1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang

166 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục các bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong cây đậu tương 2.2 Tính chất hoá học đất xám bạc màu trên phù xa cổ 2.3 Sự phân bố các dạng kali theo chiều sâu đất xám bạc màu Hà Bắc 2.4

Trang 1

Chuyªn ngµnh : Trång trät M· sè : 60 - 62 - 01

LuËn v¨n Th¹c sü khoa häc n«ng nghiÖp

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:

1 TS §ç ThÞ Lan

2 PGS.TS NguyÔn Ngäc N«ng

Th¸i Nguyªn, n¨m 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu

và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Mọi việc giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn, các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều được chỉ rõ

Tác giả

Dương Văn Lợi

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành công trình này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, các tập thể và cá nhân Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng của mình đến các vị

1 TS Đỗ Thị Lan - Phó trưởng Khoa Tài nguyên môi trường Trường

đại học Nông lâm Thái Nguyên, người thầy hướng dẫn thứ nhất cho bản luận văn này

2 PGS TS Nguyễn Ngọc Nông - Trưởng khoa tài nguyên môi trường Trường đại học nông lâm Thái Nguyên, người thầy hướng dẫn thứ hai cho bản luận văn này

3 Ban chủ nhiệm khoa, tập thể các thày cô giáo khoa Tài nguyên môi trường, khoa trồng trọt trường Đại học nông lâm Thái Nguyên đã khuyến khích và tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thiện bản luận văn này

4 Khoa sau Đại học - Trường đại học nông lâm Thái Nguyên đã tạo

điều kiện cho chúng tôi hoàn thành luận văn

5 Lãnh đạo và tập thể công nhân viên chức Trung tâm khuyến nông khuyến lâm tỉnh Bắc Giang đã động viên và tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành luận văn

6 Đảng uỷ, UBND và bà con nông dân xã Ngọc Sơn - Hiệp Hoà xã Tân Dĩnh - Lạng Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận văn

7 Xin chân thành cảm ơn tất cả các anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ động viên chúng tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành công trình này

Ngày 15 tháng 9 năm 2006

Tác giả

Dương Văn Lợi

Trang 4

Danh mục các bảng

2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong cây đậu tương

2.2 Tính chất hoá học đất xám bạc màu trên phù xa cổ

2.3 Sự phân bố các dạng kali theo chiều sâu đất xám bạc màu Hà Bắc

2.4 Tính chất nông hoá của một số loại đất trồng cây lương thực, thực phẩm

ở nước ta

2.5 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu đất xám bạc màu Bắc Giang trong cơ cấu 2 lúa, 1 màu

2.6 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới năm 2001-2005

2.7 Tình hình sản xuất đậu tương ở 4 nước đứng đầu thế giới năm 20052.8 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 5 năm gần đây

2.9 Nghiên cứu hiệu lực của kali cho đậu tương trên đất bạc màu

2.10 Hiệu quả của việc bón phân cân đối NPK cho đậu tương trên đất bạc mầu

2.11 ảnh hưởng của các mức đạm và kali đến năng suất đậu tương trên đất

4.3 Diện tích, năng suất đậu tương ở 1 số huyện của Bắc Giang

4.4 Cơ cấu giống đậu tương của tỉnh Bắc Giang năm 2003-2005

4.5 Một số chỉ tiêu phân tích đất trên đất xám bạc mầu Bắc Giang

4.6 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K đến một số chỉ tiêu sinh trưởng

4.7 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K đến số lượng và khối lượng nốt sần

Trang 5

4.8 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K đến khả năng tích luỹ chất khô của đậu tương.

4.9 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K đến hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá của đậu tương

4.10 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K đến các yếu tố

4.13 ảnh hưởng của tổ hợp phân bón NPK đến một số chỉ tiêu sinh trưởng

4.14 ảnh hưởng của tổ hợp phân bón NPK đến các yếu tố cấu thành năng

suất

4.15 ảnh hưởng của tổ hợp phân bón NPK đến năng suất đậu tương

4.16 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của một số tổ hợp phân bón

4.17 Nông dân tham gia lựa chọn các chỉ tiêu để đánh giá các tổ hợp phân

bón

4.18 Nông dân tham gia lựa chọn các tổ hợp phân bón

Trang 6

Danh mục các biểu đồ và đồ thị

Biểu đồ 4.1: ảnh hưởng của các yếu tố N, P, K đến năng suất thực thu của đậu tương

Biểu đồ 4.2: ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất thực thu của

đậu tương

Trang 7

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

Trang 8

Mục lục

Chương 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 4

1.3 Những đóng góp mới của đề tài 4

Chương 2 Tổng quan tài liệu về cơ sở lý luận, thực tiễn và tình hình sản xuất, nghiên cứu đậu t ương 5

2.1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 5

2.1.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1.1 Vị trí, vai trò, giá trị kinh tế của cây đậu tương 5

2.1.1.2 Nhu cầu dinh dưỡng đa lượng của đậu tương 7

2.1.1.3 Đất đai trồng đậu tương 12

2.1.2 Cơ sở thực tiễn 17

2.2 Tình hình sản xuất đậu tương 18

2.2.1 Tình hình sản xuất trên thế giới 18

2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 21

2.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới 23

2.3.1 Những nghiên cứu về yêu cầu dinh dưỡng của đậu tương 23

2.3.2 Những nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất đậu tương 24

2.3.3 Những nghiên cứu về phân vi sinh vật cho cây đậu tương 26

2.3.4 Những nghiên cứu về vôi cho cây đậu tương 21

2.3.5 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến tính chống chịu của đậu tương 28

2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước về phân bón cho đậu tương 29

Trang 9

2.4.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của NPK đến sinh trưởng,

phát triển và năng suất đậu tương 29

2.4.2 Những nghiên cứu về phân vi khuẩn nốt sần cho cây đậu tương 32

2.4.3 Những nghiên cứu về tổ hợp phân bón và bón phân hợp lý cho đậu tương 33

Chương 3 Đối t ượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 39

3.1 Đối tượng nghiên cứu 39

3.2 Nội dung, địa điểm và thời gian nghiên cứu 39

3.2.1 Nội dung 39

3.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 39

3.3 Phương pháp nghiên cứu 40

3.3.1 Điều tra tình hình sản xuất đậu tương của Bắc Giang 40

3.3.2 Thí nghiệm đồng ruộng 40

3.3.2.1 Thí nghiệm xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương 40

3.3.2.2 Thử nghiệm một số tổ hợp phân bón cho đậu tương theo hướng bón phân cân đối 41

3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 42

3.3.3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng 42

3.3.3.2 Các chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 42

3.3.3 3 Chỉ tiêu kinh tế 43

3.3.3.4 Hạch toán hiệu quả kinh tế 43

3.3.3.5 Một số chỉ tiêu phân tích đất trước trồng, sau thu hoạch và hàm lượng N,P,K trong thân lá 43

3.3.3.6 Phương pháp nông dân tham gia đánh giá và lựa chọn công thức bón phân có hiệu quả đưa vào sản xuất 44

3.3.3.7 Phương pháp sử lý số liệu 44

Trang 10

kết quả nghiên cứu 45 4.2 Đánh giá tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Bắc Giang 47 4.2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của tỉnh Bắc

Giang những năm gần đây 47 4.2.2 Cơ cấu giống đậu tương của tỉnh Bắc Giang trong những

năm gần đây 48 4.2.3 Đất trồng đậu tương ở Bắc Giang 49 4.3 Kết quả nghiên cứu yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng

suất đậu tương trên đất xám bạc mầu Bắc giang 51 4.3.1 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng NPK đến

một số chỉ tiêu sinh trưởng 51 4.3.2 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N P K đến số lượng

và khối lượng nốt sần 54 4.3.3 ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến khả năng tích

luỹ chất khô của đậu tương 56 4.3.4 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N,P,K đến hàm lượng

dinh dưỡng trong thân lá 59 4.3.5 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến các yếu

tố cấu thành năng suất 60 4.3.6 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K đến

năng suất đậu tương 63 4.3.7 Yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương

hàng đầu 66 4.3.8 Hiệu quả kinh tế 67

Trang 11

hướng bón phân cân đối, khắc phục yếu tố dinh dưỡng hạn chế

năng suất đậu tương 68

4.4.1 ảnh hưởng của tổ hợp phân bón NPK đến một số chỉ tiêu sinh trưởng 68

4.4.2 ảnh hưởng của tổ hợp phân bón N P K đến các yếu tố cấu thành năng suất 71

4.4.3 ảnh hưởng của tổ hợp phân bón NPK đến năng suất đậu tương 74

4.4.4 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của một số tổ hợp phân bón 76

4.4.5 Nông dân tham gia đánh giá, lựa chọn tổ hợp phân bón đưa vào sản xuất 78

Chương 5 Kết luận và đề nghị 81

5.1 Kết luận 81

5.2 Đề nghị 82

Một số hình ảnh trong quá trình nghiên cứu 83

Danh mục tài liệu tham khảo 86

Phần phụ lục 93

Trang 12

1.1 Đặt vấn đề

Chương 1

Mở đầu

Cây đậu tương (Glycine max L MerrinllS) có nguồn gốc từ miền nam

Trung Quốc (là cây cổ nhất của nhân loại) được gieo trồng ở Việt Nam từ thời Hùng Vương, nhưng cho đến nay diện tích, năng suất và sản lượng của ta còn thấp (năm 2003 diện tích là 166.000 ha, năng suất 13,5 tạ/ha, sản lượng 224.000 tấn) chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra

ở Việt Nam cây đậu tương được gieo trồng ở tất cả các vùng sinh thái: miền núi phía bắc, trung du, đồng bằng sông Hồng, đông Nam bộ …Trong đó trung du miền núi phía Bắc chiếm gần 1/2 diện tích của cả nước và một trong những tỉnh trọng điểm sản xuất đậu tương của khu vực là Bắc Giang

Tỉnh Bắc Giang có tổng diện tích tự nhiên 382.250ha, đất nông nghiệp

là 110.260ha, trong diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 2/3 là đất bạc mầu Vùng đất bạc mầu Bắc Giang nằm giữa trung tâm dải đất bạc mầu lớn nhất miền bắc xuất phát từ Tam Đảo qua Bắc Giang sang Đông Triều, Quảng Ninh Với đặc điểm là độ phì thấp và một số yếu tố hạn chế như nghèo các chất dinh dưỡng, khoáng (cả tổng số và dễ tiêu), hàm lượng chất hữu cơ ở tầng canh tác thấp xung quanh 1% (Hồ Quang Đức,2000)[16], nên việc phát triển cây họ đậu trong đó có cây đậu tương và lạc là chủ yếu, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa có tác dụng cải tạo đất là rất cần thiết Xác định rõ vị trí của

nó nên diện tích đậu tương đã đạt trung bình 5,5 – 6,5 nghìn ha/năm, được xếp vào nhóm cây công nghiệp chủ lực của Bắc Giang

Năm 2003 tỉnh Bắc Giang có 5.400 ha đậu tương sản lượng đạt 7.500 tấn, còn thấp so với tiềm năng của tỉnh Đậu tương được gieo trồng chủ yếu trên

đất xám bạc màu, khoảng 4000 ha chiếm 74% diện tích Tuy đất đai nhìn chung là phù hợp, nhưng năng suất không đồng đều, việc phát huy tiềm năng

Trang 13

năng suất rất khó khăn.Tìm hiểu nguyên nhân đất và phân bón đã đặt ra một dấu hỏi là phải chăng đã xuất hiện yếu tố hạn chế nào đó

Thực tế sản xuất đậu tương có các nhân tố hạn chế năng suất như: Kinh tế xã hội, quản lý, sinh học, phi sinh học, tuỳ thuộc địa phương cụ thể, vị trí các nhân tố khác nhau Song nhân tố sinh học vẫn giữ vai trò quan trọng và liên quan trực tiếp đến hạn chế năng suất cây trồng Trong yếu tố sinh học các nhà chuyên môn và nông dân đã quan tâm đến:

- Lựa chọn giống thích hợp chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh, phù hợp với điều kiện sinh thái đất đai

lệ dinh dưỡng cân đối, sự thiếu hụt một trong hai yếu tố hoặc quá dư thừa sẽ dẫn đến cây trồng sinh trưởng kém, năng suất không cao

Đạm cần thiết trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, thiếu

đạm cây sẽ sinh trưởng, phát triển kém ảnh hưởng đến năng suất Cây đủ đạm làm cho rễ và cây phát triển mạnh Cây đậu tương có khả năng cố định đạm từ khí quyển nhờ vi khuẩn sống cộng sinh trong nốt sần sống ở rễ, khi cây đủ

đạm sẽ cung cấp chất hữu cơ cho vi khuẩn nốt sần hoạt động làm năng suất tăng lên Nhưng bón với lượng quá cao cây sinh trưởng quá mạnh dẫn đến lốp

đổ, số quả/ cây ít dẫn đến năng suất thấp

Lân là nguyên tố không thể thiếu, nó là thành phần cơ bản đối với việc chuyển giao năng lượng trong tế bào sống nhờ liên kết cao năng của ATP, chỉ huy cơ chế tổng hợp các chất Lân giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc

Trang 14

hình thành và di chuyển hydratcacbon, axit béo, gryxerine và các sản phẩm trung gian cơ bản Lân là thành phần của nucleoprotein thành phần cơ bản của nhân tế bào và phôtphatit trong hạt giống đậu tương Thiếu lân cây sinh trưởng, phát triển kém, sinh khối thấp Lân cần cho sự hình thành của tế bào mới tạo chồi, phân cành và ra lá mới Đủ lân trọng lượng, số lượng nốt sần tăng, tăng số quả, số hạt chắc, đồng thời trọng lượng hạt tăng

Kali tham gia vào quá trình tổng hợp, đẩy mạnh quang hợp và vận chuyển các chất dinh dưỡng, kali có tác dụng xúc tiến quá trình hút lân và

đạm Thiếu kali cây có biểu hiện bản lá hẹp, trên lá có các vòng dọc theo mép lá, hạt méo mó, nhăn, cây có ít nốt sần

Hiện nay do sự lạm dụng phân bón mà dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng, giảm độ phì của đất, hiệu lực phân bón thấp, hiệu quả sử dụng phân bón chưa cao Đặc biệt việc sử dụng phân đạm quá nhiều, diễn ra trong thời gian dài làm cho cây trồng sinh trưởng kém, không cân đối Tình trạng đầu tư không cân đối đã hạn chế đáng kể năng suất đậu tương Vì vậy nghiên cứu yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế và giải quyết mối quan hệ giữa các yếu tố dinh dưỡng khoáng và biện pháp khắc phục là vấn đề có tính chiến lược trong thâm canh tăng năng suất cây trồng, tăng độ phì của đất, tăng hiệu quả đầu tư, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững

Tại Bắc Giang các đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về

giống đậu tương có triển vọng để bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh Vấn đề phân bón mới chỉ thực hiện nghiên cứu về hiệu lực, ảnh hưởng của tổ hợp N,

P, K trên lúa, việc nghiên cứu về yếu tố dinh dưỡng đa lượng trên đậu tương còn quá ít, đặc biệt là các nghiên cứu về xác định yếu tố hạn chế năng suất

đậu tương hầu như chưa có Với lý do đó chúng tôi đã tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu

tương trên đất xám bạc màu Bắc Giang”

Trang 15

1.2 Mục đích của đề tài

- Xác định được yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương hiện nay trên đất bạc màu Bắc Giang, làm cơ sở cho việc định hướng sử dụng phân bón hợp lý, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế sản xuất đậu tương, góp phần sử dụng hiệu quả đất xám bạc mầu ở tỉnh Bắc Giang

- Thử nghiệm một số tổ hợp phân bón cân đối cho đậu tương có sự tham gia đánh giá, lựa chọn của người dân để đưa tổ hợp phân bón vào sản xuất

1.3 Những đóng góp mới của đề tài

- Về khoa học: kết quả của đề tài góp phần vào cơ sở lý luận về nhu cầu dinh dưỡng của đậu tương và nghiên cứu yếu tố hạn chế năng suất

- Về thực tiễn: kết quả của đề tài xác định được yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất bạc mầu Hơn thế nữa còn xác

định được liều lượng bón cân đối cho đậu tương, tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng đậu tương, từ đó tăng thu nhập cho người nông dân, chống thoái hóa, cải tạo đất bạc mầu Bắc Giang nói riêng và cải tạo độ phì đất

có tính chất tương tự nói chung

Trang 16

Chương 2 Tổng quan tài liệu về cơ sở lý luận, thực tiễn

và tình hình sản xuất, nghiên cứu đậu tương

2.1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận

2.1.1.1 Vị trí, vai trò, giá trị kinh tế của cây đậu tương

Cây đậu tương được trồng từ lâu đời (khoảng 5000 năm) và được trồng

ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Đậu tương là một cây công nghiệp ngắn ngày với giá trị dinh dưỡng cao gồm nhiều chất không thể thiếu

được đối với cơ thể con người như: Protein, chứa hàm lượng cao nhất trong các cây chứa đạm Hạt đậu tương có từ 36 – 40% Protein, 16 – 24% Gluxit,

đặc biệt đậu tương có các các axit amin cần thiết cho con người như Xystin, Lizin, Triptophan, Izoleuxin, Leuxin, Methionin, Phenilalanin, Valin….Với hàm lượng các axitamin như vậy đậu tương hoàn toàn có thể thay thế được

đạm động vật trong bữa ăn hàng ngày, ngoài ra đậu tương còn có các vitamim

A, B, C, D… và khoáng chất khác.Theo Anonym(2004)[2] cho biết dầu đậu tương có lợi cho sức khoẻ Các nhà nghiên cứu của phòng nghiên cứu cố định

đạm và đậu tương ở ARS (Mỹ) đã phân tích được một chất mầm (Germplasm) mới, dùng các phương pháp tạo giống truyền thống, dầu lấy từ hạt đậu tương

được tạo giống từ dòng chất mầm này có thể cạnh tranh với vị trí được ưa chuộng của dầu ô lưu, nhờ đó hàm lượng các chất béo đơn không no (monounsaturated fats) có lợi cho sức khoẻ của tim mạch cao nhất Ngoài cung cấp cho con người đậu tương còn làm thức ăn cho gia súc, xuất khẩu, nguyên liệu cho nhiều ngành chế biến Từ thân, lá, hạt đậu tương đến sản phẩm phụ của ngành chế biến (đậu phụ, ép dầu… ) đều là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng Năm 1989 ở Việt Nam có 21.000 tấn thức ăn gia súc được chế

Trang 17

biến từ đậu tương, trong đó có 7.200 tấn khô dầu, đây cũng là yếu tố thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển

Trong toàn bộ lượng bột thô trên thế giới, bột thô đậu tương chiếm 60 – 65% và cạnh tranh với bột hạt bông, bột cá, bột hướng dương và cải dầu Bột

đậu tương là thành phần đạm quan trọng trong khẩu phần thức ăn gia súc

Bên cạnh giá trị to lớn về dinh dưỡng và hàng hoá cây đậu tương còn có giá trị là cây trồng cải tạo đất, làm tăng độ phì cho đất nhờ có nhiều vi khuẩn Rhizobium japonicum sống cộng sinh ở rễ Sau mỗi vụ thu hoạch cây đậu tương để lại cho đất lượng thân, rễ, lá 40 –50 tạ/ ha/ vụ, tương đương với 40 50

kg đạm / ha (Lê Độ Hoàng và CS, 1997)[18] ở miền núi trồng đậu tương trên

đất dốc không những mang lại lợi ích kinh tế cho ngươi dân mà còn có tác dụng duy trì và cải thiện độ phì nhiêu của đất, góp phần tích cực vào việc phát triển một nền nông nghiệp đa canh bền vững trên đất dốc (Trần Danh Thìn, 2000)[35]

Theo Nguyễn Thị Dần (1996)[10] khi nghiên cứu vai trò của cây họ đậu trong việc ổn định và nâng cao độ phì nhiêu của đất xám bạc mầu Hà Bắc, trên chân đất 2 lúa một mầu trong cơ cấu có đậu tương Đông, tận dụng phụ phẩm các loại cây trồng bón trở lại cho đất sau 7 vụ đã có tác dụng cải thiện một số tính chất của đất như:

- Hàm lượng chất hữu cơ và dung tích hấp thu ở tầng canh tác có chiều hướng tăng so với công thức không được bón và so với vụ bắt đầu thí nghiệm

- Một số tính chất vật lý – nước của đất biến đổi khá rõ ràng: ở tầng canh tác độ ẩm đất của đậu tương Đông trung bình tăng 1,5 – 2,5 %, độ xốp tăng 2,5 – 5% so với công thức không được bón phụ phẩm và bón phân khoáng đơn

độc Sức chứa ẩm đồng ruộng của đất có chiều hướng tăng ở các công thức

được bón phụ phẩm liên tục (khoảng 2,0 – 3,0%)

Tất cả những biến đổi này đã góp phần cải thiện và ổn định độ phì nhiêu của đất

Trang 18

Do có khả năng cố định đạm cải tạo đất và thời gian sinh trưởng tương

đối ngắn nên cây đậu tương có thể trồng luân canh, xen canh tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất và góp phần tăng năng suất cây trồng vụ sau, phù hợp với cơ cấu cây trồng của nhiều vùng Nó có ý nghĩa rất lớn trong cơ chế chuyển đổi co cấu đa dạng hoá cây trồng của Đảng và Nhà nước

Theo Tôn Nữ Tuấn Nam, (1993)[27] khi nghiên cứu tác dụng của phân hữu cơ và các loại phân xanh đậu đỗ trồng xen trong vườn cà phê ở giai đoạn KTCB cho thấy khi trồng mới có thể dùng một lượng phân tương đối thấp 5 kg/hố kết hợp trồng xen canh cây phân xanh đậu đỗ.Việc trồng xen canh cây phân xanh đậu đỗ rồi dùng chúng làm nguyên liệu tủ thay tủ gốc bằng rơm rạ

là biện pháp quan trọng nâng cao chất lượng vườn cây trong thời kỳ KTCB

Xuất phát từ giá trị kinh tế, dinh dưỡng cũng như nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 đã xác định rõ “ mở rộng diện tích cây ngắn ngày

để giảm thiểu nhập khẩu, trong đó phát triển diện tích cây có dầu, cây đậu tương” (Vũ Năng Dũng, Nguyễn Võ Linh 2005) [13]

2.1.1.2 Nhu cầu dinh dưỡng đa lượng của đậu tương

Đậu tương là cây họ đậu có khả năng cố định đạm từ khí trời để cung cấp cho cây, do vậy đậu tương cần nhiều đạm để tạo một lượng protein cao, nhưng người ta thường bón ít phân đạm cho đậu tương mà sử dụng khả năng

cố định đạm của vi sinh vật nốt sần ở rễ đậu tương để đáp ứng nhu cầu đạm của đậu tương

Theo Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, (1999) [30] thì cây đậu tương có thể

cố định một lượng đạm từ khí trời đủ để sản xuất 30 – 40 kg/ha nên việc bón thêm đạm chỉ khi thấy nốt sần không phát triển đầy đủ, biểu hiện ở lá hơi vàng và xanh xám, nói chung chỉ khuyến cáo bón P và K; N chỉ bón bổ sung trong trường hợp đất quá nghèo

Trang 19

2 3

3

Theo Nguyễn Văn Bộ, E.Mutert, Nguyễn Trọng Thi (1999)[3] tuy

đậu tương cần đạm nhiều song lại có khả năng đồng hoá đạm từ không khí thông qua vi khuẩn nốt sần (40 – 50 kg/ ha) nên nhu cầu cần bón đạm thường không cao

Giai đoạn đầu khi cây còn bé nhu cầu dinh dưỡng dựa chủ yếu vào nguồn đạm có sẵn trong đất và lượng đạm bón vào khi gieo Khoảng 3 tuần lễ sau khi mọc, khi các nốt sần ở rễ đã được hình thành và các vi sinh vật bắt đầu hoạt động thu hút từ đạm khí trời thì cây có thêm nguồn đạm này

Khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần phụ thuộc vào nhiều yếu

tố Theo Harper, (1974) thấy rằng việc cố định N và sử dụng NO- có vai trò

-quan trọng để thu được năng suất tối đa, tuy nhiên ông thấy NO3 dư thừa lại

có hại tới năng suất vì lúc đó sự cố định N2 bị ức chế hoàn toàn Nhiều tác giả cho thấy bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều đạm hoặc bón không đúng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây sẽ ức chế sự hình thành, phát triển của vi khuẩn nốt sần Theo Porter va CS (1981), trên đất giàu dinh dưỡng, đáp ứng đủ nhu cầu NO- cho cây đậu tương thì bón đạm không có tác dụng tăng năng suất Tuy nhiên trên đất nghèo chất hữu cơ, kém thoát nước và đất chua, thì bón phân đạm với lượng 50 – 110 kg/ ha có tác dụng tăng năng suất đáng

kể (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [11]

Lân có vai trò tham gia vào cấu tạo cơ thể, đặc biệt là cấu trúc bắt buộc của các chất hữu cơ quan trọng trong nguyên sinh chất như: photpholipit, photphoprotein,nucleotit Lân tham gia hoạt hoá các đường đơn, axitamin, vitamin, các cophecmen Lân còn tham gia vào quá trình trao đổi chất, trao

đổi năng lượng Nhờ lân mà quá trình trao đổi chất, trao đổi năng lượng, quá trình tổng hợp năng lượng diễn ra trong cây được thuận lợi tạo thành các hợp chất cao năng (ATP, XTP) Sử dụng lân bón cho đậu tương sẽ có tác dụng về nhiều mặt:

Trang 20

Lân thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút, giúp

rễ ăn sâu, rộng, vi khuẩn nốt sần hoạt động mạnh, hình thành nhiều nốt sần cho cây

Lân thúc đẩy mô phân sinh phân chia nhanh, tạo điều kiện cho cây phát dục được thuận lợi Dưới tác dụng của yếu tố lân, sự vận chuyển các chất về cơ quan sinh dục được nhanh hơn, cây ra hoa tập trung, quả chín sớm, hạt sáng đẹp, tăng chất lượng hạt

Lân có trong thành phần của Photphatit có tính đệm nên cây đậu tương có khả năng chống chịu với ngoại cảnh bất thuận (hạn, rét, sương giá, sâu bệnh)

Theo Ngô Thế Dân và CS (1999)[11] bón lân cho đậu tương làm cho

đậu tương giảm tỷ lệ rụng nụ, rụng hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc và năng suất tăng lên rõ rệt Lân làm tăng hoạt động cố định đạm của nốt sần Tuỳ theo nhu cầu dinh dưỡng của giống đậu tương cao hay thấp và thành phần lân có sẵn trong

đất để xác định mức bón hợp lý, lượng phân lân thường được bón là 250 –300

kg Supelân / ha, bón lót cùng phân hữu cơ

Thiếu lân sẽ làm cho quá trình sinh lý, sinh hoá trong cơ thể bị rối loạn, thân cây đậu tương nhỏ, lá hẹp, đầu lá nhọn và cong lên có màu xanh tối, mặt lá có những chấm nâu Thiếu lân nghiêm trọng thân có màu đỏ, rễ có màu nâu, hoa quả thưa thớt

Theo Phạm Văn Thiều (1996) [ 34] đậu tương yêu cầu lân cao hơn đạm, giai đoạn từ sau khi mọc đến khi ra hoa nếu thiếu lân sẽ sinh trưởng kém, nhất

là giai đoạn đầu, việc vận chuyển các chất ở trong cây cũng sẽ xảy ra chậm hơn, do vậy thường bón lót lân trước khi gieo hạt

Cây đậu tương lấy lân từ đất thông qua bộ rễ, do vậy tìm hiểu sự hiện diện của dinh dưỡng lân trong cây và trong đất là hết sức quan trọng

Trong cây lân được phân bố không đều giữa các bộ phận ở bộ phận non

đang phát triển cần nhiều lân hơn bộ phận già, trong cơ quan sinh sản tỷ lệ lân cao hơn trong cơ quan sinh dưỡng, ở hạt lân nhiều hơn ở lá

Trang 21

4

4

Cây đậu tương cần nhiều lân trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, nhưng cây hút nhiều lân nhất ở thời kỳ cây non giữ cho hệ rễ phát triển mạnh, nốt sần hình thành nhiều Thời kỳ cuối lân chuyển từ thân, lá, rễ, củ, quả vào hạt giúp cho quá trình tích luỹ vật chất được thuận lợi

Trong đất lân ở hai dạng chủ yếu: dạng hữu cơ và dạng vô cơ ở dạng hữu cơ lân có mặt trong axit nucleic, photphotit các chất này có mặt ở phân hữu cơ Cho đến nay theo các dẫn liệu thì thực vật không hấp thu các dạng lân hữu cơ trực tiếp vào quá trình trao đổi chất mà cần phân giải để chuyển sang dạng vô cơ cung cấp dinh dưỡng cho cây

Cây trồng hút lân chủ yếu dưới dạng ion photphat hoá trị I, II của các muối như: Ca(H2PO4)2 , Mg(H2PO4)2, NH4H2PO4 , các muối này có trong đất rất ít, nó chỉ sinh ra khi vi sinh vật hoạt động mạnh để phân giải các hợp chất hữu cơ Tuy nhiên với cây đậu tương khả năng sử dụng lân cao hơn hẳn các cây trồng khác, nó có khả năng sử dụng dạng lân khó tan PO3- , do hệ rễ của cây đậu tương có khả năng tiết ra axit hữu cơ hoà tan được PO3- Chính vì vậy bón lân cho cây đậu tương hiệu lực cao hơn các cây trồng khác

Về kali nếu so với đạm và lân thì nhu cầu kali của đậu tương là lớn hơn cả

Theo Phạm Văn Thiều(1996) [ 34] nhu cầu của kali tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây và đạt đỉnh cao vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, sau đó bị giảm dần cho đến khi hình thành hạt và ngừng ở thời kỳ 21 ngày trước khi chín

Theo Ngô Thế Dân và CS(1999)[11] ở đất nghèo kali, đất cát đậu tương phản ứng rõ rệt với phân kali Đối với vùng trồng đậu tương thuộc đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, do đặc điểm đất ở đây tương đối giàu kali nên hiệu quả bón phân kali cho đậu tương ở vùng này thấp, lượng thích hợp là 40 kg K2O chia làm 2 lần bón, 50% bón lót cùng phân hữu cơ và

đạm, bón thúc 50% cùng đạm khi 4 – 5 lá (khoảng 15 – 20 ngày sau mọc)

Trang 22

Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên, (1999) [30] cho rằng về mặt dinh dưỡng đậu tương có nhu cầu không cao lắm Khi nghiên cứu lượng dinh dưỡng lấy đi từ 1 tấn hạt đậu tương đã đưa ra bảng sau:

Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong cây đậu tương

(Nguồn: Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên, 1999)

Theo Nguyễn Văn Bộ và CS (1999 ) [3 ] về mặt nhu cầu dinh dưỡng 1 tấn đậu tương cùng với thân lá lấy đi 81 kg N, 17 kg P2O5, 36kgK2O, 25kg CaO, 18 kgMgO, 3 kg S từ đất, tuy đậu tương cần nhiều đạm song đậu tương

có khả năng đồng hoá đạm từ không khí thông qua vi khuẩn nốt sần (40 – 50kgN/ ha) Ngoài các yếu tố đa lượng và trung lượng cây đậu tương còn hút khá nhiều các nguyên tố vi lượng khác như: Zn, Cu, Mo

Khi nghiên cứu phản ứng của đậu tương với phân bón Ngô Thế Dân và

CS (1999)[11] đã trích dẫn kết quả nghiên cứu của một số tác giả và cho thấy:

đậu tỷ lệ nghịch với tỷ lệ phân đạm ở lúc gieo, nếu phân đạm bón 56 kg/ ha thì

số nốt sần / cây bị giảm, nhưng nếu bón 112 kg/ ha ở giai đoạn cây ra hoa thì

số nốt sần không bị ảnh hưởng

Trang 23

Deiberth và CS, (1979) công bố đậu tương không phản ứng với đạm Tuy nhiên Ham và CS,(1975) cho thấy phân đạm làm tăng năng suất, khối lượng hạt, tỷ lệ đạm trong hạt và hàm lượng prôtêin Họ kết luận rằng sự tăng năng suất và tỷ lệ đạm chứng tỏ cố định N2 không đủ để cung cấp cho cây

* Với lân

Với kỹ thuật dùng nguyên tố đồng vị phóng xạ người ta thấy rằng tỷ lệ

P trong cây do phân bón tỷ lệ nghịch với mức P trong đất và tỷ lệ thuận với tỷ

lệ phân bón ( Welch và CS, 1974) Tuy nhiên tổng số P cây hấp thụ được ở

đất giàu P cao hơn, cũng như P, K rất cần cho sự phát triển của nốt sần Demooy và Pesek, (1966) từ kết quả thí nghiệm trong chậu, họ tuyên bố rằng

sự hình thành nốt sần tối đa khi bón K ở lượng 600-800mg/kg đất

Jones và CS (1977) cho thấy năng suất đậu tương tăng khi bón K và P riêng biệt, nhưng cao nhất khi bón kết hợp K,P

Đỗ ánh (1965), cho thấy đối với đậu tương tỷ lệ Ca: P: K tối thích là

2:1:1,5, đậu tương có thể hấp thu P của các Phôtphát khó tan AlPO4, FePO4

2.1.1.3 Đất đai trồng đậu tương

Đậu tương trồng được ở hầu hết các loại đất cát nhưng có năng suất cao

ở đất phù xa và đất thịt nhẹ Theo Trần Thị Trường (2005) [41], cây đậu tương không yêu cầu đất khắt khe có thể trồng trên đất phù sa, đất bãi, đất thịt, đất nương rẫy, đất đồi núi, đất mới khai phá có thể trồng hoa màu …Tuy nhiên

đất tơi xốp pH từ 5,2 – 6,5 và tưới tiêu thuận lợi là thích hợp nhất cho sinh trưởng phát triển

Theo Nicor và CS(1996)[59], thấy rằng trồng đậu tương trên đất sét pha

cát có nhiễm khuẩn Rhizobium và bón 30kg P2O5 + 30kg K2O/ ha làm tăng chiều cao cây, năng suất hạt Bón 30 kgN+ 30 P2O5 + 30kg K2O/ ha và không nhiễm khuẩn cũng có tác dụng làm tăng chiều cao cây, số lượng quả trên cây

và năng suất chất khô nhưng lại không phát triển nốt sần, mức độ tăng năng

suất không bằng công thức có bón P, K và nhiễm khuẩn Rhizobium

Trang 24

Nông dân Bắc Giang trồng đậu tương chủ yếu trên đất bạc màu được hình thành trên mẫu chất phù sa cổ Nhìn theo phương diện cả nước thì theo Nguyễn Văn Toàn(2005 )[39] , đất bạc màu trên phù sa cổ có 111,4 ngàn ha, chiếm 0,3 diện tích tự nhiên Trong đó Trung du miền núi bắc bộ có 49,9 ngàn ha

Bảng 2.2 Tính chất hoá học đất xám bạc màu trên phù sa cổ

Hữu cơ

(Nguồn: Viện qui hoạch thiết kế nông nghiệp 2003-2004)

Theo Hồ Quang Đức và CáC (2005) [15], thì loại đất này là đất xám bạc màu phát triển trên phù sa cổ, đều là sản phẩm của quá trình phong hoá mạnh và triệt để (không gặp các mảnh Fenpat và các mảnh đá khác ) trên các trầm tích trong môi trường song từ rất lâu đời ( hầu hết các mảnh vụn có độ chọn lọc và mài mòn kém, chứng tỏ được hình thành tại chỗ hoặc rất gần với nguồn phá huỷ) Chúng có một số đặc điểm chính như sau:

- Các phẫu diện nghiên cứu đều chứng tỏ là sản phẩm phong hoá mạnh

và tương đối triệt để trên nền phù xa cổ, bằng chứng là trong các phẫu diện

đều có hàm lượng tương đối lớn các mảnh vụn sắc cạnh, có tập cuội kết và các

di tích của dòng chảy cũ như sự định hướng của các trầm tích thực vật, sự xếp lớp của các trầm tích

Về thành phần khoáng vật chủ yếu là các dạng bột thạch anh, chiếm từ 50%(tầng cuối) đến 80% (tầng mặt), các khoáng vật khác chiếm tỷ lệ nhỏ

Đặc biệt có sự gia tăng rõ rệt theo chiều sâu của khoáng vật sét mà chủ yếu là

Trang 25

Kaolinit ( thường từ 15% ở tầng mặt và lên đến 40% ở tầng dưới của phẫu diện) Các kết hạch Laterit, hạnh nhân opan và canchedoan và một phần rất nhỏ là hữu cơ

- Kiến trúc thường có dạng cát lẫn bột ở tầng mặt và đến bột lẫn cát và sét ở các tầng dưới Riêng ở phẫu diện G20(Việt Lập-Tân Yên), ở tầng thứ hai xuất hiện kiểu kiến trúc cát là do hàm lượng cát bột thạch anh tăng cao, chứng

tỏ đã có sự rửa trôi mạnh hơn tầng trên, ở tầng mặt có thể do tập quán canh tác

đã hạn chế sự rửa trôi này Một điều đáng lưu ý chúng rất tròn cạnh, chứng tỏ chúng được đem từ nơi khác đến (hình thành sản phẩm trầm tích cổ trong môi trường sống)

- Cấu tạo chủ yếu là dạng khối, khối ít lỗ hổng Hầu hết khi xuống sâu

lỗ hổng có phát triển nhưng phần lớn đã bị lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh hay các kết hạch sắt và mangan

- Hệ thống lỗ hổng phát triển ở mức độ lấp đầy bởi các ôxit, hyđrôxit sắt, các khoáng vật sét được tăng dần khi xuống sâu, từ tầng mặt là các lỗ hổng không bị lấp đầy, xuống tầng thứ hai thường bị lấp đầy ở một vài lỗ và hầu hết bị lấp đầy bởi các vật liệu mịn là phức hợp của các khoáng vật sét - Fe

- Mn ở các tầng cuối

Đối với đất xám bạc mầu trên phù sa cổ có thành phần chủ yếu là cát bột thạch anh, khoáng thứ sinh ít do vậy hầu hết các loại đất này thường có thành phần cơ giới nhẹ và thường chua Đất nghèo các khoáng vật sét, tuy nhiên càng xuống sâu hàm lượng sét càng tăng cao

Theo Nguyễn Văn Chiến (1999 ) [4], đất xám bạc màu là loại đất nghèo Kts( xếp thứ 11/14) Trong đó Bắc Giang có Kts thấp nhất (0,2% K2O), Tam Dương - Vĩnh Yên 0,3% K2O, Sóc Sơn – Hà Nội cao hơn cả 0,87% K2O Điều kiện địa hình có ảnh hưởng khá mạnh đến Kts trong đất, địa hình càng cao thì

K càng thấp, càng xuống sâu Kts càng tăng

Trang 26

Bảng 2.3 Sự phân bố các dạng kali theo chiều sâu

(Nguồn: Nguyễn văn chiến,1999)

Khh trên đất bạc mầu rất nghèo (xếp thứ 13/14 ), dao động từ 3,0 – 12,1 mg K2O/ 100g đất,trung bình 6,8mg K2O/100g đất Khhtt ở nơi có địa hình cao thường thấp hơn vùng trũng Nghiên cứu kali theo chiều sâu của phẫu diện cho thấy, Khh hầu hết không thay đổi ở tất cả các tầng đất, còn khhtt ở tầng đất mặt thường cao hơn tầng sâu

Theo Bùi Đình Dinh và CS (1995) [12], thì đất bạc màu là loại đất có độ phì nhiêu thấp, tất cả dinh dưỡng cho cây trồng đều có hàm lượng tổng số dưới 0,1% Đặc biệt nguyên tố kali kém thua các loại đất phù sa khác 6 – 7 lần Ca,

Mg trao đổi cũng thấp hơn

Bảng 2.4.Tính chất nông hóa của một số loại đất trồng

Trang 27

Theo Hồ Quang Đức (2000) [16], đất xám bạc màu được hình thành và phát triển trên các mẫu chất là phù sa cổ thường phân bố ở vùng trung du, mặc

dù địa hình tương đối bằng phẳng, ít dốc, dễ làm đất … song lại có nhiều yếu

tố hạn chế cho sản xuất nông nghiệp Đất thường chua đến rất chua pH (KCl) biến động trong khoảng 3,5- 4,5, các đặc tính độ phì nhiêu tự nhiên thấp, hàm lượng chất hữu cơ từ nghèo đến rất nghèo (0,5 – 1,2 %), hàm lượng các chất tổng số và dễ tiêu đều thấp: đạm tổng số 0,04 – 0,08%, lân tổng số 0,03- 0,06%, kali tổng số 0,2 – 0,4%, lân dễ tiêu trên 4 – 5mg/100g đất, kali dễ tiêu trên 5 – 6 mg/100 g đất

Đặc biệt dung tích hấp thu (4 – 7 lđl/ 100g đất) và độ no của bazơ thấp dưới 50% Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng mặt có cấu trúc kém Tuy có

độ phì tự nhiên thấp song nhiều địa phương đã áp dụng các biện pháp canh tác tổng hợp nên đã tăng sản lượng trên toàn vùng đất này.Tăng cường khả năng giữ ẩm và dưỡng chất, tăng hữu cơ bằng cách bón phân chuồng, phân xanh, vùi phế phụ phẩm nông nghiệp, thay đổi cấu tượng đất, tăng dung tích hấp thu, hoàn thiện hệ thống tưới tiêu, tìm hệ thống cây trồng phù hợp là những biện pháp tích cực nhằm khai thác hiệu quả và bảo vệ đất

Theo Nguyễn Thị Dần (1996) [8], yếu tố hạn chế hàng đầu của đất xám bạc màu Bắc Giang là độ phì tự nhiên thấp, nghèo các chất dinh dưỡng khoáng, hàm lượng chất hữu cơ thấp Cụ thể khi phân tích trên đất 2 lúa 1 màu kết quả như sau:

Bảng 2.5 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu đất bạc mầu Bắc Giang trong

cơ cấu 2 lúa 1 mầu(Độ sâu từ 0 – 15 cm)

K 2 O (%)

P 2 O 5 dễ tiêu (mg/

100g đất)

K 2 O

dễ tiêu (mg/

100g đất)

CEC (lđl/100g

đất)

Sét vật lý (≤ 0,01 mm %)

(Nguồn: Nguyễn Thị Dần)

Trang 28

Đất có thành phần cơ giới nhẹ, các tính chất vật lý nước đều không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Tuy vậy biết khắc phục bằng cách chọn cơ cấu cây trồng có sự tham gia của cây họ đậu thì cũng

có thể cải thiện tính chất của đất và nâng cao độ phì nhiêu của chúng

Kali tập trung chủ yếu vào các hạt mịn nên đất sét cũng giàu kali, khoáng sét chứa kali nhóm hydrômica (giầu kali), kaolinit (nghèo kali) Theo Nguyễn Văn Chiến(1999 )[4], thì : ở chân đất cao thành phần cơ giới thường rất nhẹ, tỷ lệ cát lớn, ở chân đất vàn nhất là chân đất trũng thành phần cơ giới nặng hơn Vì thế Kali ở chân đất cao thường bị mất nhiều do rửa trôi nên ở tầng này Kts thấp hơn Còn ở đất trũng mất ít hơn, Kts cao hơn Theo tác giả khi nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình đến Kts đất xám bạc mầu tại Sóc Sơn -

Hà Nội cho thấy: ở chân đất cao Kts là 0,4%, chân đất vàn là 0,57%, chân đất trũng là 1,40%

Theo Đỗ ánh (2001)[1], đậu tương thích hợp trên đất có độ pH 6-7 Trên đất bạc mầu hàm lượng chất hữu cơ <1%, N là 0,07%(giai đoạn 1976- 1981) hàm lượng đạm không thay đổi nhiều khoảng 0,08%N, hàm lượng P tổng số 0,03 – 0,08%, P dễ tiêu từ 3-5 mg/100g đất, kali dễ tiêu ở trên đất xám bạc màu Bắc giang giai đoạn 1960-1963 là 5,1 mg/100g đất, 1993 là 1,6mg/100g đất

Tóm lại: Đất bạc mầu là loại đất nghèo dinh dưỡng, hàm lượng kali tổng số

và dễ tiêu rất thấp vì vậy cung cấp ka li cho cây bằng biện pháp bón vào đất là giải pháp tích cực nhất nâng cao năng suất đậu tương

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Theo Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh (2005)[26 ]Cho dù Việt Nam sẽ là thành viên của WTO, việc nhập khẩu ngô, đậu tương phục vụ phát triển chăn nuôi hiện nay sẽ trở nên bất hợp lý trong tương lai vì tiềm năng trồng cây họ đậu của chúng ta còn rất lớn, lao động nông nghiệp và đất trồng trọt còn rất tốt, những cây trồng tiết kiệm nước được ưu tiên phát triển Đậu đỗ

sẽ phát triển một triệu ha đến 2010(đậu tương là 500.000 ha, lạc là 350.000- 400.000 ha), còn lại là đậu xanh với 150.000 ha Sản lượng lạc là 1-1,2 triệu

Trang 29

tấn, đậu tương là 900.000- 1000.000 tấn, đậu xanh là 120.000 tấn, năng suất

đậu tương là 18-20 tạ/ ha, lạc là 25-30 tạ/ha, đậu xanh là 15-18 tạ/ha, làm tiền

đề để phát triển đậu đỗ cho kế hoạch 5 năm sau đó Muốn vậy cần tăng năng suất và hoàn thiện từng bước quy trình canh tác

Hàng năm Bắc Giang trồng từ 5.500-6.500ha đậu tương trong đó chủ yếu là vụ Hè Thu 3.500-4.000ha, năng suất bình quân 12-14tạ/ ha, tổng sản lượng chỉ đạt 7000-7500 tấn Những năm gần đây Bắc Giang đã chọn được giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt chuyển giao vào sản xuất như DT

84, ĐT 93, DT 99, ĐT 12 …Nhờ vậy mà năng suất đậu tương đã tăng lên song tốc độ còn chậm, có nhiều nguyên nhân, nhưng 1 trong những nguyên nhân đó là kỹ thuật canh tác còn lạc hậu không xác định được yếu tố dinh dưỡng hạn chế, bón phân thiếu cân đối dẫn đến cây trồng phát triển mất cân

đối, năng suất thấp Vì vậy thiết lập công thức bón phân tìm ra công thức phân bón tối ưu cho cây trồng trên đất bạc mầu này là hết sức cần thiết

2.2 Tình hình sản xuất đậu tương

2.2.1 Tình hình sản xuất trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có 8 cây lấy dầu quan trọng: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, dừa và cọ chiếm 97% sản lượng cây lấy dầu (Ngô Thế Dân[11] Vì đậu tương là cây lấy dầu quan trọng nhất nên diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương ngày một nâng cao

Bảng2.6 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Chỉ tiêu Năm

Diện tích (1000 ha)

Năng suất (tạ/ ha)

Sản lượng (1000 tấn )

Trang 30

Trên thế giới hiện nay có 50 nước trồng đậu tương trong đó có 4 nước

đứng hàng đầu thế giới: Mỹ, Brazil, Agentina, Trung Quốc chiếm khoảng 90 – 95% sản lượng thế giới Trước những năm 1970 chỉ có Mỹ và Trung Quốc là 2 nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới.Tốc độ phát triển đậu tương ở Mỹ nhanh hơn ở Trung Quốc Sản lượng đậu tương trên thế giới tăng từ 60% năm

1960 đến đỉnh cao 75% năm 1969 Trong khi đó sản lượng đậu tương của Trung Quốc trên thế giới giảm từ 32% xuống 16% trong cùng thời kỳ Gần

đây Mỹ đã chiếm 37,4% tổng sản lượng đậu tương trên thế giới, Braxin là nước đứng thứ 2, chiếm 26,9%, Argentina là nước đứng thứ 3, chiếm18,3 %

Bảng2.7 Tình hình sản xuất đậu tương ở 4 nước đứng đầu thế giới

năm 2005

Chỉ tiêu Nước

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn )

Diện tích đậu tương tăng chủ yếu là do thay đổi diện tích trồng của cây khác, diện tích tăng từ 40 vạn ha (1924) Năm 1928 – 1932 nhập 1190 giống

từ nhiều nước, đưa diện tích lên 5,6 triệu ha vào đầu những năm 1950, tới 28,5 triệu ha vào những năm 1980 và 22,86 triệu ha vào những năm 1990 và 29,056

Trang 31

triệu ha vào năm 2002, năng suất đạt bình quân 25 tạ / ha, năm 2005 đạt 28,84 triệu ha với năng suất bình quân đạt 28 tạ/ha Mỹ là một nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới về cả năng suất và sản lượng Mỹ có một kho tài nguyên di truyền lớn nên có một tập đoàn giống đậu tương rất phong phú

Tại Braxin: từ giữa những năm 1960, sản xuất đậu tương đã tăng đáng

kể và Braxin trở thành một nước sản xuất, cung ứng đậu tương lớn trên thế giới là do giá đậu tương cao từ cuối những năm 1960 cho tới cuối những năm

1970 đã làm cho cây đậu tương trở thành cây trồng mang lại lợi nhuận cao nhất trên một đơn vị diện tích cho nông dân, vì vậy diện tích trước đây trồng các cây này đã chuyển sang trồng cây đậu tương Do chính sách cấm xuất khẩu đậu tương của Mỹ năm 1973 đã buộc những nước trước đây dựa vào nguồn đậu nhập này phải tìm nguồn đậu tương khác Chình vì vậy đã thúc đẩy phát triển, mở rộng sản xuất đậu tương ở Braxin

Chính phủ đã có chính sách hỗ trợ việc phát triển đậu tương, bằng cách cho vay lãi xuất thấp trong việc đầu tư mua máy móc, phân bón và các thứ khác Mặt khác những công ty đa quốc gia đã thấy có lợi về việc phát triển

đậu tương ở Braxin, họ đã hỗ trợ nông dân về tiến bộ kỹ thuật và vốn để phát triển nền nông nghiệp hiện đại ở Braxin Năm 1965 sản lượng chiếm 1,8%, năm 1985 chiếm 15% sản lượng thế giới Trung bình trong 20 năm qua, sản lượng hàng năm tăng 25% Năm 2002 sản lượng chiếm 21,3% sản lượng thế giới, năng suất đứng thứ 2 thế giới Năm 2005 sản lượng chiếm 26,9% sản lượng thế giới, năng suất vẫn đứng thứ 2 thế giới

Tại Argentina: đậu tương là cây trồng đổi mới Từ khoảng1961 – 1962,

do chính sách hỗ trợ của chính phủ, đậu tương đã bắt đầu phát triển tương đối mạnh Sau đó diện tích và sản lượng hàng năm đều tăng nhanh Năng suất đậu tương bình quân khoảng 1,1 tấn / ha trong những năm 1960,đầu những năm

1970 năng suất cao hơn và 1979 đạt 2,31 tấn /ha, năm 2005 cao nhất 2,66 tấn/ha

Trang 32

Theo Rao và Oppen (1987)[60] ở châu á, các cây đậu tương chiếm 25% về sản lượng, 18% diện tích gieo trồng thế giới Tuy nhiên trong thời kỳ này tốc độ diện tích và sản lượng tăng lên nhanh chóng – 3,3%/năm về diện tích, 5,9%/năm về sản lượng

Theo Chomchalow và các cộng sự (1993)[50] cây đậu tương ở châu á

có thể trồng được trong tất cả các điều kiện khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới Các nước sản xuất nhiều đậu tương ở Châu á là: Trung Quốc, ấn Độ, Indonesia, Thái Lan…trong đó Trung Quốc là nước sản xuất đậu tương từ lâu

đời, nhưng cho đến nay chỉ đứng thứ 4 thế giới về năng suất và sản lượng, tuy nhiên vẫn là nước đứng đầu Châu á về diện tích, năng suất, sản lượng Năm

2005 sản lượng chiếm 7,7% thế giới

2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

ở Việt Nam đậu tương được trồng từ rất lâu đời, trên cả 3 miền Trước

đây đậu tương được trồng trên phạm vi rất hẹp với diện tích 32.000 ha, năng suất 4,1 tạ / ha, tập trung chủ yếu các tỉnh miền núi phía bắc Sau khi đất nước thống nhất diện tích đậu tương cả nước là 39.954 ha, năng suất đạt 5,2 tạ/ ha (Ngô Thế Dân và cs ( 1999) những năm gần đây đậu tương được bố trí lại các vùng trồng phù hợp với điều kiện sinh thái, sản xuất đậu tương đã tăng khá nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng

Bảng2.8 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 5 năm gần đây

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (1000 ha)

Năng suất (tạ/ ha)

Sản lượng (1000 tấn )

Trang 33

Theo Trần Đình Long và CS (2005) [25] cho biết trong 20 năm qua (1985 –2004), diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương ở nước ta đã không ngừng tăng lên Năm 1985 diện tích là 102.000 ha lên 169.800 ha năm 2004 tăng (66,5%), năng suất từ 7,8 tạ/ha năm 1985 lên 13,6 tạ /ha năm 2004 ( tăng 74,5%)và sản lượng từ 79.000 tấn năm 1985 lên 230.900 tấn năm 2004 tăng 192,3%

Do có thị trường thuận lợi đặc biệt là có nhiều giống mới đã được tạo ra cùng các biện pháp canh tác tiến bộ từ 2000- 2004 diện tích đậu tương tăng 58.400 (47%), sản lượng tăng 62,1% Đậu tương đang là thế mạnh trong chiến lược phát triển cây hàng hoá, cây làm thức ăn chăn nuôi để giảm nhập khẩu và

là cây trồng có hiệu quả cho nền sản xuất đa dạng sản phẩm và bền vững môi trường sinh thái Hiện nay cả nước hình thành 7 vùng sản xuất đậu tương thuộc 7 vùng sinh thái khác nhau: Trung du miền núi phía bắc, vùng đồng bằng Sông Hồng, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng Bằng Sông Cửu Long, Khu IV cũ, Duyên Hải Miền Trung

Bắc Giang là một tỉnh Trung du miền núi phía Bắc có thế mạnh sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày, trong đó có đậu tương là cây trồng truyền thống Nhờ có giá trị kinh tế cao, ngay từ những năm 1995 khi nghiên cứu về hiệu quả của đậu tương hè ở Bắc giang, Hoàng Quốc Việt và CS (1995)[45] đã cho thấy:1 ha đậu tương Hè cho lợi nhuận cao hơn lúa xuân 6,2% và tỷ xuất lợi nhuận cao hơn 7% Vì vậy mà diện tích, năng suất, sản lượng tăng lên nhanh chóng, đứng thứ 5 vùng sinh thái về diện tích Nhưng những năm gần

đây diện tích lại có xu thế giảm mặc dù năng suất tăng song sản lượng vẫn không tăng

Trong những năm gần đây thực hiện chương trình phát triển kinh tế chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng theo hướng hàng hoá, đậu tương được xem là một trong những cây trồng chủ đạo, nên việc áp dụng tiến bộ KHKT

được nâng cao đã góp phần tăng năng suất Tuy vậy để thực hiện mục tiêu sản

Trang 34

xuất hàng hoá trong phương hướng phát triển kinh tế của Bắc Giang đến 2010

là phấn đấu diện tích đạt 7.000ha, năng suất 18tạ/ha, sản lượng đạt 13.000tấn thì vấn đề đặt ra là ngoài biện pháp mở rộng diện tích ở 2 vụ hè và đông, đưa các giống ngắn ngày năng suất cao vào gieo trồng cần chú trọng khâu thâm canh tăng năng suất và bón phân cân đối

2.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới

2.3.1 Những nghiên cứu về yêu cầu dinh dưỡng của đậu tương

Các nhà khoa học đều khẳng định cây đậu đỗ nói chung là cây yêu cầu một lượng N rất lớn cho quá trình sinh trưởng, phát triển, hình thành năng suất Theo Cattelan và Hungria (1994) [49] để đạt được năng suất đậu tương 2.500kg/ha, cây đậu tương phải tích luỹ được 200kgN, trong đó tích luỹ trong hạt chiếm 67 – 75% lượng N tích luỹ Lượng Nitơ mà cây tích luỹ được lấy từ

2 nguồn : cố định N sinh học của vi sinh vật nốt sần và nguồn hút từ dinh dưỡng khoáng của đất Nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia đã cố gắng tăng năng suất đậu tương bằng sự bón N, nhưng điều này thường làm giảm số lượng và kích thước nốt sần, cũng như khả năng cố định N của vi khuẩn cộng sinh Do vậy hiệu quả kinh tế thường không cao Các tác giả này đã trích dẫn kết quả nghiên cứu của Carmen và Varela(1984) cho thấy trong điều kiện bình thường sự cố định N có thể cung cấp 132kg N/ ha, chiếm khoảng 57% tổng lượng N mà đậu tương tích luỹ được trong suốt quá trình sống của nó và trong điều kiện tối ưu tổng lượng N cố định có thể lên tới 224kg /ha, chiếm khoảng 67% tổng lượng N tích luỹ trong cây

Theo Vander Maesen và Somaatmadja (1996) [66] để có năng suất 1 tấn/ ha, cây đậu tương cần hấp thu một lượng N là 80 kg/ ha Một nửa lượng N

do vi khuẩn Rhizobium tạo ra còn lại hấp thu từ đất hay từ phân đạm do con người bón

Theo Wild và Jones (1988) [69]; Wild (1988) [70] khi nghiên cứu về yêu cầu P của cây trồng khác nhau đã chỉ ra rằng để đạt 95% năng suất tối đa,

Trang 35

cây đậu tương cần có hàm lượng P hoà tan trong dung dịch đất tối thiểu là 0,2ppm và mức này được coi là mức khủng hoảng về hàm lượng P dễ tiêu trong dung dịch đất đối với đậu tương Dựa vào điều này người ta có thể xây dựng một phương pháp để tính toán lượng phân P cần thiết để bón bằng việc thêm vào đất một lượng P nào đó để nâng hàm lượng P hoà tan trong dung dịch lên mức 0,2ppm, từ đó xác định lượng phân P tối ưu cần bón

Craswell và CS(1987) [51], đã cho biết có nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng những trở ngại về dinh dưỡng khoáng ở trong đất là nguyên nhân chính gây ra năng suất đậu đỗ thấp ở Châu á Hàng loạt báo cáo đã chỉ ra rằng nhiều vùng sản xuất đậu đỗ ở Châu á thiếu N, P, Ca Các biện pháp bổ sung các nguyên tố này đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất đậu đỗ trong khu vực

2.3.2 Những nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất đậu tương

Ismunadji và các cs (1987)[55], đã cho biết, theo báo cáo của Viện nghiên cứu Nông nghiệp Trung ương của Indonesia, việc bón phân P cho đậu tương đã làm tăng đáng kể năng suất ở nhiều vùng

Dickson và CS, (1987) [52] đã tiến hành những thí nghiệm về lượng phân lân được bón ở 27 cánh đồng ở vùng Queen Land – úc đã chỉ ra rằng năng suất đậu tương tăng lên rất đáng kể khi phân P được bón

Mengel (1987) [ 58] cũng cho biết P có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nốt sần ở rễ đậu tương và bổ xung vào đất với lượng 400- 500mgP/kg đất sẽ có tác dụng kích thích sự hoạt động của vi khuẩn nốt sần

Mengel va cs (1987) [58] đã trích dẫn những kết quả thí nghiệm của Beard và Hoover (1977); Ham, Sorensen và Peras cùng CS (1983), đã chỉ ra rằng phân N đã làm tăng đáng kể năng suất hạt, trọng lượng hạt và hàm lượng

-protein trong hạt đậu tương, nhất là trong điều kiện NO3 trong đất thấp, đất chua và nghèo chất hữu cơ Về ảnh hưởng của bón N đến hoạt động cố định vi

Trang 36

khuẩn nốt sần các thí nghiệm đã chỉ ra rằng số lượng nốt sần có liên quan tuyến tính với lượng N bón Khi lượng N bón vượt quá 56 kg /ha thì số lượng nốt sần giảm Nhưng số lượng nốt sần không bị ảnh hưởng bởi lượng N lớn (112kgN/ha) nếu được bón vào giai đoạn ra hoa của cây đậu tương

Theo Watanabe và CS (1986)[67] để đạt năng suất hạt cao (3tấn /ha), đậu tương cần tích luỹ được 300kg N/ ha Lượng N này được sử dụng nhiều trong suốt thời kỳ vào chắc và chín của quả Do vậy cách tốt nhất là bón N sau thời

kỳ ra hoa của đậu bởi quá trình quang hợp được tăng lên, đồng thời làm tăng quá trình đồng hoá N đáp ứng nhu cầu N cho sự hình thành và vào chắc của hạt Từ những thí nghiệm ngoài đồng, các tác giả này đã chỉ ra rằng bón 60 kgN/ha và 120 kgN /ha vào lúc ra hoa đã làm tăng năng suất đậu tương lên tương ứng 4,8 và 6,7% và năng suất đậu tương tiếp tục tăng lên tới lượng N bón bão hoà 180 kgN/ ha

Theo Sinha (1987) [62], Borkert và Sfredo (1994) [48], để đạt năng suất cao cần bón cho đậu tương một lượng đáng kể và thực tế lượng N bón 150kg N/ ha đã cho năng suất đậu tương cao

Theo Hardy và CS (1980) [53], phân N khoáng cần được bón cho cây đậu

đỗ để đạt được năng suất cao trong 2 trường hợp sau:

+ Khả năng cố định N của vi khuẩn nốt sần là không đáng kể

+ Đất quá nghèo dinh dưỡng

Trong trường hợp đất chua nghèo N, thiếu N trở nên nghiêm trọng vì khả năng cố định N bị hạn chế rõ rệt Trong trường hợp này phân N sẽ là nguồn N quan trọng nhất đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây

Các nghiên cứu của Sunarlim (1987) [64], Mengel và CS (1987) [58], Cattelan và Hungria (1994) [49], đã khẳng định hiệu quả cao của việc bón phân N cho đậu đỗ nếu N được bón kết hợp với P và vôi

ở Braxin người ta thấy xuất hiện những triệu chứng suy giảm kali tiếp sau 1 – 2 năm đạt sản lượng cao do điều kiện pH của đất và bón thêm phân lân Trên những đất có mức kali ban đầu thường được đánh giá là đủ, nhưng lượng kali vốn có đã hao hụt nhanh do những vụ đậu tương cao sản gây ra [56]

Trang 37

Rochayti và cs (1987) [61], Mg, N, P, vôi là những yếu tố cơ bản nâng cao năng suất đậu đỗ ở Châu á

2.3.3 Những nghiên cứu về phân vi sinh vật cho cây đậu tương

Trần Danh Thìn (2001)[36], đã cho biết: Theo Dro (1964) cho rằng “trong

đa số các trường hợp sử lý phân vi sinh vật đều cho kết quả tốt Số bội thu đã quá thừa để chi phí cho việc mua phân vi khuẩn nốt sần và bón phân đạm” Qua thực tế nhiều năm sử dụng Nitrazin ở Liên Xô cũ và nhiều nước khác cho thấy: biện pháp sử lý Nitrazin tẩm vào hạt trước lúc gieo làm tăng năng suất trung bình 15 – 20%

Theo Giáo sư Musustin(Liên xô cũ), thì bón phân vi sinh vật làm tăng năng suất cây trồng 20 – 25%, giảm tỷ lệ sâu bệnh 14 – 15% so với bón phân hoá học Cũng có tác giả cho rằng có thể nhiễm khuẩn lần đầu sau 4 năm không cần nhiễm lại Ngược lại một số tác giả khẳng định nhiễm khuẩn không những có tác dụng tốt ở những chân đất không có vi khuẩn nốt sần, mà còn cho hiệu quả ở cả chân đất có sẵn loại vi khuẩn này [54;58] ở Mỹ mức độ tăng sản lương sản xuất Nitrazin vi khuẩn nốt sần là chỉ tiêu đánh giá hiệu lực của phân Năm 1975 ở Mỹ dùng WEHG và Nitrazin với chất hấp phụ than bùn bón cho cây đậu tương làm tăng năng suất từ 25 – 40% tuỳ từng vùng đất khác nhau

ở Tiệp Khắc cũ việc xử lý phân vi khuẩn nốt sần cho đậu đỗ là việc làm

đương nhiên Theo Hamotova “tẩm vi khuẩn vào hạt trước khi gieo làm tăng năng suất hạt 15 – 45% so với đối chứng”

Theo Mustin E.H (1981) thì khả năng cố định nitơ phân tử ở cây họ đậu

từ 60 – 300kgN/ ha/năm, phụ thuộc vào loại cây trồng, chủng loại vi sinh vật

mà cho hiệu quả khác nhau

2.3.4 Những nghiên cứu về vôi cho cây đậu tương

Theo Thompson (1957)[65], sinh trưởng, phát triển và khả năng cố định

N sinh học của cây đậu đỗ trên đất chua sẽ được cải thiện một cách đáng kể

Trang 38

bằng sự bón vôi Tác giả cũng cho rằng phản ứng của cây đậu đỗ đối với vôi chủ yếu là tính dễ tiêu của N và P trong đất được tăng lên rõ rệt khi pH của đất

được tăng lên Theo tác giả pH=6 thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của

đậu tương

Abruna (1980)[47] đã trích dẫn những kết quả thí nghiệm bón vôi cho

đậu tương của nhiều tác giả Những kết quả thí nghiệm của Freistas và CS (1960) đã cho biết năng suất đậu tương trên đất chua, pH = 4,5 được tăng lên

đáng kể nhờ bón vôi với lượng 2 tấn CaCO3/ ha Mascarenhas và CS, (1969) cũng đã chỉ ra rằng năng suất đậu tương đã tăng lên 30% nhờ bón 1,6 tấn CaCO3 /ha trên đất Latisols ở Braxin với pH = 5,5

Mengel và CS (1987)[58] đã chỉ ra rằng bón vôi cho đất chua là một phần quan trọng của bất kỳ một chương trình phân bón nào cho đậu tương ở

Mỹ vì nó mang lại những lợi ích sau: làm giảm bớt các hàm lượng nguyên tố gây độc tiềm năng trong đất như Al, Mn, và H+, làm tăng tính dễ tiêu của nguyên tố dinh dưỡng đối với cây trồng như Ca, Mg, Mo và cải thiện sự hình thành nốt sần

Borkert và Sfredo (1974) [48] cho rằng bón vôi đã làm tăng quá trình phân giải chất hữu cơ trong đất Hai phản ứng quan trọng có sự tham gia của

vi sinh vật trong đất mà ảnh hưởng tới tính dễ tiêu của N từ các hợp chất hữu cơ là quá trình amon hoá và nitơrat hoá Quá trình amôn hoá xảy ra với một phạm vi biến động khá rộng của pH đất, trong khi đó quá trình nitơrat hoá bị giảm xuống đáng kể khi pH đất thấp hơn 6 và cao hơn 8 Các tác giả này cũng khẳng định rằng bón vôi cho đất chua vùng nhiệt đới cũng như ôn đới đều có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương lên rõ rệt Cũng theo tác giả không phải bất cứ một sự bón vôi nào để nâng cao độ pH của đất cũng đều có lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây Bón vôi quá cao sẽ gây hại cho đậu tương ở vùng nhiệt đới pH thích hợp cho đậu tương là 5,5-6 với đất có thành phần cơ giới nặng và 5- 5,5 với đất có thành phần cơ giới nhẹ Bón vôi quá liều sẽ làm

Trang 39

giảm khả năng dễ tan của một số nguyên tố dinh dưỡng và làm tăng sự rửa trôi của các Cation kiềm và một số tác hại đối với cấu trúc đất

2.3.5 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến tính chống chịu của đậu tương

Li-Shufan và cộng sự (1993) [57], đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón kali tới sự tăng cường khả năng chịu hạn của cây đậu tương cho biết: việc bón kali cho đậu tương làm tăng hàm lượng kali trong cây, tăng cường khả năng trao đổi chất, sự phát triển của một số bộ phận có liên quan tới tính chịu hạn Trong đó sự phát triển bó mạch của rễ, thân và sự đảm bảo dinh dưỡng, lưu lượng nước lên lá, các tế bào có thành tế bào dày lên làm tăng khả năng giữ nước, tính thấm của màng tế bào thấp dẫn đến tăng cường tính chống chịu với nhiệt độ cao, lỗ khí khổng nhỏ sẽ làm giảm sự thoát hơi nước liên kết trong tế bào cây Năng suất của đậu tương tăng lên rõ rệt do bón kali trong thời kỳ gặp hạn

Theo Sugimoto-H và cộng sự (1993)[63] các tác giả người Nhật đã nghiên cứu sự nguy hại của đậu tương ở những cánh đồng trồng lúa vụ trước

và xem xét việc bón đạm sunfat amôn có là yếu tố chống lại tác hại của điều kiện độ ẩm quá cao hay không: Đậu tương ở vùng đất sau vụ trồng lúa trên những luống cày có mực nước ở rãnh sâu 3-8cm, kéo dài 8-10 ngày sau đó bón phân đạm với tỷ lệ 12gr/m2 Kết quả ở những ô không bổ sung đạm thì năng suất giảm 20%, còn những ô có bổ sung đạm thì năng suất giảm 6% do

sự rụng quả thấp hơn Để tìm nguyên nhân của sự rụng quả họ đã làm thí nghiệm trong chậu Kết quả nghiên cứu thấy rằng những cây trồng trong điều kiện độ ẩm quá cao mà không bổ sung đạm thì hàm lượng đạm trong lá giảm dẫn đến cường độ quang hợp giảm rõ rệt Ngược lại những cây được bổ sung

đạm thì hàm lượng đạm trong lá tăng và cường độ quang hợp tăng Nó được giả thiết rằng việc bổ sung đạm làm tăng cường cường độ quang hợp, tăng sự nảy chồi, ra hoa và giảm sự dụng quả khi trồng đậu tương ở nhiệt độ cao

Trang 40

2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước về phân bón cho đậu tương

Bên cạnh công tác nghiên cứu chọn tạo giống có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu khá thì việc đưa các biện pháp kỹ thuật thâm canh cây đậu tương đang được áp dụng trong đó có sự đóng góp tích cực của phân bón NPK

2.4.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của NPK đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương

Theo FAO (1977)[56] mặc dù cây đậu tương yêu cầu về lân thấp, để đạt

được năng suất 2,0 tấn/ ha thì phải bón 15 kg lân, nhưng hiện nay người ta vẫn chưa khai thác hết tiềm năng năng suất của giống

Khi bón lân làm tăng năng suất đậu tương, thì đòi hỏi về kali của cây cũng tăng lên ở Braxin người ta thường thấy xuất hiện những triệu chứng suy giảm kali tiếp sau 1 hay 2 năm đạt sản lượng cao do điều chỉnh độ pH của đất

và bón thêm phân lân Trên những đất đó mức kali ban đầu thường được đánh giá là đủ nhưng lượng kali vốn đã có hao hụt nhanh do những vụ đậu tương cao sản gây nên

Theo Võ Minh Kha [21] đối với đậu đỗ trên đất ít chua có hàm lượng lân tự nhiên khá, bón phân lân nung chảy Văn Điển và Supelân có hiệu quả như nhau, nhưng bón phối hợp 2 loại cho hiệu quả cao hơn hẳn, bón 1/2 Supelân,1/2 lân nung chảy là tốt nhất

Theo Công Thị Yến và CS (1995)[ 46] thì bón phân kali dạng sunfat từ 1,5 – 3,7 tạ/ ha hay 8,2- 18,8% đối với đậu tương đông và 0,8 – 2,4 tạ /ha hay 4,5 – 15,6% đối với đỗ tương xuân do tổng số quả / cây, số hạt chắc, trọng lượng 1000 hạt đều tăng

Nguyễn Văn Bộ và cs (1999) [3] cho rằng nếu chỉ bón riêng N chỉ cho bội thu 1,4 tạ/ ha, trên nền có bón lân cho bội thu 2,3 tạ/ ha

Theo Công Thị Yến và Trần Thúc Sơn (1995)[46] thì lượng tăng bình quân 33,7 kg/ha khi bón K2SO4 và đặc biệt tích luỹ mạnh ở thời kỳ ra hoa

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ ánh (2001), Độ phì nhiêu của đất và dinh d−ỡng cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ phì nhiêu của đất và dinh d−ỡng cây trồng
Tác giả: Đỗ ánh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Anonym (2004), "Dầu đậu tương có lợi cho sức khoẻ hơn”, Vatis update food processing mar apr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dầu đậu tương có lợi cho sức khoẻ hơn
Tác giả: Anonym
Nhà XB: Vatis update food processing
Năm: 2004
3. Nguyễn Văn Bộ, E.muter, Nguyễn Trọng Thi (1999), Kết quả nghiên cứu khoa học quyển 3, Viện Nông hoá Thổ nhưỡng, trang 320 - 321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học quyển 3
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ, E.muter, Nguyễn Trọng Thi
Nhà XB: Viện Nông hoá Thổ nhưỡng
Năm: 1999
4. Nguyễn Văn Chiến (1999), “Các dạng kali trên một số loại đất chính ở Việt Nam”, Kết quả nghiên cứu khoa học quyển 3 Viện nông hoá thổ nh−ỡng, Nxb Nông nghiệp, trang 164-167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng kali trên một số loại đất chính ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
5. Vũ Đình Chính (1998), “Tìm hiểu liều lượng NPK đến sinh trưởng và phát triển năng suất đậu tương hè trên đất bạc màu Bắc Giang”, Thông tin khoa học kỹ thuật nông nghiệp Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, trang 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu liều lượng NPK đến sinh trưởng và phát triển năng suất đậu tương hè trên đất bạc màu Bắc Giang
Tác giả: Vũ Đình Chính
Nhà XB: Thông tin khoa học kỹ thuật nông nghiệp Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Năm: 1998
6. Phạm Văn Chương, Nguyễn Ngọc Thành, Nguyễn Thanh Tuyền, Vũ Thị Thìn, Hoàng Quốc Chính(2005), Sổ tay thí nghiệm sinh lý, sinh hoá cây trồng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thí nghiệm sinh lý, sinh hoá cây trồng
Tác giả: Phạm Văn Chương, Nguyễn Ngọc Thành, Nguyễn Thanh Tuyền, Vũ Thị Thìn, Hoàng Quốc Chính
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
7. Cục Khuyến nông và Khuyến lâm (1998), Bón phân hợp lý và cân đối cho cây trồng, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân hợp lý và cân đối cho cây trồng
Tác giả: Cục Khuyến nông và Khuyến lâm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
8. Nguyễn Thị Dần(1996) “Chế độ phân bón thích hợp cho cây đậu đỗ trên đất bạc mầu Hà Bắc”, Kết quả nghiên cứu khoa học quyển 2, Nxb Nông nghiệp, trang 77-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ phân bón thích hợp cho cây đậu đỗ trên đất bạc mầu Hà Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Dần
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
9. Ngô Thế Dần, Nguyễn Ngọc Quyền, Nguyễn Kim Vũ (1994), Phân vi khuẩn nốt sần và cách sử dụng cho cây đậu đỗ, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph©n vi khuẩn nốt sần và cách sử dụng cho cây đậu đỗ
Tác giả: Ngô Thế Dần, Nguyễn Ngọc Quyền, Nguyễn Kim Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
10. Nguyễn Thị Dần (1996), “Vai trò cây họ đậu trong việc ổn định và nâng cao độ phì nhiêu của đất xám bạc màu Hà Bắc”, Tạp chí KH đất 06, trang 78 - 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò cây họ đậu trong việc ổn định và nâng cao độ phì nhiêu của đất xám bạc màu Hà Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Dần
Nhà XB: Tạp chí KH đất
Năm: 1996
12. Bùi Đình Dinh (1995), Yếu tố hạn chế năng suất và chiến l−ợc quản lý dinh d−ỡng cây trồng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố hạn chế năng suất và chiến l−ợc quản lý dinh d−ỡng cây trồng
Tác giả: Bùi Đình Dinh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
13. Vũ Năng Dũng, Nguyễn Võ Linh (2005), “Cơ sở KH định hướng Nông nghiệp Việt Nam năm 2010 và tầm nhìn 2020”, tạp chí khoa học công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tập 3,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở KH định hướng Nông nghiệp Việt Nam năm 2010 và tầm nhìn 2020
Tác giả: Vũ Năng Dũng, Nguyễn Võ Linh
Nhà XB: tạp chí khoa học công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2005
14. Trần Văn Điền (1998), Giáo trình cây đậu tương. Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây đậu tương
Tác giả: Trần Văn Điền
Năm: 1998
15. Hồ Quang Đức, Trương Xuân Cường, Nguyễn Quang Hải, Hoàng Trọng Quý (2005), “Một số đặc điểm chính về vi hình thái đất của một số loạiđất miền Bắc Việt Nam”, Tạp chí KHCN Nông nghiệp&amp;PTNT 20 nămđổi mới tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 59 - 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm chính về vi hình thái đất của một số loại đất miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Hồ Quang Đức, Trương Xuân Cường, Nguyễn Quang Hải, Hoàng Trọng Quý
Nhà XB: Tạp chí KHCN Nông nghiệp & PTNT
Năm: 2005
16. Hồ Quang Đức “Các loại đất chính của Việt Nam và độ phì nhiêu của chóng”, báo cáo tại hội thảo tập huấn: quản lý dinh d−ỡng tổng hợp và bón phân cân đối cho cây trồng ở miền bắc Việt Nam, do Viện Thổ nhưỡng Nông hoá tổ chức 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại đất chính của Việt Nam và độ phì nhiêu của chóng
Tác giả: Hồ Quang Đức
Nhà XB: Viện Thổ nhưỡng Nông hoá
Năm: 2000
17. Phạm Bích Hiên, Phạm Văn Toản (2001-2002) “Nghiên cứu khả năng sử dụng phân vi sinh vật hỗn hợp cố định nitơ, phân giải phốt phát khó tan cho cây đậu tương”, tuyển tập các công trình nghiên cứu Khoa học kỹ thuật nông nghiệp 2001 – 2002, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, trang 220-227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sử dụng phân vi sinh vật hỗn hợp cố định nitơ, phân giải phốt phát khó tan cho cây đậu tương
Tác giả: Phạm Bích Hiên, Phạm Văn Toản
Nhà XB: tuyển tập các công trình nghiên cứu Khoa học kỹ thuật nông nghiệp 2001 – 2002
Năm: 2001-2002
18. Lê Độ Hoàng và CS (1997), Cây đậu t−ơng, Nxb Khoa học Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu t−ơng
Tác giả: Lê Độ Hoàng, CS
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ Thuật
Năm: 1997
19. Hội Khoa học đất Việt Nam (1996), Tạp Chí khoa học kỹ thuật đất N 0 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí khoa học kỹ thuật đất
Tác giả: Hội Khoa học đất Việt Nam
Năm: 1996
20. Nguyễn Lân Hùng, Nguyễn Duy Minh (2005), h−ớng dẫn bón phân hợp lý cho cây trồng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: h−ớng dẫn bón phân hợp lý cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Lân Hùng, Nguyễn Duy Minh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
21. Võ Minh Kha, Hiệu quả và kỹ thuật sử dụng phân bón lân nung chảy V¨n §iÓn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả và kỹ thuật sử dụng phân bón lân nung chảy
Tác giả: Võ Minh Kha

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Hàm l−ợng dinh d−ỡng trong cây đậu t−ơng - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 2.1. Hàm l−ợng dinh d−ỡng trong cây đậu t−ơng (Trang 22)
Bảng 2.2. Tính chất hoá học đất xám bạc màu trên phù sa cổ - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 2.2. Tính chất hoá học đất xám bạc màu trên phù sa cổ (Trang 24)
Bảng 2.4.Tính chất nông hóa của một số loại đất trồng - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 2.4. Tính chất nông hóa của một số loại đất trồng (Trang 26)
Bảng 2.11:ảnh hưởng của các mức đạm và kali đến năng suất - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 2.11 ảnh hưởng của các mức đạm và kali đến năng suất (Trang 47)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau: - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm như sau: (Trang 52)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 hộ - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm 1 hộ (Trang 53)
Bảng 4.7: ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến số lượng và - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.7 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến số lượng và (Trang 66)
Bảng 4.8: ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến khả năng - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.8 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến khả năng (Trang 68)
Bảng 4.9: ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến hàm lượng - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.9 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến hàm lượng (Trang 70)
Bảng 4.10: ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến các yếu tố - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.10 ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P, K đến các yếu tố (Trang 72)
Bảng 4.13: ảnh h−ởng của tổ hợp phân bón N, P, K - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.13 ảnh h−ởng của tổ hợp phân bón N, P, K (Trang 80)
Bảng 4.14: ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến yếu tố cấu thành năng - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.14 ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến yếu tố cấu thành năng (Trang 82)
Bảng 4.16: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của một số tổ hợp phân bón - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.16 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của một số tổ hợp phân bón (Trang 88)
Bảng 4.17 Nông dân tham gia lựa chọn các chỉ tiêu để đánh giá các - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.17 Nông dân tham gia lựa chọn các chỉ tiêu để đánh giá các (Trang 89)
Bảng 4.18: Nông dân tham gia lựa chọn các tổ hợp phân bón. - Nghiên cứu, xác định yếu tố dinh dưỡng đa lượng hạn chế năng suất đậu tương trên đất xám bạc màu bắc giang
Bảng 4.18 Nông dân tham gia lựa chọn các tổ hợp phân bón (Trang 90)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w