Sự tăng trưởng thực chất là các tế bào của mô cơ có tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều đo, vì vậy từ khi trứng rụng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành được chia làm hai gi
Trang 1––––––––––––––––––––
HOÀNG QUỐC DOANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GIỐNG GÀ ZOLO NHẬP NỘI
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 62.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS HOÀNG TOÀN THẮNG
2 TS PHẠM CÔNG THIẾU
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là nỗ lực của bản thân tôi Những kết qủa và số liệu được công bố trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng được sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Hoàng Quốc Doanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu tôi đã hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới:
PGS.TS Hoàng Toàn Thắng, TS Phạm Công Thiếu đã đầu tư công sức
và thời gian hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình, chu đáo trong suốt quá trình học tập, triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Ban giám đốc Trung tâm thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi- Viện chăn nuôi, Bộ môn nghiên cứu gia cầm, Tập thể CBCNV trung tâm đã hết sức giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ
Bộ môn phân tích viện chăn nuôi đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và tập hợp tài liệu
Các thầy cô giáo phòng quản lý sau đại học- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận văn
Sự đóng góp to lớn trong đào tạo của tập thể các thầy cô giáo, sự góp ý chân thành và giúp đỡ nhiệt tình của các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp
để tôi nâng cao được trình độ trong thời gian qua
Ngoài ra, tôi đã nhận được sự quan tâm, động viên, tạo điều kiện và giúp đỡ tận tình của gia đình, bè bạn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả
Hoàng Quốc Doanh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Một số kí hiệu, viết tắt trong luận văn vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học 3
1.1.2 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng 8
1.1.3 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn 11
1.1.4 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của gia cầm 13
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
1.2.1 Tình hình nghiên cứu giống gà trong nước 23
1.2.2 Tình hình nghiên cứu giống gà trên thế giới 25
1.2.3 Vài nét về giống gà Zolo 26
CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1 Một số đặc điểm sinh học 27
2.2.2 Một số đặc điểm sinh trưởng 27
2.2.3 Một số đặc điểm sinh sản 27
Trang 52.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Cách lựa chọn đàn giống 28
2.3.2 Phương pháp chọn lọc đàn giống 32
2.3.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 32
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 37
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Một số đặc điểm sinh học của gà Zolo 39
3.1.1 Ngoại hình 39
3.1.2 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu 42
3.1.3 Kích thước một số chiều đo cơ thể gà Zolo 43
3.2 Tỷ lệ nuôi sống 44
3.2.1 Tỷ lệ nuôi sống gà Zolo 44
3.2.2 Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi 47
3.3 Khả năng sinh trưởng 49
3.3.1 Tăng khối lượng tuyệt đối 49
3.3.2 Tăng khối lượng tương đối 51
3.3.3 Kết quả chọn lọc gà Zolo 52
3.3.4 Lượng thức ăn tiêu thụ 53
3.4 Khả năng sinh sản của gà Zolo 54
3.4.1 Tuổi thành thục sinh dục và khối lượng gà mái 54
3.4.2 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng 55
3.4.3 Khối lượng và chất lượng trứng 56
3.4.4 Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở 60
3.4.5 Sức sống của gà Zolo giai đoạn sinh sản 61
3.4.6 Lượng thức ăn tiêu thụ đối với gà Zolo giai đoạn sinh sản 62
3.4.7 Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho 1 đời gà mái, 10 trứng giống và 01 gà con loại 1 63
Trang 63.4.8 Đánh giá sự thích nghi của giống gà Zolo qua các thế hệ nuôi tại Việt Nam 64
3.5 Một số nét thể hiện tập tính của gà Zolo 65
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66
4.1 Kết luận 66
4.2 Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7MỘT SỐ KÍ HIỆU, VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TTTĂ : Tiêu thụ thức ăn
X : Khối lượng trung bình
XP : Xuất phát
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Chế độ dinh dưỡng 28
Bảng 2.2: Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng 29
Bảng 2.3: Chế độ ăn hạn chế giai đoạn 10-19 tuần tuổi 29
Bảng 2.4: Sử dụng vacxin phòng bệnh 31
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu gà 42
Bảng 3.2: Kích thước các chiều đo cơ thể tại 25 tuần tuổi 44
Bảng 3.3: Tỷ lệ nuôi sống 45
Bảng 3.4: Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn gà dò-hậu bị 46
Bảng 3.5: Khối lượng cơ thể giai đoạn 0-19 tuần tuổi 47
Bảng 3.6: Tăng khối lượng tuyệt đối của gà Zolo 49
Bảng 3.7: Tăng khối lượng tương đối của gà Zolo 51
Bảng 3.8: Tỷ lệ chọn lọc tại 9 và 19 tuần tuổi 53
Bảng 3.9: Tuổi đẻ và khối lượng gà mái 54
Bảng 3.10: Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng 55
Bảng 3.11: Khối lượng trứng tại các thời điểm 57
Bảng 3.12: Kết quả khảo sát trứng tại 38 tuần tuổi 58
Bảng 3.13: Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở 60
Bảng 3.14: Tỷ lệ hao hụt đàn gà mái trong thời kỳ sinh sản 61
Bảng 3.15: Tiêu tốn thức ăn/10 trứng của gà mái 62
Bảng 3.16: Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho một gà mái 63
Bảng 3.17: Kết quả các chỉ tiêu đánh giá gà qua các thế hệ 64
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Gà Zolo 1 ngày tuổi 39
Hình 3.2: Gà mái Zolo giai đoạn hậu bị 40
Hình 3.3: Gà mái Zolo giai đoạn hậu bị 40
Hình 3.4: Gà mái Zolo trưởng thành 41
Hình 3.5: Gà trống Zolo trưởng thành 41
Hình 3.6: Biểu đồ tăng khối lượng cơ thể của gàgiai đoạn (0-19 tuần tuổi) 48
Hình 3.7: Biểu đồ tăng khối lượng tuyệt đối của gà giaiđoạn 1-19 tuần 50
Hình 3.8: Biểu đồ tăng khối lượng tương đối của gàgiai đoạn 1-19 tuần tuổi .52
Hình 3.9: Biểu đồ năng suất trứng của gà 56
Trang 10Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được Thủ trướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2008, chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng chiếm một
vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nước ta trong nhiều năm tới Trong xu thế phát triển kinh tế như hiện nay, đời sống của người dân được nâng lên thì nhu cầu về thịt, trứng, sữa ngày càng lớn
Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của xã hội, ngoài các giải pháp về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng gia trại và trang trại thì chương trình dự án giống vật nuôi cũng được quan tâm đầu tư trong đó có việc thu thập, trao đổi nguồn gen vật nuôi với nước ngoài bằng sự phối hợp của hai Bộ (Bộ Công an và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) thông qua dự án DA15-99
Trong quá trình thực hiện dự án, tháng 5/2007 Viện Chăn Nuôi tiếp nhận giống gà hướng trứng Zolo từ dự án DA15-99 (360 quả trứng) và giao cho Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn Vật nuôi tổ chức ấp nở, nuôi thử nghiệm Giống gà có chất lượng thịt, trứng thơm ngon, năng suất trứng/mái/72 tuần tuổi (180-200 quả) Đây là nguồn gen quý cần có những nghiên cứu đánh giá cụ
Trang 11thể bản chất giống để sử dụng giống gà này trong công tác lai tạo các tổ hợp gà lai chuyên trứng, làm phong phú thêm tập đoàn giống vật nuôi ở
nước ta Do vậy, chúng tôi đã triển khai đề tài: “Nghiên cứu một số đặc
điểm sinh học và khả năng sản xuất của giống gà Zolo nhập nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được một số đặc điểm về ngoại hình, một số đặc tính sinh học của gà Zolo
- Đánh giá được khả năng sản xuất của gà Zolo trong điều kiện chăn nuôi ở nước ta
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống về các đặc điểm sinh học, sinh trưởng, sinh sản của gà Zolo trong điều kiện chăn nuôi ở nước ta
Cung cấp những thông tin khoa học, cơ bản, hệ thống về đối tượng nghiên cứu để có những định hướng sử dụng giống gà nhập nội này
Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, người chăn nuôi và những người khác có quan tâm
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
1.1.1.1 Cơ sở nghiên cứu ngoại hình
Ngoại hình là hình dáng bên ngoài của vật nuôi, các đặc điểm về ngoại hình của gà là những đặc trưng cho giống, phản ánh tình trạng sức khỏe, kết cấu, chức năng cũng như thể hiện khuynh hướng, khả năng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi Mỗi giống đều có những đặc điểm ngoại hình đặc trưng cho giống đó Ngoại hình gà bao gồm các đặc điểm về vóc dáng cơ thể, màu sắc lông, da, hình dạng và màu sắc của đầu, mào, chân (Đào Đức Long (2002)[24], Võ Quý (1997)[45])
+ Mào: Là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp giúp phân biệt trống, mái Khi buồng trứng hoạt động bình thường thì mào lớn chứa nhiều máu Thời gian thay lông hay gà mắc bệnh về tuyến sinh dục, chúng tạm thời tự ngừng cung cấp máu nên màu sắc mào giảm đi Mào gà rất đa dạng cả về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống Theo Phan Cự Nhân (1971)[38], khi có mặt gen Ab gà sẽ có mào dạng hoa hồng, gen aB có dạng mào nụ và gen ab có dạng mào cờ
+ Mỏ: Mỏ gà có nguồn gốc vảy sừng, ngắn, cứng và chắc Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất thấp, những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, gà da đen thì mỏ cũng tối màu, gà mái đẻ màu sắc này cũng bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng
+ Bộ lông: Lông là dẫn xuất của da thể hiện các đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại Jonhansson (1972)[19]
Trang 13cho rằng, lông là một tính trạng của phẩm giống, sắc tố da, lông ở gia cầm được xác định bởi hai chất melanin và xantofin Sắc tố melanin ở dạng hạt, có
ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi Sắc tố xantofin ở dạng tinh thể màu vàng, chỉ nằm ở da, mỏ và chân Nếu lớp da ngoài có thêm xantofin thì da có màu xanh óng ánh Sắc tố xantofin được tổng hợp từ thức
ăn, trong khi thức ăn không đủ xantofin thì cũng làm tăng thêm màu sắc đen của da, lông Thông thường màu sắc da, lông đồng nhất là giống thuần, trên
cơ sở đó loang thì đó là đã bị lai tạp Vì vậy màu sắc da, lông còn là một chỉ tiêu chọn lọc Màu sắc da, lông thuộc về tính trạng đơn gen, nên thường phân
ly, đồng thời để dự đoán số lượng đời con có màu sắc mong muốn
Sự thay đổi về sắc lông: thứ nhất do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào, thứ hai là số lượng các tế bào cấu trúc và khả năng thu nhận ánh sáng của các tế bào này Vì vậy màu sắc này phụ thuộc vào cấu trúc Ví dụ: những màu sắc xanh, đỏ thường thấy ở gà đen Ở phần lớn các giống gà, gà trống và gà mái được phân biệt qua bộ lông Tính trạng màu sắc
và kiểu lông là tính trạng giới hạn bởi giới tính
+ Chân: Chân gia cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón Cổ, bàn và ngón chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da Chân thường có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài
1.1.1.2 Cơ sở nghiên cứu tập tính
Tập tính (behaviour) là các hoạt động, phản ứng trả lời các kích thích ở các loài động vật hay tất cả các hành vi trong cuộc sống của chúng Tập tính động vật phản ánh toàn bộ hoạt động sống của động vật Biểu hiện các mối quan hệ giữa động vật với môi trường, với tự nhiên, với các cá thể cùng loài
và khác loài, vô cùng đa dạng, gắn bó hữu cơ với cả quá trình tiến hóa của động vật, với các biến đổi của môi trường
Trang 14Theo các tác giả Phan Cự Nhân (1998)[39], Võ Quý (1997)[45], Đào Văn Tiến (2007)[54] thường phân chia tập tính thành các loại chính sau đây:
- Tập tính bẩm sinh (inborn): Bản năng đó là các hoạt động có trước
ý thức, dẫn tới các tính cách, các biểu hiện của động vật Bản năng là chuỗi phản xạ nối tiếp theo một trình tự nhất định, được ghi trong genon Trong
cơ cấu di truyền của động vật Bản năng thay đổi, đặc trưng và có lợi cho loài, là kết quả của chọn lọc tự nhiên
- Tập tính tiếp thu (acquired): Là những tập tính được hình thành do bắt chước hoặc qua huấn luyện của con người Tập tính tiếp thu chỉ xuất hiện ở những động vật đã bắt đầu có hệ thần kinh, hình thành qua biến đổi môi trường mới, không ghi trong genon, nên mềm dẻo, linh hoạt và luôn thay đổi theo hoàn cảnh, theo điều kiện sống mới
- Tập tính hỗn hợp (mixed): Là những tập tính mới được hình thành trong điều kiện sống thay đổi, trong đó có cả tập tính bẩm sinh và tập tính tiếp thu mà ranh giới rất khó phân biệt
Các động vật sống trong cùng một cộng đồng, có cuộc sống chung trong cùng một quần thể nhóm, bầy, đàn đều có các mối quan hệ với nhau, các tập tính hay tín hiệu trao đổi của chúng đều có tính xã hội và được gọi là tập tính xã hội Tập tính xã hội biểu hiện rất đa dạng, phong phú bao gồm các tập tính chống lại kẻ thù để bảo vệ bầy đàn, cùng nhau tìm kiếm thức ăn, tập tính phân chia đẳng cấp, trật tự, tập tính phân chia lãnh thổ, cạnh tranh sinh tồn, bảo vệ nòi giống Ngoài ra còn có những tập tính xã hội tinh tế hơn như: tập tính nuôi con, quan hệ mẹ con
Tập tính là một biểu hiện rõ rệt đầu tiên của con vật đối với sự thay đổi các điều kiện sống và có thể làm chỉ tiêu chắc chắn để đánh giá quy trình công nghệ đã đề ra Tập tính là một tính trạng được sử dụng trong
Trang 15chọn giống bởi chúng đảm bảo sự tồn tại của loài trước môi trường vẫn luôn biến động Mặt khác chỉ tiêu cơ bản của ngành chăn nuôi là năng suất Trạng thái đó biểu hiện ra bên ngoài bằng các đặc điểm tập tính Vì vậy nghiên cứu tập tính của các vật nuôi là rất cần thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý thuyết và thực tiễn Nó giúp các nhà chăn nuôi chủ động trong việc chăm sóc, phòng trị bệnh cho vật nuôi
Tập tính động vật chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: tính di truyền
và chọn lọc, nhiệt độ và mật độ, ánh sáng, ẩm độ, stress, động lực, sự cách ly
và sự học tập, thời gian và các chu kỳ tự nhiên
1.1.1.3 Cơ sở nghiên cứu sức đề kháng
Sức đề kháng là khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể Đặc tính này có thể là bẩm sinh hay tập nhiễm Những cá thể có sức đề kháng cao đối với các bệnh khác nhau thường do sức chống đỡ của thể trạng so bẩm sinh được củng
cố trong kiểu gen của chúng cũng như do tập nhiễm dưới tác động những ảnh hưởng khác nhau của môi trường; Đỗ Ngọc Liên (2008)[30]
Để xác định sức đề kháng đối với bệnh truyền nhiễm, người ta dựa vào
3 yếu tố cơ bản sau:
+ Nguồn truyền bệnh, tính gây bệnh và tính đặc trưng của bệnh
+ Động vật ký chủ, tính cảm thụ và những phương thức bảo vệ của động vật ký chủ
+ Môi trường xung quanh và sự tham gia của môi trường trong sự chống lại một đối một giữa cơ thể và tác nhân gây bệnh (Đỗ Ngọc Liên, 2008)[30], (Đào Lệ Hằng, 2001)[14]
Sức sống được thể hiện là thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính chất di truyền của động vật có thể chống lại được nhiều ảnh
Trang 16hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như những ảnh hưởng của dịch bệnh (Macro và cộng sự, dẫn theo Đào Lệ Hằng, 2001)[14] Tuy nhiên có thể chọn lọc theo sức đề kháng với một số bệnh để tăng cường sức sống Song cũng không thể chọn lọc theo sức đề kháng ở tất cả các bệnh vì điều kiện đó thường gắn liền với sự giảm nhanh của các tính trạng năng suất cá thể Tính trạng này có hệ số di truyền như sau: h2 = 0,06 (Hill, Dickerson và Kempster, 1954)
Sức sống sau khi nở của các giống gà địa phương: h2 = 0,33 (Đặng Hữu Lanh,1999)[23] Sức sống của gà được tính bằng tỷ lệ nuôi sống sau một thời gian Tính trạng này có hệ số di truyền thấp (h2 = 0,1) nên sức sống của gà còn phụ thuộc chủ yếu vào môi trường (điều kiện ngoại cảnh) (Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Nếu được chọn lọc kỹ, được ghép phối theo gia đình, kết hợp với dòng trống, mái, h2 về sinh lực có thể tăng khá nhanh gà Ri h2 = 0,63 (Bùi Đức Lũng, Trần Long, 1992)[26]
Sức đề kháng khác nhau ở các loài, giống, dòng, thậm chí giữa các cá thể giống nhau Con trống có sức đề kháng mạnh hơn do có sự khác nhau của hoocmon Nhiễm sắc thể giới tính quyết định khác nhau về sức đề kháng, có thể nhiễm sắc thể giới tính z (ở gà trống) mang gen đề kháng hoặc là nhiễm sắc thể w (gà mái) có gen cảm nhiễm Hutt (1969) (dẫn theo Vũ Thị Đức,
2010 [8]
1.1.1.4 Cơ sở khoa học nghiên cứu các đặc tính sinh lý sinh hoá máu
Trong tổng lượng máu của cơ thể có tới 54% máu được lưu thông trong
hệ thống tuần hoàn, 46% còn lại ở dạng dự trữ, trong đó ở gan 20%, lách 16%, mao mạch dưới da 10% Hai loại máu này thường xuyên đổi chỗ cho nhau Khi cơ thể bị mất máu đột ngột thì sẽ bị choáng váng, ngất do áp lực
Trang 17máu trong mao quản bị giảm đột ngột, đặc biệt giảm ở mao quản của não làm
ức chế thần kinh Khi lấy máu từ (máu tĩnh mạch) có thể lấy đến 2/3 tổng lượng máu mà con vật vẫn chưa chết, vì lượng máu dự trữ sẽ được huy động thành máu lưu thông
Máu là tấm gương phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ của cơ thể, vì vậy xét nghiệm về máu là những xét nghiệm cơ bản được dùng để đánh giá tình trạng sức khoẻ, quá trình trao đổi chất, sức đề kháng cũng như giúp việc chẩn đoán bệnh
Các chỉ tiêu được phân tích bao gồm:
- Số lượng hồng cầu (triệu/ml)
- Số lượng bạch cầu (nghìn/ml)
- Lympho cytes (%)
- Hemoglobin (%)
1.1.2 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng
+ Khái niệm: Sinh trưởng là sự tăng kích thước và khối lượng của sinh vật đang ở giai đoạn lớn lên Trong hai chỉ tiêu tăng kích thước và tăng khối lượng thì chỉ tiêu tăng kích thước đáng tin cậy hơn vì khối lượng cơ thể có thể tạm thời biến động tùy theo chế độ dinh dưỡng
Chambers (1990)[71] định nghĩa: Sinh trưởng là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt, da, xương Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tế bào của mô, cơ, tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều đo cơ thể
Tóm lại: sinh tưởng phải trải qua 3 quá trình đó là:
- Phân chia để tăng khối lượng tế bào
Trang 18- Tăng thể tích tế bào
- Tăng thể tích giữa các tế bào
Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, vì thế người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng
Sự tăng trưởng thực chất là các tế bào của mô cơ có tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều đo, vì vậy từ khi trứng rụng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai, đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành
Như vậy cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình, tế bào sinh sản và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính, sự tích lũy lớn lên về mặt khối lượng của từng mô bào và toàn bộ cơ thể do kết quả của sự tương tác giữa các gen và môi trường
Nghiên cứu về sinh trưởng, không thể không nói đến phát dục, phát dục
là quá trình thay đổi về chất tức là tăng lên thêm và hoàn chỉnh các tính chất chức năng của bộ phận cơ thể Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp,
từ khi thụ tinh đến khi trưởng thành
Các nhà chọn tạo giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách đo đơn giản và thực tế: khối lượng cơ thể từng thời kỳ dù chỉ là một chỉ số sử dụng quen thuộc nhất về sinh trưởng (tính theo tuổi), song chỉ tiêu này không nói lên được mức độ khác nhau về tốc độ sinh trưởng trong một thời gian Đồ thị khối lượng cơ thể còn gọi là độ thị sinh trưởng tích lũy
Sinh trưởng tích lũy là khả năng tích lũy các chất hữu cơ do quá trình đồng hóa và dị hóa Khối lượng cơ thể thường được tính theo từng tuần tuổi
và đơn vị tính là kg/con hoặc g/con
Trang 19* Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng ở gia cầm:
+ Tốc độ mọc lông: Quá trình thay bộ lông sơ sinh để mọc lông mới đầu tiên trong một thời gian nhất định của một giống Quá trình này trải qua nhiều giai đoạn khác nhau gọi là tốc độ mọc lông
Tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm và là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thì sự thành thục về thể trọng sớm, chất lượng thịt tốt hơn gia cầm mọc lông chậm (Đào Lệ Hằng, 2001)[14]; (Phan Cự Nhân, 1971)[38]
+ Kích thước các chiều đo: Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, đặc trưng cho từng giai đoạn sinh trưởng, từng giống, qua đó góp phần vào phân biệt giống, dòng Giới hạn kích thước của loài, của cá thể do tính di truyền quy định, do kiểu gen của mỗi cá thể Kích thước cơ thể luôn có mối tương quan với khối lượng cơ thể Qua đó
có thể đánh giá sự sinh trưởng và áp dụng cho chọn giống Kích thước cơ thể còn liên quan đến các chỉ tiêu sinh sản, như giai đoạn thành thục thể trạng để chuyển chế độ nuôi dưỡng, chế độ sử dụng (thịt, trứng) liên quan đến các chỉ tiêu về chất lượng trứng (Đặng Hữu Lanh, 1999)[9]; Phan Cự Nhân,1971 [38]; Petrop, 1984 [44])
+ Khối lượng cơ thể: là một tình trạng số lượng và được quy định bởi các yếu tố di truyền Jull và Quinn (1931), Man (1935), Kaufman (1948), Godfrey và Jaap (1962) đã phát hiện ra rằng trong sự di truyền khối lượng phải có sự tham gia của ít nhất một gen liên kết với giới tính.và theo Godfrey (1983) thì cho rằng tính trạng này được quy định ít nhất 15 cặp gen (Dẫn theo Vũ Thị Đức, 2010)[8]
Khối lượng gia cầm khi nở phụ thuộc vào khối lượng trứng và khối lượng của gà mẹ vào thời điểm đẻ trứng Tuy nhiên, khối lượng gà con sơ
Trang 20sinh (01 ngày tuổi) ít ảnh hưởng đến sự tăng trưởng tiếp theo (Phan Cự Nhân , 1971)[38]; Theo (Phan Cự Nhân, 2000)[40] thì hệ số di truyền của khối lượng
cơ thể ở gà như sau:
gà đạt được từ khi nở tới thời điểm giết mổ Khối lượng cơ thể không những chứng minh cho hiệu quả sử dụng thức ăn mà còn cần thiết để quyết định thời gian nuôi và xuất bán thích hợp
+ Tốc độ sinh trưởng: là cường độ tăng các chiều đo cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định Trong chăn nuôi người ta thường sử dụng hai chỉ
số để mô tả tốc độ sinh trưởng ở vật nuôi là tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối Tốc độ sinh trưởng vật nuôi phụ thuộc vào loài, giống, giới tính, đặc điểm cơ thể và điều kiện môi trường (Phan Cự Nhân, 1971)[38]; (Johansson, 1972)[19]
1.1.3 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn
Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng cơ thể là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn
để đạt được tốc độ tăng trưởng Vì tăng khối lượng cơ thể là một chức năng chính của quá trình chuyển hóa thức ăn Nói một cách khác tiêu tốn thức ăn là hiệu suất giảm thức ăn/1kg tăng khối lượng cơ thể
Cơ cấu giá thành sản phẩm chăn nuôi, chi phí thức ăn chiếm 70% tiêu tốn TĂ/1kg tăng khối lượng cơ thể càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Trang 21Chambers và cộng sự (1984)[72] đã xác định hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng cơ thể với lượng thức ăn tiêu tốn thường rất cao (0,5-0,9) Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn là âm và thấp từ (-0,2 đến - 0,8) Theo các tác giả (Box và Bohren, 1954) và (Willson, 1969) xác định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hóa thức ăn ở gà từ 01 – 4 tuần tuổi (-0,5) Tiêu thụ thức ăn ít thì không ảnh hưởng gà sinh trưởng chậm mà mức độ tích lũy mỡ bụng ít, tăng chất lượng thịt (dẫn theo Nguyết Viết Thái, 2012)[60]
Đối với gà sinh sản thường tính tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng hay cho 1kg trứng Trước đây tính toán người ta chỉ tính lượng thức ăn cung cấp trong giai đoạn sinh sản, hiện nay nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đã áp dụng phương pháp tính mức tiêu tốn thức ăn bằng tổng lượng chi phí cho gia cầm từ lúc 01 ngày tuổi đến kết thúc 01 năm đẻ
Đối với gia cầm nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng, độ tuổi, giai đoạn đầu tiêu tốn thức ăn thấp, càng về cuối thì tiêu tốn thức ăn cao hơn Do vậy người ta sẽ tính tiêu tốn thức ăn cho 01kg khối lượng cơ thể tăng Tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tính biệt, thời tiết khí hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như sức khỏe của đàn gia cầm
Gà lai V35 tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể ở các giai đoạn 4 tuần tuổi: 1,91kg; 5 tuần tuổi: 1,98kg; 6 tuần tuổi: 2,01kg; 7 tuần tuổi: 2,13kg và 8 tuần tuổi là 2,26kg (Bùi Đức Lũng, 1992)[26] Ở gà Broiler Ross 208-V35 cùng một chế độ dinh dưỡng thì tiêu tốn thức ăn trên 01kg tăng khối lượng cơ thể ở 28 ngày tuổi: 1,65kg; 42 ngày tuổi: 1,83kg; 65 ngày tuổi: 2,02kg (Trần Công Xuân và cộng sự, 1995)[69]
Trang 22Tiêu tốn hay chi phí thức ăn là một chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng do vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tạo ra các tổ hợp lai có tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn trên 01kg tăng khối lượng cơ thể thấp, nhằm hạ giá thành và tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, mật độ dinh dưỡng phải quan tâm đầu tiên đó là năng lượng trao đổi và lượng protein thô có trong 01kg thức ăn
hỗ hợp hoàn chỉnh, đây là hai nhu cầu chính cần thiết cho vật nuôi
Khả năng chuyển hóa protein thức ăn của gia cầm mái cho các hoạt động duy trì cơ thể, sản xuất trứng là 55% Do vậy gà đẻ 100% cần nhu cầu là (8,9g) protein cho tạo trứng (Ivy và Gleaves, 1976)(dẫn theo Nguyễn Viết Thái, 2012)[60]; Khả năng chuyển hóa năng lượng theo Marris và Wasserman (dẫn theo Nguyễn Duy Hoan và cộng sự, 1999)[16]thì 80% năng lượng thức ăn được hấp thu trong đó 25% năng lượng hấp thu được dùng cho tạo trứng
1.1.4 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của gia cầm
1.1.4.1 Cơ sở khoa học của năng suất trứng
Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ gồm lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ, còn các thành phần khác như lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi, hai bên phải, trái của gà đều có buồng trứng, nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến, chỉ còn lại buồng trứng bên trái (Vương Đống, 1968)[9]
Trang 23Số lượng tế bào trứng theo một số tác giả có khác nhau, Pearl và Schoppe (1921) đếm được 1906 trứng bằng mắt thường và 1200 trứng bằng kính hiển vi Theo Jull (1939-1948) thì cho rằng ở gà mái thời kỳ đẻ trứng có thể đếm được 3600 trứng, trong khi đó Hult (1949) đã đếm và cho biết số lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu tế bào (dẫn theo Lê Thị Nga, 2005)[42] Theo Frege (1978) cho rằng tế bào trứng lúc bắt đầu đẻ là 900-3500 ở gà mái, 1500 ở vịt mái nhưng chỉ có một số lượng rất hạn chế được chín và rụng (dẫn theo Nguyễn Viết Thái, 2012)[60]
Trong thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh, tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng, sự tạo thêm sẽ tiêu tốn bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là follicun, bên trong follicun có một khoảng hở chứa đầy một chất dịch, bề ngoài follicun trông giống như một cái túi
Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều follicun trở nên chín dần làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như “chùm nho” Sau thời kỳ đẻ trứng, buồng trứng trở lại hình dạng ban đầu, các follicun chín vỡ ra, tế bào trứng chín ra ngoài cùng với dịch follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng, sự rụng trứng đầu tiên biểu hiện sự thành thục sinh dục
Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng, hầu hết vật chất lòng đỏ trứng gà được tạo thành trước khi đẻ trứng 9-10 ngày, tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ
từ 1-3 ngày đầu rất chậm, khi đường kính của lòng đỏ đạt tới 6mm, bắt đầu vào thời kỳ sinh trưởng cực nhanh, đường kính có thể tăng 4mm trong 24 giờ, cho tới khi đạt đường kính tối đa 40mm Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan với cường độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, do sự điều khiển của hoocmon Thời
kỳ từ lúc đẻ quả trứng đầu đến khi rụng trứng tiếp theo kéo dài 15-75 phút
Trang 24Sự rụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi
đẻ trứng Trường hợp nếu trứng đẻ sau 16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển đến đầu ngày hôm sau Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngưng trệ sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng ra khỏi tử cung thì cũng không làn tăng nhanh sự rụng trứng được (Melekhin và Ningridin (1989) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994)[28]
Khi tế bào trứng chín, rụng, trứng rơi vào phễu và được đẩy xuống ống dẫn trứng, đây là một cái ống dài có nhiều khúc cuộn, bên trên bề mặt lớp màng nhầy có tiêu mao rung động Ống dẫn trứng có những phần khác nhau: phễu, phần tạo lòng trắng, phần eo, tử cung và âm đạo Chúng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, loãng, màng vỏ, vỏ trứng và lớp keo mỡ bao bọc bên ngoài vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20-24 giờ Khi trứng rụng và qua các phần của ống dẫn trứng tới tử cung, đầu nhọn quả trứng bao giờ cũng đi trước nhưng khi nằm trong tử cung quả trứng xoay một góc
1800, do vậy trong điều kiện bình thường gà đẻ đầu tù của quả trứng ra trước
1.1.4.2 Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là một quá trình để tạo ra thế hệ sau, sự phát triển, hay hủy diệt của một loài, trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó
Đối với gia cầm khả năng sinh sản được thể hiện bởi các chỉ tiêu về năng suất trứng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh
và ấp nở Các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản của chúng cũng khác nhau Bởi vậy ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu cơ sở di truyền sức đẻ trứng của gia cầm và cho rằng việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền Lerner và Taylor (1943); Hays (1994); Albuda (1955) (dẫn theo Nguyễn Viết Thái, 2012)[60] 5 yếu tố đó là:
Trang 25- Tuổi thành thục về sinh dục: người ta cho rằng ít nhất cũng có 2 cặp gen chính tham gia vào yếu tố này: một gen là E (gen liên kết với giới tính) và gen e; còn cặp thứ 2 là E’ và e’ Gen trội E chịu trách nhiệm về sinh dục
- Cường độ đẻ trứng: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ phối hợp cộng lại để điều hành
- Bản năng đòi ấp do hai gen A và C điều khiển phối hợp với nhau
- Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M và
m điều khiển (Gia cầm có gen mm thì về mùa đông vẫn tiếp tục đẻ đều)
- Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ: do cặp gen P và p điều khiển
Trong năm yếu tố trên thì yếu tố thứ năm và yếu tố thứ nhất kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau Tất nhiên ngoài các gen chính tham gia vào điều khiển các yếu tố trên thì có thể còn có nhiều gen khác phụ lực vào
a) Tuổi đẻ quả trứng đầu:
Nhiều tác giả khi nghiên cứu về tuổi đẻ quả trứng đầu cho rằng đây là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là một yếu tố cấu thành năng suất trứng, đối với từng cá thể, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là số ngày tuổi kể từ khi nở ra đến khi đẻ quả trứng đầu Trong thực tế sản xuất tuổi
đẻ quả trứng đầu của một đàn (quần thể) được xác định khi có 5% số cá thể trong đàn đã đẻ
Có ít nhất hai cặp gen cùng quy định tuổi đẻ quả trứng đầu, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai là E’ và e’ (Trần Đình Miên, 1997)[35]
Tuổi đẻ và năng suất trứng có mối tương quan nghịch, giữa tuổi đẻ và khối lượng trứng lại có tương quan thuận Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường Đặc biệt là
Trang 26thời gian chiếu sáng sẽ thúc đẩy gia cầm thành thục sinh dục, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm
Theo Dickerson (1952), Ayob và Merat (1975) đã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (-0,21 đến -0,16); còn Nicola và cộng sự tính hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành thục với sản lượng trứng là 0,11 (dẫn theo Trần Long, 1994)[25]
b) Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ:
Năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra của một gia cầm mái trong một thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ số sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phục thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và cũng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và đặc điểm của cá thể Hutt (1978)[17] đề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên, còn theo Brandseh và Bnelchel (1978)[5] cho rằng sản lượng trứng được tính đến 500 ngày tuổi, cũng theo các tác giả trên thì sản lượng trứng còn được tính theo năm sinh học 365 ngày, kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên Trong thời gian gần đây, sản lượng trứng được tính theo tuần tuổi, các hãng gia cầm nổi tiếng trên thế giới như Shaver (Canada), Lohmann (Đức) sản lượng trứng được tính phổ biến nhất đến 70 và 80 tuần tuổi
Năng suất trứng là một tính trạng số lượng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng sớm, do đó trong chăn nuôi gà sinh sản người
ta thường quan tâm đến việc cho gà ăn hạn chế trong các giai đoạn cuối gà con, giai đoạn gà dò-hậu bị để đảm bảo năng suất trứng cao trong thời kỳ khai thác trứng Theo Bùi Thị Oanh (1996)[43] thì năng suất trứng còn phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, đặc biệt là mức năng lượng trao
Trang 27đổi, hàm lượng protein và các axit amin thiết yếu trong khẩu phần thức ăn của gia cầm sinh sản Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, nhưng lại dao động lớn (Nguyễn Văn Thiện, 1995)[65] cho biết hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12-0,3 Đối với tính trạng năng suất trứng, để cải thiện năng suất cần áp dụng phương pháp lai, kết hợp với chọn lọc cá thể, nếu chỉ có áp dụng chọn lọc thì việc nâng cao năng suất trứng ít có hiệu quả
Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng có liên quan chặt chẽ với nhau, tỷ lệ đẻ trứng được tính theo tuần, tháng, năm, đó cũng thể hiện cường độ đẻ trứng
là sức đẻ trứng trong một thời gian; cường độ đẻ trứng phụ thuộc vào độ dài của chu kỳ đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng chính là thời gian gia cầm đẻ liên tục không bỏ ngắt quãng còn được gọi là trật đẻ Cường độ đẻ trứng có tương quan dương và chặt chẽ với sản lượng trứng Đây là tình trạng có hệ
số di truyền cao, thường được sử dụng để chọn lọc nâng cao năng suất trứng Hệ số di truyền về cường độ đẻ trứng của gà vào loại cao h2 = 0,66 (Wegner, 1980)[76]
Cường độ đẻ trứng có tương quan chặt chẽ với năng suất trứng của cả năm, thường người ta dựa theo các số liệu của trật đẻ trứng những tháng đầu tiên và thường theo dõi sản lượng trứng từ lúc bắt đầu đẻ đến 36 hoặc 38 tuần tuổi để đánh giá sức đẻ trứng của cả năm Áp dụng ổ đẻ có cửa sập tự động để kiểm tra số lượng trứng của từng cá thể Tác giả cho rằng sản lượng trứng 3 tháng đẻ đầu và sản lượng lượng trứng cả năm có tương quan di truyền chặt chẽ (0,7-0,9) (Hutt, 1978)[17]
c) Khối lượng trứng:
Khối lượng trứng cũng là một tính trạng số lượng, là một tính trạng
do nhiều gen có tác động cộng gộp quy định, nhưng đến nay người ta cũng chưa xác định được số lượng gen quy định tính trạng này Sau sản lượng
Trang 28trứng, khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của đàn
bố mẹ Khi cho lai hai dòng gia cầm có khối lượng lớn và khối lượng trứng nhỏ, trứng của con lai thường có khối lượng trung gian, nghiêng về một phía (Khaveeman, 1972)[22]
Khối lượng trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao, nên có thể đạt được mục đích nhanh chóng thông qua con đượng chọn lọc (Kushner, 1974)[20] Ngoài các yếu tố về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnh như: chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa
vụ, tuổi gia cầm Khối lượng trứng mang tính đặc trưng của từng loài và tính di truyền cao Hệ số di truyền của tính trạng này là 0,48-0,8 (Brandseh và Bnelchel, 1978)[5] Hệ số di truyền về khối lượng trứng của
gà là 0,6-0,74 (Nguyễn Văn Thiện, 1995)[65] Kết quả nghiên cứu khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng và hệ số tương quan (r) nằm trong khoảng từ (-0,33 đến -0,36), nhưng giữa khối lượng trứng
và khối lượng cơ thể có thể tương quan dương (r=0,31) (Lê Hồng Mận và cộng sự, 1996)[33]; (Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao, 1985)[53]
Trang 29- Bề mặt vỏ trứng: thường trứng gia cầm đẻ ra có bề mặt trơn, đều, song bên cạnh đó cũng có một số cá thể thường đẻ ra trứng có bề mặt xấu, xù
xì, có vệt canxi hay đường gờ lượn sóng, loại trứng này gia tăng khi tuổi đẻ của gia cầm mái cao, ảnh hưởng xấu đến kết quả ấp nở cũng như thị hiếu người tiêu dùng và cũng làm cho tỷ lệ trứng dập vỡ cao, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi (Schuberth và Ruhland, 1978)[46]
- Chỉ số hình thái: trứng gia cầm thường có hình ô van hoặc hình elíp, một đầu lớn và một đầu nhỏ Người ta đã tính toán được chỉ số hình thái trứng thông qua phương pháp toán học Chỉ số hình thái có thể tính bằng hai cách:
là tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm giữa chiều rộng so với chiều dài của trứng
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình thái trứng là một chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng, đặc biệt là trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ ấp nở thấp Trứng của mỗi giống gia cầm đều có chỉ số hình thái riêng, hình thái của trứng gà biến thiên từ (1,34-1,36) và của trứng vịt từ (1,57-1,64), chỉ số này ở gà Leghonn là 1,38 (Nguyễn Hoài Tao và cộng sự, 1985)[49] Gà Goldline 54 là 1,32-1,36 (Lê Hồng Mận và cộng sự, 1996)[33] Trứng gà Tam Hoàng có chỉ số hình thái trứng trung bình 1,24-1,39 cho kết quả ấp nở cao hơn so với nhóm trứng có chỉ số hình thái nằm ngoài biên độ này (Nguyễn Huy Đạt và cộng sự, 1990)[11], (Nguyễn Quý Khiêm, 2003)[21]
- Độ dày và độ bền vỏ trứng: độ dày, độ bền hay độ chịu lực của vỏ trứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với trứng gia cầm, có ảnh hưởng tới kết quả ấp nở và bao gói vận chuyển, nó phụ thuộc vào giống, tuổi, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nhiệt độ chuồng nuôi, hay stress đều làm giảm độ dày và sức bền vỏ trứng
Trang 30Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đã bóc lớp màng vỏ dai trắng Ở gà độ dày này bằng 0,32mm, độ dày vỏ trứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và dao động trong khoảng giới hạn lớn (Auans và Wilke, 1978)[1] Hệ số di truyền độ dày vỏ trứng là 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995)[65] Độ dày vỏ trứng có tương quan dương với độ bền và ảnh hưởng đến kết quả ấp nở, thường trừng có vỏ quá dày hoặc quá mỏng đều cho tỷ lệ
nở kém (Nguyễn Thị Bạch Yến, 1996)[70] Vỏ trứng quá dày làm hạn chế sự bốc hơi nước của trứng, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở Nếu vỏ trứng quá mỏng làm quá trình bay hơi nước diễn ra nhanh, khối lượng trứng giảm nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, gia cầm con nở ra yếu và tỷ lệ chết cao, độ dày lý tưởng của vỏ trứng là 0,26-0,34mm Ngoài ra
độ dày vỏ trứng còn chịu ảnh hưởng của môi trường thức ăn, tuổi gà, nhiệt độ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác
- Chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh:
Khi đánh giá chất lượng trứng giống cũng như trứng thương phẩm người ta đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu này, các chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ nở cao (Tạ An Bình, 1973)[4]
+ Chỉ số lòng đỏ: Chất lượng lòng đỏ được xác định bởi chỉ số lòng đỏ,
mà chỉ số này là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ với đường kính của nó Chỉ số lòng đỏ trứng gà tươi nằm giữa 0,4-0,42, trứng có chỉ số lòng đỏ càng cao thì chất lượng trứng càng tốt
+ Chỉ số lòng trắng: là chỉ tiêu đánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính lớn và đường kính nhỏ của nó, chỉ số này lớn thì chất lượng lòng trắng càng cao Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi
và chế độ nuôi dưỡng
Trang 31Theo Marco (1982)[74], hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng
h2=0,22-0,78 Chỉ số lòng trắng trứng gà về mùa đông cao hơn về mùa xuân
và mùa hè, giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và giống kiêm dụng khoảng 0,08 (Orlov, 1974)[75] Trứng gà Lương Phượng hoa có chỉ số lòng trắng và chỉ số lòng đỏ ở 38 tuần tuổi tương ứng là 0,14 và 053; ở 60 tuần tuổi tương ứng là 0,091 và 0,49 (Nguyễn Huy Đạt và cộng sự, 2001)[10]
+ Đơn vị haugh: được Haugh xây dựng (1930), sử dụng để đánh giá chất lượng trứng, phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng đặc Đơn
vị haugh cao thì chất lượng trứng tốt, đơn vị haugh chịu ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già trứng có đơn vị haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị haugh cao hơn trước khi thay lông) và giống gia cầm Chất lượng trứng rất tốt có đơn vị haugh 80-100; từ 65-79; trung bình: 55-64; xấu dưới 55 (Bạch Thị Thanh Dân, 1999)[7] Nghiên cứu chất lượng trứng của gà Mía thu được kết quả lúc
38 tuần tuổi có chỉ số haugh là 87,4 (Trịnh Xuân Cư và cộng sự, 2001)[6] Nghiên cứu trứng gà Lương Phượng hoa ở 38 tuần tuổi chỉ số haugh đạt 94,4
và ở 60 tuần tuổi chỉ số này là 91,1 (Nguyễn Huy Đạt và cộng sự, 2001)[10]
e) Khả năng thụ tinh và ấp nở:
Kết quả thụ tinh (tỷ lệ trứng có phôi ở gia cầm) là chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá về khả năng sinh sản của con giống, phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sự sống của gia cầm non Khả năng ấp nở phụ thuộc vào chất lượng trứng, tỷ lệ phôi và kỹ thuật ấp
Hệ số di truyền của tỷ lệ trứng thụ tinh 0,11-0,13; hệ số di truyền của tỷ
lệ nở 0,10-0,14 (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995)[36] Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm được Nguyễn Đăng Vang và cộng sự (1997)[67] cho biết ở gà Đông Tảo tỷ lệ trứng có phôi đạt 98,54% và tỷ lệ gà loại 1/trứng
Trang 32ấp đạt 70,08% Kết quả nghiên cứu gà Ri nuôi bán thâm canh có tỷ lệ phôi đạt 93,42% và tỷ lệ nở/ phôi đạt 90,51% (Nguyễn Văn Thạch, 1996)[51]
Ở gà Ross 208 tỷ lệ phôi và tỷ lệ nở/tổng trứng ấp dòng trống tương ứng là 90,51% và 70,51%; dòng mái tương ứng là 91,96% và 72,15% (Bùi Quang Tiến và cộng sự, 1999)[52]
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu giống gà trong nước
Những thập niên 70 của thế kỷ 20, nước ta chủ yếu sử dụng các giống
gà địa phương như gà Ri, Mía, Đông Tảo, gà Hồ.v.v các giống này khả năng sinh sản thấp, sinh trưởng chậm Khả năng sản xuất của gà Ri lúc 18 tuần tuổi gà trống đạt 1,67kg gà mái đạt 1,24kg/con, năng suất trứng/mái/năm 90-100 quả (Nguyễn Đăng Vang và cộng sự, 1999)[68]
Do nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng tăng về thịt, trứng, nên từ những năm 1980 đến nay các giống gà hướng thịt, hướng trứng cao sản đã được nhập vào nước ta như gà Hybro (nhập 1985), gà BE88 (nhập 1993), gà Ross 208 (nhập 1995), gà Goldline 54 (nhập 1992)
Từ năm 1994 một số giống gà lông màu kiêm dụng trứng thịt cũng được nhập vào nước ta bằng nhiều con đường khác nhau như gà Tam Hoàng
882, Jiangcun, Kabir, Sasso, JA57, Lương Phượng, Thái Hòa, Ai Cập Đã đưa chăn nuôi gia cầm nước ta phát triển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Cùng với việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học khả năng sản xuất của một số giống gà nội, thì việc nghiên cứu cho lai tạo giữa các giống gà nội
và gà nhập nội cũng được tiến hành
Lai kinh tế giữa gà Mía với gà Ri, gà Chọi với gà Ri (Tạ An Bình và cộng sự, 1974)[4] ; Lai gà Rhoderi Island với gà Ri Hải Dương Bùi Quang Tiến và cộng sự (1985)[53]; Gà trống AA lai với gà mái BE88 Đoàn Xuân Trúc và cộng sự (1999)[64]; Lai gà trống Kabir với gà mái Ri Nguyễn Thanh
Trang 33Sơn (2001)[47]; Nghiên cứu cho lai giữa gà Lương Phượng với gà Sasso, gà Ri (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2003); Nguyễn Huy Đạt và cộng sự, 2003)[54][13]
Kết quả của những công trình nghiên cứu này đã chuyển giao cho sản xuất những tổ hợp lai mới có năng suất và chất lượng cao, phát huy được ưu thế lai đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Thời gian gần đây đã có một số công trình nghiên cứu con lai giữa gà
Ai Cập với các giống gà xương đen, thịt đen, da đen như gà Ác, gà H’mông,
gà Thái Hòa, con lai được phát triển nuôi rộng rãi trong sản xuất đạt kết quả tốt như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Mười (2006)[34] nghiên cứu cho lai giữa gà Ai Cập với gà Thái Hòa; Lai giữa gà Ai Cập với gà H’mông Sản phẩm là các tổ hợp lai được người chăn nuôi và người tiêu dùng
ưa chuộng (Lương Thị Hồng, 2005)[18]; (Nguyễn Viết Thái, 2012)[60]
Bên cạnh nghiên cứu tạo ra các sản phẩm đặc sản bổ dưỡng, với những nguồn gen nội và nhập nội các tổ hợp lai gà hướng trứng cũng được nghiên cứu và cho kết quả tốt
Nghiên cứu cho lai giữa gà trống Hyline với gà Ai Cập tạo hai dòng
gà hướng trứng HA1 và HA2 có năng suất trứng/nái/72 tuần tuổi đạt 229,48-234,73 quả cao hơn năng suất trứng của gà Ai Cập (14,5-16,5%), màu sắc vỏ trứng và chất lượng trứng tương đương gà Ai Cập (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2010)[56]
Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà VCN-G15 với gà
Ai Cập cho biết gà mái lai F1 có sức sống tốt, tỷ lệ nuôi sống cao, năng suất trứng/mái/72 tuần tuổi đạt 231,9-239,82 quả cao hơn gà Ai Cập 32,36-40,18 quả/mái; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng 1,82-1,88kg Chất lượng và màu sắc vỏ trứng được thị trường ưa chuộng Trần Kim Nhàn và cộng sự (2010)
Trang 34Tóm lại: các kết quả nghiên cứu về gia cầm đã thúc đẩy sự phát triển nhanh của ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta Kết quả nghiên cứu đã chuyển giao nhanh cho sản xuất góp phần tích cực phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội và mưu kế sinh nhai của hàng triệu nông dân Việt Nam
1.2.2 Tình hình nghiên cứu giống gà trên thế giới
Nhờ công tác thuần hóa nuôi thích nghi, chọn lọc và lai tạo các giống gia cầm đã giúp ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới phát triển mạnh mẽ ngay những năm đầu của thế kỷ XX
Nước Anh và một số quốc gia châu Âu đã du nhập các giống gà từ các nước vùng vịnh, Trung Quốc và vùng Đông Nam Á thông qua các thương thuyền để nghiên cứu lai tạo ra gà broiler có năng suất cao phục vụ chăn nuôi
Người Mỹ phát hiện ra gà Cornish làm dòng bố và đã nghiên cứu sử dụng giống gà này để lai với một số giống gà khác tạo gà Broiler Từ các giống gà Cornish lai với giống gà Dominica và Java tạo nên gà Plymouth vằn,
về sau này từ gà Plymouth Rock vằn người ta tạo ra dòng gà Plymouth Rock trắng để làm dòng mái sản xuất gà broiler lông trắng chăn nuôi công nghiệp Canada dùng dòng Vartree có nguồn gốc từ giống Cornish có chất lượng thịt thơm ngon, lớn nhanh, ngực rộng, đùi to làm dòng trống lai với các dòng gà kiêm dụng đẻ nhiều trứng như gà Plymouth Rock trắng
Theo tài liệu của hãng Lohman (1995)[73] gà Lohman Broiler là con lai từ 4 dòng A, B, C, D, nuôi đến 49 ngày tuổi đạt 2,2kg; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,02g; tỷ lệ nuôi sống đạt 90% Gà Leghorn trắng ở Bắc Mỹ được tạo ra từ gà địa phương Italia với gà Yokohama và gà Viandot màu trắng bạch và gà Dominick Lúc trưởng thành gà trống Leghorn trắng có khối lượng cơ thể 2,0-2,6kg; gà mái đạt 1,6-2,2kg; sản lượng trứng đạt 250-
270 quả/mái/năm (dẫn theo Nguyễn Duy Hoan, 1998)[15]
Trang 35Những năm gần đây ngoài việc tạo ra các giống gà thịt công nghiệp lông trắng, gà chuyên trứng vỏ trứng nâu, năng suất cao nuôi công nghiệp; Một số nước đã nghiên cứu tạo ra các dòng gà lông màu chăn thả,
có tốc độ sinh trưởng khá, đẻ cao, chất lượng thịt thơm ngon, thích hợp với nuôi thâm canh và bán thâm canh Giống gà thương phẩm “Label Rouge” là tổ hợp lai 4 dòng có lông màu vàng hoặc nâu vàng của công ty Kabir, đây là công ty lớn nhất Israel được thành lập từ năm 1962, hiện nay công ty có 28 dòng gà chuyên thịt trong đó có 13 dòng nổi tiếng (dẫn theo Lương Thị Hồng, 2005)[18]
Xí nghiệp gà giống Nam Ninh (Quảng Tây - Trung Quốc) cũng dùng
gà địa phương lai với gà mái nhập ngoại tạo ra nhóm gà Lương Phượng hoa
có chất lượng thịt thơm ngon, sức đẻ trứng và khả năng cho thịt tốt Gà thương phẩm 63 ngày tuổi đạt 1,5-1,6kg/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,1-2,6kg, tỷ lệ nuôi sống đạt trên 95% Hiện nay giống gà này đang được nuôi phổ biến tại Việt Nam (Nguyễn Viết Thái, 2012)[60]
1.2.3 Vài nét về giống gà Zolo
Gà Zolo có nguồn gốc từ Ukraina, đây là giống gà hướng trứng, chất lượng thịt thơm ngon, tầm vóc cơ thể vừa phải, tiêu thụ thức ăn thấp, được nuôi để khai thác trứng là chủ yếu
Gà con lúc 01 ngày tuổi có lông màu nâu đen, có sọc trên lưng, chân và
mỏ trắng hồng rất đồng nhất
Gà mái trưởng thành có bộ lông màu nâu đất, cườm cổ vàng đốm đen, tầm vóc cơ thể nhỏ, dáng thanh tú nhanh nhẹn, cổ dài vừa phải, chân cao, nhỏ, da chân và mỏ màu vàng, mào đơn đỏ tươi Gà trống: tầm vóc trung bình, đầu nhỏ, cổ dài vừa phải, dáng nhanh nhẹn, lông nâu đỏ, cườm cổ vàng, lông đuôi xanh đen, da chân và mỏ màu vàng, chân, mào cờ đỏ tươi
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: gà Zolo thế hệ thứ 4, tổng số 1520 con gà 01 ngày tuổi
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu: đề tài được triển khai tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn Vật nuôi – Viện Chăn Nuôi – Thụy Phương – Từ Liêm – Hà Nội
- Thời gian: Từ tháng 4/2011 đến tháng 7/2012
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Một số đặc điểm sinh học
- Ngoại hình: hình dáng, màu sắc chân, lông, mào, mỏ
- Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu
- Kích thước một số chiều đo cơ thể
2.2.2 Một số đặc điểm sinh trưởng
- Khối lượng cơ thể tại các thời điểm: sơ sinh, 9, 19, 38 tuần tuổi
- Tiêu thụ TĂ/con/giai đoạn
Trang 37- Tiờu tốn và chi phớ thức ăn/10 quả trứng
- Tỷ lệ trứng cú phụi và kết quả ấp nở
- Đỏnh giỏ sự thớch nghi trong điều kiện mụi trường mới qua cỏc thế hệ
2.3 Phương phỏp nghiờn cứu
- Việc nuôi d−ỡng, chăm sóc đàn gà thí nghiệm đ−ợc áp dụng theo (Bảng 2.1; 2.2; 2.3)
Xơ thụ (%) 2,00 3,00 5,00 5,00 5,00 5,50
Trang 38Bảng 2.2: Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng
Gà con (0-9TT) 10-20 Nuôi chung Tự do 24/24 giờ hai tuần đầu
sau đó giảm dần đến ánh sáng tự nhiên
Bảng 2.3: Chế độ ăn hạn chế giai đoạn 10-19 tuần tuổi
Khối lượng cơ thể (g) Tuần tuổi
Trang 39- Vệ sinh thú y:
Sau mỗi đợt nuôi cần dọn dẹp, vệ sinh tiêu độc sát trùng chuồng trại, sau khi làm sạch cẩn thận mới đưa gà vào nuôi lứa mới
Áp dụng các bước làm mới lại chuồng sau mỗi đợt nuôi gà:
+ Dọn chất thải, độn lót chuồng đưa ra ngoài xa để ủ nhiệt sinh học + Tháo dỡ dụng cụ chăn nuôi đem ngâm và rửa kỹ bằng nước sạch + Quét mạng nhện trong chuồng và khu vực xung quanh chuồng
+ Rửa sạch nền chuồng vách ngăn, bạt che không được để cặn phân dính trên tường và trên nền
+ Sửa chữa nền chuồng những chỗ bị hỏng và để khô
+ Quét vôi toàn bộ nền chuồng, tường bao, lối đi hành lang
+ Phun sát trùng toàn bộ chuồng và dụng cụ chăn nuôi, bạt che
+ Đóng kín bạt che chuồng và cửa ra vào, ủ chuồng trong thời gian từ
10 ngày đến 30 ngày, sau đó mới được nuôi lứa mới
Trước khi nhận gà vào nuôi 1 ngày cần phun sát trùng tiêu độc lại toàn
bộ khu nuôi gà con và các dụng cụ bằng hóa chất sát trùng như Haniodine, hoặc Chloramin 1% (100g pha loãng với 10 lit nước để phun), sau đó mở bạt
để thoáng chuồng cho bay hết mùi rồi mới đưa gà vào
Rửa sạch bể chứa nước và sát trùng, sau đó đóng kín nắp và cấp nước
Trang 40- Phòng bệnh: Được áp dụng theo (Bảng 2.4)
Bảng 2.4: Sử dụng vacxin phòng bệnh Ngày
tuổi Vacxin phòng bệnh Tên vacxin Cách sử dụng
07 Gumboro lần 1 Gum B hoặc
Gum D78
Nhỏ mắt, mũi
14 Gumboro lần 2 Gum A hoặc
35 Newcastle lần 1 New hệ I Tiêm dưới da
cho uống
70 Newcastle lần 2 New hệ I Tiêm dưới da
cho uống
135 ND–IB- EDS ND–IB- EDS Tiêm dưới da
Đối với vacxin cúm gia cầm với gà sinh sản tiến hành tiêm nhắc lại sau 4 đến 5 tháng Vacxin cúm gia cầm có thể dùng vacxin H5N1 của Trung Quốc hoặc vacxin H5N2 của hãng Intervet Hà Lan sản xuất đều có giá trị bảo hộ như nhau