1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008

120 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ..., trong đó sử dụng các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt là yếu tố quan trọng góp phần vào thành tựu chung của

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

-

NGUYẾN ĐẠI THÀNH

NghiªN CøU KH¶ N¡NG THÝCH øng cña mét sè gièng lóa chÊt l−îng CAO

t¹i tuyªn quang n¨m 2008

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, THÁNG 10 NĂM 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

-

NGUYẾN ĐẠI THÀNH

NghiªN CøU KH¶ N¡NG THÝCH øng cña mét sè gièng lóa chÊt l−îng CAO

t¹i tuyªn quang n¨m 2008

CHUYÊN NGÀNH: TRỒNG TRỌT

MÃ SỐ: 60 62 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LƯƠNG VĂN HINH

THÁI NGUYÊN, THÁNG 11 NĂM 2009

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Đại Thành

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Sau đại học, Khoa Nông học, Trại thực nghiệm Trường Trung học Kinh tế kỹ thuật Tuyên Quang, Trung tâm Khuyến nông Tuyên Quang, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

1 PGS.TS Lương Văn Hinh - Đại học Thái Nguyên, thầy đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn này

2 Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Nông học và các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

3 Phòng Kiểm nghiệm sản phẩm cây trồng và phân bón (Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia), Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang, Trại thực nghiệm Trường Trung học Kinh tế kỹ thuật Tuyên Quang, Trung tâm Khuyến nông Tuyên Quang, Trạm Khuyến nông huyện Chiêm Hoá, Trạm Khuyến nông huyện Yên Sơn, cấp uỷ, chính quyền và nhân dân xã Tân An (Chiêm Hoá), xã Mỹ Bằng (Yên Sơn), cùng bạn bè đồng nghiệp và người thân đã quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Đại Thành

Trang 5

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 5

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 8 1.2.1 Tình hình sản xuất lúa và tiêu thụ gạo trên thế giới 8 1.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa trên thế giới 14 1.2.2.1 Thu thập nguồn gen cây lúa và ứng dụng trong sản xuất 14 1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lượng trên thế giới 16 1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trong nước 20 1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trong nước 20 1.3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng giống lúa trong nước 27 1.3.2.1 Sự đa dạng di truyền lúa Việt Nam và khu vực Đông

Nam Á

27

1.3.2.2 Thu thập nguồn gen cây lúa Việt Nam 27 1.3.2.3 Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam 30 1.4 Hiện trạng và phương hướng sản xuất lúa của Tuyên Quang 34

Trang 6

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ

2.2.2.2 Phương pháp bố trí và theo dõi thí nghiệm 41

2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 44

2.3.2 Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại và chống chịu 46

3.1 Đặc điểm cơ bản của vùng nghiên cứu 53

Trang 7

3.2 Kết quả thí nghiệm so sánh các giống lúa 57

3.2.2 Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống thí nghiệm 59 3.2.3 Khả năng đẻ nhánh các giống lúa thí nghiệm 61 3.2.4 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại và chống chịu với điều kiện bất lợi 63 3.2.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất lúa 65 3.2.6 Năng suất thực thu của các giống thí nghiệm 70 3.2.7 Chỉ tiêu chất lượng gạo qua phân tích 73 3.2.8 Phẩm chất cơm các giống lúa qua đánh giá cảm quan 76 3.3 Kết qủa của mô hình trình diễn ở vụ mùa năm 2008 77 3.3.1 Đánh giá của người dân đối với các giống xây dựng mô

hình trong vụ mùa năm 2008

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

BVTV Bảo vệ thực vật

TGST Thời gian sinh trưởng

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

FAO Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giới ICRISAT Viện Nghiên cứu Cây trồng cạn Á nhiệt đới IRRI Viện nghiên cứu lúa Quốc tế

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn Thế giới giai

đoạn từ năm 1961 đến năm 2007

2.1 Các giống lúa thí nghiệm và cơ quan chọn tạo 37

3.3 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm 59 3.4 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 62 3.5 Mức độ nhiễm sâu bệnh và chống chịu của các giống thí nghiệm 64 3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của

các giống lúa tham gia thí nghiệm

66

3.7 Năng suất thực thu của của các giống lúa thí nghiệm 71 3.8 Một số chỉ tiêu phân tích chất lượng gạo của giống lúa thí nghiệm 73

3.10 Kết quả trình diễn các giống lúa thí nghiệm có triển vọng vụ

mùa năm 2008

78

3.11 Nông dân tham gia lựa chọn các giống lúa mới phục vụ sản xuất 79 3.12 Hạch toán kinh tế cho 1 ha gieo cấy giống lúa chất lượng 80

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

3.1 Bản đồ tỉnh Tuyên Quang và địa điểm bố trí thí nghiệm 53 3.2 So sánh năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm

trong vụ xuân và vụ mùa năm 2008

72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong những năm qua nền nông nghiệp của nước ta đã có những bước phát triển nhanh, liên tục và đạt được những thành tựu to lớn Đặc biệt, kết quả sản xuất lương thực đã góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, phát triển kinh tế và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân

Trước năm 1986, nước ta là một quốc gia thiếu lương thực triền miên, nhưng từ năm 1989 đến nay, mặc dù hằng năm dân số tăng thêm gần 1,4 triệu người, an ninh lương thực của Việt Nam đã tương đối ổn định Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Những thành tựu trên là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm đổi mới cơ chế chính sách cùng các giải pháp quan trọng khác như tập trung đầu

tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp (thuỷ lợi, giao thông, điện, phân bón ) áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ , trong đó sử dụng các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt là yếu

tố quan trọng góp phần vào thành tựu chung của phát triển sản xuất nông nghiệp nước ta trong thời gian qua Yếu tố đóng góp của khoa học và công nghệ cho việc nâng cao năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam ngày càng được khẳng định rõ nét trong thời kỳ đổi mới

Việt Nam là một nước nông nghiệp, sản xuất lúa gạo luôn là vấn đề quan trọng, gắn bó mật thiết với nhiều hộ nông dân và địa phương Với 70% dân số sống ở nông thôn, gắn liền với truyền thống và tập quán sản xuất lương thực,

mà lúa gạo là chủ yếu chiếm tới gần 90% sản lượng lương thực Trong những năm gần đây, ở những vùng trọng điểm sản xuất lúa khi đã đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng và còn dư thừa thì câu hỏi lớn nhất đối với nhiều hộ nông dân là làm thế nào để sản xuất lúa gạo thành hàng hoá có giá trị, đem lại thu nhập cao Trả lời câu hỏi này vẫn đang là vấn đề nan giải đối với nhiều địa phương Thực

Trang 12

tế cho thấy, nếu chỉ tập trung các giải pháp giúp nông dân giải quyết vấn đề kỹ thuật đơn thuần thì hiệu quả thường thấp và không bền vững Vấn đề quan trọng hiện nay là cần kết hợp vừa giúp nông dân giải quyết vấn đề kỹ thuật, vừa giúp tháo gỡ các khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm

Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu, tìm ra các giống lúa mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, kết hợp với các biện pháp kỹ thuật phù hợp với từng tiểu vùng khí hậu Quy hoạch các vùng sản xuất lúa gạo mang tính chất hàng hoá, phát triển bền vững các giống lúa có chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao, đồng thời nghiên cứu và xác lập được hệ thống thị trường tiêu thụ ổn định, như vậy sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất và giúp cho nông dân có thêm

cơ sở để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống Do đó, việc nghiên cứu, ứng dụng các giống lúa chất lượng cao vào sản xuất nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường là vấn đề cần thiết

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, có tổng diện tích tự nhiên là 5.860km2 Dân số năm 2009 là 725.000 người, với 22 dân tộc anh em cùng sinh sống (Cục Thống kê Tuyên Quang, 2009)[5] Hằng năm, diện tích gieo cấy lúa của tỉnh Tuyên Quang khoảng 45.000 ha, trong đó vụ xuân 19.500 ha,

vụ mùa 25.500 ha Trong đó, lúa lai chiếm gần 55% diện tích gieo cấy, các giống lúa lai chính là Tạp giao 1 (Shán ưu 63), Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, Bác ưu

903, diện tích còn lại được gieo cấy bằng các giống lúa thuần chủ yếu là Khang dân 18, IRi 352 và một số ít diện tích HT1… Năm 2008, năng suất lúa trung bình của tỉnh đã đạt 56,7 tạ/ha, lương thực bình quân đầu người đạt 430 kg/người/năm Tuy nhiên, hầu hết các giống lúa đang gieo cấy hiện nay đều là các giống có chất lượng gạo trung bình, giá bán không cao, do vậy, giá trị hàng hoá bị hạn chế dẫn đến thu nhập của người trồng lúa chưa được cải thiện nhiều, trong khi nhu cầu của thị trường trong tỉnh đang đòi hỏi có gạo chất lượng cao hơn để phục vụ người tiêu dùng Hiện nay, một số địa phương trong tỉnh như thị xã Tuyên Quang, huyện Yên Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hoá có

Trang 13

điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp để phát triển gieo trồng lúa chất lượng cao

Do chưa được quan tâm đúng mức, nhất là về bộ giống nên diện tích gieo cấy lúa chất lượng còn thấp, hiệu quả gieo trồng chưa cao, đồng thời chưa có một nghiên cứu đầy đủ về giống lúa chất lượng cao tại Tuyên Quang

Do đó, để lựa chọn được giống lúa vừa đảm bảo năng suất cao, chất lượng ngon, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và thích nghi với điều kiện ngoại cảnh, có thời gian sinh trưởng ngắn, không ảnh hưởng đến sản xuất vụ

3 để bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh, đồng thời khuyến cáo cho nông dân gieo cấy là yêu cầu hết sức cần thiết đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh Tuyên Quang hiện nay Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài:

"Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại Tuyên Quang năm 2008"

2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục tiêu

Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chống chịu và chất lượng của các giống lúa thí nghiệm; từ đó chọn ra được giống lúa chất lượng có khả năng thích nghi để khuyến cáo mở rộng diện tích gieo trồng tại Tuyên Quang

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá một số đặc điểm cơ bản về sinh trưởng, phát triển, năng suất

và khả năng chống chịu sâu, bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất lợi của các giống lúa thí nghiệm

- Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng gạo trong phòng thí nghiệm kết hợp với phương pháp cảm quan

- Xây dựng mô hình trình diễn giống lúa có triển vọng trong vụ mùa

2008, từ đó lựa chọn giống triển vọng, phù hợp với điều kiện địa phương để khuyến cáo mở rộng diện tích gieo cấy ở vụ xuân 2009 và các vụ tiếp theo

- So sánh hiệu quả kinh tế của giống lúa chất lượng so với giống đối chứng

Trang 14

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Xác định đặc tính nông học, năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu với một số loại sâu, bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất lợi (rét, hạn), chống đổ… của các giống lúa thí nghiệm

- Kết quả nghiên cứu khả năng thích ứng của các giống lúa triển vọng tại Tuyên Quang năm 2008 là cơ sở khoa học quan trọng để giới thiệu giống mới và xây dựng biện pháp kỹ thuật canh tác lúa chất lượng cao cho sản xuất, giúp sản xuất của địa phương tránh được thiệt hại do sử dụng giống và biện pháp kỹ thuật không phù hợp

- Việc đưa thêm vào sản xuất những giống lúa mới sẽ góp phần làm phong phú cơ cấu giống lúa tại địa phương

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Lựa chọn được các giống lúa có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu tốt, góp phần mở rộng diện tích các giống lúa chất lượng cao làm tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích

- Thay đổi cơ cấu giống lúa phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vừa thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, vừa là nhân tố làm ổn định an ninh lương thực và bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn

- Việc ứng dụng thành công giống lúa có chất lượng, không những đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng hiện nay của người dân địa phương mà còn thoả mãn được nhu cầu sử dụng gạo chất lượng cao cho phát triển du lịch tại khu vực thuỷ điện Tuyên Quang, Suối khoáng Mỹ Lâm, Tân Trào lịch sử đang được tỉnh quan tâm đẩy mạnh và nhu cầu tiêu dùng của một số tỉnh lân cận

Trang 15

Chương I

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học

Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng của khoảng 3 tỷ người trên thế giới Trong khi dân số thế giới tiếp tục tăng thì diện tích đất dùng cho trồng lúa không những không tăng mà còn đang bị suy giảm Do đó, vấn đề lương thực được đặt ra như mối đe dọa đến an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai Theo dự đoán của các chuyên gia dân số học, nếu dân số thế giới tiếp tục tăng trong vòng 20 năm tới thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng đủ nhu cầu sống còn của số dân mới

Thực tế trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn trong việc nâng cao sản lượng lương thực để vừa cung cấp đủ lương thực cho nhân dân trong nước, vừa góp phần cùng với cộng đồng quốc tế đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu

Giống lúa có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực, là tiền

đề để tăng năng suất và sản lượng lúa gạo, góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập cho người trồng lúa, đồng thời ổn định an ninh lương thực Công tác giống được chú trọng phát triển cùng với các biện pháp kỹ thuật và khả năng đầu tư sẽ làm cho nền nông nghiệp nước ta phát triển nhanh chóng

cả về số lượng và chất lượng nông sản

Giống lúa mới được coi là tốt phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ Muốn phát huy hết tiềm năng năng suất của giống tốt đó phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu, kinh tế xã hội của từng vùng sản xuất

Trang 16

Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau Xác định được một số giống tốt cho từng vùng sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi có thời gian Một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên diện rộng thì giống đó phải được trồng ở những vùng sinh thái khác nhau Việc làm đầu tiên là đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như điều kiện bất thuận và khả năng cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Tuyên Quang là tỉnh miền núi có tiểu vùng khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi phía Bắc, có hai mùa rõ rệt Hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh, giao thông khá thuận lợi, trình độ dân trí ngày được nâng cao, khả năng tiếp cận, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất khá nhanh, thuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canh sản xuất các giống lúa chất lượng cao tham gia vào thị trường Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp tại Tuyên Quang tăng trưởng rõ nét cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo.Với diện tích tuy không lớn, đứng thứ bốn mươi bốn so với cả nước và đứng thứ năm trong vùng trung miền núi phía Bắc, nhưng do làm tốt việc cải tiến các khâu kỹ thuật từ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật thâm canh mới về giống, bón phân cân đối, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi…nên năng suất lúa của Tuyên Quang đạt cao nhất so với các tỉnh trong vùng trung du miền núi phía Bắc, đồng thời cao hơn bình quân chung của các tỉnh miền Bắc và của cả nước Sản lượng lúa năm 2008 đạt trên 255 ngàn tấn, đứng thứ tư trong vùng sau Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ Do ứng dụng nhanh các giải pháp kỹ thuật đã góp phần đưa năng suất lúa tăng từ 37,02tạ/

ha năm 1996 lên 56,7tạ/ha năm 2008, lương thực bình quân đầu người tăng từ

Trang 17

231kg/ người năm 1996 lên 430kg/ người năm 2008 (Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang, 2009)[18]

Hiện nay, diện tích gieo cấy lúa của Tuyên Quang ổn định khoảng 45.000ha Năm 1996, diện tích gieo cấy lúa là 40.508 ha, do làm tốt công tác thuỷ lợi, kiên cố kênh mương nên diện tích gieo cấy lúa đạt cao nhất là 47.054

ha vào năm 2003, sau đó giảm dần do xây dựng công trình thuỷ điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang và một phần diện tích lúa có hiệu quả thấp chuyển đổi sang trồng cây khác Đến năm 2008, diện tích gieo cấy lúa là 45.000 ha

Với chủ trương mở rộng diện tích gieo cấy lúa lai và cải tiến bộ giống lúa thuần nên năng suất lúa trung bình của tỉnh Tuyên Quang đã tăng từ 37,02 tạ/ha năm 1996 lên 56,7 tạ/ha năm 2008, từ đó góp phần quan trọng trong việc tăng nhanh sản lượng lương thực của tỉnh Năm 1996, diện tích gieo cấy lúa lai của tỉnh mới chiếm 15 % tổng diện tích, đến năm 2008 diện tích gieo cấy lúa lai đã tăng lên 50% diện tích toàn tỉnh

Những năm trước đây, các giống lúa thuần CR203, Ải 32, Ải Mai Hương, S96, Bao thai…được gieo trồng phổ biến Đây là những giống lúa đã

cũ, khả năng chống chịu sâu bệnh hạn chế, đã sử dụng trong nhiều năm nên giống bị thoái hoá, năng suất, chất lượng thấp Từ năm 1998 đến nay, tỉnh Tuyên Quang đã tập trung cải tiến bộ giống lúa thuần, đưa một số giống có năng suất cao, chất lượng tốt như Khang dân 18, Q5, HT1, TBR1…vào cơ cấu giống đã góp phần tăng năng suất lúa thuần từ 33,52 tạ/ha vào năm 1996 lên 51,9 tạ/ha vào năm 2008

Nhìn chung so với cả nước, năng suất lúa của tỉnh Tuyên Quang khá cao, năm 2008 năng suất lúa bình quân của tỉnh đạt 56, 7tạ/ha, cao hơn trung bình cả nước 5,8 tạ/ha, đứng đầu các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc, cao hơn bình quân các tỉnh trong vùng 10tạ/ha…Có được kết quả như vậy là

do các cấp, các ngành của tỉnh đã thường xuyên quan tâm, hướng dẫn, đôn

Trang 18

đốc chỉ đạo cải tiến các khâu kỹ thuật đồng bộ như giống, thời vụ, phân bón, biện pháp canh tác… Việc chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu giống, từ gieo cấy lúa thuần năng suất thấp sang gieo cấy lúa lai và lúa thuần năng suất cao, đồng thời chuyển đổi cơ cấu giống lúa từ năng suất cao sang chất lượng tốt đáp ứng như cầu tiêu dùng được các vùng trọng điểm lúa của tỉnh và bà con nông dân đồng tình hưởng ứng Năm 2005, diện tích gieo cấy lúa thuần chất lượng của

cả tỉnh chỉ khoảng gần 100 ha, chủ yếu tập trung ở thị xã Tuyên Quang, một

số xã của huyện Yên Sơn thì đến năm 2008 đã là 2.000 ha và chỉ trong vụ xuân năm 2009 đã tăng lên 1600 ha Bước đầu hình thành các vùng sản xuất lúa chất lượng như: Hưng Thành, Ỷ La, An Tường (thị xã Tuyên Quang), Minh Hương, Phù Lưu, thị trấn Tân Yên (huyện Hàm Yên), Hoàng Khai, Kim Phú, Nhữ Hán, Mỹ Bằng (huyện Yên Sơn), Tân An, Phúc Thịnh, Tân Thịnh (huyện Chiêm Hoá)…đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất Các giống chất lượng mới chỉ tập trung vào giống lúa Hương thơm số 1

và một ít diện tích Bắc thơm số 7 và Hương cốm Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào ở trong tỉnh đề cập đến hiệu quả và những hạn chế của các giống lúa này, đồng thời cũng cần bổ sung một số giống lúa mới chất lượng cao vào sản xuất nhằm đa dạng cơ cấu giống lúa chất lượng cao góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế từ sản xuất lúa

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa và tiêu thụ gạo trên thế giới

Lúa là một trong những cây ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua một quá trình biến đổi và chọn lọc từ cây lúa dại thành cây lúa ngày nay Hiện nay, trên thế giới có 114 nước trồng lúa và phân bố ở tất cả các châu lục, trong đó, châu Phi có 41 nước trồng lúa, châu Á có 30 nước, Bắc Trung Mỹ có 14 nước, Nam Mỹ có 13 nước, châu Âu có 11 nước, châu Đại Dương có 5 nước Tổng diện tích thu hoạch là 156,9 triệu ha, năng suất lúa bình quân đạt 41,5

Trang 19

tạ/ha Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng cũng như lượng sản xuất ra Trong đó

Ấn Độ là nước có diện tích thu hoạch lúa lớn nhất (khoảng 43 triệu ha), tiếp đến là Trung Quốc khoảng 29 triệu ha(FAOSTAT, 2008) [27]

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa

của Thế giới giai đoạn 1961 - 2007

Trang 20

chậm dần Điều đó có thể lý giải là do giai đoạn từ 1961 - 2000, những tác động tích cực của cuộc Cách mạng xanh về giống lúa, kỹ thuật canh tác lúa có nhiều cải tiến, phân hoá học và thuốc trừ sâu, bệnh được sử dụng phổ biến

Vào cuối thế kỷ XX và đầu những năm của thế kỷ XXI, do nhận thức được những tác động không có lợi của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hoá học nên người ta có xu hướng hạn chế sử dụng các chất hoá học tổng hợp trong thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất lượng hơn là số lượng làm cho năng suất lúa có xu hướng chững lại hoặc tăng không đáng kể Tuy nhiên, ở những nước

có nền khoa học kỹ thuật và kinh tế phát triển, năng suất lúa vẫn cao hơn

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước

có sản lượng lúa hàng đầu Thế giới năm 2007

Tên nước (Triệu ha) Diện tích Năng suất (Tạ/ha) (Triệu tấn) Sản lượng

(Nguồn: FAO STAT, 2008) [27]

Trong 10 nước trồng lúa (bảng 1.2) có sản lượng nhiều nhất Thế giới,

đã có 9 nước nằm ở châu Á, chỉ có một đại diện của châu Mỹ đó là Braxin (Nam Mỹ) Trung Quốc và Nhật Bản là 2 nước có năng suất cao vượt trội, đạt 63,41 tạ/ha (Trung Quốc) và 65,37 tạ/ha (Nhật Bản) Điều đó có thể lý giải là

Trang 21

vì Trung Quốc là nước đi đầu trong lĩnh vực phát triển lúa lai và người dân nước này có tinh thần lao động cần cù, có trình độ thâm canh cao Còn Nhật Bản là nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao, đầu tư lớn (Nguyễn Hữu Hồng, 1993) [12] Việt Nam là nước có năng suất lúa cao đứng hàng thứ 3 trong 10 nước trồng lúa chính, đạt 48,68 tạ/ha Thái Lan tuy là nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới trong nhiều năm liên tục, song năng suất chỉ đạt 26,91 tạ/ha, bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến canh tác các giống lúa dài ngày, chất lượng cao (Bùi Huy Đáp, 1999) [9]

Theo dự báo của các nhà khoa học thì sản lượng lúa sẽ tăng chậm và có

xu hướng chững lại vì diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp do tốc độ đô thị hoá gia tăng Giá lúa tăng chậm trong khi đó giá vật tư đầu vào tăng cao không khuyến khích nông dân trồng lúa, hệ số sử dụng đất ruộng khó có thể tăng cao hơn nữa, nông dân chuyển diện tích trồng lúa sang trồng các cây khác và nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang trồng các giống lúa có chất lượng cao mặc dù năng suất thấp hơn

Theo Bộ Nông nghiệp & PTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNN, 2008) [3], thị trường xuất nhập khẩu gạo trên Thế giới trong thời gian gần đây như sau:

- Xuất khẩu: Giai đoạn 1995-2004, lượng gạo xuất khẩu trên Thế giới hàng năm khoảng 23- 25 triệu tấn/năm (chiếm trên 6% tổng sản lượng gạo), bình quân tăng 3%/năm Năm 2007, mức xuất khẩu gạo đạt mức 30,2 triệu tấn (tăng 3,4% so với năm 2006) Châu Á chiếm 77% lượng gạo xuất khẩu của Thế giới Có trên 20 nước tham gia xuất khẩu gạo, trong đó 7 nước xuất khẩu gạo chủ lực gồm: Thái Lan, Việt Nam, Mỹ, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Myanma chiếm 85% tổng khối lượng gạo xuất khẩu trên toàn Thế giới

- Nhập khẩu: Hiện nay có khoảng 80 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu gạo, trong đó chủ lực là các nước thuộc châu Á như: Philippin, Inđônêxia, Banglades; khu vực châu Phi, Trung Đông và một số các nước thuộc khu vực Trung Mỹ nhập khẩu lượng gạo khá lớn

Trang 22

- Giá gạo thị trường Thế giới: Giai đoạn 1995-2000 diễn biến trong khoảng 220-250 USD/tấn (loại 25% tấm); giai đoạn 2001-2005 giá gạo thế giới xuống thấp dao động trong khoảng 160-200 USD/tấn Từ 2006 trở lại đây giá gạo liên tục tăng, đặc biệt vào cuối 2007 đầu năm 2008 giá gạo tăng kỷ lục do nguồn cung bị hạn chế, giá gạo giao dịch trên thị trường thế giới đã đạt trong khoảng 800 - 1.000 USD/tấn Hiện nay giá gạo đã giảm xuống còn khoảng 450-500 USD/tấn FBO loại 5% tấm Theo dự báo giá gạo sẽ tăng trong thời gian tới

Dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới đến năm 2020 (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2008) [3]:

- Trong 10 năm tới, sản xuất lúa gạo trên Thế giới tăng chậm do hạn chế việc mở rộng diện tích gieo cấy, một số nước có diện tích lúa lớn có xu hướng giảm và năng suất lúa kém ổn định khi phải chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh và giá vật tư, phân bón tăng

+ Diện tích sản xuất lúa: Trong 10 năm tới, dự báo diện tích trồng lúa

sẽ không có khả năng tăng nhiều và ở mức khoảng 151,5 triệu ha Hầu hết các nước châu Á đều không có hoặc có rất ít khả năng mở rộng diện tích đất trồng lúa Một số nước như Thái Lan, Inđônêxia, Tiểu vùng Sahara của châu Phi có thể mở rộng một phần diện tích trồng lúa nhưng cũng chỉ bù vào phần diện tích đất lúa sẽ bị thu hẹp của các nước có diện tích lớn như Trung Quốc, Ấn

Độ do thiếu nguồn nước và nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích khác Mặt khác, theo dự báo biến đổi khí hậu và nguy cơ mực nước biển dâng cao sẽ dẫn đến một phần diện tích đất nông nghiệp vùng ven biển, chủ yếu là đất trồng lúa sẽ bị ngập hoặc nhiễm mặn

+ Về sản lượng gạo: Nếu không có những đột biến về thiên tai và sâu bệnh hại trên quy mô lớn, sản lượng gạo tăng bình quân khoảng 0,6%/năm, đạt mức khoảng 440,2 triệu tấn vào năm 2017 Yếu tố để tăng sản lượng gạo

Trang 23

trong 10 năm tới chủ yếu là tăng năng suất dựa trên cơ sở phát triển thủy lợi,

áp dụng giống tốt và cải tiến kỹ thuật canh tác lúa Tuy nhiên, việc thâm canh tăng năng suất lúa phụ thuộc nhiều vào nỗ lực của Chính phủ các nước trong việc đầu tư phát triển thủy lợi, sản xuất và cung ứng đủ nguồn phân bón, vật

tư sản xuất khác

- Tiêu dùng gạo trên thế giới tiếp tục tăng do tăng dân số, đặc biệt ở châu Á, châu Phi là khu vực sử dụng nhiều lúa gạo, khu vực Tây bán cầu và Trung Đông tăng mức tiêu thụ gạo trên đầu người

+ Nhu cầu gạo trong 10 năm tới của Thế giới tăng bình quân 0,6%/ năm và dự kiến tổng mức tiêu dùng gạo khoảng 441,2 triệu tấn năm 2017, trong đó: Gạo dùng làm lương thực khoảng 406,8 triệu tấn (92,2%), gạo dữ trữ có xu hướng giảm chỉ còn khoảng 72,7 triệu tấn và giảm 4,5 triệu tấn so với hiện nay

+ Trong giai đoạn 2007 - 2017, tiêu dùng gạo thế giới tăng phần lớn là

do nhu cầu nhập khẩu tăng ở Ấn Độ, Inđônêxia, Bangladesh, Philippin và Tiểu vùng Sahara của châu Phi (chiếm khoảng 2/3 mức tăng cầu toàn thế giới), một

số nước Tây bán cầu tăng lượng gạo nhập khẩu như: Braxin, Cu Ba

- Nhiều quốc gia xuất khẩu gạo lớn sẽ giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so với cầu, giá gạo trên thị trường Thế giới giữ ở mức khá cao Dự báo lượng gạo thương mại trên Thế giới trong thập kỷ tới sẽ tăng bình quân 2,4%/ năm

và sẽ đạt mức 35 triệu tấn vào năm 2017 Tuy nhiên, trước nguy cơ khủng hoảng lương thực toàn cầu, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, một

số nước như Trung Quốc, Ấn độ, Pakistan, Mỹ giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhiều nước tăng lượng nhập khẩu như Philippin, Inđônêxia, Bangladesh và Tiểu vùng Sahara của châu Phi, Trung Đông, một số nước Tây bán cầu thiếu hụt nguồn cung sẽ làm cho giá gạo thế giới duy trì giữ ở mức cao trong trung và dài hạn

Trang 24

Phát biểu với các nhà lãnh đạo Thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh lương thực vào tháng 6 năm 2008 ở Rome (Italia), Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-Moon cho rằng: Lương thực của Thế giới cần phải tăng thêm 50% vào năm

2030 mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng lương thực do dân số gia tăng [8]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa trên Thế giới

Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, có khả năng thích nghi rộng nên có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và được trồng ở nhiều nơi trên Thế giới Mặc dù đến nay vẫn còn nhiều bất đồng về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa nhưng đa số ý kiến đều cho rằng tổ tiên cây lúa có nguồn gốc ở khu vực Vân Nam (Trung Quốc) và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Các tiêu bản lúa dại và di chỉ khảo cổ đã chứng minh điều đó Việt Nam có vinh

dự được coi là cái nôi của nền văn minh lúa nước với lịch sử 4 nghìn năm

1.2.2.1 Thu thập nguồn gen cây lúa và ứng dụng trong sản xuất

Từ những năm đầu của thế kỷ trước, trên Thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung và nguồn gen cây lúa nói riêng Ở Liên

Xô (cũ), ngay từ những năm 1924 Viện nghiên cứu cây trồng đã được thành lập, nhiệm vụ chính của Viện là thu nhập và đánh giá bảo tồn nguồn gen cây trồng Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Thế giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra phương hướng thúc đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho việc giữ gìn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại Trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế, đảm nhận việc thu thập tập đoàn giống trên Thế giới đồng thời cung cấp nguồn gen để cải tạo giống lúa trồng (Trần Đình Long 1992) [16]

Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) thành lập năm 1960 đến năm 1962

đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa, năm 1977 chính thức khai trương ngân hàng gen, tại đây đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên Thế giới trong bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó có các giống lúa trồng ở châu Á (O.sativa) chiếm đến 95% (Gomez, KA 1995) [29]

Trang 25

Với nguồn tài nguyên phong phú, cùng với đội ngũ các nhà khoa học giầu trí tuệ và những phương tiện nghiên cứu hiện đại IRRI đã thực hiện được vai trò trung tâm trong cuộc cách mạng xanh, đã góp phần thúc đẩy việc sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trồng lúa ở trên Thế giới IRRI đã có quan hệ chính thức với Việt Nam ta từ năm 1975 trong chương trình thí nghiệm giống quốc tế trước đây và hiện nay là chương trình đánh giá nguồn gen cây lúa Trong quá trình hợp tác, Việt Nam đã nhập được 279 tập đoàn lúa gồm hàng ngàn mẫu giống, mang nhiều đặc điểm sinh học tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ, nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt (Shen,J.H, 2000) [32]

Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt được gieo trồng phổ biến trên Thế giới Các giống lúa IR8, IR5, IR6, IR30 và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất Các viện khác như IRAT, EAT, ICRISAT cũng đã chọn lọc ra nhiều những giống lúa tốt phục

vụ sản xuất

Đến nay, người ta đã ứng dụng rất thành công ưu thế lai trong sản xuất lúa Trong lịch sử phát triển lúa lai, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế này Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình

kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3 dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975 Năm 1996, Trung Quốc lại thành công với qui trình sản xuất lúa lai "2 dòng" Chiến lược nghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ XXI là phát triển lúa lai "2 dòng", tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai “1 dòng" và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước

Trang 26

Ở Thái Lan, từ năm 1950 đã thu nhập và làm thuần một số giống lúa địa phương, đưa các giống lúa cổ truyền vào trồng ở miền Nam và miền Bắc của nước này Hiện nay nước này vẫn đang nghiên cứu và sử dụng rất nhiều các giống lúa được chọn tạo từ các giống lúa cổ truyền nên chất lượng lúa của Thái Lan thường đứng đầu Thế giới

Ở Nhật Bản việc tạo ra nhiều giống đã tạo được bước nhảy vọt về năng suất lúa Các nhà khoa học Nhật Bản đã tạo được giống lúa có tên Tomoaky Sakamoto có bộ lá cứng, tiêu tốn ít phân bón nhưng năng suất lại có thể tăng đến 30% so với giống cũ

Ở Mỹ, năm 1926 J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan Có hai người tham gia vào đề xuất vấn đề sản xuất lúa lai thương phẩm là Stansent va Craiglules

Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triển thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng Các giống này không phải là biến đổi gen và có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta - carotene và Anthocyaninsn, một chất chống ôxy hoá Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm để kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học

Một số nước có tốc độ thay đổi giống lúa mới khá nhanh như Philippine 20,6%, Hàn Quốc 16,1%, Ấn Độ 13,5%, Thái Lan 6,7% Nhu cầu ngày càng tăng về giống lúa không những về số lượng và còn cả về chất lượng

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lượng trên Thế giới

Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất quan trọng không kém gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào cả Vì thế, việc nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống đã được các nhà khoa học, các viện nghiên cứu và các trường đại

Trang 27

học nông nghiệp ưu tiên hàng đầu Vào đầu những năm 1960, Viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin Sau đó nhiều viện nghiên cứu nông nghiệp Quốc tế khác cũng được thành lập

ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau như IRAT, CIAT, ICRISAT (IRRI, 1997) [30] Tại các viện này việc chọn lọc và lai tạo các giống lúa cũng được ưu tiên hàng đầu Chỉ tính riêng Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) cũng đã lai tạo và đưa ra sản xuất hàng nghìn giống lúa các loại, trong

đó tiêu biểu là các giống lúa như: IR5, IR6, IR8, IR30, IR34, IR64, Jasmin Đặc biệt là hai giống IR64 và Jasmin là những giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên Thế giới, trong đó có Việt Nam Hiện nay, IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/vụ, đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu vitamin A, giàu Protein, giàu Lisine, có mùi thơm ) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, dinh dưỡng cho cơ thể, vừa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada, E.C, 1997) [25]

Trung Quốc là một nước trồng lúa lâu đời và có số dân đông nhất Thế giới nên công tác giống đã được đặc biệt chú trọng Vào những năm 1960,

1970 của thế kỷ trước, Trung Quốc đã cho ra đời hàng loạt các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt như: Đoàn kết, Bao Thai, Chân Châu Lùn, Mộc Tuyền Các giống này cũng đã nhập vào Việt Nam và cho tới nay vẫn được một số địa phương gieo trồng vì chất lượng gạo tốt, phù hợp với điều kiện gieo trồng và đất đai của địa phương Bước vào đầu những năm 1970, Trung Quốc đã thử nghiệm và lai tạo thành công các giống lúa lai 3 dòng và gần đây là các giống lúa lai 2 dòng có đặc tính ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh Có thể nói Trung Quốc là nước đi

Trang 28

tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng lúa lai ra sản xuất đại trà Nhờ đó đã làm tăng năng suất, sản lượng lúa của Trung Quốc lên gấp đôi trong vòng 3 thập kỷ qua, góp phần không chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho hơn 1,3 tỷ dân trong nước, mà còn thừa để xuất khẩu Các giống lúa lai

có chất lượng như: Bồi Tạp Sơn Thanh, Nghi Hương 2308, Xuyên Hương rất nổi tiếng ở Trung Quốc và ở các nước láng giềng (Lin, SC 2001) [28]

Ấn Độ là một nước trồng lúa với diện tích đứng đầu Thế giới và cũng

là một nước đi đầu trong cuộc Cách mạng xanh về cải tiến giống lúa vào những năm 60-70 của thế kỷ trước Viện nghiên cứu giống lúa Trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa đóng vai trò đầu tầu trong việc nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ cho sản xuất Ngoài ra, tại các bang của Ấn Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong

đó các cơ sở quan trọng ở Madras heydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu cây trồng cạn Á nhiệt đới (ICRISAT) Ấn Độ cũng là nước có những giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như: Basmati, Brimphun trong đó giống lúa Basmati có giá trị trên thị trường tới 850 USD/ tấn, trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng trên Thế giới cũng chỉ có giá trị 460 USD/tấn (ICARD, 2003) [13] Một trong những giống lúa chất lượng cao do các nhà khoa học Ấn Độ chọn tạo thành công được nhập về Việt Nam là giống BTE-1 và BIO.404 giống này đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt Nam công nhận năm 2007 và năm 2008, hiện đang được nhiều địa phương

mở rộng diện tích gieo trồng

Nhật Bản là một trong 10 nước trồng lúa có sản lượng hàng đầu thế giới, tuy diện tích trồng lúa không lớn, điều đó được lý giải là do năng suất lúa của Nhật Bản cao nhất Thế giới Ở Nhật Bản chỉ trồng lúa 1 vụ/năm, việc gieo trồng lúa được tiến hành trong những điều kiện thuận lợi nhất Công tác

Trang 29

nghiên cứu và sản xuất giống lúa của Nhật Bản được đặc biệt chú trọng vì người Nhật Bản giàu có, ăn ít cơm nên đòi hỏi cơm phải ngon, còn giá bán có cao thì họ vẫn chấp nhận Thực tế giá gạo tại Nhật Bản vào loại cao nhất Thế giới, từ 5 - 10 USD/kg Để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng cao của người dân, các Viện và các Trạm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở hầu hết các tỉnh của Nhật Bản, trong đó có các trung tâm quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka, Kochi, Miyazaki, Sags là những nơi diện tích trồng lúa lớn Các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã lai tạo và đưa ra các giống lúa vừa

có năng suất cao, lại vừa có phẩm chất tốt như: Koshihikari, Sasanisiki, Nipponbare, Koenshu, Minamisiki đặc biệt Giáo sư, Tiến sỹ E Tsuzuki đã lai tạo được 2 giống lúa đặt tên là Miyazaki 1 và Miyazaki 2 Giống Miyazaki

1 là kết quả lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai Koshihikari và Brimphun của Ấn

Độ Đây là giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao, có giá trị bán cao trên thị trường Giống Migazaki 2 là kết quả lai tạo giống Nipponbare và một giống lúa khác của Ấn Độ, giống này có hàm lượng Lysin cũng rất cao (Nguyễn Hữu Hồng, 1993) [12]

Thái Lan là nước xuất khẩu gạo hàng đầu Thế giới Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Nhiệm vụ của các cơ sở này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốt phục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng 1 vụ/năm), hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam Theo hướng này,

Trang 30

Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chất lượng nổi tiếng Thế giới, trong đó phải

kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin (Hương nhài) Các giống này cũng được gieo trồng ở Việt Nam và một số nước khác

Ở khu vực Đông Á còn có các nước trồng lúa quan trọng khác như: Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan Các giống lúa ở đây thuộc loại hình Japonica, có hạt gạo tròn, cơm dẻo và chất lượng cũng rất tốt Các giống lúa nổi tiếng của khu vực này là Tongil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang changi, Đee - Geo - Woo - Gen (Đài Loan) đặc biệt giống Đee - Geo-Woo-Gen là một trong những vật liệu khởi đầu để tạo ra giống IR8 nổi tiếng một thời (Hoang, CH, 1999) [26]

Inđônêxia là nước đứng thứ 4 trên thế giới về diện tích trồng lúa Đây cũng là nước có rất nhiều giống lúa chất lượng cao, có nguồn gốc bản địa hoặc được lai tạo Các giống lúa chất lượng cao của Inđônêxia thường dẻo, có mùi thơm Các giống lúa chất lượng nổi tiếng của nước này là Peta, BenWan, Sigadis, Synthe, Pelita1-1 và Pelita1-2 (IRRI, 1997) [30]

1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở trong nước

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trong nước

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng bức xạ mặt trời cao và đất đai phù hợp nên có thể trồng được nhiều vụ lúa trong năm và với nhiều giống lúa khác nhau Sản xuất lúa gắn liền với sự phát triển nông nghiệp, theo tài liệu khảo cổ học cho thấy lúa được trồng ở nước ta cách đây 2.000 - 3.000 năm trước Công nguyên

Hiện nay, Việt nam là một nước trồng lúa trọng điểm trên Thế giới, người Việt Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của đất nước mình Từ xa xưa, cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa

Trang 31

quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999)[9] Suốt từ Bắc đến Nam, đâu đâu cũng thấy người dân trồng lúa, song diện tích tập trung chủ yếu ở hai vùng châu thổ lớn đó là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Quá trình khai hoang, phục hoá, hệ thống tưới tiêu được đầu tư, nâng cấp, cùng với việc thâm canh tăng vụ đã đưa tổng diện tích lúa thu hoạch của nước ta từ 4,74 triệu ha năm 1961 lên 7,67 triệu ha năm 2000, sau đó giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm 2003 (Nguyễn Thị Lẫm và cộng sự 2003)[15] Cùng thời gian đó, năng suất và sản lượng lúa cũng tăng lên rõ rệt nhờ vào công cuộc cải cách về chính sách, chọn tạo giống lúa và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về phân bón, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh một cánh hợp lý, đồng bộ Tính từ năm 1961 đến năm

2005, năng suất lúa của nước ta đã tăng lên 2,8 lần Giai đoạn tăng cao nhất

là từ thập kỷ 80 đến nay Điều này gắn liền với các tiến bộ mới trong thâm canh tăng năng suất lúa được ứng dụng rộng rãi, trong thời gian này và điều quan trọng hơn là việc chuyển đổi cơ chế quản lý, từ hợp tác xã sang tư nhân hoá (khoán 10), lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã khuyến khích người nông dân đầu tư, thâm canh sản xuất lúa Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế mà tăng liên tục từ 9,0 triệu tấn năm 1961 lên 38,7 triệu tấn năm

2008 (bảng 1.3) Từ một nước thiếu ăn, phải nhập khẩu gần 2 triệu tấn gạo/năm trước đây, Việt Nam đã vươn lên giải quyết an ninh lương thực cho hơn 80 triệu dân, ngoài ra còn xuất khẩu một lượng gạo lớn ra thị trường Thế giới Những năm gần đây, nước ta luôn đứng hàng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) về lượng gạo xuất khẩu (đạt 5,25 triệu tấn năm 2005) và sẽ

ổn định vào những năm tiếp theo Đây là thành công lớn trong công tác chỉ đạo và phát triển sản xuất lúa của Việt Nam

Trang 32

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam

Trang 33

Nhìn chung, ngành sản xuất lúa của nước ta đến nay đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên, một điều đáng chú ý là trong những năm gần đây, ngược lại với quá trình khai hoang phục hoá trong mấy thập kỷ trước thì quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã và đang làm giảm đáng kể diện tích đất nông nghiệp nói chung và đất sản xuất lúa nói riêng Vì thế, mặc dù việc đầu thâm canh tăng vụ rất được chú trọng, song tổng diện tích lúa thu hoạch hàng năm trong khoảng thời gian từ 2001 - 2007 đang giảm dần, tính trung bình mỗi năm nước ta mất 59.000 ha diện tích đất lúa (Báo Quân đội nhân dân online ngày 21/8/2009)

Ngoài ra, nếu so sánh với các nước trồng lúa tiên tiến như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thì năng suất lúa của Việt Nam vẫn còn kém

xa (Itoh và cộng sự, 2000) [31] Vì thế để đảm bảo an ninh lương thực cho một quốc gia đông dân cư như nước ta và giữ vững vị thế là một nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu Thế giới thì điều kiện cần thiết là phải tiếp tục đầu tư thâm canh tăng vụ, lai tạo và nhập khẩu các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt với sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi Đồng thời có quy định chặt chẽ để hạn chế đến mức thấp nhất việc lấy đất trồng lúa để xây dựng khu công nghiệp và khu dân cư

Trước đây, nước ta chủ yếu chú trọng về số lượng nhằm nhanh chóng giải quyết sự thiếu hụt về lương thực, đến nay, khi đã cơ bản giải quyết vấn đề

an ninh lương thực và có dư thừa xuất khẩu với số lượng lớn trong 20 năm liên tục (tính đến năm 2009) thì cần quan tâm đến vấn đề chất lượng lương thực cho tiêu dùng và cả cho xuất khẩu Hiện nay, thị trường xuất khẩu gạo đang mở rộng do Việt Nam đã là là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và uy tín lúa gạo Việt Nam trên thị trường Thế giới được cải thiện Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế Thế giới và khu vực, bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị

Trang 34

trường xuất khẩu Trong khi đó nhu cầu gạo trên thị trường Thế giới và khu vực 5 năm tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng Việt Nam và các nước như Thái Lan, Inđônêxia, philippin, Nhật Bản đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo giữa các nước trên thị trường Thế giới

Theo phân tích mới đây của FAO, khủng hoảng tài chính toàn cầu đã buộc các nước phải tăng cường dự trữ lương thực để phòng tránh rủi ro và điều đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động xuất khẩu gạo của các nước, trong đó có Việt Nam

FAO dự báo trong năm 2009, giá gạo không tăng đột biến như năm

2008 nhưng vẫn tiếp tục ở mức cao Đối với gạo Việt Nam, giá mua cũng sẽ tăng lên, song mức tăng không cao bằng năm 2008

Bên cạnh đó, FAO cũng dự đoán rằng sản lượng lương thực trong năm nay nhìn chung sẽ tăng lên và điều này sẽ tạo ra sức cạnh tranh khốc liệt giữa các nước xuất khẩu gạo

Điều kiện cơ bản của sản xuất lúa đến năm 2010 của Việt Nam là: Đất, nước, phân bón, giống, khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ gạo khá đảm bảo Sản lượng phân bón sản xuất trong nước đang tăng dần do các nhà máy sản xuất phân bón như Phú Mỹ, DAP Hải Phòng đã đi vào hoạt động Công trình khí-điện-đạm Cà Mau đi vào vận hành ổn định cùng với các nhà máy phân lân, supe phôt phát tăng công suất đảm bảo ổn định nguồn cung cấp trong nước Ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống mới vào sản xuất để thực hiện các biện pháp thâm canh lúa nhằm tăng năng suất và chất lượng, giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo trên thị trường Tổ chức quản lý nông nghiệp không ngừng đổi mới và hoàn thiện theo hướng phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân, tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước, phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu gạo trong thời kỳ hội nhập Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế

Trang 35

giới và khu vực, bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội

để mở rộng thị trường xuất khẩu Những năm gần đây, Hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan và Việt Nam đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo giữa 2 nước trên thị trường Thế giới và khu vực, vì vậy cũng tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi nước

Thách thức với Việt Nam là thành viên của WTO nên thị trường nông sản nói chung, thị trường lúa gạo Việt Nam nói riêng sẽ mở rộng cửa cho hàng nhập khẩu từ các nước Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của Nhà nước đối với sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ dần hạn chế và tiến tới bãi bỏ Gạo Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan…và các nước khác có chất lượng cao, giá rẻ hơn sẽ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không đáng kể (94% hàng hoá Mỹ nhập vào Việt Nam hưởng thuế suất 15%, trong đó hàng lương thực gạo, ngô không đáng kể) Do đó, lúa gạo Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến gạo của ta còn lạc hậu

Dân số Việt Nam vẫn tăng nhanh, trong khi quỹ đất dành cho trồng lúa

có hạn, năng suất lúa nhiều vùng, nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng đã chạm trần nên khả năng tăng năng suất là khó khăn Trong khi đó tập quán sản xuất nhỏ, quy mô hộ gia đình, tự cung tự cấp, chạy theo năng suất, xem nhẹ chất lượng gạo vẫn phổ biến trong hầu hết các hộ trồng lúa của các vùng, trình độ dân trí, khoa học công nghệ, kiến thức thị trường của nông dân trồng lúa vẫn còn thấp

Do diện tích đất lúa giảm nên diện tích gieo trồng lúa liên tục giảm từ năm 2001 đến nay: Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích gieo trồng lúa cả năm 2008 đạt 7,4 triệu ha, so với năm 2000 giảm 446 nghìn ha, bình quân giảm 66.000 ha (0,81%)/năm Diện tích gieo trồng lúa giảm nhiều từ năm 2003 trở lại đây, bình quân giai đoạn từ 2003-2007 đạt 7,367 triệu ha,

Trang 36

giảm 88 nghìn ha so với giai đoạn 1997-2001 (1,1%) Các vùng có diện tích gieo trồng lúa giảm nhiều là vùng Đông Nam Bộ giảm 42 nghìn ha (9,2%), Duyên hải Nam Trung bộ giảm 33,6 nghìn ha (7,9%), Đồng bằng sông Hồng giảm 51 nghìn ha (4,2%), Đồng bằng sông Cửu Long giảm 52 nghìn ha (0,2%) Trong khi đó các vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên diện tích gieo trồng lúa tăng từ 11 đến 27% do tăng cường đầu tư thủy lợi Tính trên diện tích gieo trồng lúa giảm từ 2001- 2008, đã làm giảm sản lượng lúa mỗi năm khoảng trên 300 nghìn tấn lúa

Vì thế chiến lược sản xuất lúa của Việt Nam trong thời gian tới là: Phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là gần 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha để sản xuất lúa phục

vụ mục tiêu xuất khẩu, duy trì sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm từ 4-5 triệu tấn Để đạt mục tiêu này, một mặt chúng ta phải đẩy mạnh đầu tư (phân bón, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu, bệnh, thuỷ lợi, cơ giới hoá…) chuyển đổi cơ cấu giống theo hướng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với các loại sâu, bệnh hại chính Như vậy, việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các loại giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đặt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy động cả "4 nhà" (Nhà nước, Nhà Khoa học, Nhà nông và Nhà Doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới hy vọng đạt kết quả như mong muốn

Những giải pháp cơ bản để thúc đẩy xuất khẩu gạo đó là: Đưa vào gieo trồng đại trà những giống lúa mới phù hợp với thị hiếu của thị trường, tiến tới xây dựng vùng chuyên canh lúa cao cấp với sản lượng 1 triệu tấn/năm tại Đồng bằng sông Cửu Long Với một số loại gạo đã được khẳng định như gạo Chợ Đào ở Long An, Tám Xoan ở Bắc Bộ thì xây dựng thương hiệu độc quyền

Áp dụng qui trình canh tác, bảo quản sau thu hoạch tiên tiến, nâng cao kỹ thuật

và năng lực xay xát; tăng cường khả năng bốc xếp tại các cảng xuất khẩu

Trang 37

1.3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng giống lúa trong nước

1.3.2.1 Sự đa dạng di truyền lúa Việt Nam và khu vực Đông Nam Á

Ngày nay các nhà khoa học nhất trí thừa nhận trung tâm đa dạng di truyền của các loài lúa trồng ở châu Á, O.sativa nằm trên vùng địa lý kéo dài từ Nepan đến Bắc Việt Nam, do đó nguồn gen cây lúa Việt Nam rất phong phú

Theo Lưu Ngọc Trình (1996) [23], hiện nay chúng ta đang khai thác sử dụng khoảng 700 loài cây trồng, thuộc 70 chi thực vật Tại ngân hàng gen Quốc gia đã thu thập và bảo quản 6.000 giống lúa cổ truyền, dự kiến trong những năm tới con số này có thể lớn đến 10.000 giống

Đối với cây lúa do đặc điểm khí hậu thời tiết, sự đa dạng về địa hình,

đa dạng về thành phần dân tộc, nghề trồng lúa và những tập quán canh tác lâu đời của nhân dân ta, tạo nên sự đa dạng quỹ gen cây lúa Gần đây khi thảo luận việc bảo tồn sự đa dạng sinh học nông nghiệp, sự đa dạng về thành phần giống trong từng loài cây trồng còn gọi là sự đa dạng di truyền thường được

đa dạng hơn miền Bắc (Lưu Ngọc Trình và cộng sự, 1995) [22]

1.3.2.2 Thu thập nguồn gen cây lúa Việt Nam

Nghề trồng lúa đã có từ lâu đời, gắn với sự phát triển của dân tộc Việt Nam Từ bước sơ khai(đất được đắp bờ giữ nước, trồng lúa) nhiều giống lúa địa phương còn giữ cho đến ngày nay Sự phát triển của dân tộc Việt Nam về phía biển vào phía Nam gắn với sự phát triển những cánh đồng lúa nước Những cuộc khai hoang di dân lớn vào miền Nam, gắn với việc đào kênh mương lớn khai thác đồng bằng Nam bộ

Trang 38

Theo Bùi Huy Đáp (1999) [9] thời Pháp thuộc đã thành lập Cục Túc mễ Đông Dương, có nhiệm cụ đảm nhiệm nghiên cứu về cây lúa và triển khai kết quả nghiên cứu ra sản xuất, nhiệm vụ chủ yếu là thu thập các giống lúa ở các tỉnh rồi tiến hành các bước sau:

1- Lọc giống chọn ra những dòng tốt (EP)

2- Danh sách các dòng đã chọn được (CR)

3- Nhân giống hẹp (PM)

4- Nhân giống đại trà

Từ khi hoà bình lập lại, nước ta không ngừng thu thập và nghiên cứu để bảo tồn sự đa dạng di truyền nguồn tài nguyên cây lúa.Năm 1988, Viện Cây lương thực và thực phẩm đã thu thập được 3.691 mẫu cây lúa, trong đó có 3.186 mẫu thu từ 30 nước khác nhau trên thế giới và hơn 500 giống lúa địa phương Các mẫu giống được đánh giá các tính trạng và sắp xếp thành nhóm theo thời gian sinh trưởng như sau:

- Nhóm cực ngắn: Loại này có thời gian sinh trưởng từ 90 - 110 ngày gồm có 345 mẫu

- Nhóm ngắn ngày: Có thời gian sinh trưởng từ 110 - 120 ngày, nhóm này có 860 mẫu

- Nhóm trung ngày: Nhóm này có thời gian sinh trưởng 121 - 140 ngày, nhóm này có đến 1 684 mẫu

- Nhóm dài ngày: Nhóm này có thời gian sinh trưởng trên 140 ngày, ở nhóm này có 78 mẫu

Nghiên cứu về sử dụng quỹ gen cây trồng từ nguồn nhập nội, Trần Đình Long (1992) [16] đã khảo sát 53.124 mẫu giống cây trồng của 72 loài khác nhau, trong đó 47.970 mẫu nhập nội từ Liên Xô cũ, đã khảo sát đánh giá được 7.694 mẫu giống lúa, phía Bắc 5.629 mẫu, phía Nam 2.065 mẫu

Trang 39

Những mối đe doạ làm tổn hại nguồn gen cây lúa theo Lưu Ngọc Trình (1996) [23] trong vài chục năm trở lại đây do nhiều nguyên nhân khác nhau,

sự đa dạng của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng đã bị xói mòn đáng

kể, sự xói mòn đa dạng di truyền nguồn gen của cây lúa đó là:

- Sự xói mòn di truyền: Từ khi tiến hành hình thành nền sản xuất nông nghiệp đến nay con người đã thuần hoá một khối lượng vô cùng lớn các giống của nhiều loại cây khác nhau Khi Cách mạng xanh ra đời, người nông dân đã

sử dụng một số lượng lớn của các giống cải tiến có năng suất cao, thay thế vị trí của các giống cây địa phương đã tồn tại lâu đời trong sản xuất có nguồn gen quý nhưng năng suất không cao, kém chịu phân vô cơ (nhất là phân đạm) nên không sử dụng được trong sản xuất và cũng không tồn tại trong thực tế

- Sự tồn tại di truyền: Do việc thu hẹp tiềm năng di truyền của các giống sản xuất gây nên, đây là mối nguy cơ của nền nông nghiệp đầu tư thâm canh cao ở các nước phát triển Thực chất nền sản xuất nông nghiệp các nước phát triển trong thế kỷ qua từ đa canh chuyển sang độc canh, nhất là từ khi nền nông nghiệp sản xuất nhỏ thành nền sản xuất hàng hoá, từng khu vực chỉ

sử dụng một loại cây trồng có giá trị hàng hoá cao, mỗi loại có một số lượng giống ít ỏi, vì vậy đã dẫn đến nhiều thảm hoạ dịch bệnh gây nên, như ở nước

ta trong hơn 10 năm trở lại đây, ví dụ: Dịch dầy nâu gây hại vụ xuân năm

1986 - 1987 phá hoại nặng trên hai giống lúa đó là: NN8 và VN10 ở các tỉnh phía Bắc; dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá xảy ra trên diện rộng ở các tỉnh miền Nam năm 2006, 2007 và 2008

- Sự huỷ diệt di truyền, có những loài và giống cây mất hẳn đi, do những nguyên nhân sau:

+ Sự xáo trộn tổ chức dân cư, có trường hợp cả tập đoàn giống bị mất hẳn do việc thờ ơ sau những thay đổi về tổ chức nhân sự

Trang 40

+ Những biến động do chiến tranh, bạo loạn

+ Nguyên nhân đói kém mất mùa, nông dân ăn hết cả giống

Từ những nguyên nhân trên đây dẫn đến sự cạn kiệt về nguồn gen cây lúa ở Việt Nam

1.3.2.3 Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam

Vai trò của cây lúa đối với đời sống của người dân Việt Nam là không thể thay thế Có thể nói ngành sản xuất lúa là xương sống của nền Nông nghiệp Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu lương thực của một nước đông dân như nước ta mà còn góp phần quan trọng vào thị trường lúa gạo trên Thế giới Chính vì tầm quan trọng của cây lúa, nên Đảng và Nhà nước ta một mặt đầu tư vào sản xuất lúa gạo, mặt khác tập trung đầu tư vào công tác nghiên cứu toàn diện về cây lúa, trong đó có công tác giống Muốn có năng suất, sản lượng lúa cao thì ngoài đầu tư thâm canh (phân bón, thuỷ lợi, phòng trừ sâu bệnh ) mang tính quyết định thì yếu tố giống lại là yếu tố tiền đề Việc đưa các giống lúa mới vào sản xuất, bằng cách tuyển chọn giống cũ, lai tạo giống mới và nhập nội thêm giống mới thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai và

kỹ thuật canh tác của từng địa phương là vấn đề rất quan trọng để nhanh chóng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng lương thực, tăng thu nhập cho người nông dân, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Hiện nay nước ta có trên trên 300 loại giống lúa được công nhận cho các vụ và các vùng khác nhau, các giống này đều đáp ứng được một phần yêu cầu sản xuất của các vùng thâm canh lúa, vùng đất khó khăn như hạn, úng, chua, mặn và các loại giống chống chịu sâu bệnh như kháng rầy, đạo ôn

Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng cũng như đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào Giống cây trồng chính là yếu tố

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trong vụ mùa năm 2008 - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Hình trong vụ mùa năm 2008 (Trang 7)
Bảng  Nội dung  Trang - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
ng Nội dung Trang (Trang 9)
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa (Trang 19)
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước (Trang 20)
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Tuyên Quang - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Tuyên Quang (Trang 45)
Bảng 2.1. Các giống thí nghiệm và cơ quan chọn tạo - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 2.1. Các giống thí nghiệm và cơ quan chọn tạo (Trang 47)
Hình 3.1. Bản đồ tỉnh Tuyên Quang và địa điểm bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Hình 3.1. Bản đồ tỉnh Tuyên Quang và địa điểm bố trí thí nghiệm (Trang 63)
Bảng 3.1. Diễn biến thời tiết năm 2008 - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 3.1. Diễn biến thời tiết năm 2008 (Trang 66)
Bảng 3.3. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 3.3. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm (Trang 69)
Bảng 3.5. Mức  độ nhiễm sâu bệnh và chống chịu c ủa các giống thí nghiệm (điểm) - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 3.5. Mức độ nhiễm sâu bệnh và chống chịu c ủa các giống thí nghiệm (điểm) (Trang 74)
Bảng 3.7. Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 3.7. Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm (Trang 81)
Bảng 3.7 cho ta thấy, trong vụ xuân 2008 năng suất thực thu của các  giống biến  động từ 47,6-69,8 tạ/ha (giống  đối chứng năng suất thực thu đạt  64,3 tạ/ha); giống SH4 có năng suất thực thu cao nhất (đạt 69,8 tạ/ha) và cao  hơn  đối chứng (5,5 tạ/ha) ch - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 3.7 cho ta thấy, trong vụ xuân 2008 năng suất thực thu của các giống biến động từ 47,6-69,8 tạ/ha (giống đối chứng năng suất thực thu đạt 64,3 tạ/ha); giống SH4 có năng suất thực thu cao nhất (đạt 69,8 tạ/ha) và cao hơn đối chứng (5,5 tạ/ha) ch (Trang 82)
Bảng 3.8. Một số chỉ tiêu phân tích chất lượng gạo của giống lúa thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 3.8. Một số chỉ tiêu phân tích chất lượng gạo của giống lúa thí nghiệm (Trang 83)
Bảng 3.11:Kết quả lựa chọn giống lúa mới của nông dân - Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa chất lượng cao tại tuyên quang năm 2008
Bảng 3.11 Kết quả lựa chọn giống lúa mới của nông dân (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w