1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ

98 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài:“ Đánh giá thực trạng môi trường nông thôn và đề xuất một số giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trong xây dựng nông

Trang 1



HOÀNG THỊ THU HIỀN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN

VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG, QUY HOẠCH VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ DIỄN THỌ - HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2



HOÀNG THỊ THU HIỀN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN

VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG, QUY HOẠCH VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ DIỄN THỌ - HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thanh Vân

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Trong thời gian thực tập tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ

An, tôi đã chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định của cơ quan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài:“ Đánh giá thực trạng môi trường nông thôn và đề xuất một số giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” đều được được thu thập, điều tra, khảo sát thực tế

một cách trung thực, đánh giá đúng thực trạng của địa phương nơi nghiên cứu

Diễn Thọ, ngày 30 tháng 09 năm 2012

Học viên

Hoàng Thị Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, ban quản lý đào tạo khoa sau đại học cùng toàn thể các thầy cô đã tận tụy dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đào Thanh Vân đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cấp ủy chính quyền cán bộ các ban, ngành xã và bà con nhân dân xã Diễn Thọ nơi tôi nghiên cứu đề tài, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập

Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như là hạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 09 năm 2012

Học viên

Hoàng Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Các khái niệm liên quan 4

1.1.2 Cơ sở pháp lý 7

1.2 Cơ sở thực tiễn 8

1.2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng môi trường trên thế giới 8

1.2.2 Các vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam 12

1.2.3 Các vấn đề môi trường cấp bách tại tỉnh Nghệ An hiện nay 17

1.2.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên thế giới 18

1.2.5 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 24

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 31

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31

2.2 Nội dung nghiên cứu 31

2.2.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 31

2.2.2 Đánh giá hiện trạng môi trường xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu theo mô hình Động lực – Áp lực – Trạng thái – Tác động – Đáp ứng (DPSIR) 31

Trang 6

2.2.3 Đánh giá tiêu chí môi trường tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn

Châu, tỉnh Nghệ An 32

2.2.4 Giải pháp, quy hoạch, định hướng 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu 32

2.3.2 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 33

2.3.3 Phương pháp tổng hợp, đánh giá, so sánh 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 34

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36

3.2 Đánh giá thực trạng môi trường xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu theo mô hình Động lực – Áp lực – Trạng thái – Tác động – Đáp ứng (DPSIR) 40

3.2.1 Gia tăng dân số 41

3.2.2 Hoạt động phát triển kinh tế 51

3.2.3 Trình độ nhận thức 57

3.3 Đánh giá hệ thống tiêu chí môi trường đã được định ra trong xây dựng nông thôn mới 63

3.4 Các giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 64

3.4.1 Về cấp nước: 64

3.4.2 Về thoát nước thải và vệ sinh môi trường 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Đề nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 77

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BNN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

BVMT Bảo vệ môi trường

BVTV Bảo vệ thực vật

CTCC Công trình công cộng

CTR Chất thải rắn

ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long

EM Effective Microorganisms – Vi sinh vật hữu hiệu

MHNTM Mô hình nông thôn mới

NQ/TW Nghị quyết, Trung ương

SXKD Sản xuất kinh doanh

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thong

TT – BTNMT Thông tư Bộ tài nguyên môi trường

UBND Ủy ban mặt trận

UBMTTQ Ủy ban mặt trận tổ quốc

VSMT Vệ sinh môi trường

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng 13

Bảng 1.2 Tình trạng phát sinh chất thải rắn 16

Bảng 3.1: Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong xã: 42

Bảng 3.2: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng loại cống thải 43

Bảng 3.3 Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 45

Bảng 3.4: Các hình thức đổ rác của xã 47

Bảng 3.5: Thực trạng nhà vệ sinh tại xã Diễn Thọ 49

Bảng 3.6: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh 50

Bảng 3.7: Những loại phân bón được các hộ gia đình sử dụng 53

Bảng 3.8: Ý kiến về việc cải thiện điều kiện môi trường 58

Bảng 3.9 Nhận thức của người dân về vấn đề môi trường 59

Bảng 3.10 Đánh giá tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 63

Bảng 3.11: Bảng tính toán nhu cầu sử dụng nước 65

Bảng 3.12: Bảng tính toán lượng nước thải 67

Bảng 3.13: Bảng dự báo CTR toàn xã 69

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Các loại cống thải hộ gia đình sử dụng 43

Hình 3.2 Các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 45

Hình 3.3: Các hình thức đổ rác của hộ gia đình 47

Hình 3.4: Thực trạng nhà vệ sinh của các hộ gia đình 50

Hình 3.5: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh 51

Hình 3.6: Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “NÔNG NGHIỆP” 52

Hình 3.7: Những loại phân bón được các hộ gia đình sử dụng 53

Hình 3.8: Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP” 55

Hình 3.9: Sơ đồ cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường 56

Hình 3.10: Ý kiến về việc cải thiện điều kiện môi trường 58

Hình 3.11 Mô hình quản lý rác thải cấp thôn (xúm) có đơn vị VSMT hoạt động 70

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hiện nay phát triển nông thôn không còn là việc riêng của các nước đang phát triển mà là sự quan tâm của cả cộng đồng thế giới Việt Nam là nước đông dân, với 80% dân số, 70% lao động nông nghiệp đang sinh sống

ở vùng nông thôn Nông thôn chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước.[3] Thực trạng nông thôn Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn

đề bất cập, so sánh với thành thị, trình độ văn hóa, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần và khả năng tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật của người dân nông thôn thấp hơn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, kém hơn cả về số lượng

và chất lượng.[1] Tuy nhiên, nông thôn có tiềm năng đất đai, tài nguyên khoáng sản phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, đây là điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển Xây dựng, quy hoạch phát triển nông thôn mới nhằm

sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên, nhanh chóng thay đổi bộ mặt nông thôn, phát triển nông thôn toàn diện, bền vững là nhiệm vụ cần thiết của nước ta trong giai đoạn mới

Xây dựng nông thôn mới là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa

và hiện đại hóa Hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ

đã có quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm

19 tiêu chí) về nông thôn mới Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước

Mục tiêu của việc xây dựng nông thôn mới ngoài việc phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư thì việc bảo vệ môi trường sinh thái tại nơi người dân sinh sống rất quan trọng Trong bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới thì tiêu chí số 17 nói về vấn đề môi trường nông thôn Tuy nhiên, không được xem là quan trọng như một số tiêu chí khác, trong xây dựng nông thôn mới, nhiều địa phương đã “gặp khó” về tiêu chí

Trang 11

môi trường Nhiều vấn đề về môi trường nông thôn đã và đang trở thành vấn

đề nan giải, các địa phương cần nhìn nhận việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới là vấn đề rất quan trọng và lâu dài, cần được quan tâm đúng mức Bởi vì, khi môi trường nông thôn bị suy giảm, sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy xấu mà rất khó khắc phục như bệnh tật gia tăng, nguồn nước, đất sản xuất… bị ô nhiễm, suy giảm

Tỉnh Nghệ An là một trong những tỉnh đang triển khai thực hiện chương trình phát triển mô hình nông thôn mới, hiện nay đã xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới tại một số địa điểm Xã Diễn Thọ, Huyện Diễn Châu là một trong những xã được xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An Để có những đánh giá rõ hơn về thực trạng môi trường nông thôn tại xã cùng với việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa

phương tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá thực trạng môi trường nông thôn và đề xuất một số giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”

2 Mục tiêu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất các giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường trên địa bàn xã

- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến môi trường

- Giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trên địa bàn xã Diễn Thọ

3 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường tại

xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

- Đánh giá các tác động của môi trường đối với đời sống, kinh tế và xã hội xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Trang 12

- Đề xuất các giải pháp về môi trường trong quy hoạch nông thôn mới trên địa bàn xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học

+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này

+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu

- Ý nghĩa trong thực tiễn:

+ Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người dân về việc bảo vệ môi trường

+ Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhận thức của người dân về môi trường

+ Xác định thực trạng môi trường nông thôn tại xã Diễn thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho địa phương nói riêng và khu vực nông thôn thuộc tỉnh Nghệ An nói chung

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Các khái niệm liên quan

- “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngươì, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người và sinh vật” (Luật bảo vệ môi trường, 2005) [8]

- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp vối tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật [8]

- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học [8]

- Nông thôn là vùng khác với đô thị mà ở đó có một cộng đồng chủ yếu

là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn”.[1]

- Phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau

Theo Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “ Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển” [3]

Quan điểm khác lại cho rằng, phát triển nông thôn nhằm nâng cao về vị thể kinh tế và xã hội cho người dân nông thôn qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực

Trang 14

Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau Phát triển nông thôn là qua trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn,nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ Đồng thời đây là quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn

Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Vì vậy trong điều kiện của Việt Nam , được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu:

“Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” [3]

- Mô hình nông thôn mới

Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại

mà vẫn giữ đựơc nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam Nhìn chung: mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa

Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tấ cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước

Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt” [20]

Trang 15

- Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một

chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm có 11 nội dung, trong đó nội dung thứ 9 nói về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn [9]

+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến năm 2020 có 80% số xã đạt chuẩn

- Mô hình DPSIR

* Khái niệm về mô hình DPSIR: Do tổ chức Môi trường châu Âu (EEA)

xây dựng vào năm 1999, được viết tắt của 5 từ tiếng Anh: [6]

- Driving Forces (D), có nghĩa là lực Lực điều khiển (Dự án EIR dịch

là động lực), lực điều khiển có tình khái quát nào đang tác động lên môi trường của địa bàn đang được xem xét, ví dụ: Sự gia tăng dân số, công nghiệp hoá, đô thị thị hoá

- Pressure (P), có nghĩa là áp lực Áp lực lên nhân tố môi trường

Ví dụ: Xả thải khí, nước đã bị ô nhiễm, chất thải rắn, chất thải độc hại vào môi trường

- State (S), có nghĩa là tình trạng Tình trạng môi trường tại một thời

điểm hoặc thời gian nhất định Ví dụ tình trạng không khí, nước, đất, tài nguyên khoáng sản, đa dạng sinh học

Trang 16

- Impact (I), có nghĩa là tác động Tác động tiêu cực hoặc tích cực của tình

trạng đó đối với con người cũng như điều kiện sinh sống, hoặt động sản xuất của con người

- Response (R), có nghĩa là đáp ứng Con người có những hoạt động gì

để đáp ứng nhằm khắc phục các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực nêu trên

Mô hình DPSIR nói lên rằng để hiểu tình trạng, môi trường tại một địa bàn, có thể là trên toàn cầu, tại một quốc gia, một tỉnh hay một địa phương ta phải biết

* Theo thông tư 09/2009/TT – BTNMT ngày 11/8/2009 của Bộ Tài

nguyên và Môi trường được định nghĩa như sau: Mô hình DPSIR là mô hình

mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động lực - D (phát triển kinh tế - xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường) - Áp lực - P (các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường) - Hiện trạng - S (hiện trạng chất lượng môi trường) - Tác động - I (tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức khoẻ cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái) - Đáp ứng - R (các giải pháp bảo vệ môi trường) [8]

1.1.2 Cơ sở pháp lý

+ Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

+ Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới

+ Quyết định số 3875/QĐ – UBND.NN ngày 31/8/2010 của UBND tỉnh Nghệ An về phê duyệt kế hoạch chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2020

+ Công văn số 2536/HD.NN.KHTC ngày 02/11/2010 của UBND tỉnh Nghệ An về hướng dẫn về việc xây dựng kế hoạch hàng năm cho xã để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010 – 2020

Trang 17

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng môi trường trên thế giới

Theo Lê Thạc Cán [2], Trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tinh hình môi trường trên thế giới hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả các nhân tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên có những đặc điểm sau:

* Tăng trưởng dân số nhanh:

Dân số thế giới đã lên tới 6,7 tỉ người, các thành phố đông dân nhất trên thế giới hiện nay là Tokyo là 35 triệu người, Mexico 19,4 triệu người, NewYock 18,7 triệu người, Bombay là 18,2 triệu người Trên thế giới bình quân mỗi giây có 3 trẻ em ra đời, mỗi ngày nhân loại sản sinh ra 30 vạn trẻ

em Với tốc độ sinh đẻ này thì đến năm 2120 dân số thế giới sẽ vượt quá 15 tỉ người, lúc đó mọi nơi trên thế giới đều lâm vào cảnh đất chật người đông (Trần Thiên Nam, 2008) [7]

Dân số càng nhiều, sức ép về thực phẩm, lương thực, năng lượng, môi trường, tài nguyên cũng ngày càng lớn

* Suy giảm tài nguyên đất:

Hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với sự gia tăng dân số và suy giảm tài nguyên đất Theo số liệu của Viện Tài nguyên môi trường thế giới, vào năm 1993 quỹ đất cho toàn nhân loại là 13.041,7 triệu ha, trong đó trồng trọt chiếm khoảng 20,6 %, đồng cỏ chiếm 69,6 % Diện tích đất bình quân loài người trên toàn thế giới là 2,432 ha, ở châu Á là 0,81 ha, châu Âu là 0,91

ha Phần lớn đất trồng trọt tăng lên là lấy từ đất rừng, gây nên những hậu quả xấu về môi trường

* Đô thị hoá mạnh mẽ:

Quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng trên toàn Thế giới, với tốc độ là 3% hàng năm cho toàn thế giới và 3 - 5% cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương Năm 1995, 45% dân số thế giới sống ở các đô thị

Dự báo đến năm 2020, tại các nước đang phát triển trong khu vực 50 % dân

số sống ở các đô thị và tại các nước phát triển tỉ lệ này là 75 %

Trang 18

* Mất cân đối dân số đô thị và nông thôn:

Dân số nông thôn trên thế giới hiện nay đang tăng nhanh với tốc độ là 1% Tại các khu vực châu Á - Thái Bình Dương tốc độ là 1 – 2,5% Với xu thế này sự phân bố dân cư đô thị và nông thôn ngày càng mất cân bằng Một mặt lực lượng lao động trẻ em sẽ bị thu hút vào đô thị, gây thêm những căng thẳng về chất lượng môi trường Mặt khác tại nông thôn do thiếu lực lượng lao động trẻ, khoẻ, công tác phục hồi suy thoái sẽ ngày càng khó khăn

Sự mất cân đối này thường diễn ra qua việc dân nông thôn di cư một cách vô tổ chức lên các đô thị Viện Tài nguyên thế giới ước lượng rằng, trên thế giới hàng năm có khoảng 70.000 km2 đất nông nghiệp bị bỏ hoang do không còn mầu mỡ, khoảng 20.000 km2 khác năng suất giảm sút rõ rệt

* Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập không đều:

Trong khu vực châu Á - thái Bình Dương, vùng có tăng trưởng kinh tế cao với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội trên 6 % trong những năm đầu thập kỉ 90 Phần Đông Nam Á và Đông Bắc Á có tốc độ tăng trưởng lớn hơn 7 % trong khi đó phần Nam Á chỉ tăng trưởng nhỏ hơn 4 %

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao kéo theo nhu cầu lớn về tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy quá trình đô thị hoá Nếu không được quản lí tốt thì đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy thoái môi trường

Trang 19

Sự phân phối thu nhập trong khu vực phân bố không đều, 25% dân số sống dưới mức nghèo khổ Điều này tạo áp lực mạnh mẽ đối với tài nguyên thiên nhiên Do những người nghèo khổ, không vốn, không phương tiện và thiết bị chỉ còn cách kiếm sống độc nhất là khai thác cùng kiệt tài nguyên thiên nhiên còn ở trong tầm lao động của họ

* Nhu cầu về lương thực tăng nhanh:

Do việc tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã làm tăng nhu cầu về lương thực và thực phẩm, đặc bịêt là nhu cầu tiêu dùng về thịt và sữa Hiện nay nhu cầu về thực phẩm đang chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu chính sách thực phẩm thế giới cho biết: nhu cầu về thịt bình quân hàng năm/người của thế giới sẽ tăng từ 6-23 kg vào năm 2050 Những sự thay đổi về nhu cầu lương thực của thế giới sẽ tạo nên sự khó khăn về sản xuất thực phẩm, gây ra những bất lợi về an ninh lương thực và ô nhiễm môi trường

* Sản xuất lương thực tăng chậm và bước vào thời kì suy giảm:

Báo cáo mới nhất của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) về triển vọng mùa vụ và tình hình lương thực cho thấy, sản lượng lương thực toàn cầu năm 2009 dự kiến sẽ sụt giảm so với năm 2008 Nguyên nhân do thời tiết bất lợi làm sản lượng lương thực suy giảm tại hầu hết các nước sản xuất lương thực lớn trên thế giới

Tại các nước thu nhập thấp và bị thiếu hụt về lương thực, dự đoán sản lượng lương thực năm 2009 sẽ thấp hơn năm 2008 Các nước khu vực Nam Phi sẽ có sản lượng ngô ở mức thấp hơn Dựa trên sản lượng lương thực năm

2008, FAO dự đoán lượng lương thực thế giới dự trữ cho vụ mùa 2009-2010

sẽ là 496 triệu tấn, mức cao nhất kể từ năm 2002

Mặt khác, theo FAO, giá cả lương thực, thực phẩm tại một số nước phát triển vẫn ở mức cao, làm giảm khả năng tiếp cận lương thực thực phẩm của nhóm dân số thu nhập thấp Khủng hoảng lương thực hiện vẫn đang tiếp diễn ở 32 nước trên thế giới (Ngân Tuyền, 2009) [24]

Trang 20

* Gia tăng sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu:

Nhìn chung trên toàn thế giới lượng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu, diệt cỏ sử dụng vào nông nghiệp đang tiếp tục tăng thêm, tại một số nơi tăng thên theo cấp độ số nhân Tổ chức WHO ước lượng hàng năm có khoảng 3% lao động trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển (25 triệu người) bị nhiễm độc thuốc trừ sâu Tuy nhiên trong những năm gần đây, các tổ chức quốc tế: tổ chức Nông Lương (FAO), tổ chức Y tế thế giới (WHO), chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức môi trường đã cố gắng hạn chế việc sử dụng các hoá chất nhân tạo vào nông nghiệp và đã thu được những kết quả bước đầu

Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương là nơi đã và đang có sự gia tăng mạnh mẽ về việc sử dụng thuốc trừ sâu Trong những thập kỉ 80, lượng thuốc trừ sâu được sử dụng tại các nước Indonesia, Pakistan, Philippin, Srilanka, đã gia tăng hơn 10% hằng năm Lượng phân bón hoá học được sử dụng dự kiến

sẽ giảm với tốc độ khoảng 4,3% hằng năm

* Gia tăng sa mạc hoá

Do con người đã khai hoang đất quá mức khiến ngày càng nhiều khu vực đối mặt với nguy cơ sa mạc hoá, đặc biệt là thời gian gần đây, với những biến đổi bất thường của khí hậu, nhiều khu vực gặp hạn hán triền miên khiến cho tình hình càng thêm trầm trọng Theo như bản báo cáo về khí hậu toàn cầu, gần đây hạn hán đã gây ảnh hưởng đến ít nhất 41% diện tích đất, khiến những vùng đất nhanh chóng bị sa mạc hoá Từ năm 1990 cho đến nay, những biến đổi xấu của khí hậu đã gây ảnh hưởng đến diện tích mặt đất từ 15% đến 25%

Nếu như các nước trên thế giới không tìm ra được những phương án tích cực, đến năm 2025, 70% diện tích bề mặt của trái đất của chúng ta sẽ xuất hiện hiện tượng khô cằn (Theo VITInfo, 2009) [25]

Trang 21

Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,8 tỷ ha rừng, hàng năm mất đi khoảng trên 15 triệu ha, tỷ lệ mất rừng nhiệt đới khoảng 2%/năm, châu Á mỗi năm mất đi khoảng 5 triệu ha Việc này đã gây tổn hại rất lớn cho môi trường và khí hậu toàn cầu [6]

* Rác thải rắn cũng tăng lên:

Rác thải rắn bình quân vào khoảng 0,4 - 1,5 kg/người/ngày, ngày càng tăng lên đồng biến với thu nhập quốc dân Thành phần của rác cũng thay đổi theo hướng tăng lên của bộ phận rác không thể chế biến thành phân hữu cơ được Hoa Kì mỗi năm phải xử lí, chôn vùi 150 triệu tấn rác thải

Ở các đô thị và khu công nghiệp, rác thải rắn cũng trở thành vấn đề nghiêm trọng trong hơn 20.000 m3 rác thải/ngày của các đô thị thì 50% số này được thu gom và xử lí thô sơ Trong rác thải rắn có cả những chất độc hại

như kim loại nặng, nguổn dịch bệnh nguy hiểm

1.2.2 Các vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam

Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn

do Bộ y tế và tổ chức UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/03/2008 cho thấy VSMT và vệ sinh cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình, 11,7% trường học, 36,6 trạm y tế xã 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến

xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế (Quyết định 08/2005/QĐ-BYT);

Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp 7,8% khu chợ nông thôn; 11,7% dân cư nông thôn; 14,2% trạm y tế xã; 16,1% UBND xã; 26,4% trường học có tiếp cận sử dụng nước máy; Ngoài ra, kiến thức của người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn rất hạn chế, thái độ của người dân còn rất bàng quang về vấn đề này [7]

Vấn đề nước sạch và môi trường:

Vấn đề phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và VSMT nông thôn Nếu như chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giản là nước mưa, nước giếng khoan qua xử lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước sạch được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ người dân nông thôn nhất là khu vực miền núi còn rất thấp Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông qua bảng

số liệu sau

Trang 22

Bảng 1.1 Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng

(ĐVT: %)

được cấp nước sạch (%)

3 Bắc Trung Bộ & Duyên Hải miền Trung 36 – 36

Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam đang phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào Ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được

sử dụng nước sạch Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía Bắc, chỉ có 15% dân

số được cấp nước sạch

Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán… Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu sắt, thiếu máu, kém phát triển, gây tử vong nhất là trẻ em Có 88% trường hợp tiêu chảy là do thiếu nước sạch, VSMT kém Có thể thấy, nguyên nhân gây tình trạng ô nhiễm môi trường và nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau:

+ Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hoá chất trong nông nghiệp như phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có kiểm soát

Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng còn ở mức trung bình cho 1ha gieo trồng, bình quân 80-90 kg/ha (cho lúa là 150-180kg/ha), so với Hà Lan 758kg/ha, Hàn Quốc 467kg/ha, Trung Quốc 390kg/ha Tuy nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến môi trường nông nghiệp và nông thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp; Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm; Chất lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón N-P-K, hữu cơ vi sinh,

Trang 23

hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không đảm bảo chất lượng đăng kí, nhẵn mác, bao bì nhái, đóng gói không đúng khối lượng đang là áp lực chính cho nông dân và môi trường đất [4]

+ Ngoài ra miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập tục sử dụng phân người, phân chuồng tươi vào canh tác Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), phân tươi được coi là thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng sức khoẻ con người

+ Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc diệt chuột; thuốc trừ cỏ Các loại này có đặc điểm là rất độc với mọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất, nước gây ô nhiễm; Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất và môi trường nước

+ Hiện nay nước ta chưa sản xuất được thuốc BVTV mà phải nhập khẩu để gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang chai đóng gói nhỏ tại các nhà máy trong nước

Đặc biệt ở rau xanh, sâu bệnh có thể làm tổn thất trung bình từ 10 - 40% sản lượng nên đầu tư cho thuốc BVTV sẽ mang lại lợi nhuận trên 5 lần Chính vì vậy, lượng thuốc BVTV sử dụng cho rau thường quá mức cho phép Điều này dẫn đến ô nhiễm đất, nước Từ môi trường đất nước, nông sản, thuốc BVTV sẽ xâm nhập vào cơ thể con người và tích tụ lâu dài gây các bệnh như ung thư, tổn thương về di truyền Trẻ em nhạy cảm với thuốc bảo vệ thực vật cao hơn người lớn gấp 10 lần Đặc biệt thuốc BVTV làm cho trẻ em thiếu ôxi trong máu, suy dinh dưỡng, giảm chỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết

Điều đáng quan tâm là tình trạng ngộ độc thực phẩm do các hoá chất độc, trong đó có thuốc BVTV vẫn diễn ra phức tạp và có nhiều hướng gia tăng không chỉ riêng ở nông thôn mà còn ở các thành phố lớn có sử dụng nông sản có nguồn gốc từ nông thôn

Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc BVTV còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn Hàng năm có khoảng 10% Số lượng thuốc

Trang 24

được nhập lậu Số này rất đa dạng về chủng loại, chất lượng không đảm bảo

mà vẫn lưu hành trên thị trường Việc sử dụng còn tuỳ tiện, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo nhãn mác không đảm bảo thời gian cách li của từng loại thuốc Một lượng lớn thuốc BVTV tồn đọng tại các kho cũ, hết niên hạn

sử dụng còn nằm dải rác tại các tỉnh thành trên cả nước Theo Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hoá học (năm 2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV tồn đọng có nhiều chất nằm trong số 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phá huỷ Và cuối cùng là việc bảo quản thuốc BVTV còn rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều hộ để thuốc BVTV trong nhà, trong bếp, trong chuồng nuôi gia súc [4]

Theo Phạm Ngọc Quế (2003) hiện tại số hộ ở nước ta chăn nuôi gia súc gia cầm là rất phát triển nhưng phương thức chăn nuôi lạc hậu (thả rông, làm chuồng dưới nhà sàn, phân để trong chuồng lâu không được xử lý hoặc dọn rửa chuồng xả bừa bãi vào các nguồn nước…) đã làm cho môi trường nông thôn ngày càng ô nhiễm Ngoài lượng phân, còn có nước tiểu, thức ăn thừa cũng chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng số chất thải do chăn nuôi đưa đến Rõ ràng nếu lượng phân này không được xử lý tốt chắc chắn sẽ tạo ra một sự ô nhiễm đáng kể đối với vệ sinh môi trường [7]

Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân Hiện nay cả nước có khoảng

1450 làng nghề, phân bố trên 58 tỉnh thành và đông đúc nhất ở đồng bằng sông Hồng, vốn là cái nuôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472 làng nghề các loại tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Thái Bình, Bắc Ninh…Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ sản xuất lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%) Do

đó đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ của người dân làng nghề [4]

Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là

than Do đó lượng bụi và các lượng khí CO, CO2, SO2 và NO2 thải ra trong quá trình sản xuất trong làng nghề khá cao Theo kết quả điều tra tại các làng nghề sản xuất gạch đỏ (ở Khai Tái, Hà Tây), sản xuất vôi (ở Xuân Quan - Hưng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 6000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò đã

Trang 25

sinh ra nhiều loại bụi như CO, CO2, SO2, NOx và nhiều loại thải khác gây nguy hại tới sức khoẻ của người dân trong khu vực và làm ảnh hưởng hoa màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây các vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình, Bắc Ninh, Hưng Yên… [4]

Ô nhiễm môi trường đất: chủ yếu tập trung tại các làng nghề tái chế

kim loại Kết quả nghiên cứu của đề tài KC.08.06 cho thấy một số mẫu đất ở làng nghề tái chế thuộc xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cho thấy hàm lượng Cu2+ đạt từ 43,68 - 69,68 ppm Hàm lượng các kim loại nặng cũng rất cao, vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép [4]

Bên cạnh đó có khoảng 3.600 chợ nông thôn, trung bình mỗi ngày thải ra

40 - 50 kg chất thải Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến nên mới thu gom được khoảng 30% chuyên chở về những nơi tập trung rác Bãi rác tại các huyện, các chợ nông thôn chưa có cơ quan quản lý và biện pháp xử lý Chủ yếu tập trung để phân huỷ tự nhiên và gây những gánh nặng cho công tác bảo vệ môi trường [4]

Chất thải nguy hại từ công nghiệp

Chất thải y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000 - -

Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung

bình theo đầu người (kg/người/ngày) - 0,8 0,3

Trang 26

Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự xuống cấp của môi trường nông thôn

là do tổ chức trong lĩnh vực VSMT nông thôn còn phân tán, sự phối hợp các

Bộ ngành chưa tốt Nhà nước chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người sử dụng xây dựng công trình

vệ sinh mà vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính Về pháp chế vẫn còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt trong lĩnh vực vệ sinh môi trường Đa số hộ chưa có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn, nhất là vùng bị ngập lụt, vùng ven biển nơi có mật độ ngư dân cao [7]

Hiện trạng về VSMT nông thôn vấn còn nhiều vấn đề bức xúc Chất lượng của chúng ngày một tăng, lan tràn làm ô nhiễm đất, nước kể cả ngấm sâu dưới mặt đất hàng chục, hàng trăm mét Ô nhiễm môi trường gây ra do con người trong hoạt động nông nghiệp, công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi và do những chất thải sinh hoạt các khu vực phân bố dân cư

1.2.3 Các vấn đề môi trường cấp bách tại tỉnh Nghệ An hiện nay

Các vấn đề môi trường cấp bách phát sinh trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay nằm trong hệ thống động của môi trường và luôn biến đổi theo xu hướng phát triển của tỉnh, chủ yếu là các vấn đề sau:

+ Môi trường đô thị, tình hình phát triển đô thị, hạ tầng kĩ thuật đô thị, các vấn đề môi trường đô thị

+ Môi trường công nghiệp, hệ thống xử lí chất thải, những vấn đề môi trường khu công nghiệp, môi trường trong khu khai thác khoáng sản, môi trường lao động trong cơ sở sản xuất

+ Môi trường nông thôn và nông nghiệp: Sử phân bón và hoá chất bảo

vệ thực vật, tình hình VSMT nông thôn (nước sạch, rau sạch, chăn thả gia súc, công trình vệ sinh)

+ Ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên trong việc quản lí, khai thác các dạng tài nguyên: Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên đa dạng sinh học, tài nguyên khoáng sản

Trang 27

1.2.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên thế giới

1.2.4.1 Trung Quốc

Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT tăng 8,5% so với năm trước Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn.[19]

Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội,

để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách”

Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp Đầu tiên là đầu năm 2006 Trung Quốc xoá bỏ thuế nông nghiệp đã tồn tại 2 600 năm, đã cắt 120 tỷ nguyên (15 tỷ USD) gánh nặng thuế của nông dân Việc xoá bỏ thuế làm cho ngân sách các xã giảm nhiều, nhất là ở các vùng không có hoạt động phi nông nghiệp Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ thuế và đầu tư ngân sách và tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục Phần lớn trái phiếu và vốn ngân sách sẽ

đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng Năm 2005 Nhà nước đã chi 297,5 tỷ nguyên cho Tam nông, năm 2006: 339,7 tỷ, và năm 2007: 391,7 tỷ [21]

Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế

Trang 28

kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều

chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh

là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực [19]

Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư

hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ, ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân Trung Quốc còn có chủ trương đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm (do nhà nước định hướng) [19]

1.2.4.2 Hàn Quốc

Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa, đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ Trong khi đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung

Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu lấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác

và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn

Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaulundong” được đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970 “Saemaul” theo nghĩa tiếng Hàn là “Sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong”

có nghĩa là một phong trào và cụm từ “Saemaulundong” có nghĩa là phong trào đổi mới cộng đồng Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên

“Saemaulundong” được hiểu là “Phong trào đổi mới nông thôn” Sự ra đời

Trang 29

kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết quả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước Tới năm 1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537 USD) Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa…

“Saemaulundong” từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc.[15]

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè; xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào

Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là năm 1971 cứ 3 làng mới có 1 máy cày thì đến năm 1975 trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng nhanh Năm 1979 Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế

Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết: Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi

đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn.[14]

Trang 30

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng

nông thôn phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc “Nhà nước

bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ

hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục

vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977 thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác

định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ

sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng

Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập

hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình

Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc

đã thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự

Trang 31

phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch

vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won

Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh

toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970 phá rừng còn là quốc nạn thì 20 năm sau rừng xanh đã che phủ khắp nước và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU

1.2.4.3 Mỹ

Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai mầu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa

Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp

Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí theo các nhà môi trường quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá.[22]

Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các

Trang 32

tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo

ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn

Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn Sự thật, ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành

“kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Sự

ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn nhưng các trang trại có quy mô lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại khoảng 67 hecta Đến cuối thập kỷ 1990, chỉ có khoảng 2,2 triệu trang trại nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích

190 hecta Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập kỷ 1990 dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Vào năm 1900, một nửa lực lượng lao động là nông dân nhưng đến cuối thế kỷ này chỉ còn 2% lao động trong các trang trại Và gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình Chi phí đầu tư vốn cao, cho đất đai và trang thiết bị khiến cho việc dành toàn bộ thời gian làm việc trên trang trại là cực kỳ khó khăn cho hầu hết mọi người.[22]

Trang 33

Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng

đô thị hay ven đô hướng về ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh Tuy nhiên, để duy trì “trang trại gia đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức

1.2.5 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Chương trình xây dựng thí điểm MHNTM trong thời kỳ CNH-HĐH được triển khai thực hiện theo kết luận số 32 – KL/TW ngày 20/11/2008 của Bộ Chính trị và Thông báo kết luận số 238 – TP/TW ngày 7/4/2009 của Ban bí thư về Đề án “Xây dựng thí điểm mô hình NTM”, nhằm tổ chức thực hiện Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ

7, BCH Trung ương Đảng (khóa X) về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Chương trình đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng

Ngay trong những năm đầu triển khai, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào của cả nước, các nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện và xã Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền.[9] Các xã điểm được chọn bao gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thụy Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hòa ( Kiên Giang)

Ở Thái Nguyên: Ngay sau khi có Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày

5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28-10-2008 của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân

và nông thôn, Thái Nguyên đã xây dựng chương trình hành động cụ thể và ra chỉ thị về xây dựng NTM Theo đánh giá năm 2011, công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã được triển khai sâu rộng và tương đối đồng bộ Thái Nguyên đã kiện toàn ban chỉ đạo ở cả 3 cấp, tỉnh, huyện, xã;

đã thực hiện tốt công tác tham mưu cho ban chỉ đạo thông qua việc ban hành các văn bản, tài liệu phục vụ cho công tác chỉ đạo và tuyên truyền về chương trình xây dựng nông thôn mới; Thái Nguyên đã làm tốt công tác thông tin

Trang 34

tuyên truyền đến với người dân về mục đích, ý nghĩa, trách nhiệm trong công tác xây dựng nông thôn mới.[17]

Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện, cơ cấu kinh tế nội ngành tiếp tục

có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình quân 5,04% một năm Sản lượng lương thực 3 năm qua tăng vững chắc, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn, góp phần quan trọng vào phát triển nông thôn và ổn định xã hội (bình quân lương thực đầu người năm 2008 đạt 366,1 kg/người/năm, đến năm 2010 đạt 369,5 kg/người/năm) Sản lượng chè tăng bình quân 8,2%/năm; sản lượng các cây trồng khác có mức tăng 5 - 9% Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức trong sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, sức cạnh tranh thấp, thiếu mô hình sản xuất hiệu quả, chưa đủ sức phát triển hàng hóa, chưa phát huy tốt các nguồn lực Công nghiệp, dịch vụ phát triển chậm, chưa đủ sức thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn còn yếu kém; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai chưa đủ mạnh Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn thấp, chênh lệch giàu, nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao Nhận thức về xây dựng NTM của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước Nguồn vốn đầu

tư cho chương trình xây dựng NTM chưa đáp ứng yêu cầu….[17]

Ở Thanh Hóa: Thực hiện Kế hoạch số 49/KH-UBND ngày 24/8/2010,

Thông báo kết luận số 122/TB-UBND ngày 18/10/2010, Kế hoạch số UBND ngày 29/10/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh về triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh đã có chuyển biến tích cực: Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới đã được thành lập ở hầu hết các huyện và một số xã; các sở, ban, ngành cấp tỉnh và cấp uỷ, chính quyền các huyện đã vào cuộc một cách quyết liệt để triển khai thực hiện chương trình, nhiều huyện đã ban hành các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề về xây dựng nông thôn mới; công tác tập huấn, tuyên truyền đã được triển khai, tạo chuyển biến một bước trong nhận thức của cán bộ và nhân dân về mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung xây dựng nông thôn mới; một số xã đặc biệt là các xã điểm của tỉnh đã chủ động

Trang 35

60/KH-thực hiện và hoàn thành thêm được từ 1 – 3 tiêu chí so với đề án được duyệt, nhiều xã do các huyện chỉ đạo đã hoàn thành điều tra, đánh giá thực trạng và đang tiếp tục triển khai các nội dung xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: Công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới chưa thường xuyên và hiệu quả; một số đơn vị và nhân dân chưa nhận thức đầy đủ

về tầm quan trọng, nội dung và ý nghĩa của chương trình, chưa xem chương trình xây dựng nông thôn mới là cuộc vận động lớn, sâu rộng đến các cấp uỷ, chính quyền và nhân dân, còn tâm lý trông chờ; nhiều địa phương còn lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp, cách làm; kết quả đạt được còn hạn chế, chuyển biến chưa đồng đều.[23]

Sau ba năm thí điểm, chương trình xây dựng NTM đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng cả về kinh tế, xã hội và kinh nghiệm tổ chức chỉ đạo của các ngành, các cấp Những kết quả chủ yếu là:

Mô hình nông thôn mới đã hình thành trên thực tế tại các xã thí điểm của Trung ương và địa phương Một số xã thí điểm đạt kết quả khá toàn diện như: Hải Đường (Nam Định), Tân Thịnh (Bắc Giang), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Thanh Tân, Bình Định (Thái Bình) Một số xã đạt kết quả một số mặt như quy hoạch, phát triển sản xuất hàng hóa gắn với quy hoạch cải tạo đồng ruộng, dồn điền đổi thửa ở Tân Thịnh ( Bắc Giang), Thanh Tân, Bình Định (Thái Bình); mô hình liên kết sản xuất ở Thụy Hương ( Hà Nội), Tân Hội ( Lâm Đồng); mô hình thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội (TP.Hồ Chí Minh), Tân Lập (Bình Phước)…Hiện, các mô hình này đang là điểm sáng thu hút sự quan tâm, học hỏi và cũng là căn cứ để Ban chỉ đạo Trung ương rút kinh nghiệm chỉ đạo cả nước [18]

Tuy nhiên, không được xem là quan trọng như một số tiêu chí khác, trong xây dựng nông thôn mới, nhiều địa phương đã “gặp khó” về tiêu chí môi trường Nhiều vấn đề về môi trường nông thôn đã và đang trở thành vấn

đề nan giải, các địa phương cần nhìn nhận việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới là vấn đề rất quan trọng và lâu dài, cần được

Trang 36

quan tâm đúng mức Bởi vì, khi môi trường nông thôn bị suy giảm, sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy xấu mà rất khó khắc phục như bệnh tật gia tăng, nguồn nước, đất sản xuất… bị ô nhiễm, suy giảm

Nhiều vùng nông thôn ở Thừa Thiên – Huế, rác thải không được xử lí kịp thời gây ô nhiễm môi trường Việc thu gom, xử lí rác thải mới chỉ thực hiện được ở hơn 20 xã trong tổng số hơn 100 xã của tỉnh, đạt khoảng hơn 20% Ở nhiều huyện, thị, công tác thu gom và xử lí rác thải còn rất hạn chế, như Phú Lộc chỉ có 3 xã; Hương Trà 5 phường, xã; Quảng Điền 5 xã; Phong Điền 3 xã… Nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều địa phương trong tỉnh chưa có quy hoạch hoặc không thể quy hoạch được bãi rác tập trung, do điều kiện đất đai không đáp ứng Bên cạnh đó, ý thức của người dân, những bất cập trong khâu thu gom, vận chuyển, xử lí rác thải và kinh phí hoạt động cũng đã khiến cho việc xử lí rác thải chưa thể thực hiện đồng bộ [18]

Hơn nữa, việc quy hoạch và xây dựng chợ không gắn với việc xử lí rác thải cũng đã khiến khó tập trung được rác thải để xử lý Sau mỗi phiên chợ, rác do người dân vứt bừa bãi ven đường hoặc tràn xuống các dòng sông như Thừa Lưu, Truồi, Nong… Việc không đồng nhất trong quy hoạch các điểm trung chuyển rác thải cũng đã “làm khó” cho các địa phương Vì nhiều xã ở quá xa bãi rác mà tỉnh, huyện quy hoạch nên không có đủ kinh phí, phương tiện để tổ chức vận chuyển rác Thiếu kinh phí cũng khiến cho một số xã đã thành lập được tổ, đội thu gom rác thải nhưng đành phải dừng hoạt động hoặc hoạt động không thường xuyên dẫn đến tình trạng ứ đọng rác trong khu dân

cư diễn ra khá phổ biến [18]

Tại Tỉnh Vĩnh Phúc, theo kế hoạch, toàn tỉnh phấn đấu cơ bản hoàn thành mục tiêu có trên 92% số xã (104/112 xã) đạt tiêu chuẩn xã nông thôn mới (NTM) vào năm 2020, trước mắt đến năm 2015 toàn tỉnh có 47% số xã (53/112 xã) trong đó 20/20 xã điểm đều phải đạt tiêu chí xã NTM Để thực hiện đúng thời gian quy định, các địa phương đã và đang tập trung mọi nguồn lực để hoàn thành 19/19 tiêu chí NTM Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện các tiêu chí NTM trên địa bàn tỉnh đã nảy sinh nhiều khó khăn, trong đó khó khăn nhất là việc thực hiện tiêu chí số 17: Tiêu chí về môi trường [13]

Trang 37

Tính đến tháng 7 năm 2012, hầu hết các xã đã triển khai thực hiện tiêu chí môi trường nhưng chưa có xã nào đạt tiêu chí này Đánh giá thực tế tại 20

xã điểm đã cho thấy tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn của BNN&PTNT chỉ đạt khoảng 65% Trong số 20 xã điểm chỉ có 2 xã tỷ lệ

hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt trên 90% là xã: Hợp Thịnh đạt 99,9% và Đạo Tú đạt 90,9%, 18 xã còn lại đều có tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh ở dưới 90%, thậm chí các xã trung du, vùng núi như: Đình Chu, Hồ Sơn, Bồ Lý, Đồng Quế, Đồng Thịnh có tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh chỉ đạt dưới 50% Hầu hết các hộ dân ở địa phương này sử dụng nguồn nước giếng đào, mạch nông, chưa được xử lý trước khi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt Các xã thuộc vùng đồng bằng như Tân Phong, Yên Đồng, Liên Châu, Nguyệt Đức, Tam Phúc, Ngũ Kiên, Thượng Trưng người dân chủ yếu sử dụng hình thức cấp nước bằng giếng khoan (chiếm tỷ lệ trên 90%), trong đó có khoảng 80% số giếng được xếp là hợp vệ sinh Đánh giá hiện trạng cơ sở sản xuất, kinh doanh so với tiêu chuẩn môi trường tại địa bàn 20 xã điểm đã cho thấy: trên địa bàn 20 xã hiện có 2.908 cơ sở sản xuất, kinh doanh, làm nghề Các cơ

sở này có quy mô nhỏ, nằm phân tán, lượng phát thải thấp nên chưa có các tác động tiêu cực lớn đối với môi trường Tuy nhiên khi tiến hành kiểm tra hiện trạng việc đảm bảo tiêu chuẩn môi trường tại các cơ sở kinh doanh thì chỉ có 101/2.908 cơ sở đầu tư công trình xử lý chất thải (chiếm tỷ lệ 3,5%), số cơ sở còn lại đều chưa xây dựng công trình xử lý chất thải Hoạt động chăn nuôi ở

20 xã điểm cũng tương đối phát triển và hiện có khoảng trên 18.800 hộ chăn nuôi (gia súc, gia cầm, thuỷ sản), tuy nhiên nhưng mới chỉ có khoảng 2.000

hộ (chiếm tỷ lệ 10,9%) tự đầu tư công trình xử lý chất thải bằng hầm biogas Các xã có tỷ lệ xử lý chất thải bằng hầm biogas cao như: Hồ Sơn (75,7%), Tam Hợp (68,2%), Tam Phúc (37,2%) Các địa phương có tỷ lệ chất thải chăn nuôi được xử lý còn đạt thấp gồm: Yên Đồng (2%), Đình Chu (3,6%), Thượng Trưng (4,5%) Tình hình thu gom, xử lý rác thải và nước thải tại 20

xã điểm cũng bộc lộ những khó khăn [13]

Trong quá trình lập quy hoạch xây dựng NTM tại 20 xã điểm các xã đều đã thực hiện lồng ghép các nghĩa trang nhân dân hiện có vào trong quy hoạch tổng thể xây dựng NTM để quản lý, tôn tạo, nâng cấp các hạng mục

Trang 38

công trình phụ trợ Theo quy hoạch xây dựng NTM ở 20 xã điểm có tổng số

87 nghĩa trang nhân dân (cả nghĩa trang mới và cũ) được quy hoạch, trong đó

có 5 nghĩa trang đang triển khai xây dựng mới Tuy nhiên, hầu hết các nghĩa trang chưa được đầu tư xây dựng và cải tạo theo yêu cầu như chưa có khu xử

lý chất thải; chưa có hệ thống đường phân khu, hệ thống cây xanh [13]

Không chỉ riêng tỉnh Thừa Thiên Huế, hay tỉnh Vĩnh Phúc mà hầu hết các tỉnh tham gia xây dựng NTM , trong quá trình triển khai thực hiện các tiêu chí NTM trên địa bàn tỉnh đã nảy sinh nhiều khó khăn, trong đó khó khăn nhất là việc thực hiện tiêu chí số 17: Tiêu chí về môi trường

Đánh giá nguyên nhân khó khăn trong việc triển khai tiêu chí môi trường NTM trên địa bàn tỉnh nói chung và 11 xã điểm nói riêng trước nhất phải kể đến nguyên nhân là do nhận thức của một bộ phận không nhỏ cán bộ các cấp về xây dựng NTM còn hạn chế, thụ động, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước mà chưa phát huy được vai trò chủ thể của người dân Bên cạnh đó,

ý thức của người dân về giữ gìn vệ sinh môi trường trong xây dựng NTM chưa cao Ở nhiều địa phương, một bộ phận người dân thiếu ý thức đã vô hình chung "tiếp tay" cho ô nhiễm môi trường khi vứt rác bừa bãi, chất kín nhiều dòng sông, ao hồ, mương máng Mỗi khi có nắng nóng, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc từ các nguồn nước ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến chính cuộc sống của người dân nơi đây Sự thiếu ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân cũng đang khiến rác thải dồn ứ ở nhiều nơi như dọc các tuyến đường Quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua địa bàn Hệ thống thoát nước thải tại khu vực nông thôn chưa được chú trọng đầu tư, phần lớn lượng nước thải sinh hoạt, chăn nuôi, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề đều đổ trực tiếp ra môi trường, ngấm vào đất hoặc chảy vào ao, hồ, sông vừa gây mất mỹ quan, vừa tiềm ẩn nhiều khả năng lây lan dịch bệnh Hơn nữa, việc quy hoạch và xây dựng chợ nhiều nơi không gắn với việc xử lý rác thải Sau mỗi phiên chợ, rác

do người dân vứt bừa bãi ven đường hoặc tập trung thành đống Thiếu kinh phí cũng khiến cho một số xã đã thành lập được tổ, đội thu gom rác thải nhưng hoạt động không thường xuyên chưa có bãi rác thải tập trung nên tình trạng ứ đọng rác trong khu dân cư diễn ra khá phổ biến Tiến độ triển khai công tác quy hoạch bãi rác thải ở nhiều xã còn chậm Nguồn ngân sách

Trang 39

hỗ trợ cho các địa phương còn thấp, chưa tương xứng với nội dung tiêu chí Mặt khác, chế độ thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác cho xây dựng NTM nói chung, tiêu chí 17 nói riêng chưa phù hợp nên không thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực môi trường

Thiết nghĩ, mỗi địa phương khi quy hoạch xây dựng nông thôn mới không nên “xem nhẹ” tiêu chí môi trường mà cần có các phương án huy động nhiều nguồn lực trong xã hội tham gia bảo vệ môi trường Việc đảm bảo được vấn đề môi trường sẽ là cơ sở để phát triển bền vững ở mỗi địa phương trong quá trình xây dựng nông thôn mới

Trang 40

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề môi trường trên địa bàn xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý

- Địa hình – đất đai

- Khí hậu – thời tiết

- Các nguồn tài nguyên

2.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Dân số và sự phân bố dân cư

- Nghiên cứu các động lực chi phối tác động đến môi trường tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu

- Xác định các thông số thể hiện áp lực lên các nhân tố môi trường cho từng động lực

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Yêm, Trịnh Thị Thanh (1998), Giáo trình ô nhiễm môi trường, Trường Đại học Tự Nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ô nhiễm môi trường
Tác giả: Trần Yêm, Trịnh Thị Thanh
Năm: 1998
13. Ngô Tuấn Anh (2012), Xây dựng NTM - Khó khăn trong việc thực hiện tiêu chí môi trường,http://www.baovinhphuc.com.vn/frontend/index.php?type=ARTICLE&fuseaction=DISPLAY_SINGLE_ARTICLE&website_id=1&channel_id=31&parent_channel_id=321&article_id=27278].07/09/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng NTM - Khó khăn trong việc thực hiện tiêu chí môi trường
Tác giả: Ngô Tuấn Anh
Năm: 2012
16. Nguyễn Hằng (2008), Vệ sinh môi trường nông thôn và năm quốc tế vệ sinh 2008, http://thoibaoviet.com/tintuc.xahoi.yte.25746.tbv (26/03/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường nông thôn và năm quốc tế vệ sinh 2008, http://thoibaoviet.com/tintuc.xahoi.yte.25746.tbv (
Tác giả: Nguyễn Hằng
Năm: 2008
17. Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên (2012), Xây dựng nông thôn mới cần quan tâm ngay từ khâu quy hoạch,http://nongdanthainguyen.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=298:xay-dng-nong-thon-mi-cn-quan-tam-ngay-t-khau-quy-hoch-&catid=7:tin-tuc-su-kien&Itemid=3, (15/03/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Xây dựng nông thôn mới cần "quan tâm ngay từ khâu quy hoạch
Tác giả: Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2012
18. Nguyên Lý (2012), Cần coi trọng tiêu chí về môi trường http://www.baotintuc.vn/129N20120511003600730T0/can-coi-trong-tieu-chi-ve-moi-truong.htm, (11/05/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần coi trọng tiêu chí về môi trường
Tác giả: Nguyên Lý
Năm: 2012
19. Phạm Anh, Văn Lợi (2011), Xây dựng nông thôn mới: Bài học và kinh nghiệm từ Trung Quốc, http://nongthonmoi.gov.vn/21/225/Xay-dung-nong-thon-moi-Bai-hoc-va-kinh-nghiem-tu-Trung-Quoc.htm,(08/12/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới: Bài học và kinh nghiệm từ Trung Quốc
Tác giả: Phạm Anh, Văn Lợi
Năm: 2011
20. Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh (2008), Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay,http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=14350349&News_ID=17758384, (17/7/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình nông thôn mới "ở nước ta hiện nay
Tác giả: Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh
Năm: 2008
22. Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam (2009), Sơ lược nền kinh tế Mỹ (14): Ngành nông nghiệp Mỹ: Tầm quan trọng đang thay đổi - Phần 1: Chính sách,http://www.tinkinhte.com/so-luoc-nen-kinh-te-hoa-ky/so-luoc-nen-kinh-te-my-nganh-nong-nghiep-my-tam-quan-trong-dang-thay-doi-phan-1-chinh-sach.nd5-sjd.37428.73.1.html, (09/05/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược nền kinh tế Mỹ (14): Ngành nông nghiệp Mỹ: Tầm quan trọng đang thay đổi - Phần 1: Chính sách
Tác giả: Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam
Năm: 2009
24. Hamer Marck.J (1986), Water and wastewaster Technology 2 nd edition, John Wokey & Sons. New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Water and wastewaster Technology 2"nd" edition
Tác giả: Hamer Marck.J
Năm: 1986
14. Tuấn Anh (2012), Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới,http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2012/14689/Kinh-nghiem-xay-dung-nong-thon-moi-o-mot-so-nuoc-tren.aspx, (9/2/2012) Link
15. Phan Đình Hà (2011), Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của Hàn Quốc, http://home.tcnao.net/2011/07/15/kinh-nghi%E1%BB%87m-xay-d%E1%BB%B1ng-nong-thon-m%E1%BB%9Bi-c%E1%BB%A7a-han-qu%E1%BB%91c-k%E1%BB%B3-01/, (15/07/2011) Link
21. Đào Thế Tuấn (2008), Chính sách nông thôn, nông dân và nông nghiệp mới ở Trung quốc ,http://www.vca.org.vn/Default.aspx?tabid=82&News=149&CategoryID=2, (15/05/2008) Link
23. Văn phòng ĐP XDNTM (2012), Kết quả triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thanh Hóa tháng 8 năm 2012, http://snnptnt.thanhhoa.gov.vn/Default.aspx?portalid=admin&selectpageid=page.1&newsdetail=2422&n_g_manager=20, (5/9/2012).2. Tiếng Anh Link
25. Wold Health Organization (WHO) (1997), Assessment ofSources of Air, Water and Land Pollution Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Bảng 1.1. Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng (Trang 22)
Bảng 3.2: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng loại cống thải - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Bảng 3.2 Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng loại cống thải (Trang 52)
Bảng 3.3. Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Bảng 3.3. Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt (Trang 54)
Hình thức đổ rác  Số hộ gia đình  Tỷ lệ (%) - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Hình th ức đổ rác Số hộ gia đình Tỷ lệ (%) (Trang 56)
Bảng 3.5: Thực trạng nhà vệ sinh tại xã Diễn Thọ  Kiểu nhà vệ sinh  Số hộ gia đình  Tỷ lệ % - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Bảng 3.5 Thực trạng nhà vệ sinh tại xã Diễn Thọ Kiểu nhà vệ sinh Số hộ gia đình Tỷ lệ % (Trang 58)
Hình 3.4: Thực trạng nhà vệ sinh của các hộ gia đình - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Hình 3.4 Thực trạng nhà vệ sinh của các hộ gia đình (Trang 59)
Hình 3.5: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Hình 3.5 Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh (Trang 60)
Hình 3.6: Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Hình 3.6 Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối (Trang 61)
Hình 3.7: Những loại phân bón được các hộ gia đình sử dụng - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Hình 3.7 Những loại phân bón được các hộ gia đình sử dụng (Trang 62)
Hình 3.8: Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối  “TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP” - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Hình 3.8 Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP” (Trang 64)
Hình 3.9: Sơ đồ cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Hình 3.9 Sơ đồ cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường (Trang 65)
Bảng 3.11: Bảng tính toán nhu cầu sử dụng nước - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Bảng 3.11 Bảng tính toán nhu cầu sử dụng nước (Trang 74)
Bảng 3.12: Bảng tính toán  lượng  nước  thải - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Bảng 3.12 Bảng tính toán lượng nước thải (Trang 76)
Bảng 3.13: Bảng dự báo CTR toàn xã - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Bảng 3.13 Bảng dự báo CTR toàn xã (Trang 78)
Hình 3.11. Mô hình quản lý rác thải  cấp thôn (xúm) có đơn vị VSMT - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt gia thanh, huyện phù ninh, tỉnh phú thọ
Hình 3.11. Mô hình quản lý rác thải cấp thôn (xúm) có đơn vị VSMT (Trang 79)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w