1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

95 751 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 709,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp xác định thời gian phát triển và tồn tại của trứng ấu trùng giun lươn trong phân lợn ở ngoại cảnh ...37 2.4.4.. Vòng đời phát triển của giun lươn được tính từ khi gia súc nu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐOÀN THỊ PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN LƯƠN Ở LỢN (SWINE STRONGYLOSIS) TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐOÀN THỊ PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN LƯƠN

Ở LỢN (SWINE STRONGYLOSIS) TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

CHUYÊN NGÀNH: THÚ Ý

MÃ SỐ: 60.62.50

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ TRUNG CỨ

PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM LAN

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2010

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đoàn Thị Phương

Trang 4

đỡ em, chỉ bảo em trong suốt quá học tập và nghiên cứu luận văn tốt nghiệp

- Với lòng biết ơn chân thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: TS Đỗ Trung Cứ, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2010

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đoàn Thị Phương

Trang 5

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 Tổng quan tài liệu 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Giun lươn ký sinh ở lợn 4

1.1.2 Bệnh giun lươn ở lợn 12

1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun lươn 29

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 29

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 31

Chương 2: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 33

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 33

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 33

2.2 Vật liệu nghiên cứu 33

2.2.1 Mẫu nghiên cứu 33

2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 34

2.3 Nội dung nghiên cứu 34

2.3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn 34

2.3.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn 35

2.3.3 Biện pháp phòng và trị bệnh giun lươn cho lợn 35

2.4 Phương pháp nghiên cứu 35

2.4.1 Phương pháp lấy mẫu 35

Trang 6

2.4.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu 36

2.4.3 Phương pháp xác định thời gian phát triển và tồn tại của trứng ấu trùng giun lươn trong phân lợn ở ngoại cảnh 37

2.4.4 Phương pháp gây nhiễm cho lợn 38

2.4.5 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng bệnh giun lươn ở lợn gây nhiễm 40

2.4.6 Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ tiêu huyết học của lợn bị bệnh giun lươn và lợn khoẻ 40

2.4.7 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể 41

2.4.8 Phương pháp theo dõi hiệu lực tẩy giun lươn của thuốc 41

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 41

2.5.1 Một số công thức tỷ lệ (%) 41

2.5.2 Một số tham số thống kê 42

2.5.3 So sánh mức độ sai khác giữa hai số trung bình 42

Chương 3: Kết quả vào thảo luận 45

3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn 45

3.1.1 Tình hình nhiễm giun lươn ở một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 48

3.1.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh 53

3.1.3 Thời gian sống của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong phân lợn ở ngoại cảnh 56

3.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn 58

3.2.1 Bệnh giun do gây nhiễm 58

3.2.2 Bệnh giun lươn ở lợn nhiễm tự nhiên 65

3.2.3 Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của lợn trước và sau khi bị bệnh giun lươn 66

Trang 7

3.3 Nghiên cứu sử dụng thuốc tẩy giun lươn cho lợn 72

3.3.1 Hiệu lực của một thuốc điều trị bệnh giun lươn cho lợn 72

3.3.2 Độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn cho lợn 74

3.3.3 Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh giun lươn cho lợn 75

Kết luận và đề nghị 77

1 Kết luận 77

2 Đề nghị 76

Tài liệu tham khảo 79

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn tại các địa phương 45

Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn 48

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tình trạng vệ sinh thú y 50

Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo mùa vụ 52

Bảng 3.5 Sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở chuồng nuôi, xung quanh chuồng nuôi, vườn (bãi) trồng cây thức ăn cho lợn 53

Bảng 3.6 Thời gian trứng giun lươn nở và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh 55

Bảng 3.7 Thời gian sống của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong con lợn 57

Bảng 3.8 Kết quả gây nhiễm giun lươn cho lợn 58

Bảng 3.9 Biểu hiện lâm sàng của lợn sau gây nhiễm giun lươn 60

Bảng 3.10 Triệu chứng chủ yếu của lợn bị bệnh giun lươn do gây nhiễm nhân tạo 62

Bảng 3.11 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá của lợn bị bệnh giun lươn 64

Bảng 3.12 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh giun lươn ở các địa phương 65

Bảng 3.13 Sự thay đổi đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố trước và sau khi gây nhiễm 67

Bảng 3.14 So sánh công thức bạch cầu của lợn trước và sau khi bị bệnh 69

Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn 72

Bảng 3.16 Độ an toàn thuốc tẩy giun lươn cho lợn 74

Trang 9

Biểu đồ 3.3 Sự thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết

sắc tố của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun lươn 68

Biểu đồ 3.4 Sự thay đổi công thức bạch cầu của lợn khoẻ và lợn bị bệnh

giun lươn 71

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Giun lươn Stronggyloides ransomi ký sinh ở lợn 5

Hình 1.2. Giun lươn Stronggyloides papillosus 7

Hình 1.3. Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn 11

Hình 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây bệnh giun lươn cho lợn 39

Trang 11

DANH MỤC ẢNH

Ảnh 1 Một số mẫu phân lợn, mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất bề mặt vườn

(bãi) trồng cây thức ăn cho lợn, mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng lợn, thu thập ở huyện Phổ Yên

Ảnh 2 Xét nghiệm tìm trứng giun lươn bằng phương pháp Fullerborn Ảnh 3 Thí nghiệm theo dõi sự phát triển và khả năng tồn tại của trứng và

ấu trùng giun lươn trong phân lợn ở ngoại cảnh

Ảnh 4 Thí nghiệm gây nhiễm giun lươn cho lợn

Ảnh 5 Phân ly ấu trùng bằng phương pháp Bearman để gây nhiễm cho

lợn

Ảnh 6 Gây nhiễm giun lươn cho lợn qua đường tiêu hoá

Ảnh 7 Gây nhiễm giun lươn cho lợn qua da

Ảnh 8 Các thuốc sử dụng điều trị bệnh giun lươn ở lợn

Ảnh 9 Mẫu phân lợn thu thập tại huyện Phổ Yên nhiễm giun lươn nặng

Ảnh 12 Trứng giun lươn sau khi theo phân ra ngoại cảnh

Ảnh 13 Ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh

Ảnh 14 Ấu trùng giun lươn có sức gây nhiễm chết ở ngày thứ 32 (x 100) Ảnh 15 Ấu trùng giun lươn có sức gây nhiễm chết ở ngày thứ 15 (x 100) Ảnh 16 Lợn số 1 biểu hiện triệu chứng lâm sàng ở ngày thứ 10 sau gây

nhiễm qua đường tiêu hoá

Trang 12

Ảnh 17 Lợn số 1 chết ở ngày 30 sau gây nhiễm qua đường tiêu hoá

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất nước ta với hơn 75% dân số làm nông nghiệp, trong đó ngành chăn

nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông

nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Chăn nuôi với nhiều

phương thức phong phú, đa dạng đã góp phần giải quyết công ăn việc làm,

nâng cao thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu,

nhất là khi chúng ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở

các nước trên thế giới cũng như ở nước ta Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm

với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, đồng thời cung cấp nguyên

liệu cho ngành công nghiệp chế biến, ngoài ra còn cung cấp phân bón cho

ngành trồng trọt Để đáp ứng được nhu cầu thị trường, trong những năm gần

đây chăn nuôi lợn đã có những bước phát triển vượt bậc, tăng nhanh cả về số

lượng và chất lượng Ngoài những điều kiện thuận lợi, chúng ta còn một số

khó khăn hạn chế việc phát triển chăn nuôi lợn, trong đó có vấn đề dịch bệnh

Ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp như Dịch tả lợn, Tụ huyết trùng,

Phó thương hàn còn phải kể đến các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa của lợn

Bệnh ký sinh trùng là một loại bệnh phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho

ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Là một nước nằm

trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, Việt Nam có khu hệ ký sinh trùng

động vật phong phú và đa dạng, gây ra nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia

súc, gia cầm, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Ngoài ra, một số

bệnh ký sinh trùng ở lợn còn lây sang người, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng

đồng và làm ô nhiễm môi trường sinh thái Trong các bệnh ký sinh trùng ở

lợn, bệnh giun lươn (Swine Strongyloidosis) gây tác hại đáng kể cho chăn

Trang 14

nuôi lợn, bệnh có thể làm chết tới 75% số lợn ốm (Phạm Sỹ Lăng và Cs, 2006 [15]) Bệnh giun lươn chủ yếu xảy ra ở lợn con từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi với

tỷ lệ nhiễm khá cao Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Kim (2001) [7], tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn con theo mẹ khoảng 48,57%

Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm giun lươn và vai trò của giun lươn trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con Nguyễn Thị Kim Lan (2006) [10], đã nghiên cứu và cho biết: giun lươn

có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con Tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn con tiêu chảy khá cao (55,46%), trong khi đó lợn có phân bình thường tỷ

lệ nhiễm giun lươn thấp (39,26%); đồng thời, nhiều lợn tiêu chảy nhiễm giun lươn ở mức độ nặng hơn nhiều so với lợn phân bình thường Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về bệnh giun lươn ở lợn còn rất ít

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển Tuy nhiên, do nhận thức của người dân còn hạn chế nên vấn đề phòng chống bệnh giun lươn chưa được chú ý Vì vậy chưa có quy trình phòng trị bệnh hiệu quả

Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho đàn lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên,

chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (Swine Strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn cho lợn

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Làm sáng tỏ và bổ sung thêm những thông tin khoa học về bệnh giun lươn ở lợn, từ đó có cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh

Trang 15

giun lươn cho lợn có hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy chăn nuôi lợn của tỉnh Thái Nguyênphát triển

4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn của một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên, về khả năng tồn tại và phát triển của trứng và ấu trùng giun lươn ở môi trường ngoại cảnh, về một số đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh một cách hiệu quả, hạn chế sự nhiễm giun lươn từ môi trường ngoại cảnh vào cơ thể lợn, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 16

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỂ TÀI

1.1.1 Giun lươn ký sinh ở lợn

1.1.1.1 Thành phần loài giun lươn ở lợn

Bệnh giun lươn do những giun tròn thuộc họ Strongyloididae (bộ phụ Rhabditata) gây nên Trong đó loài Strongyloides ransomi ký sinh và gây bệnh giun lươn ở lợn Ngoài ra, loài Strongyloides papillosus cũng có thể ký sinh và gây bệnh cho lợn Tuy nhiên, phổ biến ở lợn là loài Strongyloides ransomi (Nguyễn Thị Lê và cs 1996)

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], Phan Thế Việt và cs (1977) [33], giun lươn ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873

Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942

Bộ Rhabditida Chitwood, 1933

Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933

Họ Strongyloididae Chitwood et MeInstosch, 1934

Giống Strongyloides Grassi, 1879

Loài Strongyloides ransomi Schwartf et Alicata, 1930

Loài Strongyloides papillosus Wedl, 1856

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước giun lươn ở lợn

Bệnh giun lươn (Strongyloidosis) ở lợn phân bố rộng khắp ở hầu hết các nước thuộc Châu á, châu Phi (J.Kaufmann, 1996 [39]) ở Việt Nam, bệnh

đã được phát hiện ở các tỉnh phía Bắc, các tỉnh miền Trung và miền Nam (Bùi Lập 1966, Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Xuân Dụ 1966)

* Đặc điểm cấu tạo giun lươn Strongyloides ransomi:

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] đã mô tả giun lươn Strongyloides ransomi như sau:

Trang 17

Con đực: Cơ thể hình sợi dài 0,87 - 0,9 mm Thực quản dài 1,132 - 0,148

mm, vòng thần kinh cách mút đầu 0,113 mm, lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07

mm Đuôi nhọn, cách mút đuôi 0,037 mm có 3 cặp núm: 1 cặp trước huyệt ở mặt bụng, 2 cặp sau huyệt ở mặt lưng

Con cái: Cơ thể dài 2,1 - 4,2 mm, rộng nhất 0,04 - 0,08 mm Lỗ miệng

có 4 môi với các núm cutin Thực quản dài 0,58 - 0,94 mm Lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể, cách mút đuôi 0,63 - 1,53 mm; có các môi ở phía trước và sau; 1 buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, buồng còn lại hướng phía dưới

Tử cung chứa 1 - 10 trứng Đuôi ngắn, thẳng, hình nón, dài 0,04 - 0,07 mm Trứng hình ôvan, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng

có ấu trùng

Hình 1.1: Giun lươn Strongyloides ransomi ký sinh ở lợn

(Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996, Nguyễn Thị Lê và cs 1996)

a 1: Giun cái sống ký sinh 2: Giun đực

3: ấu trùng gây nhiễm

b 1: Phần đầu cơ thể 2: Đuôi cá thể đực

a

2

1

b

Trang 18

Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999 [9], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6] cho biết: Giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm, xung quanh miệng có 4 môi không rõ lắm, túi miệng nhỏ Thực quản dài hình ống nhỏ, không có chỗ phình Đuôi ngắn Âm hộ ở vào nửa sau của thân giun Buồng trứng uốn khúc Trứng hình bầu dục 0,045 - 0,055 x 0,026 - 0,035 mm, màu trắng, trong

có ấu trùng

Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [24] cho rằng: Giun lươn thân dài 2 - 4,2

mm thực quản dài 0,57 - 0,94 mm Hậu môn ở cách mút đuôi 0,057 - 0,065

mm Âm hộ hình lỗ ngang có môi lồi ra và ở cách mút đuôi 0,629 - 1,530

mm Trứng dài 0,037 - 0,06 mm và rộng 0,025 - 0,042 mm, trong có ấu trùng Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006 [15]: Giun đực hình sợi, dài 0,87 - 0,90

mm, lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm Giun cái dài 2,1 - 4,2mm, rộng 0,04 - 0,08 mm, lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể, cách mút đuôi 0,63 - 1,53 mm, hai buồng trứng là các ống mỏng, xuất phát gần lỗ sinh dục, một buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, một còn lại hướng phía đuôi, tử cung chứa 1 - 10 trứng, trứng giống hình trứng gà, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042

mm, trong trứng có ấu trùng

Cùng quan điểm trên, Phan Lục (2006) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006) [28] cho biết: Giun lươn có cấu tạo thực quản có hai chỗ phình, phình trước không rõ, phình sau rõ hơn

* Đặc điểm cấu tạo giun lươn Strongyloides papillosus:

Theo một số tác giả như Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], Phạm Sỹ

Lăng (2006) [15], loài Strongyloides papillosus cũng gây bệnh giun lươn

cho lợn

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18]; Phan Địch Lân và cs (2002) [16],

loài Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau:

- Con đực chưa được mô tả

Trang 19

- Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3mm, rộng nhất 0,042 - 0,078 mm Lỗ miệng có 4 môi: 1 môi lưng, 1 môi bụng, 2 môi bên Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm, chỗ rộng nhất 0,024 - 0,054 mm Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3mm, hai bên có các mấu lồi cutin Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục; 1 buồng chạy về phía trước cơ thể, cách gốc thực quản 0,051 - 0,425 mm thì quay lại, buồng trứng còn lại hướng

về phía sau cơ thể, cách mút đuôi 0,085 - 0,340 mm thì vòng lại Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp Tử cung chứa 4 -

75 trứng Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036 mm, trong trứng có ấu trùng

1: Phần giữa thân giun cái 2: Đuôi giun cái

3: Giun cái sống tự do 4: Trứng

Hình 1.2: Giun lươn Strongyloides papillosus

(Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996)

1.1.1.3 Vòng đời của giun lươn

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [8], giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong Trứng ra ngoài phát triển theo 2 hướng:

Trang 20

- Trực tiếp: Vào mùa hè (ấm áp), trứng phát triển nhanh, sau 5 - 6 giờ nở

ra ấu trùng giun lươn, 1 - 2 ngày sau thành ấu trùng có sức gây nhiễm

- Gián tiếp: ấu trùng phát triển thành giun đực và cái ở trong đất Sau khi giao phối, giun cái đẻ trứng có ấu trùng, ấu trùng phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm (khác trên là: giun đực và cái sống tự do)

Ấu trùng gây nhiễm phát triển trực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hình ống dài, không có chỗ phình to) ấu trùng này vào cơ thể ký chủ theo 2 đường:

+ Qua da: ấu trùng vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu, hệ lâm ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày thì thành giun lươn trưởng thành

ký sinh

+ Qua đường tiêu hoá: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu hoá thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, về phổi rồi di chuyển giống như trên

Vòng đời phát triển của giun lươn được tính từ khi gia súc nuốt phải ấu trùng có sức gây bệnh, qua quá trình sinh trưởng, phát triển cho đến khi chúng trở thành giun trưởng thành và có khả năng đẻ trứng

Tuổi thọ của giun lươn ở gia súc khoảng 5 - 9 tháng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [9] đã mô tả vòng phát triển của Strongyloides papillosus như sau: Trứng được bài xuất ra bên ngoài cùng với phân của động vật nhiễm bệnh ở nhiệt độ thích hợp, sau 4-13 giờ, ấu trùng hình gậy nở ra khỏi trứng Sự phát triển tiếp theo của ấu trùng có thể theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp

Khi phát triển trực tiếp, ấu trùng hình gậy ở môi trường bên ngoài lột xác hai lần, ở nhiệt độ 25-300 thì sau 24-36 giờ, chúng trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ

Trang 21

Khi phát triển gián tiếp, sau 8-40 giờ, ấu trùng hình gậy trở thành con cái

và con đực sống tự do Những con cái này đẻ trứng, trứng nở ra thành ấu trùng hình gậy, rồi trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ

Dê, cừu, lợn có thể nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng thức ăn, nước uống Cũng có thể nhiễm do ấu trùng xâm nhập qua da lành vào máu, đến phổi, lên họng rồi nuốt xuống ruột non ở ruột non, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành Từ khi vào ký chủ đến khi thành giun trưởng thành cần 5-

10 ngày

Tuổi thọ của giun ở gia súc non khoảng 5-9 tháng

Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [15] cho biết: Giun sống trong hoặc dưới lớp niêm mạc của ruột non Giun cái ký sinh và sinh sản đơn tính Giun đực và giun cái sống tự do thực hiện giao cấu ngoài ký chủ Sự cảm nhiễm của vật chủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua

da Sau khi vào cơ thể súc vật cái mang thai, ấu trùng có thể di hành trong máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh Ký sinh trùng còn

có thể xâm nhập vào súc vật sơ sinh qua bú sữa đầu

Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu cũng về phổi, đi vào các phế nang, gây ho và tiết dịch Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành mất khoảng 9 ngày Sự phát triển của chúng theo 2 con đường: một là vòng đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không cần thụ tinh Trứng thải qua phân ra ngoài, rồi phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III Trong phát triển vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non, trứng ra ngoài nở ra ấu trùng và phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm Các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành Chúng có thể sống tự do ngoài cơ thể vật chủ Trứng được thụ tinh của nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật chủ nuốt vào cơ thể Giai đoạn này thực hiện khoảng 10 ngày

Trang 22

Skrjabin K.I và Petrov A.M 1963 [36] cho rằng: Trứng được bài xuất theo phân ra môi trường bên ngoài, nở ra ấu trùng hình gậy rất nhanh, ấu trùng có thể phát triển trực tiếp và gián tiếp Khi phát triển trực tiếp, ấu trùng thành ấu trùng cảm nhiễm hình sợi sau 24 - 36 giờ; còn phát triển gián tiếp sau 48 - 94 giờ Lợn nhiễm bệnh do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng với thức ăn hay do ấu trùng chủ động chui qua da vào máu, đến phổi, lên họng rồi được nuốt xuống ruột non ở ruột non, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành Từ khi vào ký chủ đến khi thành giun thưởng thành cần 5 - 10 ngày Malưgin X.A (1953) đã xác định rằng, ấu trùng cảm nhiễm

Strongyloides ransomi chui qua da, cũng như đi qua miệng đều nhất thiết phải

di chuyển qua máu lợn, hơn nữa khi chui qua da, ấu trùng có thể vào được ruột non của lợn bằng hai cách: thứ nhất (chủ yếu) là, khi ấu trùng chui qua

da, vào hạ bì và cơ, rồi từ đó chúng chủ động đi vào mạch máu và mạch limpho rồi nhờ dòng máu mà chúng được mang tới phổi Số lớn ấu trùng từ phổi xâm nhập khí quản và họng rồi vào thực quản, dạ dày và ruột non, ở ruột non ấu trùng phát triển thành thành trùng Đường thứ hai là, khi ấu trùng từ phổi không xâm nhập khí quản và thực quản, mà lại vào vòng đại tuần hoàn rồi nhờ máu được mang tới ruột non Khi nhiễm qua miệng, ấu

trùng Strongyloides ransomi cũng thực hiện di chuyển qua máu như vậy

Những ấu trùng này chui vào thành dạ dày, ruột, chui vào hệ limpho và máu, rồi nhờ dòng máu ấu trùng được đem đến tim và phổi Từ phổi, số lớn ấu trùng qua khí quản và họng xâm nhập thực quản, dạ dày và đến ruột non; những ấu trùng còn lại từ phổi vào vòng đại tuần hoàn và được máu mang đến ruột non, rồi phát triển thành thành trùng ở đây (Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [36])

Thời gian Strongyloides ransomi phát triển đến giai đoạn thành thục trong cơ thể lợn kéo dài từ 5 đến 9 ngày

Trang 23

Nguyễn Phước Tương (2002) [29] cho biết: Trứng giun lươn khi được bài xuất ra môi trường bên ngoài chứa ấu trùng L1, nó nở ra và phát triển thành ấu trùng L3 trong môi trường đất ẩm hay bùn Các ấu trùng L3 gây nhiễm có thể xuyên qua da vào cơ thể và gây bệnh giun lươn đường ruột

ký sinh () Trøng

Hình 1.3: Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn

1.1.1.4 Sức đề kháng của giun lươn

Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng và ấu trùng giun lươn Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh, có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun lươn, đồng thời là cơ

sở khoa học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn

Theo kết quả nghiên cứu của Hale O.M và cs (1984) [42], ở nhiệt độ thấp trứng nở ra ấu trùng mất khoảng 15 giờ ở nhiệt độ cao 20-300C thì mất

khoảng 5-6 giờ trứng nở thành ấu trùng

Trøng Êu trïng

giun l−¬n

Êu trïng g©y nhiÔm

Êu trïng giun l−¬n

Trang 24

Johanes Kaufmann (1996) [39], dưới tác động của ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ ở trong nước hoặc trong môi trường có độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng Nhưng nếu

ẩm độ thấp, khô ráo thì sau 6 - 7 giờ ấu trùng bị chết

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18 ] cho biết: Trứng giun lươn bị diệt nhanh trong hố ủ phân nhiệt sinh học Vào mùa hè nhiệt độ cao, ấu trùng và trứng bị diệt nhanh do lúc này nhiệt độ trong hố ủ lên tới 550 - 600C

Nguyễn Trọng Kim (2001) [7] cho rằng: Trứng giun lươn được thải trừ qua phân ra ngoại cảnh, nếu gặp điều kiện thuận lợi thì chúng sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm Chúng có thể sống ở nơi đất ẩm 2 tháng Vào mùa mưa nhiều, đất ẩm (xuân, hè) bệnh phát triển mạnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [15] cho biết: Trứng giun lươn có khả năng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ 20 - 300C Nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển ở trên 500C và - 90C trứng bị chết ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi

ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [10], điều kiện nóng, ẩm là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của giun sán, của trứng và ấu trùng giun sán Trứng giun sán chỉ phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 15 - 300C

1.1.2 Bệnh giun lươn ở lợn

1.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun lươn gây ra

Bệnh ký sinh trùng ở gia súc gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá ở lợn nói riêng, không gây thành ổ dịch lớn nguy hiểm, không làm cho gia súc chết đột ngột (trừ trường hợp cá biệt) Song chúng đã gây tác hại nghiêm trọng đối với thể trạng và sức khoẻ của vật chủ, làm hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của lợn làm cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng thịt giảm, chất lượng mỡ kém dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm

Trang 25

Tài liệu Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn về các bệnh gia súc ở Việt Nam cho biết: Khi gia súc mắc bệnh giun lươn thì bị tiêu chảy nhẹ hoặc nặng, suy dinh dưỡng, biếng ăn, bơ phờ và thiếu máu

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [23], bệnh giun lươn gây tác hại nhất ở lợn con theo mẹ, dưới 2 tháng tuổi Lợn con nhiễm giun lươn nặng thì còi cọc, chậm lớn, mức độ tăng trọng có khi chỉ bằng 1/3 lợn đối chứng, lợn nhiễm nặng hơn có thể chết

Chu Thị Thơm và cs (2006) [28] cho rằng: Những bệnh ký sinh trùng, nhất là những bệnh giun sán thường gây bệnh mãn tính cho vật nuôi, làm sinh trưởng phát dục bị đình tốn, tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn tăng, tốn công

chăm sóc, gây trở ngại đặc biệt cho việc vỗ béo gia súc Giun lươn (S ransomi) làm tốc độ sinh trưởng của lợn con giảm tới 30 - 35%

Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [24] cho biết: Lợn mắc bệnh giun lươn có

triệu chứng mệt mỏi, ỉa chảy và kiệt sức Lợn con bị bệnh Strongyloides rất

chậm lớn so với lợn khoẻ; đôi khi còn thấy chúng thở khó, ho và chết ở lứa tuổi từ bốn đến sáu tuần lễ

Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [36]: Lợn con nhiễm giun lươn thì còi cọc, chậm lớn, mức tăng trọng chỉ bằng 1/3 lợn đối chứng

Trịnh Văn Thịnh (1985) [25] cho rằng, trong khoảng thời gian theo mẹ, lợn con nhiễm giun lươn sụt cân ít nhất là 0,24 kg/con, trung bình 1 kg/con, nhiều nhất là 3,4 kg/con so với lợn đối chứng được áp dụng vệ sinh phòng bệnh

1.1.2.2 Dịch tễ học bệnh giun lươn

Tuổi mắc bệnh:

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [8], bệnh giun lươn thấy nhiều ở súc vật non, súc vật lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng khó phát triển thành giun trưởng thành Gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh

Trang 26

Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn Việt Nam cho biết: Bệnh giun lươn phần lớn cảm nhiễm ở lợn con và ấu trùng phát triển chủ yếu ở trên nền ẩm

Rauxkix M.K (1957) cho rằng: Lợn sơ sinh đặc biệt mẫn cảm với bệnh

giun Strongyloides Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh này cao nhất vào mùa

xuân ở lợn con trong lứa tuổi từ một đến năm tháng Từ sáu đến chín tháng tuổi, lợn có thể tự khỏi bệnh và sau đó không nhiễm bệnh này (Skrjabin K.I

và Petrov A.M (1963) [36])

Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [33]: Tỷ lệ lợn trong vòng một năm tuổi mắc bệnh giun lươn là khá cao Lợn tuổi lớn hơn thường không mắc

Người ta đã xác định rằng, lợn con có thể mắc bệnh Strongyloides ransomi

ngay từ lúc sơ sinh

Theo Drozd.J và cs (1971) [35], những lợn con được bú sữa đầu của lợn nái đến ngày thứ tư sau khi đẻ đã thấy trong phân có trứng Strongyloides ransomi, khi mổ khám thấy có những giun trưởng thành, trong khi phân của lợn nái không có trứng hoặc ấu trùng

Lợn mẹ mắc bệnh có thể truyền bệnh Strongyloides ransomi cho lợn con qua sữa non hoặc sữa thường [48]

Như vậy, động vật non đang trong thời kỳ sinh trưởng mạnh dễ bị bệnh

và bệnh phát triển nhanh hơn, nặng hơn so với động vật trưởng thành Động vật trưởng thành và động vật già yếu biểu hiện lâm sàng ít hơn Song chúng là những động vật mang trùng và là nguồn bệnh nguy hiểm nhất đối với động vật non

Động vật mắc bệnh:

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], cả lợn nhà và lợn rừng đều có khả năng nhiễm bệnh

Malưgin X.A (1960) đã chứng minh bằng thí nghiệm, ấu trùng

Strongyloides ransomi có thể dễ dàng xuyên qua da vào cơ thể ký chủ không chuyên biệt (cừu, dê, thỏ, mèo con, chó con, chuột trắng, chuột nhắt) Trong

Trang 27

cơ thể của những ký chủ này, ấu trùng cũng thực hiện con đường di chuyển như trong cơ thể lợn Trong thời kỳ di chuyển trong cơ thể ký chủ không

chuyên biệt, ấu trùng S ransomi gây viêm da, chảy máu trong hạ bì, trong cơ

và phổi, viêm cata niêm mạc ruột non Sau khi xâm nhập được vào ruột non

của cừu non, dê non và thỏ, S ransomi có thể phát triển đến giai đoạn thành

thục Trong cơ thể mèo con, chó con, chuột trắng, chuột lang và chuột nhắt,

ấu trùng S ransomi chết trong thời kỳ di chuyển (Skrjabin K.I và Petrov A.M

Theo Nguyễn Trọng Kim và cs (2001) [7], những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm giun lươn thấp Ngược lại, ở những cơ sở chăn nuôi không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm giun lươn là khá cao (30-65%)

Yếu tố strees: Các yếu tố strees (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh

dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi ) đóng vai trò thúc đẩy mức

độ và tốc độ lây lan bệnh giun lươn ở lợn

1.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun lươn

Đường bài xuất mầm bệnh:

Lợn mắc bệnh, sau một thời gian thì bài xuất trứng (trong trứng đã có ấu

trùng) qua phân ra ngoài ngoại cảnh Chính vì vậy trứng được phát tán rộng

Trang 28

rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành các ấu trùng

có sức gây bệnh

Đường xâm nhập vào cơ thể:

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6] cho biết: Bệnh lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian ấu trùng có sức gây nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua 2 con đường:

- Qua đường tiêu hoá: Do ăn phải thức ăn nước uống có chứa ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh Ngoài ra, giun lươn có thể xâm nhập vào cơ thể vật sơ sinh qua bú sữa đầu

- Qua da: ấu trùng có sức gây bệnh có thể chui qua da xâm nhập vào cơ thể vật chủ

Ngoài ra, theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [15], giun lươn có thể lây nhiễm qua nhau thai và qua bú sữa đầu

Vị trí gây bệnh: Giun lươn ký sinh và gây bệnh ở ruột non ký chủ

Quá trình sinh bệnh: Ngoài tác động chiếm đoạt dinh dưỡng của lợn,

giun lươn còn gây tác hại nặng nề cho lợn

- Tác hại cơ giới: ấu trùng chui qua da, qua mạch máu phổi, các phế nang, làm tổn thương tổ chức các cơ quan, gây viêm phổi Giun trưởng thành sống trong niêm mạc ruột non gây viêm ruột, rối loạn tiêu hoá

- Tác hại mang trùng: ấu trùng có thể mang vi khuẩn Salmonella và E coli từ bên ngoài, qua da ký chủ vào cơ thể ký chủ, gây bệnh ghép với bệnh

Trang 29

da để lại các vết đỏ trên da, tạo điều kiện cho các vi khuẩn từ môi trường ngoài xâm nhập vào cơ thể gây nên các bệnh ghép với ký sinh trùng

1.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh giun lươn

* Triệu chứng:

Triệu chứng lâm sàng của bệnh thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi con vật, số lượng giun ký sinh trong từng cơ thể lợn ở những lợn trưởng thành không thấy biểu hiện triệu chứng lâm sàng, nhưng khi kiểm tra phân mới thấy lợn nhiễm giun lươn Thực tế đã thấy sự có mặt của giun lươn ở những lợn hoàn toàn khoẻ mạnh

Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [24] cho biết: Lợn mắc bệnh giun lươn thường có triệu chứng mệt mỏi, ỉa chảy và kiệt sức Lợn con bị bệnh

Strongyloides rất chậm lớn so với các lợn khoẻ, đôi khi còn thấy chúng thở khó, ho và chết ở lứa tuổi từ bốn đến sáu tuần lễ

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006 [15]: Khi bị ấu trùng giun lươn xâm nhập vào phế nang, gây viêm phổi, lợn bị sốt (40 - 41,50C), ho nhiều, khó thở Khi giun trưởng thành ký sinh ở niêm mạc ruột, vật chủ thường bị viêm ruột non cấp Vật bệnh ỉa chảy, trong phân có dịch nhày do niêm mạc ruột bị tróc ra và có máu do xuất huyết Khi bị bệnh nặng, súc vật non có thể bị chết

do mất nước, rối loạn chất điện giải trong trạng thái viêm ruột cấp Tỷ lệ chết của lợn bệnh rất cao, có thể tới 75% số lợn ốm

“Cẩm nang thú y viên” đã đề cập đến những triệu chứng của lợn bị bệnh giun lươn: Con vật gầy còm, có mụn trên da, viêm mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, ho, sốt Bệnh kéo dài khoảng 2 - 4 tuần, nếu nhiễm nặng có thể gây chết quá nửa đàn lợn con

Nguyễn Thị Kim Lan và cs, (1999) [8] cho rằng: Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt Lợn con sau đẻ 3 - 4 tuần nhiễm bệnh rất nặng, chết tới 50%, con vật gầy còm, có mụn trên da (do ấu trùng giun lươn chui

Trang 30

qua da gây viêm da), viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi (con vật ho) Triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày Nếu nặng có thể chết Khi nhiễm nhẹ, triệu chứng không rõ rệt

Skalinxki E.I (1953) cho biết, giun Strongyloides thành thục tập trung

trong niêm mạc ruột non giữa các nhung mao ruột và dưới biểu mô Ruột bị viêm tương dịch và cata tróc vảy (dequsamatio), viêm cata và xơ hoá dạ dày Đôi khi còn thấy những chỗ sướt, loét trên niêm mạc dạ dày lợn con mắc bệnh này Viêm kẽ phổi và viêm cata khí quản nhưng không rõ lắm (Skrjabin K.I

và Petrov A.M (1963) [36])

Cùng quan điểm trên, Johanes Kaufmaun (1996) [39] cho biết: Những con bị nhiễm nhẹ thì không có triệu chứng lâm sàng, những con bị nhiễm nặng có triệu chứng ỉa ra máu, thiếu máu, gầy yếu và có thể chết đột ngột (đặc biệt là ở lợn con) Trong thời gian di hành của ấu trùng con vật có triệu chứng

ho, khó thở ảnh hưởng đến cơ làm cho con vật mệt mỏi, vận động khó khăn, nặng có thể bị viêm cơ, cơ bị đau nhức, bụng đau và có hiện tượng nôn mửa Những lợn nhiễm giun lươn nhẹ có ít hoặc không có triệu chứng lâm sàng Khi lợn sơ sinh bị nhiễm Strongyloides ransomi nặng có triệu chứng: Thiếu máu, tiêu chảy, mất nước, tiều tụy và có thể bị tử vong Hầu hết tử vong xảy ra ở lợn con chưa đầy hai tuần tuổi Tiêu chảy, mất nước và tử vong

có thể xảy ra ở lợn 3 tháng tuổi [50]

Đối với những lợn bị nhiễm giun nặng có những triệu chứng như: Tiêu chảy, thiếu máu, con vật gầy còm suy dinh dưỡng và có thể chết Những lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng [50]

* Bệnh tích:

Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [8] cho biết: Bệnh tích của bệnh giun lươn như sau: dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng có

Trang 31

nhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm mạc ruột có những điểm tụ huyết, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6] cho rằng: Khi lợn bị nhiễm giun lươn với cường độ rất nặng có những bệnh tích như viêm cấp tính niêm mạc ruột, trên đó có những tổn thương nghiêm trọng, có nhiều điểm trắng, có những chỗ chảy máu, hạch lâm ba sưng, khối lượng cơ thể giảm sút đáng kể, trao đổi chất bị rối loạn Độc tố của giun lươn làm cho con vật bị kiệt sức, thiếu máu, con vật có thể bị chết do suy dinh dưỡng nặng

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [24], bệnh tích thể hiện ở gia súc non, ở gia súc trưởng thành và gia súc già bệnh tích không rõ

Khi mổ khám những con vật gây bệnh nhân tạo, thấy những điểm tụ huyết ở tổ chức dưới da, ở cơ, ở phổi cũng có nhiều điểm hoặc từng đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày ruột, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [36], khi mổ khám thấy xác chết gầy còm, nhợt nhạt, da chỗ nếp gấp thường bị chàm, đôi khi có nước rỉ trong xoang bụng Hạch lâm ba màng treo ruột sưng to Niêm mạc ruột và dạ dày đỏ, có nhiều nốt xuất huyết nhỏ

Cũng theo tác giả thì giun lươn ký sinh ở dưới tầng biểu bì của ruột, gây viêm ruột ỉa chảy Khi lợn chết xác chết gầy còm, trên niêm mạc ruột có rất nhiều điểm tụ huyết và mụn loét ở dưới da có nhiều điểm tụ huyết lấm tấm Johanes Kaufmann (1996) [39 ] cho biết: Khi mổ khám lợn con bị bệnh thấy xác gầy còm, nhợt nhạt, bao tim và xoang ngực tích nước màu vàng Gan màu vàng nhạt, có nhiều điểm trắng trên bề mặt gan Ruột non viêm cata Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn về các bệnh gia súc ở Việt Nam đã mô

tả bệnh tích của bệnh giun lươn như sau: Xuất huyết ở phổi, viêm ruột cata ở nơi giun di hành

Trang 32

1.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun lươn

Việc chẩn đoán bệnh giun lươn ở lợn có thể dựa vào tình hình dịch tễ,

triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm mẫu phân lợn và kiểm tra bệnh tích

* Với lợn còn sống: Để chẩn đoán có thể căn cứ vào triệu chứng lâm

sàng và đặc điểm dịch tễ của bệnh

Những triệu chứng lâm sàng cần chú ý là: Lợn bỏ ăn, gầy yếu, lông xù,

ỉa chảy mạnh, ho

Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình

trạng vệ sinh thú y Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên

để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có

những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, ăn uống kém,

thể trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh giun

lươn phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng giun lươn Có rất nhiều

phương pháp xét nghiệm như: Darling, Fullerborn, Cherbovick, đếm trứng

giun lươn trên buồng đếm Mc.Master

Phương pháp Fullerborn là phương pháp dùng để xét nghiệm phân tìm

trứng S ransomi ở lợn

Nguyên lý của phương pháp này dựa trên sự chênh lệch về tỉ trọng của

dung dịch muối NaCl bão hòa (d =1,18) lớn hơn tỷ trọng của trứng giun lươn,

do đó trứng giun sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun lươn dưới kính

hiển vi (độ phóng đại x100 hoặc x400)

Dung dịch muối bão hòa được pha bằng cách: lấy 1 lít nước sôi, cho

380g muối NaCl vào (hoặc đun sôi nước, cho từ từ muối vào), khuấy đều đến

khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh là

được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn

Trang 33

Cách xét nghiệm như sau: Lấy 5 - 10g phân cho vào một cốc nhỏ, dùng

đũa thủy tinh nghiền nát, vừa nghiền vừa đổ nước muối bão hòa vào, khoảng

40 - 50ml, lọc qua lưới thép bỏ cặn, nước lọc được đổ vào ống penicillin sao

cho đầy đến miệng, đậy phiến kính sạch lên cho tiếp xúc với mặt nước, để

khoảng 15 phút rồi lấy phiến kính ra soi trên kính hiển vi

Phương pháp Darling cũng có thể dễ dàng chẩn đoán bệnh giun lươn:

Nguyên lý chung là lợi dụng sự chênh lệch về tỷ trọng giữa dung dịch NaCl

bão hòa và trứng giun lươn, đồng thời lợi dụng lực li tâm để phân li trứng

giun lươn ra khỏi phân Sau đó dùng vòng thép vớt váng phía trên, ta sẽ thu

được trứng giun lươn

Ngoài ra, phương pháp Cherbovick với dung dịch sulfat magie bão hòa

cũng được sử dụng làm nổi trứng

Có thể dùng phương pháp đếm trứng giun lươn trên buồng đếm

Mc.Master để xác định số trứng giun lươn/ gam phân

Phương pháp đếm trứng trên buồng đếm Mc.Master gồm các bước sau:

- Bước 1: Cân 4g phân vào cốc thủy tinh, thêm nước lã sạch (khoảng

100 - 150ml), khuấy tan phân, lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc để lắng trong 1- 2

giờ, gạn bỏ nước, giữ lại cặn

- Bước 2: Cho 56ml dung dịch nước muối bão hoà, khuấy đều cho tan

cặn Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút hút 1ml dung dịch phân nhỏ đầy

hai buồng đếm Mc.Master Để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi (độ

Trang 34

* Với lợn chết:

Đối với nhiều bệnh giun sán, phương pháp chẩn đoán sau khi con vật

chết là chính xác nhất Việc chẩn đoán bệnh giun lươn được tiến hành qua

phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy niêm dịch ruột

non ép trên lam kính, kiểm tra dưới kính hiển vi và tìm giun lươn ký sinh

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [8], chẩn đoán bệnh do Strongyloides

bằng phương pháp Fullerborn là phương pháp đơn giản và hiệu quả Nhưng

cần nhớ rằng trứng Strongyloides nở ra ấu trùng hình gậy rất nhanh (sau 3-4

giờ), vì vậy phân thải ra ngoài quá 5 giờ thì không những cần phải soi phân

tìm trứng mà còn phải tìm cả ấu trùng theo phương pháp Baerman

1.1.2.6 Phòng trị bệnh giun lươn cho lợn

* Phòng bệnh:

Việc phòng bệnh giun lươn cho lợn gặp rất nhiều khó khăn, vì vậy đòi

hỏi cán bộ kỹ thuật và công nhân chăn nuôi phải nghiêm túc thực hiện các

biện pháp sau:

- Vệ sinh chuồng, dụng cụ thiết bị sạch sẽ, không sử dụng chung các

dụng cụ chăn nuôi khi chưa được khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải xây nơi cao

ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại vào các tháng

mưa phùn và lạnh phải khô, thoáng nhưng lại ấm cho lợn con

Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom hằng ngày và ủ kỹ đúng nơi

quy định Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật

hoang dã vì chúng là những động vật môi giới mang căn bệnh phát tán trong

tự nhiên

- Không nuôi chung lợn nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực

- Phải rất cẩn thận thực hiện chế độ dinh dưỡng trong thời gian cai sữa

- Thức ăn đảm bảo, nước uống sạch sẽ

Trang 35

- Tập ăn sớm với thức ăn chuẩn

- Tăng dần khẩu phần và số lần tập ăn, giảm dần khối lượng sữa và số lần cho bú tối thiểu 7 ngày trước và sau cai sữa

Trần Thế Thông và cs (1979) [27] cho biết, để phòng bệnh có hiệu quả cần làm tốt các việc sau:

- Nền chuồng phải luôn luôn khô ráo

- Tránh dội nước vào nền chuồng, nhất là đối với lợn con theo mẹ

- Về mùa đông cũng như mùa hè, nền chuồng lợn nái nuôi con đều được độn rơm rạ khô ráo

Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [3] cho rằng: Lợn rất mẫn cảm với bệnh

ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau, bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu Thức ăn nước uống phải luôn luôn sạch Theo Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [15], việc phòng bệnh gồm các vấn đề sau:

- Thực hiện đầy đủ biện pháp vệ sinh thú y như giữ chuồng trại sạch sẽ, khô ráo, thông thoáng có thể hạn chế sự tồn tại của ấu trùng giun lươn Bãi chăn thả cũng cần giữ khô ráo, định kỳ sử dụng thuốc diệt trùng: cresyl 5%; dung dịch NaOH 3% để diệt ấu trùng

- Ở các cơ sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng một trong các loại hoá dược đặc hiệu tẩy dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn con trong lứa tuổi 7 -

10 ngày

- Thực hiện ủ phân để diệt trứng giun

Đoàn Văn Phúc và cs (1970) đề nghị áp dụng những biện pháp vệ sinh phòng bệnh như sau: Đối với lợn mẹ đã sạch giun sán sau khi đẻ lứa trước, thì trước khi đẻ lứa sau 10 ngày, nhốt vào ô chuồng riêng sạch, đến ngày sắp đẻ cho tắm 2 lần bằng dung dịch dipterex 1%, sau khi đẻ định kỳ tắm Chuồng trại bảo đảm khô sạch, mỗi tuần tẩy uế 1 lần bằng dung dịch dipterex 1 - 3% Sân chơi bằng phẳng, thoát nước, sạch sẽ, mỗi tuần lễ rắc vôi bột từ 1 - 2 lần

Trang 36

Trời ấm áp mới cho lợn mẹ và lợn con ra sân từ 8 - 17h, trời mưa hoặc mùa lạnh không thả hoặc ít thả hơn Tác giả cũng nhận xét, vôi và creolin, dipterex (3% trở lên) có tác dụng diệt ấu trùng giun lươn (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và

cs (1985) [25])

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], đã vận dụng học thuyết Skjabin đưa

ra biện pháp phòng chống bệnh giun sán Tác giả cho rằng, biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun lươn là biện pháp phòng chống tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của trứng ở môi trường ngoài ký chủ

Rauxkix M.K và Kneigix A (1957) đã xác định là, sát trùng chuồng lợn bằng cách quét dọn sạch sẽ, hàng tháng dùng NaẶH 5%, cacbolin 3 - 5%, creolin 3 - 5%, CaCl210% và focmalin 2 - 5% có thể phòng hộ được 70% lợn con khỏi nhiễm bệnh Những tác giả này còn cho rằng, trong các trại nuôi lợn,

về mùa hè và trên các bãi chăn thả, lợn có tỷ lệ mắc bệnh giun lươn thấp hơn (Skarjabin K.Ụ và cs (1963) [36])

Phan §ịch Lân và cs, (2005) [17] cho biết: §ể phòng bệnh giun lươn có hiệu quả cần vệ sinh nền chuồng sân chơi, không để nước tiểu, nước rửa chuồng, nước phân chảy vào ruộng thức ăn xanh nuôi lợn Phân lợn phải được

ủ trước khi bón ruộng Ruộng trồng thức ăn xanh cho lợn quy hoạch xa chuồng nuôi lợn Thức ăn xanh trước khi cho lợn ăn phải rửa nhiều lần để giảm tới mức tối đa lượng trứng giun

Bowman D.D (1996) [37]cho biết: Biện pháp tẩy giun trước khi chúng trưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Hầu hết các tác giả đều thống nhất: Phenothiazin một trong những thuốc có tác dụng ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và tẩy cả giun non được khuyên là nên dùng mang tính chất phòng bệnh

Trang 37

Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [6] cho rằng: Các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung nếu có lợn mắc bệnh giun lươn cần tăng cường công tác vệ sinh, giữ chuồng luôn khô ráo, dễ thoát nước, chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức

đề kháng với bệnh Tác giả cũng khuyến cáo, định kỳ mỗi tháng sát trùng chuồng trại, phân phải mang đi ủ, chuồng trại phải được sát trùng trước khi cho lợn vào để phòng lợn nhiễm giun sán

Theo Drozdz J và cs (1971) [35], những lợn con được ăn sữa đầu của lợn nái đến ngày thứ 4 sau khi đẻ đã thấy trong phân có ấu trùng Strongyloides ransomi, khi mổ khám thấy có những giun trưởng thành, trong khi phân của lợn nái không có trứng hoặc ấu trùng Nếu lợn con sơ sinh ăn sữa bò hoặc sữa đầu của lợn nái đã được lọc trước thì lợn con không bị bệnh Lợn nái ở các cơ sở có bệnh vắt sữa trước khi lợn đẻ đã phát hiện có ấu trùng Strongyloides ransomi trong sữa

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, có rất nhiều hóa dược được dùng

để điều trị các bệnh giun tròn đường tiêu hóa nói chung và bệnh giun lươn nói riêng Tuy nhiên, theo quan điểm của Skrjabin K.Ụ (1963) [36], muốn thanh toán bệnh giun sán phải phòng bệnh có tính chất chủ động Dùng tất cả mọi phương pháp vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), cơ giới, hóa học (thuốc), sinh vật học để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh, ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)

Các tác giả trong và ngoài nước đều thống nhất áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp sau:

+ Định kỳ dùng thuốc tẩy giun

+ Tập trung phân ủ để diệt trứng và ấu trùng

+ Không chăn thả, làm chuồng ở nơi ẩm thấp

+ Không cho lợn uống nước bẩn, nước tù đọng

Trang 38

Tẩy giun trước khi trưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Phenothiazin là một trong những thuốc có tác dụng ức chế giun trưởng thành

đẻ trứng và tẩy cả giun non - được khuyên là nên dùng để tẩy mang tính chất phòng bệnh cho lợn

* Trị bệnh:

§iều trị bệnh giun lươn cho súc vật rất khó khăn, vì giun nằm sâu dưới lớp niêm mạc ruột nên thuốc tác dụng yếu Nên dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, tiêu độc nơi có bệnh Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và vitamin cho con vật ốm, giữ vệ sinh thức

ăn nước uống, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [15], có thể dùng một trong các hoá dược sau để tẩy giun lươn cho lợn:

Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [8] cho biết: Có thể dùng các thuốc sau để điều trị giun lươn ở lợn:

- Dùng violet gentian, liều 50 - 70 mg/kg TT, cho uống 2 lần trong 1 ngày Dùng 3 ngày liền hiệu quả đạt 94 - 100%

- Thiabendazol: 50 mg/kg TT Trộn lẫn thức ăn hay cho vào nước uống thành nhũ tương, cho ăn hoặc uống không cần nhịn đói trước

- Fuchsin: 0,2 - 0,3 g/con, chia 2 lần trong ngày, dùng 4 ngày liền

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1995) [14]: Tetramisol có hoạt tính cao với giun lươn trưởng thành cũng như ấu trùng Tác dụng làm tê liệt hệ thống thần

Trang 39

kinh của giun và gây co bóp ruột đẩy giun ra ngoài Đồng thời tác giả cũng cho biết không sử dụng Dipterex để tẩy giun lươn cho lợn

Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [19] cho rằng: Levamisole tên thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn lẫn vào thức ăn hoặc pha vào nước uống, có phổ tác dụng rộng đối với giun lươn

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], đã khuyến cáo rằng, để tẩy giun đạt hiệu quả cần biết một số yêu cầu sau:

+ Trước tiên phải chẩn đoán chính xác Sau đó tẩy cho những con vật bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được Tốt nhất là nên tẩy vào mùa xuân (tháng 3-4) và mùa thu (tháng 8-9) Khi tẩy phải nhốt trong chuồng 3-5 ngày để tập trung phân ủ diệt mầm bệnh, sau 15 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc

+ Đối với ấu trùng tự do ngoài tự nhiên: Không cho ấu trùng vào cơ thể ký chủ bằng cách: cách ly lợn ốm, tiêu độc dụng cụ chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (1996) [1], điều trị bệnh cho gia súc non rất khó khăn, vì giun lươn rất nhỏ và nằm sâu dưới lớp niêm mạc ruột nên thuốc tác dụng yếu Tác giả khuyên nên dùng một trong các hóa dược sau để tẩy giun lươn cho lợn:

- Levamisole: liều 7,5mg/ kg TT lợn

- Mebendazole: liều 5mg/ kg TT

- Ivermectin: liều 0,3mg/ kg TT

Trong thời gian điều trị cần chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [21] cho biết: Có thể sử dụng Tayzu để tẩy giun lươn cho lợn, với liều 4g/ 30-40kg TT trộn vào thức ăn, hoặc Levasol 7,5% tiêm dưới da hoặc pha nước cho uống với liều 1ml/10kg TT

Trang 40

Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [2]: Có thể dùng Fenbendazole liều 3mg/kg/ngày, dùng trong 3 ngày, có hiệu lực 81% đối với giun lươn Nguyễn Hữu Vũ và cs (2003) [34] cho biết, có thể dùng các thuốc sau để trị bệnh giun lươn cho lợn:

- Mebendazole 10% (tên khác: Mebenvet 10%, Telmin 10%), liều 2g/10kgTT

- Levasol 7,5% (tên khác là Levavet, Levaject-7,5%, Levamisole), liều 1ml/10kg TT

- Hanmectin-25 (tên khác là Ivomec, Ecomectin, Doramectin, Dectomax), liều 1,2ml/10kg TT

- Han- Dertil-B, liều 1 viên/60kg TT

- Tayzu (tên khác Levamisole, Decaris), trộn đều 1 gói 4 gram vào thức

Hoàng Tích Huyền và cs (1998) [5] cho biết: Thiabendazol (Mintezol) là tinh thể màu trắng, không vị, không tan trong nước ổn định ở thể rắn hoặc dung dịch Thiabendazol có hiệu lực tốt với giun tròn, trong đó có giun lươn (Strongyloides ransomi) Thuốc ức chế được sự tạo trứng và có tác dụng đặc hiệu ức chế sự phát triển của trứng và ấu trùng giun trong cơ thể động vật Thiabendazol còn ức chế sự tiết acetylcholinesterase, cản trở giun tròn di chuyển

Johanes Kaufmann (1996) [39] cho biết: Ivermectin với liều 300àg/kg cho hiệu quả tốt trong 1-2 tuần Tác giả khuyến cáo nên chú ý đến lượng sữa của lợn mẹ trong thời gian nuôi con khi sử dụng thuốc tẩy giun

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3: Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 1.3 Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn (Trang 23)
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây bệnh giun lươn cho lợn - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây bệnh giun lươn cho lợn (Trang 52)
Bảng 3. 2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3. 2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn (Trang 60)
Bảng 3.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo mùa vụ - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo mùa vụ (Trang 63)
Bảng 3.5: Sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở chuồng nuôi, xung - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.5 Sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở chuồng nuôi, xung (Trang 65)
Bảng 3.6: Thời gian trứng giun lươn nở và phát triển thành ấu trùng có - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.6 Thời gian trứng giun lươn nở và phát triển thành ấu trùng có (Trang 67)
Bảng 3.7: Thời gian sống của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.7 Thời gian sống của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong (Trang 69)
Bảng 3.8: Kết quả gây nhiễm giun lươn cho lợn - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.8 Kết quả gây nhiễm giun lươn cho lợn (Trang 70)
Bảng 3.10: Triệu chứng chủ yếu của lợn bị bệnh giun lươn do gây nhiễm - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.10 Triệu chứng chủ yếu của lợn bị bệnh giun lươn do gây nhiễm (Trang 74)
Bảng 3.11: Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa của lợn - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.11 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa của lợn (Trang 75)
Bảng 3.12: Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh giun lươn ở - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.12 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh giun lươn ở (Trang 77)
Bảng 3.13: Sự thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.13 Sự thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết (Trang 78)
Bảng 3.14: So sánh công thức bạch cầu của lợn trước và sau khi  bị bệnh - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.14 So sánh công thức bạch cầu của lợn trước và sau khi bị bệnh (Trang 81)
Bảng 3.15: Hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn (Trang 84)
Bảng 3.16: Độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn cho lợn - Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (swine strongyloidosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.16 Độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn cho lợn (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w