1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng

117 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 6,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một giá trị vô cùng quan trọng của cây lạc về mặt sinh học là có khả năng cố định đạm khi cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium chính vì vậy, cây lạc không đòi hỏi bón nhiều phân đạm, trồng ở

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN NGỌC NGOẠN

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

BẾ KIM THÔNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn

sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo khoa Sau Đại Học và khoa Nông Học

- Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã giành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới GS.TS Trần Ngọc Ngoạn, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình hình thành luận văn tốt nghiệp này

Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới phòng NN & PTNT, trạm Khuyến Nông, phòng Thống Kê, phòng Tài Nguyên & Môi Trường của huyện Quảng Uyên và lãnh đạo UBND xã Phi Hải, cùng bạn bè, gia đình, những người thân đã luôn bên tôi cổ vũ, động viên tiếp thêm cho tôi nghị lực

để hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Do còn hạn chế về trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tế và thời gian

có hạn, nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Tác giả

BẾ KIM THÔNG

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt 6

1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước 8

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới 8

1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam 11

1.3.3 Tình hình sản xuất lạc ở Cao Bằng 16

1.3.4 Tình hình sản xuất lạc ở Quảng Uyên 17

1.4 Tình hình nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và trong nước 18

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về cây lạc trên thế giới 18

1.4.2 Tình hình nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam 25

1.5 Đặc điểm thời tiết khí hậu và đất đai nơi nghiên cứu 31

1.5.1 Đặc điểm thời tiết nơi nghiên cứu 31

1.5.2 Đặc điểm đất đai nơi nghiên cứu 33

Trang 6

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Vật liệu nghiên cứu 34

2.2 Nội dung nghiên cứu 34

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu 34

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 34

2.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Kết quả thí nghiệm so sánh năm giống lạc tại huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng, vụ Hè Thu 2012 41

3.1.1 Khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống lạc vụ Hè Thu năm 2012 41

3.1.2 Khả năng phân cành của các giống lạc thí nghiệm 2012 43

3.1.3 Khả năng hình thành nốt sần của các giống lạc thí nghiệm 2012 44

3.1.4 Sâu hại chính các giống lạc vụ Hè Thu tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 2012 45

3.1.5 Mức độ nhiễm một số bệnh hại chính của các giống lạc vụ Hè Thu 2012 46

3.1.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống lạc thí nghiệm 2012 47

3.2 Kết quả nghiên cứu về thời vụ trồng giống lạc L14vụ Hè Thu 2012 tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 50

3.2.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các thời vụ lạc giống L14 năm 2012 50

3.2.2 Chiều cao cây và khả năng phân cành của thời vụ lạc thí nghiệm L14 năm 2012 51

3.2.3 Tình hình sâu hại trên giống lạc L14 vụ Hè Thu 2012 tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 52

3.2.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ nhiễm bệnh của lạc L14 vụ Hè Thu 2012 52

Trang 7

3.3 Kết quả nghiên cứu mật độ trồng giống lạc L14 trên đất rẫy vụ Hè

Thu tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 2013 56

3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lạc vụ Hè Thu 2013 56

3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng phân cành của giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 57

3.3.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ sâu hại giống lạc L14 vụ Hè Thu tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 2013 58

3.3.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm một số bệnh ở giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 58

3.3.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của lạc L14năm 2013 59

3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến giống lạc L14 trên đất rẫy tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 2013 63

3.4.1 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 63

3.4.2 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến khả năng phân cành của giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 64

3.4.3 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ sâu hại giống lạc L14 vụ Hè Thu tại huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng 2013 65

3.4.4 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ nhiễm một số bệnh của giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 66

3.4.5 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 67

3.4.6 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến hiệu quả kinh tế của giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 69

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71

4.1 Kết luận 71

4.2 Đề nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước

trên thế giới 8Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam giai

đoạn 2002 - 2012 12

Bảng 2.3 Diện tích 6 vùng sản xuất lạc của Việt Nam giai đoạn

2002 - 2012 13Bảng 2.4 Năng suất 6 vùng sản xuất lạc của Việt Nam giai đoạn

2002 - 2012 14Bảng 2.5 Sản lượng 6 vùng sản xuất lạc của Việt Nam giai đoạn

tỉnh Cao Bằng 32

Bảng 3.1 Khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát

triển của các giống lạc thí nghiệm vụ Hè Thu 2012 41

Bảng 3.2 Khả năng phân cành của các giống lạc thí nghiệm vụ Hè

Thu 2012 43Bảng 3.3 Tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu của các giống lạc thí

nghiệm 2012 44Bảng 3.4 Các loại sâu hại chính các giống lạc vụ Hè Thu tại

Quảng Uyên 45Bảng 3.5 Mức độ nhiễm một số bệnh chính của các giống lạc vụ

Hè Thu 2012 46Bảng 3.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống

lạc vụ Hè Thu năm 2012 48

Trang 10

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sự sinh trưởng, phát

triển của giống lạc L14 vụ Hè Thu 50

Bảng 3.8 Chiều cao cây và khả năng phân cành của các thời vụ lạc

L14 vụ Hè Thu 2012 51Bảng 3.9 Sâu hại chính trên giống lạc L14 qua các thời vụ tại

huyện Quảng Uyên 52Bảng 3.10 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ nhiễm bệnh lạc

giống L14 vụ Hè Thu 2012 53Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ khác nhau đến các giai đoạn sinh

trưởng, phát triển của giống lạc L14 năm 2013 56Bảng 3.13 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng phân cành của

giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 57Bảng 3.14 Ảnh hưởng mật độ trồng đến sâu hại lạc L14 vụ Hè Thu 2013 58Bảng 3.15 Ảnh hưởng của mật độ đến mức độ nhiễm một số bệnh ở

giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 59Bảng 3.16 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất giống lạc L14

vụ Hè Thu năm 2013 62Bảng 3.17 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn

sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14 vụ Hè Thu 2013 64Bảng 3.18 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến khả năng phân

cành của giống lạc L14 năm 2013 65

Bảng 3.19 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ sâu hại

giống lạc thí nghiệm L14 năm 2013 65

Bảng 3.20 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ nhiễm

một số bệnh ở giống lạc thí nghiệm L14 năm 2013 66Bảng 3.21 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất giống

lạc L14 vụ Hè Thu năm 2013 68

Bảng 3.22 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến hiệu

quả kinh tế của giống lạc L14 năm 2013 69

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực

phẩm, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, có khả năng cải tạo đất tốt Cây lạc chiếm vị trí hàng đầu trong các cây có hạt lấy dầu và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, không chỉ do được gieo trồng trên diện tích lớn ở nhiều quốc gia, mà cây lạc được sử dụng rộng rãi để làm thực phẩm

và nguyên liệu cho công nghiệp Một giá trị vô cùng quan trọng của cây lạc

về mặt sinh học là có khả năng cố định đạm khi cộng sinh với vi khuẩn

(Rhizobium) chính vì vậy, cây lạc không đòi hỏi bón nhiều phân đạm, trồng ở

đất nghèo dinh dưỡng vẫn có thể cho năng suất, đồng thời cải tạo đất tốt

Ở Việt Nam sản xuất lạc được phân bố trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp của nước ta, diện tích lạc chiếm khoảng 28% tổng diện tích gieo trồng các cây công nghiệp hàng năm (Nguyễn Thị Chinh, 2006) [15] và có xu hướng tăng trong giai đoạn từ 2001 - 2012 Theo số liệu thống kê năm 2013 diện tích lạc toàn quốc là (220.500 ha) sản lượng (470.600 tấn), năng suất trung bình (21,4 tạ/ha)

Tổng cục thống kê năm 2012 [13], lạc có ý nghĩa lớn trong xuất khẩu

và sản xuất dầu ăn, hiện nay chúng ta vẫn còn phải nhập Hơn nữa, cây lạc lại thích ứng tốt với vùng đất nhiệt đới bán khô hạn như ở Việt Nam nơi mà khí hậu biến động và canh tác gặp nhiều khó khăn Trong những năm gần đây, nhờ sự chuyển dịch theo hướng nền kinh tế thị trường, sản xuất nông nghiệp của nước ta đã thu được những thành tựu đáng kể

Quảng Uyên là một huyện miền núi của tỉnh Cao Bằng, có diện tích sản xuất lạc lớn trong tỉnh, 141 ha (năm 2012) Điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây lạc sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên năng suất lạc của huyện vẫn còn thấp 11,5 tạ/ha (năm 2012 số liệu cao nhất so với các năm) Nguyên nhân

Trang 12

chính là người dân vẫn sử dụng các giống cũ và canh tác theo phương thức truyền thống Biện pháp kỹ thuật canh tác đặc biệt mật độ trồng, thời vụ và phân bón chưa hợp lý Năng suất cây lạc rất thấp, chủ yếu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của gia đình, tự cung tự cấp Sản xuất manh mún và hiệu quả kinh tế thấp

Từ thực tế đó, việc nghiên cứu tính thích ứng và khả năng cho năng suất cao của các giống lạc và các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với

điều kiện địa phương là rất thiết thực vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện Quảng

2.2.Yêu cầu

- Nghiên cứu một số giống lạc để lựa chọn ra giống có năng suất cao,

phù hợp với vùng, góp phần bổ sung vào cơ cấu giống lạc của huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

- Nghiên cứu xác định tổ hợp phân bón vô cơ (N,P,K) và mật độ, thời

vụ trồng thích hợp đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc với giống L14 trên đất rẫy của huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1.Ý nghĩa khoa học

- Đề tài góp phần bổ xung cơ sở lý luận cho việc phát triển các giống lạc mới vụ Hè Thu ở tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Qua trên kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở hoàn thiện quy trình thâm canh lạc đạt năng

Trang 13

suất cao cho giống mới trong vụ Hè Thu tại huyện mặt khác bổ sung tài liệu khoa học về cây lạc phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất lạc tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

- Xác định được một giống lạc có năng suất cao, chất lượng hạt tốt và một số biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất lạc trên đất rẫy của huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua kết quả đề tài, khuyến cáo cho người nông dân trong vùng

sử dụng giống lạc mới, áp dụng một số biện pháp kỹ thuật phù hợp như mật

độ, thời vụ, liều lượng phân bón (N,P,K) cho cây lạc, để góp phần nâng cao

năng suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất lạc trên đất rẫy ở huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu trong vụ Hè Thu năm 2012 và vụ Hè Thu năm

2013 tại huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

- Vật liệu nghiên cứu là một số giống lạc L23, L14, TB25, L26 do Viện Nghiên cứu nông nghiệp cung cấp

- Mật độ và lượng phân bón cho lạc trong thí nghiệm sử dụng quy phạm khảo nghiệm giống cây trồng (QCVN 01- 57: 2011/BNNPTNT) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 2011 làm cơ sở khoa học

để thực hiện

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cây lạc được trồng ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, để nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng lạc được đặt lên hàng

đầu Mặc dù có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, song điều

kiện sinh thái phù hợp với cây lạc sẽ cho năng suất cao

Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và kinh nghiệm trồng trọt cho thấy, lạc không yêu cầu khắt khe về độ phì của đất Do đặc điểm sinh lý của lạc, đất trồng lạc phải đảm bảo cao ráo, thoát nước nhanh khi có mưa to [37] Thành phần cơ giới của đất trồng lạc tốt nhất là loại đất thịt nhẹ, cát pha, để

đất luôn tơi, xốp và có độ pH từ 5,5 - 7 nhằm thoả mãn 4 yêu cầu của cây lạc:

- Rễ phát triển mạnh cả về chiều sâu và chiều ngang

- Đủ ôxy cho vi sinh vật nốt sần hoạt động cố định đạm

- Tia quả đâm xuống đất dễ dàng

- Dễ thu hoạch

Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của lạc Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống cây lạc là khoảng 25 - 300C và thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây Nhiệt độ trung bình thích hợp cho thời kỳ nảy mầm 25 - 300C, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 20 - 300C, thời kỳ ra hoa 24 - 330C, thời kỳ chín 25 - 2800C Tích ôn hữu hiệu của lạc 2.600 - 4.8000C thay đổi tuỳ theo giống

Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc Tuy lạc được coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra lạc chỉ chịu hạn ở một giai đoạn nhất định Độ ẩm đất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầu khoảng 70 - 80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng Yêu cầu này có cao hơn một chút ở thời kỳ ra hoa, kết quả (80 - 85%) và giảm ở thời kỳ chín của hạt

Trang 15

Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của cây lạc từ khi mọc đến thu hoạch (không kể thời kỳ nảy mầm) là 450 - 700 mm Lạc là cây ngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ Số giờ nắng/ngày

có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng

Để thâm canh tăng năng suất cây lạc, cũng như thâm canh bất kỳ một

loại cây trồng nào khác, người ta phải áp dụng một hệ thống biện pháp kỹ thuật, trong đó có những biện pháp tác động lên đất, có những biện pháp nhằm chủ yếu vào cây lạc, có những biện pháp nhằm vào những loài sinh vật khác trong hệ sinh thái đồng ruộng…nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho cây lạc phát triển và tạo ra năng suất hạt lạc cao nhất

Hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng xuất lạc bao gồm:

- Gieo trồng các giống lạc tốt

- Chọn đất thích hợp, làm đất kỹ

- Gieo đúng thời vụ, đúng kỹ thuật

- Bón phân đầy đủ, cân đối, hợp lý

- Chăm sóc chu đáo, kịp thời

- Thu hoạch đúng lúc, đúng kỹ thuật, bảo quản lạc tốt

- Thực hiện luân canh, xen canh, tăng vụ có cơ sở khoa học và thực tế

- Phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại đúng kỹ thuật [19]

Điều đầu tiên cần lưu ý là tính hệ thống của các biện pháp Trong một

hệ thống hợp lý, các biện pháp riêng rẽ ngoài việc phát huy các tác động tích cực của mình, còn cần tạo ra sự cộng hưởng, sự hỗ trợ trong việc phát huy hiệu quả các biện pháp khác Khi áp dụng một biện pháp nào đó không thích hợp, chẳng những không phát huy được hiệu quả của biện pháp đó mà còn làm giảm tác dụng có ích của các biện pháp khác Vì vậy, hệ thống biện pháp thâm canh cần được áp dụng một cách đồng bộ và liên hoàn

Trang 16

Việc áp dụng hệ thống các biện pháp thâm canh cần cơ động và linh hoạt Không có bất kỳ một công thức có sẵn nào có thể đúng và phát huy

được mọi tác dụng ở bất cứ điều kiện sản xuất cụ thể nào Các điều kiện cụ

thể của sản xuất vô cùng phong phú và đa dạng Vậy không nên áp dụng hệ thống các biện pháp thâm canh một cách cứng nhắc, máy móc, dập khuôn, nhưng cũng không nên tự do tuỳ tiện Tiềm năng thâm canh cây lạc ở nước ta còn nhiều Khi nông dân dành cho cây lạc sự chú ý thích đáng, sự quan tâm chăm sóc cần thiết và áp dụng một cách sáng tạo các biện pháp thâm canh, chắc chắn năng suất lạc sẽ tăng cao

Những tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng nhu cầu lạc cho công nghiệp chế biến và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Vì vậy, cần mở rộng các vùng trồng lạc chuyên canh trong cả nước

Mục tiêu của đề tài này là đánh giá khả năng thích ứng của một số giống lạc năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng có giá trị trên vùng đất rẫy, phù hợp với điều kiện của nông dân và vùng sinh thái, thay thế giống cây trồng hiện có chưa

đáp ứng được nhu cầu thực tiễn

Khi đưa giống mới và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt mới vào sản xuất, người ta quan tâm đến hiệu quả kinh tế của nó và việc nó có phù hợp với

điều kiện sản xuất của người dân địa phương hay không Đó cũng chính là cơ

sở để thực hiện đề tài này

1.2 Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt

Cây lạc thuộc họ đậu, bộ rễ có vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) sống cộng

sinh, có khả năng cố định nitơ phân tử ở ngoài không khí để cung cấp dinh dưỡng cho cây Nhờ khả năng đặc biệt này mà trồng lạc không cần bón nhiều

đạm như các loại cây trồng khác nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời còn

cung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể

Trang 17

Vũ Đình Chính (2011) [37] Lạc là cây trồng có hàm lượng đạm cao trong thân lá, là loại cây trồng thuộc họ đậu, có thời gian sinh trưởng ngắn và

có khả năng cố định nitơ khí quyển thành NH3 cung cấp cho cây trồng Do vậy, đưa lạc vào các công thức luân canh sẽ có tác dụng cải tạo đất tốt Sau mỗi thời vụ trồng lạc đã để lại cho đất từ 40 - 70kg đạm/ha Trên cơ sở đó, khi

sử dụng lạc là cây trồng trước hoạc cây trồng sau đều rất tốt trong các công thức luân canh hàng năm và luân canh nhiều năm

Cây lạc được sử dụng nhiều trong các công thức luân canh trồng trọt, việc luân canh cây họ đậu với cây trồng khác đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng khoáng với các loại cây trồng, có khả năng làm giảm mức độ sói mòn của đất, nâng cao độ phì của đất đặc biệt trong mùa mưa [26]

Theo kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt là việc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn đã rút ra được những kết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: đưa các cây họ đậu vào luân canh với ngô, sắn giúp cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làm thay đổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong đất

Ngô Đức Dương (1984) [2] khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng chuyên canh lạc phía Bắc nước ta đã kết luận: Cây lạc luân canh tốt nhất với cây trồng họ hoà thảo đặc biệt là với lúa nước, ở thời điểm một năm sau khi luân canh với cây lúa chế độ dinh dưỡng đất được cải thiện rõ rệt, pH đất tăng, lượng chất hữu cơ tăng, hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong đất đều tăng

Theo tác giả Lê Văn Diễn và cộng sự (1991) [25] khi so sánh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên các chân đất khác nhau ở một số vùng chuyên canh lạc vùng đồng bằng Bắc Bộ đã chỉ ra rằng: ở tất cả các công thức luân canh có lạc Xuân đều cho tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả

Trang 18

đồng vốn đầu tư cao hơn so với các công thức luân canh khác trên cùng một

loại đất Đồng thời, khi so sánh hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính ở

vụ Xuân như: lúa, lạc, đậu tương, ngô, các tác giả cũng ghi nhận việc trồng lạc trong vụ Xuân cho thu nhập thuần cao hơn so với trồng các cây trồng khác Từ đó có thể thấy, lạc là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là với các công thức luân canh nền lúa và trồng lạc trong vụ xuân cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với các cây trồng khác cùng thời vụ

1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới

Cây lạc là một cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới Cây lạc mặc dù có nguồn gốc từ Nam

Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 400 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam Hiện nay, cây lạc được trồng ở hơn 100 nước và là cây trồng đứng thứ 2 sau cây đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng trên thế giới

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước

trên thế giới Diện tích

(triệu/ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn) Tên nước

2010 2011 2012 2010 2011 2012 2010 2011 2012

Thế Giới 25,30 21,78 24,62 1,66 1,77 1,67 41,89 38,61 41,27

Ấn Độ 5,94 4,19 4,90 1,39 1,65 1,18 8,26 6,93 5,78 Trung Quốc 4,55 4,67 4,73 3,45 3,45 3,56 15,70 16,11 16,87 Nigeria 2,79 2,34 2,42 1,36 1,26 1,27 3,79 2,96 3,07 Senegal 1,19 0,86 0,70 1,07 0,60 0,95 1,28 0,52 0,67 Châu Mỹ 1,01 0,99 1,28 3,09 3,06 3,62 3,13 3,04 4,64 Indonesia 0,62 0,54 0,56 1,25 1,28 1,27 0,78 0,70 0,71 Việt Nam 0,23 0,22 0,22 2,10 2,08 2,14 0,49 0,46 0,47

Nguồn: Faostat, http://faostat.fao.org [36]

Trang 19

Bảng 2.1: Diện tích trồng lạc năm 2012 của thế giới có xu hướng tăng (2,86 triệu ha) so với 2011, nhưng lại giảm (0,68 triệu ha) so với 2010 Ấn Độ

có diện tích giảm (1,04 triệu/ha) so với năm 2010, lại có tốc độ tăng so với năm 2011 (0,71 triệu/ha) Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích trồng lạc tăng liên tục qua các năm 2010, 2011, 2012 tuy nhiên tốc độ tăng chậm từ (0,06 triệu/ha đến 0,18 triệu/ha) Nigeria có tăng (0,8 triệu/ha) so với 2011, nhưng lại giảm (0,71 triệu/ha) năm 2010 Riêng Senegal lại có diện tích lạc giảm từ 2011 đến 2012 Châu Mỹ có diện tích trồng lạc nhỏ (1,01 triệu/ha năm 2010) và năm 2011 lại bị thu hẹp (giảm 0,02 triệu/ha) so với năm 2010 Nhưng đến năm 2012 diện tích lạc của Châu Mỹ lại tăng đột biến từ (0,29 triệu/ha) so với năm 2011 Indonesia diện tích trồng lạc giảm năm 2011, đến năm 2012 tăng (0,02 triệu/ha) so với năm 2011 Điều đó chứng tỏ cây lạc không được chú trọng đầu tư và mở rộng diện tích ở đây Ở Việt Nam giai

đoạn này không có sự biến động về diện tích trồng lạc năm 2010 diện tích

trồng lạc của Việt Nam chiếm 0,91% tổng số diện tích trồng lạc thế giới Đến năm 2011 và 2012 diện tích này không thay đổi lúc này diện tích trồng lạc của

Việt Nam chiếm 0,89% tổng diện tích trồng lạc thế giới

Năng suất lạc thế giới hầu như không tăng, Chứng tỏ trong giai đoạn gần đây không có biến động nào trong sản xuất làm thay đổi năng suất Các nước có năng suất lạc tăng đó là: Trung Quốc, Châu Mỹ, Việt Nam Trong đó năng suất tăng nhiều nhất là nước Châu Mỹ năm 2012 tăng (0,53 tấn/ha) so với năm 2010 Sau đó đến Trung Quốc năm 2012 tăng (0,11 tấn/ha) so với năm 2010 Các nước có năng suất tăng, giảm không ổn định là: Ấn Độ Nigeria, Senegal, Indonesia Trong đó Ấn Độ năm 2012 giảm (0,21 tấn/ha) so với 2010 Nigeria năm 2012 giảm (0,09 tấn/ha) so với 2010, nhưng lại tăng (0,01 tấn/ha) so với 2011 Về Senegal năm 2012 năng suất lại giảm đáng kể (0,12 tấn/ha) so với năm 2010 Còn Indonesia năm 2012 tăng (0,02 tấn/ha) so với 2010 Nhưng lại giảm (0, 01 tấn/ha) so với năm 2011

Trang 20

Ở các nước này, sản xuất lạc sớm được đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng và sớm có những thành công vượt trội Tuy nhiên, giai đoạn này đang bị chững lại Ở Việt Nam năng suất giai đoạn này tăng giảm không đáng kể, năm 2012 giảm (0,04 tấn/ha) so với 2010

Sản lượng lạc thế giới giai đoạn 2012 giảm (0,62 triệu tấn) so với năm

2010 tăng (2,66 triệu tấn) so với năm 2011 Sản lượng giảm không phải do năng suất lạc giảm mà chủ yếu do diện tích trồng lạc giảm Ấn Độ là nước có sản lượng giảm liên tục, năm 2012 giảm (2,48 triệu tấn) so với 2010 Trung Quốc là nước có sản lượng lạc lớn Những năm gần đây có xu hướng tăng, vẫn luôn chiếm vị trí đứng đầu thế giới đạt (16,87 triệu tấn) trong năm 2012 Tiếp đó các nước Nigeria, Senegal, Châu Mỹ, Indonesia, cũng có sản lượng tăng giảm không đồng đều Trong khi đó sản lượng lạc của Việt Nam chỉ đạt (0,47 triệu tấn) chiếm 11,38% so với cả thế giới

Tất cả các nước đã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc đều rất chú ý đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Rõ ràng rằng, tiềm năng to lớn của cây lạc trong sản xuất chỉ có thể được khơi dậy thông qua việc áp dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng

Hiện nay, lạc là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn Trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, sản lượng lạc xuất khẩu trên thế giới bình quân chỉ đạt (1,11 - 1,16 triệu tấn/năm) đến năm 1997 - 1998 tăng lên (1,39 triệu tấn) và đến năm 2001 - 2002 đạt (1,58 triệu tấn) Trong đó châu Mỹ và châu Á là 2 khu vực xuất khẩu nhiều nhất chiếm 70% sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới Ở khu vực Đông Nam Á, trong những năm 80 của thế kỷ 20, xuất khẩu lạc hàng năm ở chỉ đạt (0,32 triệu tấn/năm)

Trong đó, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Singapore là các nước xuất khẩu lạc nhiều Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ, Việt Nam là những nước

Trang 21

xuất khẩu lạc nhiều trên thế giới Ngược lại, Hà Lan, Canada, Đức, Nhật, Singapore, Pháp là những nước nhập khẩu lạc nhiều trên thế giới

Từ năm 1991 đến năm 2000, Trung Quốc là nước xuất khẩu lạc nhiều nhất, hàng năm trung bình xuất khẩu gần (78 nghìn tấn), chiếm trên 26,5% tổng sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới Đứng thứ 2 là Mỹ, trung bình hàng năm xuất khẩu (67,3 nghìn tấn), chiếm 22,9% tổng lượng xuất khẩu lạc thế giới Achentina là nước đứng thứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu (36,2 nghìn tấn), chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới Hà Lan là nước nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991 - 2000, trung bình hàng năm nhập khẩu (39,8 nghìn tấn), chiếm 13,9% tổng lượng lạc nhập khẩu của thế giới

Đứng thứ 2 là Indonesia, bình quân hàng năm nhập khẩu (34,3 nghìn tấn) Từ

năm 2000 - 2005, châu Âu là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới, chiếm 60% tổng lượng nhập khẩu lạc của thế giới với khoảng (460 nghìn tấn) mỗi năm, tiếp theo là thị trường Nhật Bản, nhập khẩu (130 nghìn tấn) lạc mỗi năm [50]

1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hướng phát

triển ngày càng tăng Tuy nhiên, do trước đây cây lạc chưa được chú ý nhiều nên năng suất còn thấp Trong 10 năm từ năm 1981 đến năm 1990, diện tích lạc tăng bình quân (7%/năm), sản lượng tăng (9%/năm) Từ năm 1990 - 1995, sản xuất lạc tăng cả về diện tích và sản lượng, song năng suất còn thấp, chỉ

đạt khoảng (1 tấn/ha) Những năm từ 1996 - 1998 diện tích và sản lượng lạc

tăng rõ rệt, năng suất đạt gần (1,5 tấn/ha)

Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong mấy năm nay đã góp phần đáng

kể vào ngành sản xuất lạc như: Xác định thời vụ, mật độ, khoảng cách, trừ sâu bệnh, bón phân…Các giống lạc tốt như L14, L18, MD7, đã được phổ biến ở một số tỉnh thay dần cho giống lạc địa phương năng suất thấp, góp phần tăng năng suất, sản lượng đáng kể [37]

Trang 22

Theo Ngô Thế Dân và CS, (2000) [22], sự biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến 1998 chia làm 4 giai đoạn:

Từ năm 1975 - 1979: Giai đoạn này diện tích gieo trồng có xu thế giảm từ (97,1 ngàn ha) năm 1976, xuống còn (91,8 ngàn ha) năm 1979, giảm bình quân (2,0%/năm) Năng suất và sản lượng giai đoạn này cũng giảm, năm

1976 năng suất đạt (10,3 tạ/ha), đến năm 1979 chỉ còn (8,8 tạ/ha), giảm 5,0% Nguyên nhân chính là thực trạng phong trào hợp tác xã hoá bị sa sút, yêu cầu giải quyết đủ lương thực cần thiết đặt lên hàng đầu, sản xuất lạc lúc này chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp nên cây lạc không được đầu tư phát triển

Diện tích trồng lạc tăng nhanh từ (91,8 ngàn ha) năm 1979 lên (237,8 ngàn ha) năm 1987 Tốc độ tăng trưởng hàng năm từ (5,6%/ năm đến 24,8%/ năm) Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với năm 1980 và sản lượng tăng 2,3 lần Mặc dù diện tích gieo trồng tăng lên nhanh chóng, nhưng năng suất không tăng, chỉ dao động từ (8,8 - 9,7 tạ/ha), sản xuất lạc lúc này còn mang tính quảng canh truyền thống

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam

giai đoạn 2002 - 2012

(1.000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1.000 tấn)

Trang 23

Bảng 2.2: Trong giai đoạn từ 2002 - 2012, diện tích sản xuất lạc ở Việt Nam có chiều hướng tăng giảm không đều Trong năm 2012 diện tích (220,5 nghìn ha) có chiều hướng giảm (26,2 nghìn ha) so với năm 2002 Vế năng suất năm 2012 tăng (5,1 tạ/ha) so với 2002, sản lượng (470,6 nghìn tấn), tăng (70,2 nghìn tấn) so với 2002

Sản suất lạc được phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam ở nước ta đã hình thành 6 vùng sản xuất lạc chính như sau:

Vùng 1: Đồng bằng sông Hồng

Vùng 2: Trung du và miền núi phía Bắc

Vùng 3: Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Vùng 4: Tây Nguyên

Vùng 5: Đông Nam Bộ

Vùng 6: Đồng bằng sông cửu Long

Bảng 2.3 Diện tích 6 vùng sản xuất lạc của Việt Nam

Nguồn: Web, http://vukehoach.mard.gov.vn [12]

Qua bảng 2.3 ta thấy: Vùng 1 Đồng bằng sông Hồng có diện tích đứng thứ 3 trong cả nước với (27,7 nghìn ha), chiếm (12,6%) cả nước năm 2012 Lạc được trồng tập trung ở các tỉnh: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình

Trang 24

- Vùng 2: Trung du và miền núi phía Bắc với diện tích (51,9 nghìn ha) chiếm (23,5%) đứng thứ 2 cả nước, tăng (15,7 nghìn ha) so với năm 2002 Lạc được trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên

- Vùng 3: Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung là vùng có diện tích (97,7 nghìn ha) cũng là vùng có diện tích trồng lạc lớn nhất chiếm (44,3%) so với cả nước, diện tích cũng giảm (8,1 nghìn ha) so với năm 2002 Lạc được trồng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh

- Vùng 4: Tây Nguyên là vùng cây lạc ít được chú trọng đầu tư phát triển, với diện tích (17,2 nghìn ha) và chiếm (7,8%) cả nước Lạc được trồng tập trung chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc

- Vùng 5: Có diện tích (12,2 nghìn ha), chiếm (5,53%) cả nước, năm

2012 diện tích giảm (23,7 nghìn ha) so với 2002 Có diện tích trồng lạc nhỏ nhất so với cả nước trong năm 2012 Lạc được trồng tập trung ở 2 tỉnh: Tây Ninh, Bình Dương

- Vùng 6: Đồng bằng sông cửu Long (13,8 nghìn ha) chiếm (6,25%) cả nước Lạc được trồng tập trung ở các tỉnh như Long An, Trà Vinh

Bảng 2.4 Năng suất 6 vùng sản xuất lạc của Việt Nam

Trang 25

Bảng 2.4 cho thấy: Vùng 1 Đồng bằng sông Hồng, có năng suất (25,6 tạ/ha) có tăng (7,7 tạ/ha) so với năm 2002 Như vậy cây lạc từ năm 2004 đến

2012 có biến động về năng suất không ngừng tăng, điều đó cho thấy cây lạc

được chú trọng và đầu tư

Vùng 2: Trung du miền núi phía Bắc, năm 2012 năng suất (18,4 tạ/ha) tăng hơn (6,2 tạ/ha) so với năm 2002 Năm 2012 thấp hơn (6,6 tạ/ha) so với 2011

Vùng 3: Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung, năng suất (20,0 tạ/ha), tăng (4,7 tạ/ha) so với năm 2002, năng suất đứng thứ 4 trong cả nước

Vùng 4: Tây Nguyên, là vùng có năng suất thấp nhất trong cả nước với (15,1 tạ/ha) nhưng cũng đã tăng (4,2 tạ/ha) so với năm 2002, chính tỏ vùng này cây lạc chưa được quan tâm chăm sóc đúng kỹ thuật

Vùng 5: Đông Nam Bộ, có năng suất (27,2 tạ/ha) tăng (4,5 tạ/ha) so với năm 2002 Từ năm 2003 trở đi cây lạc được chú trọng và quan tâm chăm sóc nên năng suất tăng dần qua các năm tiếp theo

Vùng 6: Đồng bằng sông Cửu Long, năng suất cao nhất cả nước (35,9 tạ/ha), tăng (12,7 tạ/ha) so với năm 2002, cũng là vùng được chú trọng nhất

Trang 26

Qua bảng 2.5 cho thấy: Sản lượng của vùng 3: Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung là vùng có sản lượng lớn nhất cả nước (195,5 nghìn tấn), tăng hơn (33,1nghìn tấn) so với 2002 Đứng thứ 2 về sản lượng trong cả nước là vùng 2: Trung du miền núi phía Bắc, sản lượng (95,3 nghìn tấn) tăng (51,3 nghìn tấn) so với năm 2002 Tiếp theo là vùng 1: Đồng bằng sông Hồng, sản lượng (71,0 nghìn tấn), tăng (10,0 nghìn tấn) so với năm 2002, đứng thứ 3 trong nước Vùng đứng thứ 4 trong nước là Đồng bằng sông Cửu Long, sản lượng (49,6 nghìn tấn) Vùng đứng thứ 5: Đông Nam Bộ, với (33,2 nghìn tấn), vùng này có sản lượng giảm (48,3 nghìn tấn) so với năm 2002 Vùng 4

là vùng: Tây Nguyên, có sản lượng thấp nhất cả nước sản lượng năm 2012 là

(26,0 nghìn tấn), giảm (1,8 nghìn tấn) so với năm 2002

Sản lượng (1.000 tấn)

Trang 27

Số liệu bảng 2.6: Trong giai đoạn từ 2002 - 2012, sản xuất lạc ở Cao Bằng đã có những chuyển biến tích cực, diện tích có chiều hướng tăng dao

động từ (0,7 - 2,1 nghìn ha) Năm 2012 tăng (1,40 ha) so với năm 2002 Tuy

diện tích này còn nhỏ so với một số địa phương khác nhưng nó cũng đánh dấu

sự phát triển trong sản xuất lạc của tỉnh Cao Bằng trong 10 năm qua, năng suất lạc của tỉnh đã tăng (7,2 tạ/ha) so với năm 2002, tuy nhiên, năng suất lạc của Cao Băng còn ở mức thấp Năm 2012 năng suất (14,3 tạ/ha), thấp hơn năng suất bình quân của cả nước (7,0 tạ/ha) Sở dĩ năng suất lạc của tỉnh thấp là do sản xuất lạc chưa được quan tâm đầu tư thích đáng Phần đa người dân vẫn sử dụng các giống lạc cũ, năng suất thấp và chưa được đầu tư thâm canh

Do diện tích và năng suất lạc có xu hướng tăng nên sản lượng cũng tăng dần từ năm 2002 đến nay Tính đến năm 2011, sản lượng lạc của tỉnh đạt (3000 tấn), tăng (2,500 tấn) so với năm 2002

1.3.4 Tình hình sản xuất lạc ở Quảng Uyên

Bảng 2.7 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc huyện Quảng Uyên

năm 2003 - 2012

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 28

Bảng 2.7: Từ năm 2003 trở lại đây, diện tích trồng lạc của huyện có tăng nhưng tốc độ chậm và không đều, thậm chí có năm diện tích còn giảm mạnh như năm (2003 và 2006) Năng suất lạc của huyện nhìn chung còn thấp, cao nhất là (11,5 tạ/ha) vào năm 2012 Sản lượng bắt đầu tăng từ năm (2007

đến 2009) Sau đó, năm 2010 lại giảm (81 tấn) so với 2012

Qua điều tra tình hình sản xuất lạc ở một số xã điển hình của huyện, sau khi tổng hợp kết qủa điều tra cho thấy, nguyên nhân hạn chế sản xuất lạc ở huyện Quảng Uyên

- Thiếu giống có năng suất cao phù hợp cho các vùng sinh thái khác nhau Thực tế điều tra, chúng tôi thấy các giống lạc mới đưa vào sản xuất ở Quảng Uyên còn ít, hầu hết các xã chỉ trồng bằng giống lạc đỏ địa phương

- Lượng phân hữu cơ, phân khoáng, đặc biệt là hàm lượng kali và vôi bón bổ sung cho lạc còn thấp so với tiêu chuẩn ngành do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo (Bón 5000kg phân chuồng + 30kg N + 90kg

P2O5 + 60kg K2O + 500kg vôi bột cho 1 ha) Hầu hết các hộ nông dân không quen bón vôi cho cây lạc, bón phân theo cảm tính chứ không bón theo nhu cầu của cây Do vậy, không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cung cấp cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây lạc dẫn đến năng suất thấp và nhiều sâu bệnh

- Người dân thường có thói quen gieo trồng không đúng khoảng cách, mật độ Phần đa trồng thưa hơn so với quy trình gây lãng phí đất, giảm năng suất trên đơn vị diện tích

1.4 Tình hình nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và trong nước

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về cây lạc trên thế giới

1.4.1.1.Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới

Việc cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng với

Trang 29

điều kiện ngoại cảnh đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản

lượng lạc trên thế giới Do đó, việc nghiên cứu về chọn tạo giống lạc đang ngày càng được chú trọng

Viện nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) là

cơ sở lớn nhất nghiên cứu về cây lạc Tính đến năm 1993, Viện đã thu thập

được (13.915) lượt mẫu giống lạc từ 99 nước trên thế giới, trong đó châu Phi

(4.078); châu Á (4.609); châu Âu (53); châu Mỹ (3.905); châu Úc và châu Đại Dương (59); còn (1.245) mẫu giống chưa rõ nguồn gốc [44]

Trong số (13.915) lượt mẫu giống đã thu thập, bằng các đặc tính hình thái - nông học, sinh lý - sinh hóa và khả năng chống chịu sâu bệnh (ICRISAT)

đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn

tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong đó, các giống chín sớm điển hình là Chico, 91176, 91776, ICGS (E) 71 [42]

Hiện nay, công tác chọn tạo giống lạc của Trung Quốc được tập trung vào các mũi nhọn như: năng suất cao, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, mốc vàng, chịu hạn Con đường tạo giống chủ yếu vẫn là lai hữu tính Nhưng gần đây, Trung Quốc quan tâm nhiều đến việc lai xa, lai khác loài để tạo ra các giống mới có khả năng chống chịu cao, 4 giống lạc mới ra đời có tiềm năng năng suất 14 tấn/ha (Huayu 19, Huayu 16, Huayu 17, Huayu 14) (Li Jianping (1992) [52]

Ấn Độ cũng là một nước đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong

công tác chọn tạo giống lạc nói chung và giống lạc chín sớm nói riêng bằng nhiều cách: nhập nội, lai, đột biến… Trong chương trình hợp tác nghiên cứu với (ICRISAT), bằng con đường thử nghiệm các giống lạc của (ICRISAT),

Ấn Độ đã phân lập và phát triển được hai giống lạc chín sớm phục vụ cho sản

xuất đó là ICGV 86014 và ICGV 86143 Hiện nay hai giống này đang được phát triển rộng rãi trong sản xuất [41]

Trang 30

Ở Australia, theo số liệu FAO năm 1991 đã thu thập được (12.160) lượt

mẫu giống từ nhiều nước trên thế giới như: châu Phi, Trung và Bắc Mỹ, Nam

Mỹ, châu Á, châu Âu, châu Đại Dương Hầu hết các mẫu giống đều thuộc 2 kiểu phân cành liên tục và xen kẽ, đó là nguồn vật liệu khởi đầu phong phú để tạo các con lai cho loại hình trung gian có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao và phân cành liên tục

Tại Inđônêxia, việc chọn tạo giống cũng được tập trung vào các mục tiêu như: Năng suất cao, chín sớm, phẩm chất tốt và kháng bệnh héo xanh do

vi khuẩn, đốm lá muộn và gỉ sắt Các giống triển vọng đã được khuyến cáo và

đưa vào sản xuất từ năm 1991 là Magesha, Badak, BiaWar và Koinodo [49]

Mỹ đã đưa vào sản suất 16 giống lạc mới (9 giống thuộc loại hình Runer, 5 giống thuộc loại hình Virginia, 2 giống thuộc loại hình Spanish) (S,Y - Nigam, 1992) Hiện đang có 3 chương trình nghiên cứu sử dụng lạc dại lai với lạc trồng để tạo ra giống chống chịu sâu bệnh ở Carolina Oklahoma và Texas

Viện nghiên cứu nông nghiệp Quốc gia Benin (gọi tắt là INRAB) đã

được hai giống lạc chín sớm đó là: ICGV - SM83011 và ICGV 86072 cho

năng suất cao (2 tấn/ha) và rất ổn định [55]

1.4.1.2 Tình hình nghiên cứu mật độ và khoảng cách trồng lạc trên thế giới

A’Brook (1964) cho rằng mật độ trồng lạc quá cao, trồng dày làm tỷ lệ bệnh hại lá và môi giới truyền bệnh tăng, năng suất không tăng so với trồng ở

mật độ trung bình

Tại Ấn Độ, họ cho rằng trồng lạc trong điều kiện nhờ nước trời thì khoảng cách (30 cm x 7,5 cm) là tốt nhất [47]

Ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống lạc thuộc kiểu

hình Virginia được gieo trồng trong vụ Xuân như Luhua 4, Hua 17 trên đất có

độ phì trung bình thì mật độ khoảng (220.000 - 270.000 cây/ha), còn đối với đất giàu dinh dưỡng mật độ là (200.000 - 240.000 cây/ha) Các giống lạc

Trang 31

thuộc loại hình Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là (360.000 - 420.000 cây/ha) Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật độ là (300.000 - 380.000 cây/ha) [22]

Miền Nam Trung Quốc, với giống đứng cây trồng trong vụ Xuân trên

đất đồi hoặc trong vụ lạc Thu ở đất lúa, mật độ trồng thích hợp là (270.000 -

300.000 cây/ha) [47]

Ở Mỹ, lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68 cm

x 10 - 15 cm) Trong điều kiện có tưới thì khoảng cách trồng là (22,5 cm x 10 cm) tương đương mật độ (44 cây/m2) đạt năng suất cao nhất [49] 1.4.1.3 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân cho cây lạc trên thế giới

a, Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng của cây lạc

Hầu hết đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ nên nghèo dinh dưỡng,

vì vậy sự sinh trưởng của cây lạc phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng mà cây được cung cấp trong một vụ canh tác Cũng như các loại cây trồng khác, cây lạc cần dưỡng chất khoáng đa lượng lẫn vi lượng, đặc biệt là (P, Ca, Mo)

Vì thế trong dân gian có câu "không lân không vôi thì thôi trồng lạc"

Đạm (N): Thời kỳ lạc hấp thu đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa, làm quả

và hạt, thời kỳ này chỉ chiếm 25% tổng thời gian sinh trưởng của cây lạc, nhưng hấp thụ từ 40 - 45% nhu cầu đạm của cả chu kì sinh trưởng Nguồn

đạm do vi khuẩn cộng sinh cố định đạm cung cấp có thể đáp ứng được 50 -

70% nhu cầu đạm của cây và sau khi thu hoạch nó để lại trong đất một lượng

đạm đáng kể [26]

Tuy nhiên các nốt sần chỉ xuất hiện khi lạc có cành nhánh và phát triển nhiều khi lạc bắt đầu ra hoa Do vậy, ở giai đoạn đầu sinh trưởng của cây còn nhỏ (3 - 5 lá) cần được bổ sung một lượng đạm hoặc bón một lượng đạm kết hợp với phân chuồng, nhằm tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển mạnh, thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn cộng sinh ở giai đoạn sau [3]

Trang 32

Mặc dù yêu cầu về đạm của cây lạc là rất lớn, song cũng chỉ cần bón một lượng nhỏ (25 - 30kg N/ha) tuỳ từng giống hay từng loại đất là đủ Nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy năng suất quả lạc chỉ tăng khi có một tỉ lệ thích hợp giữa N và P, không nên chỉ bón đơn lẻ mỗi loại yếu tố đó Bón đạm có thể bón vào đất và bón qua lá Hiệu lực 1kg đạm nguyên chất tăng từ (5 đến 8,6kg) lạc vỏ [5]

Lân: là yếu tố dinh dưỡng chủ đạo của cây lạc Lân có tác dụng kích thích sự sinh trưởng của cây lạc, làm cho lạc chín sớm, lân thúc đẩy sự phát triển của nốt sần, tăng sức sống của hạt [9] Bón lân cho lạc làm tăng khả năng tích luỹ chất khô của cây, kéo dài thời gian ra hoa và tăng tỷ lệ đậu quả [19] Tuy nhiên khi nghiên cứu nhu cầu về lân của cây lạc, rất nhiều tác giả cho rằng, lạc hút một lượng lân tương đối nhỏ Bởi trong thực tế cây lạc có thể mọc bình thường dù trong đất rất ít lân dễ tiêu, điều này có thể được là

nhờ sự hình thành liên kết rễ - nấm, hay vi khuẩn (photphobacteria) sống ở

vùng rễ và làm lân khó tiêu chuyển thành lân dễ tiêu

Lạc hấp thụ lân nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa, hình thành quả Trong thời gian này, lạc hấp thu tới 45% lượng hấp thụ lân của cả chu kỳ sinh trưởng Sự hấp thu lân giảm rõ rệt ở giữa thời kỳ quả chín [20] Theo kết quả nghiên cứu

về lân đối với lạc cho thấy rằng, đất càng nghèo lân thì hiệu lực của phân lân càng cao Mặc dù cây lạc chỉ cần một lượng lân nhỏ dễ tiêu để sản xuất ra lượng lạc quả lớn Song đối với cây lạc, vẫn phải bón một một lượng phân lân lớn vì hiệu quả hấp thụ lân từ phân bón rất thấp

Kali: Có vai trò quan trọng trong sự quang hợp của lá và sự phát triển

của quả, tăng khả năng giữ nước của tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc, tăng thêm tính chịu hạn và chống xuất hiện nhiều quả 1 hạt [15] Thiếu kali cũng sẽ làm cho cây sinh trưởng chậm lại, các lá bị chết khô và chuyển màu

ở những lá già, khi bị thiếu kali thì phần mép lá xuất hiện các đốm vàng nhạt,

Trang 33

phần còn lại vẫn có màu xanh đặc trưng Còn trên các lá non thì hiện tượng chuyển màu lại tương đối đều hơn, có khi còn có những chấm nhỏ màu nâu

hoặc vàng, lá chét sẽ uốn cong như hình thìa

Bón kali cho lạc trên đất có độ phì trung bình đã làm tăng khả năng hấp thu N và P Nếu thừa K sẽ cản trở sự hấp thụ Ca, Mg, đặc biệt ở vùng quả, làm thối quả, quả không mẩy [37]

Can xi: Là nguyên tố không thể thiếu khi trồng lạc Việc bón vôi cho lạc đã được nông dân ta sử dụng từ thập kỷ 60 lại đây và đã được đưa vào quy trình kỹ thuật từ nhiều năm nay Bón vôi cho lạc không chỉ có ý nghĩa là để làm tăng trị số pH của đất mà còn là chất dinh dưỡng cần thiết cho lạc, đồng thời tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn cố đinh đạm phát triển dễ dàng [31] Ca là một trong những yếu tố quan trọng nhất để sản xuất lạc hạt to Nhu cầu Ca của lạc cao nhất là thời kỳ hình thành quả và hạt [15] Kết quả nghiên cứu thử nghiệm (1991 - 1993) của Viện KHKTNNVN tại Nghệ An và Hà Bắc cho thấy: Bón vôi cho lạc ở hầu hết các điểm đều cho năng suất tăng lên đáng

kể, từ (8,5 - 36%) ở Nghệ An và (13 - 19,5%) ở Hà Bắc

Magiê, lưu huỳnh và các nguyên tố vi lượng: Có liên quan trực tiếp đến quang hợp của cây Tuy nhiên, ít thấy có biểu hiện thiếu magiê trên đồng ruộng, tuy rằng lượng magiê cây hấp thu là tương đương hoặc cao hơn chút ít

so với lượng lân hấp thu

Lưu huỳnh (S): Là thành phần của nhiều loại axitamin quan trọng trong cây, vì vậy, nó có mặt trong thành phần prôtêin của lạc Thiếu lưu huỳnh, sự sinh trưởng của lạc bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm phát triển [18]

Các nguyên tố vi lượng có vai trò điều chỉnh các hoạt động sống của cây Đối với lạc, có hai nguyên tố vi lượng quan trọng nhất là molipđen và bo Molipđen có tác dụng tăng hoạt tính vi khuẩn nốt sần, tăng khả năng đồng hóa

Trang 34

nitơ Ở Việt Nam, phần lớn đất trồng lạc thiếu molipden Khi lạc được phun molipden lên lá giai đoạn trước ra hoa sẽ làm tăng năng suất từ 10 - 16% [15]

Bo: là yếu tố giúp quá trình phát triển rễ, tăng khả năng chịu hạn, giúp cho quả không bị nứt, hạn chế nấm bệnh xâm nhập Thiếu bo làm giảm tỉ lệ

đậu quả, hạt lép, sức sống của hạt giảm Phun dung dịch Axit Boric có thể

làm tăng năng suất 4 - 10% [15] Ngoài ra, một số nguyên tố vi lượng khác như sắt, đồng, kẽm, sulphat mangan cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với năng suất lạc

b, Tình hình nghiên cứu về bón phân cho lạc trên thế giới

Chokhey Singh và Pathak (1969) cho rằng, việc bón phân cho lạc có hiệu quả kinh tế, dù trong điều kiện nước trời Kết quả của 200 thí nghiệm bón phân cho lạc ở Ấn Độ dẫn tới kết luận là: Bón trên 22kg N cho một ha thì không có hiệu quả Cũng theo 2 tác giả này, trên đất nhẹ hoặc trung bình, khi bón phối hợp 11,0kg N/ha, 10kg P2O5/ha và 19kg K2O/ha tăng năng suất lạc nước trời 154% so với đối chứng và cao hơn một cách có ý nghĩa khi bón đơn

độc N, P và K hoặc khi bón cùng lúc 2 trong 3 yếu tố trên [4]

Ở Ấn Độ, kết quả các thí nghiệm phân bón cho thấy, việc bón phối hợp

30kg N/ha với 17kg P2O5/ha thì năng suất lạc tăng gấp đôi so với chỉ bón 30kg N/ha Bón phối hợp 10 - 40kg N, 30 - 40kg P2O5, 20 - 40kg K2O cho 1

ha là mức bón tối ưu cho lạc ở Ấn Độ [47]

Ở Trung Quốc, bón Gypsun (hợp chất có hàm lượng Canxi cao) với

lượng 375kg/ha cho đất nâu ở Wubei đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha, tăng 11,8% so với đối chứng không bón Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, so với bón riêng lẻ N, P, K thì bón kết hợp đã làm tăng khả năng hấp thu đạm của cây lên 77,33%, của lân lên 3,75% Tỷ lệ bón phối hợp (N,P,K) thích hợp nhất đối với lạc là 1:1, 5:2 [48]

Trang 35

Theo Cornejo (1961), người Tây Ban Nha trồng lạc sau khoai tây và tập trung phân bón cho cây khoai tây với lượng: 60 tấn phân chuồng, 600kg Supe lân, 200 - 300kg KCl cho 1 ha thì vẫn có thể đạt năng suất của lạc (trồng sau khoai tây) là 2,5 - 3,5 tấn/ha

Ở Mỹ, nhiều vùng trồng lạc cũng cho thấy bón P, K cho cây bông là

cây trồng trước của lạc có hiệu quả hơn bón trực tiếp cho lạc

Qua phân tích các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy:

Công tác nghiên cứu chọn tạo giống lạc và các biện pháp kỹ thuật canh tác đã được các Quốc gia, các tổ chức và các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ Các kết quả nghiên cứu đã được

ứng dụng thành công và mang lại hiệu quả sản xuất to lớn tại nhiều nước như

1.4.2 Tình hình nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam

1.4.2.1 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống ở việt nam

Trước kia, do điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng chưa được đầu tư thích đáng Nên sản xuất nông nghiệp nói chung hay sản xuất lạc nói riêng của Việt Nam chủ yếu áp dụng những tiến bộ của các nước bạn, chủ yếu là Trung Quốc, Thái Lan

Gần đây, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống ở Việt Nam đã được

Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển Mặc dù còn một số hạn chế

nhất định song đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Nhiều giống lạc mới

có năng suất cao, thích ứng rộng và chống chịu sâu bệnh đã được giới thiệu cho sản xuất và được nông dân chấp nhận Bên cạnh đó, hàng loạt các giống

địa phương cổ truyền và số lượng đáng kể các vật liệu di truyền từ các nước

Trang 36

khác nhau đã được thu thập và bảo quản trong ngân hàng gen cây trồng của Viện KHKTNNVN trước đây và ngày nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác chọn tạo giống lạc hiện tại và tương lai

Thời gian qua, chúng ta đã nhập nội nhiều mẫu giống lạc từ các nơi trên thế giới Trên cơ sở đó, các nhà chọn tạo giống Việt Nam đã tập trung chọn tạo giống hướng theo các mục tiêu: Giống lạc năng xuất cao thích hợp cho từng vùng sinh thái, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng kháng sâu bệnh hại, tỷ lệ nhân và hàm lượng dầu cao dùng cho xuất khẩu [22]

Từ những năm 1980, Trung tâm giống cây trồng Việt Xô - Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VKHKTNNVN) đã tiến hành thu thập

có hệ thống và nhập nội nguồn vật liệu từ nước ngoài Số lượng mẫu giống lạc thu thập và nhập nội đã lên tới 1.271 mẫu, trong đó gồm 100 giống địa phương và 1.171 giống nhập từ 40 nước trên thế giới [15]

Từ năm 1974, bộ môn Cây Công nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp

I Hà Nội đã bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữu tính và phương pháp đột biến phóng xạ

Các giống được chọn tạo bằng phương pháp đột biến: Từ giống Bạch

Sa, sử dụng phương pháp đột biến phóng xạ tạo ra giống B5000 có hạt to, vỏ lụa màu hồng, năng suất cao ổn định [1] Từ 1986 đến 1990, Viện KHNN Miền Nam đã xử lí đột biến 3 giống: Lì, Bạch Sa 77, Trạm Xuyên đã chọn

Trang 37

lai giữa V79 và ICGV 87157, có năng suất trung bình là 30 tạ/ha, chịu hạn khá, nhiễm trung bình một số bệnh như đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, khối lượng

100 hạt 50 - 60g [31]

Giai đoạn 1996 - 2004 chương trình giống Quốc gia đã chọn tạo được

16 giống lạc, trong đó các giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14; giống

có khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn năng suất khá MD7, giống chất lượng cao L08, giống chịu hạn L12 hiện đang phát triển mạnh ở các tỉnh Phía Bắc Các giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn Lỳ địa phương, phù hợp cho các tỉnh phía Nam [10]

Một số giống tiến bộ kỹ thuật điển hình đang trồng phổ biến ngoài sản xuất trên cả nước:

Giống L02: Năng suất trung bình đạt (35 tạ/ha), trong điều kiện thâm canh tốt, năng suất có thể đạt tới 50 tạ/ha, kháng khá với bệnh đốm lá, gỉ sắt, héo xanh vi khuẩn [21]

Giống L08: Năng suất trung bình đạt (30 tạ/ha), kháng sâu chích hút, bệnh hại lá và bệnh héo xanh vi khuẩn ở mức trung bình [6]

Giống MD7: Là giống có tính thích ứng rộng, trồng thuần hay trồng xen đều có năng suất, trung bình đạt (35 tạ/ha), kháng bệnh héo xanh rất cao hiện được trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái của nước ta [7]

Giống L14: Là giống có năng suất tương đối cao, thích ứng rộng có thể

đạt (40 tạ/ha), có khả năng chịu hạn khá, kháng bệnh hại lá khá [21]

Giống L18: Là giống thích hợp cho vùng thâm canh, năng suất cao từ (50 - 55 tạ/ha), nhiễm trung bình với các bệnh hại lá [9]

Giống VD1: Chọn lọc từ giống Lỳ địa phương, có thời gian chín rất sớm, năng suất trung bình đạt (30 tạ/ha), thích hợp với các tỉnh phía Nam [2]

Các công tác chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào các mục tiêu: Năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng, giống có chất lượng cao phục vụ

ép dầu và xuất khẩu [37]

Trang 38

1.4.2.2 Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng lạc ở Việt Nam

Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu để xác định khoảng cách, mật độ trồng lạc tối ưu Theo Ưng Định và Đăng Phú 1987 [3], tổng hợp các nghiên cứu cho biết, tăng mật độ từ (22 cây/m2, 30cm x 15 cm x 1 cây) lên (33 cây/m2 với 30 cm x 10 cm x 1 cây), năng suất lạc tăng từ (15,0 lên 22,0 tạ/ha) Mật độ trồng (44 cây/m2, 30 cm x 15 cm x 2 cây), năng suất tăng lên (29,0 tạ/ha) Trên đất bạc màu Bắc Giang, lạc trồng với mật độ 25 cây/m2 (40 cm x

20 cm x 2 hạt) năng suất đạt 12,0 tạ/ha, trồng với mật độ 42 cây/m2 (30 cm x

15 cm x 2 hạt) năng suất tăng lên 15,0 tạ/ha

Đối với các giống lạc cũ ở Việt Nam đã xác định mật độ 33 - 35 cây/m2cho năng suất cao (Nguyễn Danh Đông và CS 1984) Theo TS Vũ Đình Chính và CS (2008) khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng tới khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14, MD7 trên đất Ý Yên - Nam Định cho thấy rằng: Mật độ trồng 40 cây/m2 có số quả/cây, tỷ lệ quả chắc, khối lượng 100 quả, khối lượng 100 hạt khá và năng suất thực thu cao, thể hiện ở giống L14 có năng suất lý thuyết ở mật độ trồng 40 cây/m2 đạt cao nhất là

60,52 tạ/ha và năng suất thực thu cũng đạt cao nhất 43,23 tạ/ha [37]

Lê Song Dự (1991) [1] xác định mật độ trồng thích hợp nhất cho giống lạc Sen Lai 75/23 trên đất cát biển Nghệ An là (35 cây/m2) theo khoảng cách (30 cm x 10 cm x 1 hạt) Những nghiên cứu ở vùng Đông Nam Bộ, kết quả cho thấy năng suất lạc đạt cao nhất (28,1 tạ/ha) ở khoảng cách gieo (20

cm x 20 cm x 2 hạt/hốc) đối với giống lạc VD1 [26]

Theo Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh và CS, (1999) [27], mật độ gieo thích hợp trong điều kiện có che phủ nilon là (25cm x 18cm x 2cây/hốc)

và không che phủ nilon là (25cm x 10cm x 1cây/hốc)

Trang 39

1.4.2.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón cho lạc ở Việt Nam

Lạc là cây có khả năng cố định đạm nhưng giai đoạn đầu cây rất cần

đạm do lượng dự trữ trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bình

thường của cây Tuy nhiên, việc bón đạm phải có chuẩn mực, vì bón đạm quá ngưỡng, thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành quả và hạt dẫn đến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện Nông hoá thổ nhưỡng trên đất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8 - 10 tấn phân chuồng, lượng bón thích hợp là 30kg N/ha, nếu tăng lên 40kg N/ha thì năng suất không tăng và hiệu lực giảm đi rõ rệt [22]

Ngô Thế Dân (2000) [22], Trần Danh Thìn (2001) [17] đều cho rằng,

để việc bón đạm thực sự có hiệu quả cao, cần bón kết hợp các loại phân

khoáng khác như lân, canxi và phân vi lượng khác

Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2001) [17] trên đất đồi bạc màu ở tỉnh Thái Nguyên cho thấy, bón 100 kg N/ha năng suất tăng (6,5 - 11,3 tạ/ha), bón 40kg N/ha năng suất tăng (5,7 lên 7,1 tạ/ha) so với không bón phân

Trên đất nghèo dinh dưỡng, hiệu lực của lân càng cao khi bón 60kg

P2O5/ha sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bón ở mức 90kg P2O5/ha cho năng suất cao nhất trên nhiều loại đất [19] Trung bình hiệu suất 1kg P2O5 là 4 - 6kg lạc vỏ Nếu bón 90kg P2O5 năng suất cao nhưng hiệu quả không cao [21]

Theo Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS (1979) [24], phân kali thường có hiệu lực cao đối với lạc trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng như: Đất cát thô ven biển, đất bạc màu Hiệu lực 1kg K2O trong các thí nghiệm biến động từ (5,0 - 11,5kg) quả khô Lượng kali bón thích hợp cho lạc ở các tỉnh phía Bắc là 40kg K2O trên nền 20kg N

và 80kg P2O5

Bón phân cân đối là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của phân bón và nâng cao năng suất lạc Theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) [16], trên đất cát ven biển Thanh Hoá, bón 10 tấn phân chuồng và 30kg N +

Trang 40

90kg P2O5 + 60kg K2O/ha làm tăng năng suất lạc (6,4 - 7,0 tạ/ha) so với không bón

Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2000) [17] cho biết, trên đất

đồi Thái Nguyên, vụ Xuân nếu bón riêng rẽ từng loại phân N, P, vôi thì năng

suất lạc tăng 14 - 31,5%, khi kết hợp lân với vôi năng suất tăng 64,9%, lân với đạm năng suất tăng 110,5%, nếu bón kết hợp cả lân, đạm, vôi thì năng suất tăng 140,3% so với không bón

1.4.2.4 Nguồn gốc các giống lạc thí nghiệm

- Giống lạc đỏ Cao Bằng: Là giống lạc địa phương có nguồn gốc ở Hà Bắc (nay tách ra thành Bắc Giang và Bắc Ninh) Được gieo trồng phổ biến ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ

Một số đặc điểm của giống: Thuộc nhóm (spanish) thân đứng, có thời

gian sinh trưởng ngắn (100 - 103 ngày trong vụ Hè Thu), khả năng phân cành

từ 6 - 8 cành, hoa ra không tập trung, quả nhỏ, tỷ lệ hạt/quả từ 79 - 80%, vỏ lụa của hạt có màu đỏ thẫm, hàm lượng dầu, đạm khá, hương vị thơm ngon,

có tính thích ứng mạnh với điều kiện thời tiết ở các địa phương [28]

- Giống lạc L23 được Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Đậu đỗ (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm) chọn lọc ra từ tập đoàn nhập nội từ

năm 2001 Giống lạc L23 thuộc dạng hình thực vật (Spanish), thân đứng, tán

gọn, chống đổ tốt, lá xanh đậm, sinh trưởng khoẻ, ra hoa kết quả tập trung, kháng bệnh lá (đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt) và kháng héo xanh vi khuẩn khá Khối lượng 100 quả: 145 - 150 gam, khối lượng 100 hạt: 58 - 61 gam, tỷ lệ nhân: 70 - 72%, tiềm năng năng suất từ 50 - 55 tạ/ha Quả có gân rõ, vỏ hạt màu hồng L23 là giống chịu thâm canh cao, thời gian sinh trưởng 120 ngày (vụ Xuân) và 95 - 110 ngày (vụ Thu Đông) Chiều cao thân chính từ 35 - 50cm Giống L23 có thể trồng trên đất ruộng, đất bãi ven sông, ven biển có thành phần cơ giới thích hợp là cát pha Giống L23 cũng có thể trồng được ở

cả 2 thời vụ trong năm (vụ Xuân và vụ Thu Đông) [39]

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Song Dự, Đào Văn Huynh, Ngô Đức Dương (1991),“Giống lạc Sen lai 75/23 ”, Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.53-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống lạc Sen lai 75/23 ”, "Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt nam
Tác giả: Lê Song Dự, Đào Văn Huynh, Ngô Đức Dương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1991
2. Ngô Đức Dương (1984), Kỹ thuật trồng lạc, Cây lạc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lạc
Tác giả: Ngô Đức Dương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1984
3. Ưng Định, Đặng Phú (1977), Thâm canh lạc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm canh lạc
Tác giả: Ưng Định, Đặng Phú
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1977
4. Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung (1995), Cây lạc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lạc
Tác giả: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
5. Trần Văn Lài (1993), Kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu, vừng. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu, vừng
Tác giả: Trần Văn Lài
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
6. Nguyễn Văn Luật (2005), Sản xuất cây trồng hiệu quả cao, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất cây trồng hiệu quả cao
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
7. Trần Đình Long, Nguyễn Văn Phương, Lê Huy Phương (1991), “Tiến bộ kỹ thuật trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam”, Nguồn gen cây lạc ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến bộ kỹ thuật trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam”, Nguồn gen cây lạc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Long, Nguyễn Văn Phương, Lê Huy Phương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1991
8. Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Thị Chinh, Trần Đình Long, Nguyễn Thái An, Hoàng Minh Tâm, Nguyễn Xuân Thu (2002), “Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lạc L12 cho vùng khó khăn”, Tuyển tập các công trình khoa học kỹ thuật Nông nghiệp năm 2002, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lạc L12 cho vùng khó khăn”, "Tuyển tập các công trình khoa học kỹ thuật Nông nghiệp năm 2002
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Thị Chinh, Trần Đình Long, Nguyễn Thái An, Hoàng Minh Tâm, Nguyễn Xuân Thu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Phạm Văn Thiều (2002), Kỹ thuật trồng lạc năng suất và hiệu quả. NXB Nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng lạc năng suất và hiệu quả
Tác giả: Phạm Văn Thiều
Nhà XB: NXB Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
10. Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh (2005), “ Kết quả chọn tạo và phát triển giống đậu đỗ 1985 - 2005 và định hướng phát triển 2006 - 2010”, Khoa học công nghệ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 20 năm đổi mới, Trồng trọt bảo vệ thực vật, 1, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.102-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo và phát triển giống đậu đỗ 1985 - 2005 và định hướng phát triển 2006 - 2010”, "Khoa học công nghệ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 20 năm đổi mới, Trồng trọt bảo vệ thực vật
Tác giả: Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
11. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 2011. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lạc, 01- 57 : 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lạc
15. Nguyễn Thị Chinh, Kỹ thuật thâm canh lạc năng suất cao, NXB Nông nghiệp (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật thâm canh lạc năng suất cao
Nhà XB: NXB Nông nghiệp (2006)
16. Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên và cộng sự (1991), “Sử dụng phân bón hợp lý cho lạc trên một số loại đất nhẹ”, Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà 8Nội, tr. 81-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phân bón hợp lý cho lạc trên một số loại đất nhẹ”, "Tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt nam
Tác giả: Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1991
17. Trần Danh Thìn (2001), Vai trò của cây đậu tương, cây lạc và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh ở một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, Luận án tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, Hà Nội, tr.122 -126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cây đậu tương, cây lạc và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh ở một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, Luận án tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp
Tác giả: Trần Danh Thìn
Năm: 2001
18. Nguyễn Thị Chinh (1996), Nâng cao năng suất lạc ở nhóm chín sớm thích hợp cho một số tỉnh phía Bắc Việt Nam bằng con đường chọn tạo giống, Luận án phó tiến sĩ khoa học nông nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng suất lạc ở nhóm chín sớm thích hợp cho một số tỉnh phía Bắc Việt Nam bằng con đường chọn tạo giống, Luận án phó tiến sĩ khoa học nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Chinh
Năm: 1996
19. Đường Hồng Dật (2007), Cây lạc và biện pháp thâm canh nâng cao hiệu quả sản xuất, NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lạc và biện pháp thâm canh nâng cao hiệu quả sản xuất
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 2007
20. Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn (chủ biên), Bùi Xuân Sửu (1996), Giáo trình cây công nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn (chủ biên), Bùi Xuân Sửu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
21. Nguyễn Thị Chinh, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Thắng, Phan Quốc Gia, Nguyễn Xuân Thu (2002) “ Kết quả nghiên cứu phát triển vụ lạc thu đông ở các tỉnh phía Bắc”, Tuyển tập các công trình khoa học kỹ thuật nông nghiệp 2001 - 2002, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr 101 -114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu phát triển vụ lạc thu đông ở các tỉnh phía Bắc”, "Tuyển tập các công trình khoa học kỹ thuật nông nghiệp 2001 - 2002
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
23. Đường Hồng Dật, 450 giống cây trồng mới năng suất cao, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 450 giống cây trồng mới năng suất cao
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
12. Cơ sở dữ liệu nông nghiệp nông thôn các tỉnh, vụ kế hoạch - Bộ Nông nghiệp và PTNT 2012, http://vukehoach.mard.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thí nghiệm 1 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Sơ đồ th í nghiệm 1 (Trang 46)
Bảng 3.1.Khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.1. Khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển (Trang 51)
Bảng 3.2. Khả năng phân cành của các giống lạc thí nghiệm - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.2. Khả năng phân cành của các giống lạc thí nghiệm (Trang 53)
Bảng 3.5.  Mức độ nhiễm một số bệnh chính của các giống lạc - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.5. Mức độ nhiễm một số bệnh chính của các giống lạc (Trang 56)
Bảng 3.6.  Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống lạc vụ Hè Thu năm 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.6. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống lạc vụ Hè Thu năm 2012 (Trang 58)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sự sinh trưởng, phát triển - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sự sinh trưởng, phát triển (Trang 60)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ nhiễm bệnh lạc - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ nhiễm bệnh lạc (Trang 63)
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của mật độ khác nhau đến các giai đoạn sinh trưởng, - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của mật độ khác nhau đến các giai đoạn sinh trưởng, (Trang 66)
Bảng 3.14. Ảnh hưởng mật độ trồng đến sâu hại lạc L14 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.14. Ảnh hưởng mật độ trồng đến sâu hại lạc L14 (Trang 68)
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của mật độ đến mức độ nhiễm một số bệnh ở - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của mật độ đến mức độ nhiễm một số bệnh ở (Trang 69)
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất giống lạc L14 vụ Hè Thu năm 2013 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất giống lạc L14 vụ Hè Thu năm 2013 (Trang 72)
Bảng 3.17.Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh (Trang 74)
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ nhiễm - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ nhiễm (Trang 76)
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất giống lạc L14 vụ Hè Thu năm 2013 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất giống lạc L14 vụ Hè Thu năm 2013 (Trang 78)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w