ngô là làm cho màu da và màu chân của gia cầm vàng hơn (dẫn theo Nguyễn Duy
Hoan và cộng sự (1999) [7])
Thường thịt gà và thịt vịt có mùi khó chịu khi bảo quản lâu và trong thức ăn có chứa nhiều bột cá (lớn hơn 8%) Tuy nhiên mùi tanh cũng ảnh hưởng không giống nhau trong các đàn và trong từng cá thể Thức ăn có chứa nhiều Caroten làm cho da của gia cầm trở nên vàng hơn
Vấn đề dinh dưỡng protein và năng lượng cho gia cầm, mối liên hệ của nó tới chất lượng thịt đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước, người ta đã tìm thấy sự thay đổi đáng kể chất lượng dinh dưỡng và độ ngon miệng của thịt khi có sự thay đổi thành phần thức
ăn hỗn hợp bằng việc bổ sung các axit amin tổng hợp Sử dụng năng lượng cho gia cầm liên quan chặt chẽ đến nhiệt độ môi trường Trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao năng suất và chất lượng thịt gà broiler phụ thuộc một phần vào hàm lượng các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Khẩu phần với hàm lượng năng lượng quá cao có thể sẽ ảnh hưởng đến quá trình điều hòa thân nhiệt, hậu quả không tránh khỏi là giảm sự thích ứng của cơ thể với môi trường đặc biệt là môi trường có cả nhiệt độ và ẩm độ cao
Gần đây, một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm là: chất lượng thịt gia cầm ''Sạch'' Điều này trước tiên phải hiểu là trong thịt gia cầm không tồn dư các loại kháng sinh và các loại kích thích tăng trọng Một số nhà khoa học khuyên rằng không nên sử dụng kháng sinh trong thời gian nuôi gà broiler, đặc biệt không nên sử dụng kích thích tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của gia cầm Hạn chế đến mức thấp nhất sử dụng kháng sinh Đối với
Trang 32kháng sinh, để tránh sự tồn dư trong thịt không nên sử dụng trước khi giết thịt 2 tuần và dùng đúng liều quy định
Ngoài thức ăn thì các vấn đề khác như: phương thức nuôi, chăm sóc quản lý cũng có liên quan đến chất lượng thịt Gà nuôi chăn thả có chất lượng thịt tốt hơn, hàm lượng mỡ trong thịt ít hơn và có độ chắc cao hơn so với gà nuôi nhốt Vấn đề nuôi chăn thả không phải chỉ do gà vận động nhiều làm giảm tỷ lệ mỡ, thớ thịt chắc chắn mà còn liên quan đến việc gà có thể kiếm được các loại thức ăn đa dạng ở môi trường, gà được tiếp xúc với môi trường hoàn toàn tự nhiên sẽ làm chất lượng thịt ngày càng tăng lên
Vấn đề chăm sóc quản lý mà cụ thể là cách đối xử với con vật trước lúc giết cũng có ảnh hưởng đến chất lượng thịt Một số tác giả khẳng định rằng nếu làm cho con vật mệt mỏi quá mức khiến thịt trở nên nhạt nhẽo và làm tăng khả năng xâm nhập của vi sinh vật qua các màng ruột
Vận chuyển gia súc cũng liên quan đến chất lượng thịt Richter đã xác định rằng: Các gia súc lớn sau một thời gian vận chuyển dài ngày có ít nước trong thịt hơn 0,5% so với các con vật chỉ bị vận chuyển trong một thời gian ngắn Do lượng glycogen dự trữ bị giảm đi trong quá trình vận chuyển để giải phóng năng lượng và axit lactic trong thịt cũng giảm theo, dần dần độ pH trong thịt cũng tăng lên làm giảm giá trị của thịt Các quá trình hóa học này không những ảnh hưởng đến hình thức bên ngoài của thịt xẻ mà còn ảnh hưởng tới khả năng kết hợp của nước (dẫn theo Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn và Đoàn Xuân Trúc, 1999 [7])
+ Vấn đề an toàn thực phẩm: ngày càng trở nên quan trọng, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ ngày càng có nhiều loại hóa chất vi sinh vật, thuốc và chất kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm
Trước đây, người ta quan tâm về an toàn hầu như tập trung về những vi sinh vật gây bệnh, vì thịt là môi trường rất tốt cho vi sinh vật hoạt động và
Trang 33phát triển Tuy nhiên vi khuẩn gây độc cho lương thực và thực phẩm không phát triển được trong nhiệt độ lạnh (dưới 400 F) Hơn nữa vi khuẩn phân hủy
có trong thịt tươi không gây bệnh cho gia cầm nhưng vẫn phát triển được trong nhiệt độ lạnh và nói chung vẫn làm cho lương thực và thực phẩm giảm giá trị Như vậy, vi khuẩn phân hủy có trong thịt tươi thường làm cho thịt thay đổi trước khi những vi sinh vật gây bệnh này đạt tới số lượng đủ để trở thành
có hại Một trong những vi khuẩn gây bệnh thường có trong thịt tươi là Salmonella, đây là loại rất dễ bị diệt khi nấu chín
Những loại sản phẩm thịt gà đã qua chế biến cũng đem lại mối quan tâm khác về an toàn thực phẩm, bởi hầu hết các sản phẩm đó được sử lý bằng muối, Nitrit … hoặc đã được xử lý qua nhiệt chống hư hỏng do đó hầu hết các
vi khuẩn đã bị ức chế hoặc bị tiêu diệt hoàn toàn bởi nhiệt độ, nếu không khống chế được nhiệt độ trong thời gian bảo quản thì các tác nhân gây bệnh vẫn có cơ hội để hoạt động và phát triển trở lại, những sản phẩm không qua
xử lý nhiệt hoặc nấu chín và đóng gói trong bao bì thì bảo quản ở nhiệt độ lạnh là vô cùng quan trọng để đảm bảo an toàn thực phẩm
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong phát triển chăn nuôi thì chăn nuôi gia cầm có rất nhiều thuận lợi hơn các loại gia súc khác Theo Bessei, 1987 [3] thì một con gà mái nặng 3 kg một năm có thể sản xuất ra 300 kg thịt Cùng với những tiến bộ về di truyền, ngành chăn nuôi gia cầm đã có những bước tiến vượt bậc Nhờ đó mà các kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật được áp dụng và sản xuất mà năng suất và chất lượng thịt ở các nước trên thế giới không ngừng tăng lên
Để đảm bảo về mặt chất lượng thịt, hiện nay các nước trên thế giới đang chú ý đến thịt gà sạch, chất lượng cao nuôi theo công thức bán công
Trang 34nghiệp và thả vườn (Free - range Chicken hay còn gọi là Farmyard) Gà được
sử dụng thức ăn đặc biệt để sản phẩm thịt không còn tồn dư những chất bất lợi cho sức khỏe người tiêu dùng Nước ta thường hay gọi là gà nông trại hay gà thả vườn chất lượng cao, nhiều nước gọi là gà Label Rouge
Theo tiêu chuẩn của Châu Âu, có 3 điều kiện cơ bản mang tính chất bắt buộc đối với gà “Label Rouge” đó là:
- Sử dụng tổ hợp lai gà lông màu có tốc độ sinh trưởng chậm
- Phải được nuôi thả tự do ngoài ruộng đồng
- Chỉ được sử dụng thức ăn có nguồn gốc thực vật, không được bổ sung
mỡ hoặc sản phẩm có nguồn gốc động vật; không sử dụng chất kích thích tăng trọng, kháng sinh và các nguyên liệu có tồn dư như thuốc trừ sâu, hóa chất, kháng sinh…
Ngoài ra, gà chất lượng cao có những đặc điểm nổi bật khác như:
- Khả năng thích nghi cao, kháng bệnh tốt, ít bị ảnh hưởng với các Stress nên tỷ lệ nuôi sống cao
- Khả năng cho thịt tốt Do có tốc độ sinh trưởng chậm hơn so với loại
gà công nghiệp (Broiler) nên thường nuôi kéo dài tới 180 -200 ngày, do vậy khi giết mổ, gà đã thành thục hơn lại được vận động nhiều nên thịt gà chắc, ít
mỡ, hương vị hấp dẫn, ngon hơn so với gà công nghiệp
Thịt gà Label Rouge thuộc loại thịt sạch và chất lượng cao hơn so với các loại thịt gà khác
Một đặc điểm rất quan trọng khác: Giá thịt gà “Label Rouge” thường cao hơn so với thịt gà công nghiệp (Broiler)
Trang 35* Chăn nuôi gà chất lượng cao ở Nhật Bản:
- Theo tài liệu của Giáo sư Turo Komai (Đoàn Xuân Trúc, 1999) [32] thịt gà chất lượng cao nay chiếm tới 16% thị trường thịt gà ở Nhật và đang tăng trưởng ở mức 10% hàng năm
- Nhật cũng là nước nhập khẩu nhiều thịt gà Năm 1996 nhập tới 547.000 tấn sau (Liên Bang Nga và Hồng Công); chủ yếu nhập từ Mỹ, Trung Quốc, Brazin, Thái Lan
Là một quốc gia phát triển cao, mức thu nhập GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới 34.630 USD/người (1994) và 40.940 USD/người (1996) Đời sống người dân Nhật rất cao nên nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng và đòi hỏi về thực phẩm có chất lượng cao, sạch, tươi và mang hương vị tự nhiên ngày càng tăng
Xu hướng tiêu dùng thịt gà của người Nhật là giảm dần thịt gà dò (Broiler) nuôi công nghiệp, do thịt nhão, hương vị kém hấp dẫn, còn tồn dư thuốc trong thịt và tăng dần thịt gà chất lượng cao Năm 1997 sản lượng thịt
gà chất lượng cao của Nhật là 224 ngàn tấn (đã mổ sẵn) tăng 11% so với năm 1996 và chiếm 16% tổng số lượng thịt gà tiêu thụ Thịt gà chất lượng cao một phần nhỏ được dùng ở các nhà hàng cao cấp, còn chủ yếu là được
“nấu tại nhà” vì người tiêu dùng muốn sử dụng loại thịt tươi, ngon, an toàn, hương vị tự nhiên hơn
Năm 1995, tổng số gà nuôi lấy thịt ở Nhật là gần 611,85 triệu con, trong đó gà chất lượng cao là 129,85 triệu con (bằng 22,2%) Gà chất lượng cao được nuôi trong thời gian dài hơn
* Vấn đề bảo tồn các nguồn gen vật nuôi quí hiếm
Việc bảo vệ các loại thú nuôi đã được các nhà khoa học của nhiều quốc gia chú ý và đã có nhiều hoạt động tích cực nhằm bảo vệ các loại động vật hoang quý hiếm khỏi sự tuyệt chủng Nhiều khu bảo tồn quy mô lớn đã được thiết lập ở nhiều vùng sinh thái khác nhau tại nhiều quốc gia trên các châu lục,
Trang 36nhiều loài thú có nguy cơ tuyệt chủng đã được bảo hộ, nhiều loài đã bị biến mất trong hoang dã được khôi phục và đưa trở lại môi trường của chúng Hiệp định về cấm buôn bán động vật quý hiếm đã được ký kết, sách đỏ (Red book)
đã được xuất bản do Ủy ban về các loài thú sống sót (Species survival commission của IUNC)
Sự tăng nhanh về dân số dẫn đến nhu cầu về thực phẩm cũng tăng, các thành tựu về công tác giống dần lấn át trong chăn nuôi động vật nông nghiệp, những nhà nghiên cứu về chăn nuôi phần lớn chỉ giành sự quan tâm cho một số giống, loài cải tiến có giá trị kinh tế cao, vô tình đã lãng quên những giống địa phương giá trị kinh tế thấp đây là nguyên nhân dẫn đến một
số giống vật nuôi truyền thống của một số địa phương đã dần biến mất và có nguy cơ tuyệt chủng
Từ những năm 1970 chương trình bảo vệ các giống vật nuôi quý hiếm được bắt đầu tại nước Anh với sự ra đời của tổ chức RBST (Rare Breeds Survival Trusr) theo Lê Viết Ly, 1994 [15] cho biết: Tổ chức này hỗ trợ tài chính cho các công viên nuôi các loài động vật hiếm Sau đó là hoạt động của Hội chăn nuôi Châu Âu Qua điều tra đã thống kê được 240 giống gia súc có nguy cơ biến mất Tài nguyên về các giống gia cầm đã được tiến hành điều tra sau đó tại Canada
Từ giữa năm 1980 trở lại đây ngày càng có nhiều nhà khoa học, các
tổ chức quan tâm và hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn nguồn gen vật nuôi Nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ ra đời ở các nước, các khu vực dẫn đến sự ra đời của tổ chức quốc tế các giống hiếm RBI (Rare Breeds International) liên kết bảo tồn nguồn gen vật nuôi các Quốc gia Hàng loạt Hội thảo Quốc tế về bảo tồn giống động vật được tổ chức ở nhiều nơi, thống nhất chương trình hành động và đặt ra mục tiêu nhiệm vụ cho chương trình bảo tồn nguồn gen động vật
Trang 37Mặt trái của sự phát triển nền sản xuất công nghiệp của thế kỷ XX đã lộ
rõ, nhân loại có những bước đi, những hoạt động tích cực nhằm hạn chế sự suy thoái, huỷ hoại môi trường do nền sản xuất công nghiệp gây ra Như vậy việc ra đời RBI, việc thiết lập ngân hàng di truyền động vật ở Hanover cho các nước Châu Âu, ngân hàng tư liệu tại Rome cho khu vực các nước đang phát triển do FAO thành lập và nhiều hoạt động khác Bên cạnh đó khuynh hướng muốn trở lại thiên nhiên Một bầu không khí trong lành không ô nhiễm, nước uống sạch, da sạch, thịt sạch đang là mục đích phấn đấu của các Quốc gia trên thế giới Vấn đề thịt sạch được hiểu là không có các chất tồn dư
có hại cho sức khỏe con người
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
* Tình hình phát triển chăn nuôi gà ở nước ta
Nghề chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng thường với quy mô nhỏ, mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con chăn thả
tự do Bên cạnh những giống gia cầm truyền thống như gà Ri, vịt Bầu được nuôi ở khắp mọi miền do dễ nuôi, sức chống chịu bệnh tật cao, khả năng kiếm mồi tốt, chịu kham khổ, thịt thơm ngon Ở một số vùng còn khá nhiều giống gà khác nhau như: gà Đông Tảo, gà Mía, gà Tàu Vàng,
gà Tre, gà Hồ, gà Ác, vịt Cỏ…
Vào những năm cuối thập kỷ 60 một số đàn gà công nghiệp lần đầu tiên được nhập vào nước ta như: Hubbard thịt, Hubbard trứng (Hubbard Goldsn Comet) ở miền Nam và gà chuyên thịt Comish, Plymouth Roch và gà chuyên trứng Sekxalin ở miền Bắc Do chưa có kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật còn hạn chế nên các đàn gà công nghiệp nhập vào nước ta thời đó năng suất thấp, dịch bệnh nhiều dẫn đến hiệu quả thấp
Tháng 5 năm 1974, nước bạn Cu Ba đã giúp nước ta hai bộ giống thuần chủng: gà chuyên trứng Leghorn với 2 dòng: BVX, BVY và gà chuyên thịt
Trang 38Plymouth Rock với 3 dòng: TĐ9, TĐ8, TĐ3 từ đó ngành chăn nuôi gà công nghiệp ở nước ta mới hình thành, cùng với sự giúp đỡ của nhiều chuyên gia
Cu Ba và một số chuyên gia về gia cầm của FAO, ngành chăn nuôi gà công nghiệp nước ta đã phát triển rất nhanh và đã trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật không thể thiếu trong chủ trương đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính, góp phần tạo sản phẩm hàng hóa tăng thu nhập cho người nông dân và hòa nhập vào các nước trong khu vực
Ngày nay, nhiều hộ gia đình đã xác định nghề chăn nuôi gà, vịt làm nghề chính để kiếm sống và làm giàu, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư xây dựng thành các khu trang trại với quy mô khá lớn có từ: 3.000 - 5.000 con, một số gia đình còn nuôi gia cầm giống bố mẹ và có trạm ấp nhân tạo để nhân giống
Khi có các bộ giống gà với các dòng thuần chủng và ông bà cao sản được tiếp tục nhập vào nước ta như: Hybro HV85 (1985), Goldline 54 (1990),
BE (1993) thì hệ thống giống gà công nghiệp nước ta đã vươn lên ngang tầm với các nước trong khu vực
Thời kỳ những năm 1991 - 1996 là giai đoạn nước ta phát triển chăn nuôi gà công nghiệp có hiệu quả nhất, ở thời kỳ này có nhiều giống gà cao sản trên thế giới cũng đã được nhập vào nước ta như: giống gà thị Hubbard, Arbor Acres (AA), Avian ở miền Nam và gà AA, ISA, Lohmann, Ross ở miền Bắc; các giống chuyên trứng, chuyên thịt cao sản này đã tạo bước nhảy vọt về các chỉ tiêu năng suất trong chăn nuôi gà công nghiệp
Việc không ngừng nghiên cứu lựa chọn các tổ hợp lai tối ưu giữa các giống trong điều kiện nước ta, đặc biệt là việc nghiên cứu xác định tiêu chuẩn dinh dưỡng và phương pháp cho ăn đối với các giống gà nhập nội đã đạt được những tiến bộ kỹ thuật có giá trị khoa học và thực tiễn
Trang 39Hiện nay nước ta chăn nuôi gà với các giống địa phương vẫn chiếm
tỷ lệ khá cao (trên 70 %), các giống này chăn nuôi theo phương thức thả vườn cũng không ngừng phát triển và hiệu quả cũng ngày càng tăng vì cũng đã được đầu tư để bảo tồn quỹ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng suất, việc sử dụng kết hợp thức ăn công nghiệp với thức ăn tự chế biến đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng và vệ sinh thú y, sử dụng vacxin phòng bệnh đã được người dân quan tâm nên đã nâng cao đáng kể hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi hộ gia đình
Theo số liệu thống kê năm 1997, đàn gà nước ta phân bố không đều tập trung chủ yếu ở phía bắc (chiếm 60%), trong đó chủ yếu vùng núi và trung du phía Bắc (27,5%), vùng đồng bằng sông Hồng (24,7%) Đàn gà phía nam (chiếm 34%) tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long (15,6%) (Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc, 1999) [7])
* Tình hình phát triển chăn nuôi gà thả vườn ở nước ta
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển với tốc độ phát triển nhanh cả về số và chất lượng, có tới trên 70% là gà nuôi thả tự nhiên, chủ yếu là các giống địa phương có hương vị thơm ngon như: gà Ri, gà Tàu Vàng, gà Mía, gà Tre, gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Ác, gà Đen…
Chăn nuôi gà thả vườn mang tính tận dụng, quy mô nhỏ, tuy nhiên nếu giải quyết được vấn đề tiêu thụ sản phẩm ổn định thì tiềm năng phát triển chăn nuôi gà thả vườn chất lượng cao sẽ có điều kiện để phát triển
* Tình hình nghiên cứu và bảo tồn nguồn gen các giống gà trong nước
Chúng ta tự hào rằng nước ta đã có ngành chăn nuôi phát triển rất sớm,
lại là một trong những cái nôi thuần hoá gia súc đầu tiên trải qua hàng ngàn
Trang 40năm dưới tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo các giống gia súc gia cầm đã thích nghi với điều kiện sinh thái, chúng có các đặc điểm di truyền quý giá đó là tận dụng thức ăn thô nghèo dinh dưỡng, tính chống chịu các bệnh tật tốt, một số giống có khả năng sinh sản cao và chất lượng thịt ngon, có giá trị dược liệu
Với chương trình Quốc gia bảo tồn nguồn gen động vật nuôi Việt Nam, chúng ta đã thu thập được số liệu về giống vật nuôi truyền thống được nuôi ở các vùng miền, trong đó có nhiều nhiều giống gia cầm số liệu đã được đưa vào danh mục các giống Quốc gia và Quốc tế cụ thể như:
Giống gà Ri: Địa bàn phân bố rộng khắp cả nước, đặc biệt là đồng
bằng Bắc bộ, miền đông Nam bộ, đây là giống gà có tầm vóc nhỏ, tăng khối lượng chậm; Gà mái có màu vàng rơm, chân vàng, đầu nhỏ, mào đơn;
Gà trống có màu đỏ tía, cánh và đuôi có lông đen, dáng chắc khỏe, mào đơn Ở tuổi trưởng thành con trống nặng từ: 1,5 - 2 kg, con mái nặng từ 1,1
- 1,6 kg; sản lượng trứng từ: 70 - 90 quả/mái/năm, khối lượng trứng từ 45 - 50g; Gà ri đẻ quả trứng đầu tiên lúc 113 ngày tuổi lúc khối lượng mái 1.058, tỷ lệ đẻ bình quân từ 19 - 32 tuần tuổi là 36,69% đạt 36,34 quả/mái;
ở 18 tuần tuổi gà trống nặng 1.675,56g, gà mái nặng 1.247,33g
Theo tác giả Hoài Anh cho biết: Chất lượng trứng gà Ri như sau: Khối lượng trứng: 45,41g; Lòng đỏ: 15,48g; Tỷ lệ lòng đỏ: 34,09%; Tỷ lệ lòng trắng 57,39% Đơn vị Haugh; 95,14; Chỉ số lòng đỏ 0,43 ± 0,03; Chỉ
số lòng trắng 0,096 ± 0,03
Giống gà Hồ: Phân bố chủ yếu tại địa bàn Thuận Thành - Bắc Ninh,
đây là giống người dân địa phương thường nuôi theo hướng làm cảnh, có đặc điểm ngoại hình: Tầm vóc to, con trống nặng từ 4 - 5 kg, con mái nặng từ 3- 4