1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc

107 413 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 685,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng đối với cây lúa, cây trồng truyền thống của Việt Nam, Nguyễn Hữu Nghĩa và Lê Vĩnh Thảo 2007 đã mô tả các loại hình phong phú và chất lượng thơm ngon đặc biệt cũng như có chứa nhiều

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ

Đặng Thị Thu Hằng

Trang 4

Lời cảm ơn

Trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tốt nghiệp cao học tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của nhà trường, Khoa Sau đại học, các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Tôi đã vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành đề tài của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn:

1 TS Nguyễn Đức Thạnh - Trưởng phòng Thanh tra Khảo thí, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

2 Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

3 Các thầy cô giáo giảng dạy chuyên ngành trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, người thân cùng gia đình đã động viên, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

1.4 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 8 1.4.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 8 1.4.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 11 1.5 Tình hình nghiên cứu lúa trong và ngoài nước 14 1.5.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 14 1.5.2 Tình hình nghiên cứu lúa cạn trên thế giới 19 1.5.3 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước 28 1.5.4 Tình hình nghiên cứu lúa cạn ở Việt Nam 31 1.5.4.1 Sự phân bố các vùng trồng lúa cạn ở Việt Nam 33 1.5.4.2 Những hạn chế trong việc trồng lúa cạn 36 1.5.4.3 Những kết quả nghiên cứu về chọn giống lúa cạn 37 1.5.4.4 Một số tình hình thu thập và bảo tồn nguồn gen lúa

Chương 2- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Nội dung, đối tượng và địa điểm nghiên cứu 42

2.1.3 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 42

2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, đánh giá 45 2.3.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển 45

Trang 6

3.1 Đặc điểm về điều kiện đất đai, khí hậu tỉnh Thái Nguyên 55 3.1.1 Một số đặc điểm chủ yếu về điều kiện đất đai 55

3.2 Thu thập, đánh giá, phân loại tập đoàn các giống lúa cạn 60

3.2.2 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa 61 3.2.3 Đánh giá một số đặc tính nông học của các giống lúa 63 3.2.4 Phân loại giống dựa theo phẩm chất hạt của các giống lúa 66 3.2.5 Phân loại giống lúa dựa theo đặc điểm hình thái hạt 67 3.2.6 Phân loại nhanh loài phụ các giống lúa 69 3.2.7 Phân loại giống theo khả năng đẻ nhánh và

3.2.8 Phân loại giống theo năng suất và các yếu tố

3.2.9 Đánh giá tập đoàn theo mức nhiễm sâu bệnh hại 80

3.3 Đánh giá các giống lúa điển hình được chọn từ

3.3.1 Thời gian sinh trưởng phát triển của các giống lúa 83

3.3.3 Đánh giá một số đặc tính nông học 87 3.3.4 Khả năng chống chịu sâu bệnh và một số

3.3.5 Đặc điểm năng suất của các giống lúa điển hình 92

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BRRI : Bangladesh Rice Research Institute

CIAT : Central International Agriculture Tropical ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

IITA : International Institute of Tropical Agriculture IRRI : International Rice Research Institute

WARDA : West Africa Rice Development Association

Trang 8

Bảng 3.8 Phân loại giống theo khả năng đẻ nhánh và

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH

Trang Hình 3.1 Phân loại giống theo thời gian sinh trưởng 62 Hình 3.2 Phân loại giống theo số hạt chắc/bông 74 Hình 3.3 Phân loại giống theo năng suất cá thể 75 Hình 3.4 Phân loại giống theo số bông/khóm 78 Hình 3.5 Phân loại giống theo chiều dài bông chính 78 Hình 3.6 Năng suất của các giống lúa nếp điển hình 92 Hình 3.7 Năng suất của các giống lúa tẻ điển hình 94

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một đất nước đa dạng sinh học nông nghiệp Trong nửa thế kỷ qua, Việt Nam đã trải qua một giai đoạn lịch sử phức tạp, hậu quả của chiến tranh đã ảnh hưởng to lớn đến đa dạng sinh học Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn để ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học nói chung và tài nguyên di truyền thực vật nói riêng

Diện tích lãnh thổ không lớn nhưng Việt Nam là một trong 15 quốc gia đa dạng và giàu có nhất thế giới về tài nguyên di truyền thực vật, với dự tính có thể có 20.000-30.000 loài thực vật chiếm 6,5% số loài có trên thế giới Theo số liệu hiện nay, hệ thực vật Việt Nam có trên 14.000 loài thực vật bậc cao Nếu so sánh với Bắc Mỹ bao gồm Hoa Kỳ và Canada diện tích gần 20 triệu km2, cả châu Úc diện tích 7 triệu km2 cũng chỉ có tương ứng là 12.000 và 8.000 loài Điều quan trọng khác là tỷ lệ các loài cây bản địa của Việt Nam cao, đến 40%, là tỷ lệ mà ít nước có Riêng đối với cây lúa, cây trồng truyền thống của Việt Nam, Nguyễn Hữu Nghĩa và Lê Vĩnh Thảo (2007) đã mô tả các loại hình phong phú và chất lượng thơm ngon đặc biệt cũng như có chứa nhiều khoáng chất quan trọng đối với cơ thể con người

và đã dẫn các số liệu cho thấy trong tổng số 464 giống lúa đại diện ở miền Bắc Việt Nam đưa vào phân loại dựa trên mẫu Isozyme có 147 giống đặc sản chiếm 36,68%

Nhiều nguồn gen thực vật quý của Việt Nam đã góp phần tạo nên thắng lợi của Cách mạng xanh và sẽ đóng góp lớn cho thành tựu nông nghiệp của cả nhân loại trong tương lai Theo số liệu điều tra ban đầu, nguồn gen giống cây trồng hiện đang sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam từ 16 nhóm các loại cây trồng khác nhau Số lượng các loài thực vật có quan hệ họ hàng với cây trồng là khoảng trên 1.300 loài, trong

Trang 11

đó có nhiều loài đã và đang bị lãng quên Ngoài ra có rất nhiều loài thực vật

có giá trị nông nghiệp chưa được khai thác sử dụng nhiều Kết quả điều tra cũng cho thấy số loài cây bị đe dọa rất nhiều và ngày càng xuất hiện nhiều trong Sách đỏ Việt Nam (IUCN, 2006) Hiện nay, tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đang bảo tồn hơn 12.300 giống của 115 loài cây trồng Đó

là tài sản quí, phần lớn không còn trong sản xuất và trong tự nhiên nữa Một bộ phận quan trọng của số giống này là nguồn gen bản địa với nhiều đặc tính quí mà duy nhất chỉ có ở Việt Nam

Như vậy, Việt Nam có sự phong phú và đa dạng cao về tài nguyên di truyền thực vật, trong đó có nguồn gen giống lúa, một trong những cây trồng gắn liền với quá trình phát triển của người Việt Nam và có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của chiến tranh, thiên tai như lũ lụt, hạn hán và do tác động của các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội, yếu tố sinh học

và một phần bị lạm dụng bởi các tổ chức và cá nhân nước ngoài, nhiều giống lúa địa phương quí hiếm có nguy cơ cao bị xói mòn nguồn gen Một

ví dụ về sự mất mát nguồn gen lúa của Việt Nam, đó là: Nhiều giống lúa quí có giá trị rất cao trong việc lai tạo giống lúa thơm thương mại hiện nay không thể tìm thấy tại Việt nam mà chúng đã thuộc quyền sở hữu của một

số quốc gia khác

Qua đó cho thấy biện pháp tổ chức và quản lý hợp lý nhiệm vụ bảo tồn để phục vụ cho khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên cây nông nghiệp nói chung và cây lúa nói riêng là nhiệm vụ khoa học cấp bách của nước ta hiện nay

Hệ sinh thái đồng ruộng Việt Nam khá đa dạng và phong phú giống lúa, cây lúa phân bố rộng và thích hợp nhiều vùng Tuy nhiên, nguồn gen lúa hiện nay đang ngày càng suy giảm, trong đó sự suy giảm nguồn gen lúa cạn được thể hiện rõ qua điều tra trong khuôn khổ chương trình sưu tập bảo

Trang 12

tồn tài nguyên di truyền cây lúa của IRRI và các dự án bảo tồn tại chỗ sự đa dạng sinh học trên đồng ruộng của Việt Nam

Để ngăn chặn sự xói mòn nghiêm trọng tài nguyên di truyền thực vật cho lương thực và nông nghiệp của Việt Nam nói chung và tài nguyên di truyền giống lúa cạn nói riêng, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực bằng các biện pháp khác nhau như hình thành mạng lưới lưu giữ và bảo tồn nguồn gen, tăng cường ngân sách cho công tác điều tra nghiên cứu và thu thập, bảo tồn, nâng cao sự tham gia của các bên liên quan đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học

Nhằm thực hiện chủ trương của Nhà nước, góp phần sử dụng bền vững nguồn gen giống lúa, trong đó có nguồn gen lúa cạn, bảo vệ các tri thức bản địa và sự đa dạng sinh học đối với cây lúa, chúng tôi thực hiện đề tài:

“ Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu

thập ở các tỉnh miền núi phía Bắc”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Thu thập các giống lúa cạn tại một số tỉnh miền múi phía Bắc nhằm duy trì và bảo tồn nguồn gen

- Đánh giá đặc điểm nông học của các giống lúa cạn thu thập được

- Phân loại loài phụ nguồn gen lúa cạn thu thập được

3 Ý nghĩa của đề tài

* Ý nghĩa khoa học:

- Thu thập và đánh giá đặc tính nông học của các giống lúa cạn được thu thập tại một số tỉnh miền núi phía Bắc

- Là cơ sở cho việc duy trì và bảo tồn nguồn gen lúa cạn, bảo vệ sự

đa dạng sinh học của cây lúa

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong sản xuất nông nghiệp, giống là một loại tư liệu sản xuất quan trọng cũng như đất, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống, không thể sản xuất ra bất cứ một loại nông phẩm nào Giống cây trồng chính là một yếu tố quan trọng trong việc tăng năng suất và chất lượng của sản phẩm Trong thực tế, xét yếu tố giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng thì chưa bao giờ thỏa mãn được yêu cầu của sản xuất Khi sản xuất phát triển, khả năng đầu tư thâm canh cao thì yêu cầu về giống cây trồng là vấn đề quyết định

Qua tổng kết về sản xuất lúa cho thấy: Nếu đầu tư giống tốt, chất lượng cao thì sẽ góp phần làm tăng năng suất từ 15-20%, thậm chí có nơi tăng từ 24-40% Chính vì vậy mà giống cây trồng thường xuyên được quan tâm đầu tư, từ việc nghiên cứu chọn tạo giống mới đến ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống vào sản xuất

Ở nước ta lúa cạn đã tồn tại từ lâu đời cung cấp một lượng lớn lương thực cho nhân dân vùng cao Đây là nguồn gen quí trong lai tạo và chọn giống lúa do lúa cạn có những đặc tính nông học đặc biệt, khác với những cây trồng khác giúp lúa cạn được phân bố rộng hơn Qua nhiều nghiên cứu

về lúa cạn cho thấy lúa cạn được hình thành từ lúa tiên, phát triển theo hướng chín sớm, có khả năng chống chịu tốt với hạn, nhất là hạn cuối vụ mùa, chống chịu sâu bệnh và chịu đất nghèo dinh dưỡng, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khó khăn [9]

Do vậy việc duy trì và bảo tồn nguồn gen giống lúa cạn là việc làm cần thiết và cấp bách Ở Việt Nam, nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên di truyền

đã được tiến hành từ lâu, nhưng chỉ đến năm 1987 sau khi Bộ Khoa học,

Trang 14

Công nghệ và Môi trường ban hành quy chế quản lý và bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật và vi sinh vật thì một mạng lưới bảo tồn tài nguyên di truyền mới được hình thành và cùng với nó là các văn bản pháp quy của Nhà nước về quản lý và bảo tồn khai thác sử dụng nguồn gen lần lượt được xây dựng và ban hành

Cho đến nay, có 42 văn bản chính sách liên quan trực tiếp đến tài nguyên di truyền thực vật của Việt Nam được ban hành gồm có 7 Luật, 2 Pháp lệnh, 6 Nghị định, 30 Quyết định và 2 Thông tư liên Bộ Trong đó có các văn bản mới, có nhiều liên quan đến bảo tồn và khai thác tài nguyên di truyền thực vật như: Pháp lệnh Giống cây trồng, Luật sở hữu trí tuệ [8]

Sự ra đời của các văn bản chính sách nêu trên đã nói lên tầm quan trọng của việc bảo tồn tài nguyên di truyền nói chung và bảo tồn nguồn gen

di truyền các cây trồng địa phương nói riêng, góp phần quan trọng duy trì

sự đa dạng sinh học

Để thu thập và duy trì nguồn gen lúa cạn, cần đánh giá đặc điểm nông học, phân loại các giống này theo Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa [7] và sử dụng phương pháp phân loại loài phụ

1.2 Một số khái niệm về lúa cạn

Trên thế giới có nhiều cách định nghĩa về lúa cạn Theo định nghĩa tại Hội thảo nghiên cứu lúa cạn ở Bonake, Bờ Biển Ngà (1982): “Lúa cạn được trồng trên đất thoát nước, không có sự tích trữ nước trên bề mặt, không được cung cấp nước và không đắp bờ, chỉ được tưới nhờ mưa tự nhiên” [34]

Theo Garrity D.P [35] lúa cạn được coi là lúa trồng trong mùa mưa trên đất cao, đất thoát nước tự nhiên, trên những chân ruộng được đắp bờ hoặc không có bờ và không có lượng nước dự trữ thường xuyên trên bề mặt Lúa cạn được hình thành từ lúa nước, nhờ quá trình thích ứng với những vùng trồng lúa thường gặp hạn mà xuất hiện các biến dị chịu hạn

Trang 15

ngày càng cao Vì vậy giống lúa cạn có khả năng sinh trưởng bình thường khi ở ruộng nước

Huke R.E (1982) [40] dùng thuật ngữ “Lúa khô” (dryland rice) thay cho lúa cạn (upland rice) và định nghĩa: “Lúa cạn được trồng trong những thửa ruộng được chuẩn bị đất và gieo hạt dưới điều kiện khô, cây lúa sống phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời”

Theo Nguyễn Gia Quốc (1994) [13] chia lúa cạn thành 2 dạng:

- Lúa cạn thực sự hay còn gọi là lúa nương (rẫy), là loại trồng trên các triền dốc của đồi núi, không có bờ ngăn nước, luôn không có nước ở chân, cây lúa sống nhờ nước trời

- Lúa cạn không hoàn toàn hay lúa nước trời là loại lúa trồng ở triền thấp không có hệ thống tưới tiêu chủ động, cây sống hoàn toàn bằng lượng nước mưa tại chỗ, có thể có nước dự trữ trên bề mặt ruộng và cung cấp nước cho cây lúa vào một thời điểm nào đó

Theo Arrau Deau M.A, Xuan V.T (1995) [27] thì ở Việt Nam từ

“upland rice” có nghĩa là lúa rẫy ở Miền Nam, lúa cạn ở Trung Bộ và lúa nương ở Miền Bắc

Theo Nguyễn Thị Lẫm và cs [9] lúa cạn ngày nay bao gồm hai nhóm:

- Giống lúa cạn cổ truyền

- Nhóm giống lúa cạn mới lai tạo mang những đặc điểm quí của lúa nước và lúa cạn

1.3 Nguồn gốc lúa cạn

Lúa nói chung và lúa cạn nói riêng là một trong những cây trồng cổ xưa nhất của loài người Có nhiều ý kiến khác nhau về sự xuất hiện của lúa trồng Nhiều ý kiến thống nhất cho rằng lúa trồng xuất hiện ở châu Á cách

đây 8.000 năm [43] Tổ tiên trực tiếp của lúa trồng châu Á (Oryza sativa

L.) vẫn còn chưa có những kết luận chắc chắn Một số tác giả như Sampath

Trang 16

và Rao (1951) [50], Sampath và Govidaswami (1958) [51], Oka (1974) [48] cho rằng O.sativa được tiến hóa từ lúa dại lâu năm O.rufipogon, còn các tác giả khác như Chatterjee (1951) [32], Chang (1976) [31] lại cho rằng O.sativa được tiến hóa từ lúa dại hàng năm O.nivara Các nhà khoa học Nhật Bản như Oka (1988) [49], Morshima và cộng sự (1992) [44] cho rằng kiểu trung gian giữa O.rufipogon và O.nivara giống với tổ tiên lúa trồng O.sativa hơn chính các loài lúa dại nhiều năm (O.rufipogon) hoặc hàng năm (O.nivara)

Lúa trồng châu Á O.sativa có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc (Decadolle A., 1985; Roscheviez, Ru., 1931) và Ấn Độ (Sampath và Rao, 1951) [50] Theo công bố của Chang (1976) [31] thì O.sativa xuất hiện đầu tiên trên một vùng rộng lớn từ lưu vực sông Gamges dưới chân núi Himalaya qua Myanmar, Bắc Thái Lan, Lào đến Việt Nam và nam Trung Quốc Ông còn cho rằng lúa Indica phát sinh từ vùng Nepal, Myanmar, Vân Nam (Trung Quốc) đến khu vực sông Hoàng Hà và từ Việt nam phát tán dần lên tận lưu vực sông Dương Tử, từ đó phát sinh những biến dị thích ứng và hình thành các chủng chịu lạnh Japonica (hoặc O.Sinica)

Từ Trung Quốc Japonica được hình thành rồi qua Triều Tiên sang Nhật Bản Lúa Indica phát tán xuống phía Nam tới Malaysia và lên phía Bắc tới miền trung Trung Quốc Loại hình hạt dài, rộng và dày thuộc kiểu Javanica (Bulu hoặc Gundil) được hình thành ở Indonesia là sản phẩm của quá trình chọn lọc tự nhiên từ Indica Kiểu Javanica từ đây chuyển qua Philippines, Đài Loan đến Ryukyus của Nhật Bản

Theo Nguyễn Thị Lẫm [9] và nhiều tác giả khác đều cho rằng nguồn gốc lúa cạn là từ lúa nước Trong quá trình phát triển do có sự thay đổi về điều kiện đất đai và yêu cầu về lương thực của con người, cây lúa đã phát triển lên những vùng cao hơn Sống trong điều kiện đó cây lúa có một số biến đổi thích nghi với hoàn cảnh khô hạn Dần dần qua nhiều thế hệ đã

Trang 17

hình thành nên nhóm lúa cạn Lúa cạn phân bố rất rộng, có khả năng chịu rét cao và được trồng ở miền núi có độ cao 2.700 m so với mặt biển Giữa lúa nước và lúa cạn tuy có khác nhau về yêu cầu nước, khả năng chịu hạn khi thiếu nước, đặc biệt ở thời kỳ sinh trưởng từ làm đòng đến chín, khác nhau về một số đặc điểm sinh thái, hình thái phù hợp với điều kiện sống khác nhau, nhưng giữa chúng vẫn còn vết tích về cấu tạo giải phẫu Những điều đó chứng tỏ chúng có mối quan hệ với nhau Do đặc điểm của hai nhóm lúa này khác nhau nên yêu cầu kỹ thuật cũng khác nhau Lúa cạn là lúa trồng trong mùa mưa, trên đất cao, đất thoát nước tự nhiên, trên những chân ruộng không đắp bờ hay không có bờ và không có nước dự trữ trên bề mặt Lúa cạn được hình thành và phát triển để thích nghi với những vùng trồng lúa thường gặp hạn Như vậy những giống lúa cạn có khả năng trồng

ở đất cạn vẫn sinh trưởng bình thường trên ruộng có nước

1.4 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Dân số thế giới không ngừng tăng cao Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về lương thực, sản xuất lúa gạo trong vài thập kỷ gần đây đã có mức tăng trưởng đáng kể, nhưng phân bố không đều do các trở ngại về tiếp cận lương thực, thu nhập quốc gia và thu nhập của hộ gia đình không đủ để mua lương thực, sự bất ổn giữa cung cầu, thiệt hại do thiên tai mang lại là những nhân tố khiến cho vấn đề lương thực trở nên cấp thiết hơn lúc nào hết Tuy tổng sản lượng lúa không ngừng được gia tăng, năm sau cao hơn năm trước nhưng dân số tăng nhanh hơn, nhất là ở các nước đang phát triển, nên lương thực vẫn là vấn đề cấp bách phải quan tâm trong những năm trước mắt cũng như lâu dài

Hiện nay trên thế giới có trên một trăm nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục với tổng diện tích là 161,4 triệu ha Theo (FAO STAT, 2010) [39] thì sản xuất lúa gạo tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới

Trang 18

88,7% diện tích gieo trồng và sản lượng Trong đó Ấn Độ là nước có diện tích lúa lớn nhất (44,1 triệu ha), tiếp đến là Trung Quốc (trên 29,9 triệu ha) [39]

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây Năm Diện tích

(Nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (Nghìn tấn)

(Nguồn: FAO STAT năm 2010) [39]

Bảng 1.1 cho thấy diện tích canh tác lúa trên thế giới trong vài thập

kỷ gần đây có xu hướng tăng Song tăng mạnh nhất vào những thập niên

70, 90 của thế kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 80 Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI

Trang 19

năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,81 tạ/ha năm 1970 lên 42,04 tạ/ha vào năm 2009 Điều này cho thấy

“cuộc Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến

bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể

Châu Á gồm 8 nước có sản lượng cao nhất đó là Trung Quốc, Ấn

Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản Hiện nay châu Á có diện tích lúa cao nhất với 143,4 triệu ha, sản lượng 611,7 triệu tấn

Theo FAO STAT (2010), nước có diện tích trồng lúa lớn nhất là Ấn

Độ với diện tích 44,1 triệu ha, sản lượng lúa của Ấn Độ là 131,3 triệu tấn, chiếm 19,3% tổng sản lượng của thế giới

Trung Quốc là một nước có dân số đông nhất thế giới, trong vài thập niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong

đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân đạt 65,9 tạ/ha, sản lượng đạt 197,26 triệu tấn (đứng đầu về sản lượng lúa trên thế giới) Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc

Ở Thái Lan đất đai màu mỡ, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nước Vì vậy, cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện tích 10,96 triệu ha, năng

Trang 20

suất bình quân 28,7 tạ/ha, sản lượng 31,5 triệu tấn và là nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới 2009 Tên nước Diện tích

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

(Nguồn: FAO STAT năm 2010) [39]

1.4.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam

Việt Nam là một trong mười nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất thế giới, với đặc điểm tự nhiên ưu đãi, vị trí địa lý nằm ở vùng Đông Nam châu

Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn được phù sa bồi đắp, cây lúa trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghía quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam [4]

Từ thuở đầu dựng nước cây lúa đã được gắn liền với nền văn minh lúa nước trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Trang 21

Cùng với thời gian diện tích và năng suất lúa không ngừng tăng lên rõ rệt, tổng diện tích lúa của cả nước từ 4,72 triệu ha năm 1970 tăng lên 7,67 triệu

ha năm 2000 và giảm xuống còn 7,44 triệu ha năm 2009 Năng suất không ngừng được nâng cao từ 21,5 tạ/ha (năm 1970) lên 52,3 tạ/ha (năm 2009) Tuy nhiên trong những năm gần đây do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã làm diện tích trồng lúa có xu hướng giảm, mặc dù sản lượng vẫn tăng do việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm tăng năng suất lúa Bên cạnh việc tăng năng suất lúa, chúng ta cũng đã chú trọng đến chất lượng của lúa gạo, những giống lúa cổ truyền như Tám Ấp Bẹ, Tám xoan, Dự, nếp cái Hoa vàng, nếp Hòa Bình, nếp Hải Phòng, Nàng Nhen, Nàng thơm Chợ Đào, đã được phục tráng và mở rộng trong sản xuất [19]

Nghề trồng lúa ở Việt Nam có từ lâu đời và gắn liền với sự phát triển nông nghiệp của nước ta Với những kinh nghiệm quí báu của ông cha ta để lại và trí thông minh sáng tạo đã tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất làm cho nghề trồng lúa của Việt Nam không ngừng phát triển Nước ta từ một nước thiếu đói lương thực triền miên, bằng nội lực của mình đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới

Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nền sản xuất nông nghiệp của nước ta chuyển từ kinh tế tập thể lấy Hợp tác xã nông nghiệp quản lý và điều hành kế hoạch sản xuất, sang cơ chế lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế

tự chủ vì vậy đã khuyến khích người dân đầu tư về công sức tiền của cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thâm canh tăng vụ vì vậy sản lượng lúa của Việt Nam không ngừng được tăng cao Nước ta đã giải quyết cơ bản vấn đề thiếu lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và còn xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới (sau Thái Lan) Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây diện tích trồng lúa có xu hướng giảm dần nguyên nhân chủ yếu là

do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã và đang làm cho diện tích đất

Trang 22

nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng giảm đáng kể Nếu so sánh năm 2000 với 2009 thì diện tích trồng lúa của nước ta giảm tới 226.200 ha (FAO STAT, 2010) [39]

Bảng 1.3 Sản xuất lúa ở Việt Nam qua các thời kỳ

1970, 1980, 1990 và 2000-2009 Năm Diện tích

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

(Nguồn: FAO STAT năm 2010) [39]

Sản xuất lương thực trong thời kỳ đổi mới của đất nước được Đảng

ta xác định là vấn đề quan trọng để đảm bảo nhu cầu cơ bản của nhân dân

và ổn định xã hội Cần tập trung phát triển sản xuất lương thực ở những vùng và tiểu vùng trọng điểm, phấn đấu tăng sản lượng lương thực bình quân đầu người, nâng cao chất lượng sản xuất và chế biến lương thực đáp

Trang 23

ứng nhu cầu tiêu dùng, dự trữ và xuất khẩu (Chủ trương chính sách của Đảng Nhà nước về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn)

Để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực và giữ vị trí là một trong những nước xuất khẩu lúa gạo đứng hàng đầu thế giới, một vấn đề đặt ra đó

là cần thâm canh tăng vụ, tập trung nguồn lực và trí lực cho việc nghiên cứu lai tạo ra các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với điều kiện ngoại cảnh, ít sâu bệnh, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi Nhằm nâng cao cả về mặt giá trị xuất khẩu, cần tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển lúa chất lượng cao phục vụ cho công tác xuất khẩu lúa gạo trong những năm tiếp theo

1.5 Tình hình nghiên cứu lúa trong và ngoài nước

1.5.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới

Vào đầu những năm 1960, Viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế International Rice Research Institute (IRRI) đã được thành lập ở Philippines Viện này đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu lai tạo và đưa ra sản xuất nhiều giống lúa các loại, tiêu biểu như các dòng IR, Jasmin Đặc biệt vào thập niên 80 giống IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam đã đưa năng suất lúa tăng lên đáng kể “Cuộc cách mạng xanh” từ giữa thập niên

60 đã có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của châu Á Nhiều tiến bộ

kỹ thuật đã được tạo ra để nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo

Các nhà nghiên cứu của Viện lúa Quốc tế (IRRI) nhận thức rằng các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thể giải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn chế Hiện nay Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa)

có thể đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR6

và Jasmin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Trên cơ sở một số giống lúa chất lượng cao Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu

Trang 24

vitamin, giàu protein, có mùi thơm, cơm dẻo…) vừa để giải quyết vấn đề

an ninh lương thực, vừa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng [29]

Nhiều nước ở châu Á có diện tích trồng lúa lớn, có kỹ thuật thâm canh tiên tiến và có kinh nghiệm dân gian phong phú Có đến 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước châu Á, đó là: Trung Quốc,

Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật bản [9]

Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới, là một nước thiếu đói lương thực trầm trọng trong thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, vì vậy công tác nghiên cứu, lai tạo, chọn tạo và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống lúa mới vào sản xuất được đặc biệt chú trọng Trong lịch sử phát triển lúa lai trên thế giới, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế lai của lúa vào sản xuất Năm 1960 khi theo dõi thí nghiệm của mình, Viên Long Bình phát hiện một cây lúa lạ khỏe, bông to, hạt nhiều Nhưng ông đã thất vọng vì chưa tìm ra phương pháp sử dụng ưu thế lai Sau đó ông bắt đầu tìm dòng bất dục đực Con đường tạo giống ưu thế lai theo phương pháp “3 dòng” được hé mở từ đây Năm 1964, Viên Long Bình phát hiện cây có tính bất dục đực nhưng không giữ được tính bất dục

đó bởi không có dòng duy trì mẹ Tháng 11/1970 Lý Tất Hồ cộng tác với Viêm Long Bình thu được cây bất dục đực trong loài lúa dại ở đảo Hải Nam Đây là thành công có tính quyết định đến việc tạo ra các tổ hợp lai 3 dòng và 2 dòng sau này Vào năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ “3 dòng” được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm

1975, đánh dấu bước ngoặt to lớn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc nói riêng và trên toàn thế giới nói chung [10] Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Trung Quốc tập trung vào việc lai tạo các giống

Trang 25

lúa lai 2 dòng và đang hướng tới tạo ra các giống lúa lai 1 dòng siêu cao sản (siêu lúa) có thể đạt năng suất 18 tấn/ha/vụ Về chiến lược phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ XXI là phát triển lúa lai hai dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng, lúa lai siêu cao sản nhằm nâng cao năng suất, sản lượng lúa gạo của đất nước [42]

Lúa lai ra đời đã giúp nền sản xuất lúa Trung Quốc phá được hiện tượng “đội trần” của năng suất lúa lúc bấy giờ và lúa lai được coi là thành tựu sinh học của loài người, được xem là “chàng hiệp sỹ khổng lồ đứng lên tiêu diệt giặt đói đang đe dọa hành tinh chúng ta” [10] Có thể nói rằng Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng lúa lai, đưa lúa lai vào sản xuất đại trà Nhờ đó đã làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của Trung Quốc, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một nước đông dân nhất thế giới Các giống lúa lai của Trung Quốc được tạo ra trong thời gian gần đây đều có tính ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh Các giống lúa lai như: Bồi Tạp Sơn Thanh, Nhị ưu 838, San Ưu Quế, Bắc Thơm, CV1, D.Ưu 527… Những năm gần đây những giống lúa có năng suất, chất lượng cao như: Khang dân 18, Ải Mai Hương, Ải Hòa Thành,… được Trung Quốc chọn tạo và thuần hóa để tạo dòng thuần, đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam nhập nội, khảo nghiệm, đưa vào sản xuất làm phong phú thêm bộ giống lúa chất lượng tại Việt Nam

Ấn Độ là một nước có diện tích trồng lúa đứng đầu thế giới, đồng thời Ấn Độ cũng là nước đi đầu trong “cuộc cách mạng xanh” về đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào sản xuất, làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của Ấn Độ Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất Bên cạnh đó Ấn Độ cũng là nước có giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế

Trang 26

giới như giống lúa: Basmati, Brimphun có giá trị rất cao trên thị trường tiêu thụ

Nhật Bản là một trong mười nước có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế giới Nhật Bản cũng là nước đạt năng suất lúa cao đứng hàng đầu thế giới, tuy có diện tích không lớn song sản lượng năm 2009 đạt trên 10 triệu tấn Có được kết quả đó là do người Nhật chỉ trồng lúa 1 vụ/năm, cây lúa được gieo trồng trong điều kiện thời tiết thuận lợi nhất, công tác giống lúa của Nhật cũng được đặc biệt chú trọng về giống chất lượng cao vì người Nhật đòi hỏi lúa gạo chất lượng cao Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, Nhật bản đã tập trung vào công tác nghiên cứu giống lúa ở các Viện Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo và đưa vào sản xuất các giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt như Koshihikari, Sasanisiki, Koenshu… đặc biệt ở Nhật đã lai tạo được 2 giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao như giống: Miyazaki1 và Miyazaki2 Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó

là hàm lượng Protein cao tới 13%, hàm lượng Lysin cũng rất cao [6]

Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo đứng hàng đầu thế giới Với những ưu đãi của thiên nhiên, Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù năng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song

họ chú trọng đến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao Các trung tâm nghiên cứu lúa của Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực Các trung tâm này có nhiệm vụ tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ cho nhu cầu sản xuất của người dân với mục tiêu phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa

mà các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này cho thấy giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ

Trang 27

cũng cao hơn của Việt Nam Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng thế giới của Thái Lan là: Khaodomali, Jasmin (Hương nhài) Sản xuất nông nghiệp của Thái Lan trong mấy thập kỷ qua phát triển tương đối ổn định và Thái Lan cũng như nhiều nước Đông Nam Á khác trong buổi đầu phát triển kinh tế Tư bản chủ nghĩa, đều xuất phát từ thế mạnh nông nghiệp

Indonesia là nước có diện tích trồng lúa khá lớn trong Top 10 nước đứng đầu thế giới Đây cũng là nước có nhiều giống lúa chất lượng cao, cơm dẻo, có mùi thơm, hầu hết các giống lúa ở Indonesia có nguồn gốc bản địa hoặc được lai tạo ở các cơ sở nghiên cứu Trong thời gian gần đây Indonesia nhận định có khả năng đối mặt với khủng hoảng lương thực trong mười năm tới nên đã khởi động chương trình “hồi sinh ngành nông nghiệp”

Ở khu vực Đông Á còn có một số nước cũng có diện tích trồng lúa đáng kể đó là: Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan Các nước này chủ yếu

sử dụng giống lúa thuộc loại hình Japonica, hạt gạo tròn, cơm dẻo phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người dân khu vực này Các giống lúa nổi tiếng của khu vực này là Ton gil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang chan gi, Đee-Geo-Wô-Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee-Geo-Wô-Gen

là một vật liệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [38]

Ngoài châu Á thì ở Mỹ, trong thời gian gần đây các nhà khoa học không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai tạo và đưa ra những giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh và ổn định, mà còn nghiên cứu tỷ lệ protein trong gạo, phù hợp với thị trường hiện nay

Ngoài ra, trên thế giới còn rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu các giống lúa nhằm mục đích đưa ra những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh

Trang 28

1.5.2 Tình hình nghiên cứu lúa cạn trên thế giới

Hệ thống canh tác lúa cạn của thế giới phát triển từ hình thức thấp đến hình thức cao; từ du canh mang tính nguyên sơ, tự cung tự cấp, sức sản xuất thấp, tiến dần lên hình thức trồng lúa cạn trong hệ thống định canh, thâm canh, luân canh tăng vụ; từ hình thức di canh, phá hoại môi sinh tiến dần lên định canh, thâm canh bảo vệ đất, chống xói mòn, bảo vệ môi trường đạt hiệu quả kinh tế cao, lấy ngắn nuôi dài, tham gia trong hệ thống nông nghiệp lâu bền

Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI (1983) cho biết: Muốn đủ lương thực cho con người do quĩ đất trồng lúa nước không nhiều thì phải thâm canh lúa cạn bằng cách bón phân hữu cơ, phân hóa học… phải xác định hệ thống canh tác hợp lý và giống thích hợp

Do yêu cầu về lương thực, năm 1983 Ban điều hành các trung tâm nghiên cứu lúa cạn được thành lập (UREDCO), từ đó các chương trình nghiên cứu về lúa cạn ở các nước được tổ chức mở rộng trong một chương trình chung và đã thu được một số kết quả

Chương trình cải tiến giống lúa cạn được tiến hành rộng khắp các châu lục như: Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latinh với sự hợp tác của các Trung tâm và Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới như IRAT, IITA, WARDA…

Tại Châu Phi, chương trình cải tiến giống lúa được thực hiện qua các chương trình của quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế: IRAT, IITA và WARDA Các chương trình cải tiến giống lúa cạn được thực hiện tại Nigeria, Ghana và Siera Leone từ trước khi Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế được thành lập IARCs (The International Agriculture Research centers)

Lúa cạn cũng được nghiên cứu tại Viên nghiên cứu lương thực ở Kumasi, Ghana và trạm nghiên cứu nông nghiệp Krong, Ghana

Trang 29

Tại Nigeria viện nghiên cứu cây ngũ cốc, Ibdan đã tiên phong trong việc lai tạo giống lúa Năm 1958 giống thuần chủng FARO3 được chọn lọc

từ giống địa phương Agbede 16/56 đã được thử nghiệm tại miền trung Nigeria Đó là giống lúa cạn có năng suất cao trung bình và có khả năng chống chịu đạo ôn tương đối khá [47]

Năm 1966 giống OS6 (FARO11) của Viện nghiên cứu nông học Yangabi Coonggo được giới thiệu cho sản xuất OS6 có năng suất cao, chống chịu đạo ôn tốt hơn và có khả năng chịu phân hơn Agbede 16/56

Cũng trong năm 1966 khi OS6 vừa được giới thiệu thì một nạn dịch đạo ôn xảy ra làm giảm năng suất lúa cạn từ 15-100% Điều này đòi hỏi cần thiết phải có những giống có khả năng kháng bệnh tốt hơn lại vừa có khả năng cho năng suất cao [33]

Năm 1977 IRRI, IITA và WARDA bắt đầu các thử nghiệm lớn về giống mới từ những vật liệu đã được chọn lọc của IRRI và IRAT Các giống tốt như: TOX86-1-3-1, TOX356-1-1, TOX495-1-1-1, TOX718-1 và TOX718-2 đã được thí nghiệm với kết quả tốt và nhân rộng tại Nigeria [33]

Từ 1968-1974 tại Liberia giống LAC 23 được chọn lọc từ giống địa phương, cây cao, đẻ nhánh ít, thời gian sinh trưởng 135-140 ngày, chịu hạn tốt, năng suất vượt trội so với giống địa phương, đã được trồng xen tại các nông trường cao su [53]

Năm 1979 Viện nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (IITA) bắt đầu chương trình cải tiến giống lúa cạn, trong đó nhấn mạnh các giống lúa cạn

có tiềm năng năng suất cao, kiểu cao cải tiến, khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận tốt như chịu hạn, kháng đạo ôn, khô vằn, thích ứng tốt với các điều kiện môi trường khác nhau [36] Với mục đích để tăng cường khả năng sản xuất lúa tại châu Phi và giúp đỡ các quốc gia sản xuất lúa

Trang 30

Trong hơn 5.000 giống được chọn lọc từ châu Phi và nhiều khu vực khác thì các giống: ITA 116, ITA 117, ITA 118, ITA 120, ITA 135 và ITA

235 có khả năng chịu hạn tốt và chống chịu đạo ôn tốt, được thử nghiệm tại Ibadan và Zaria [41]

Các giống ITA 116, ITA 117, ITA 118, ITA 120, ITA 135 và ITA

235 chịu đất chua rất tốt

Năm 1981, giống ITA 117 cho năng suất trung bình 30 tấn/ha trên ruộng thí nghiệm tại WARDA

Năm 1982 các giống ITA 116, ITA 117, ITA 118, ITA 120 và ITA

235 được công nhận là các giống lúa cạn tốt

Tại châu Mỹ Latinh, hầu hết các chương trình cải tiến giống lúa cạn được nghiên cứu tại Viện nghiên cứu nông nghiệp Saopaulo - Brazil (IAC) tại Goiania và tại CIAT Colombia

Tại Brazil chương trình cải tạo giống lúa cạn tập trung nghiên cứu tính chịu hạn, kháng đạo ôn, chịu được đất nghèo dinh dưỡng (thiết hụt P

và Zn, độc nhôm), sâu hại… hầu hết các giống được phát triển tại IAC có khả năng thích ứng tốt với điều kiện môi trường không thuận lợi Các giống quan trọng như IAC 25, IAC 27, IAC 164, IAC 165, đều có thời gian sinh trưởng trung bình, chịu hạn tốt, chịu được điều kiện môi trường khó khăn [36]

CIAT (International Center FOR Tropical Agriculture) cũng tập trung nghiên cứu các giống lúa cạn cho các vùng thuận lợi như các vùng bằng phẳng, độ dốc nhỏ, lượng mưa khoảng 1.500 mm hoặc cao hơn trong

1 năm Lượng mưa trung bình trong vụ gieo trồng là 250 mm/tháng và thời gian không có mưa không quá 10 ngày trong các giai đoạn sinh trưởng

Các giống: CICA 7, CICA 8, CICA 9 đã được phát triển tại CIAT và viện nghiên cứu nông nghiệp Colombia (ICA) [30]

Trang 31

CIAT đã xác định được 640 giống thích ứng thu thập từ IRRI, IITA, IRAT và các chương trình nghiên cứu quốc gia của Boliva, Brazil, Colombia, Costarica, Ecuado, Parama và Peru Chúng có chất lượng hạt tốt dùng để lai tạo ra những giống có khả năng chịu hạn, kháng đạo ôn… F1 được trồng tại CIAT còn F2 được trồng ở những nước có điều kiện môi trường khác nhau Những dòng có triển vọng được đánh giá và nhân rộng cho châu Mỹ Latinh [30]

Trong những năm 70, các chương trình nghiên cứu của một số quốc gia Trung Mỹ đã dùng những vật liệu lai tạo có triển vọng từ CIAT và IRRI

Năm 1978 các chương trình quốc gia này đã bắt đầu cung cấp những dòng bố mẹ tốt cho phát triển giống lúa cạn Chúng là những giống có tiềm năng năng suất cao và kháng đạo ôn trong điều kiện môi trường thuận lợi, tuy nhiên chúng lại mẫn cảm với môi trường khó khăn

Tại châu Á các chương trình quốc gia và Viện lúa quốc tế IRRI đã có những dự án cải tiến giống lúa cạn cho vùng phía Nam và Đông nam châu

Á Về mặt cải tạo giống, chủ yếu đã tiến hành chọn lọc một mặt từ những vật liệu sẵn có trong vùng do thu thập được trong các cuộc điều tra và mặt khác trong những giống được thu thập từ các vùng khác đến

Các chương trình quốc gia về lai tạo giống lúa cạn được thực hiện tại Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Philippines, chương trình này được bắt đầu từ Ấn Độ vào năm 1946 khi trung tâm nghiên cứu lúa được thành lập (CRRI)

Viện nghiên cứu lúa Bangladesh (BRRI) tại Youdebpur đã nghiên cứu các vấn đề với lúa cạn như chịu hạn, sâu bệnh, côn trùng… hầu hết các giống cải tiến có nguồn gốc từ giống địa phương, có thời gian sinh trưởng

từ 90-115 ngày, năng suất trung bình đạt 2 tấn/ha Chúng bao gồm các

Trang 32

giống Katakra (DA 2), Panbira (DA 12), Dharial (DA 14), Dular (DA 22), Marichbati (DA 24) và Hashikalmi (DA 26) [28]

Năm 1982 BRRI hợp tác với IRRI đánh giá một số giống lúa cạn gồm: IR 5931-110-1, IR 6023-10-1-1, Seratus Malan, UPLRi-5, tại 10 điểm thí nghiệm trong đó giống BR 203-26-2 đạt năng suất cao nhất là 1,5 tấn/ha [28]

Những năm giữa thập kỷ 70 tại Indonesia một số giống địa phương được chọn lọc và làm thuần chủng từ những giống địa phương đã được đánh giá và giới thiệu như: Seratus Malan, Genjah Lampung, Phulut Nangka [37]

Tại Philippines trong những năm 1970 trường Đại học tổng hợp Los Banos đã phát triển một số giống như UPL RI-3, UPL RI-5 và UPL RI-7 là những giống cao cây, khả năng đẻ nhánh trung bình, chất lượng gạo tốt Một vài giống mẫn cảm với đạo ôn nhưng có khả năng phục hồi sau hạn tốt

và có hệ thống rễ phát triển tốt, cho năng suất tới 4 tấn/ha [36]

Tại Thái Lan, từ đầu những năm 1950 đã thu thập và tinh lọc, làm thuần các giống địa phương và đã đưa ra hai giống lúa tẻ là Muang Huang

và Dowk Payom và được phổ biến ở Miền Nam Chúng có khả năng đạt năng suất 2 tấn/ha và một giống lúa nếp Sew Meajan trồng ở miền bắc đạt năng suất 2,8 tấn/ha và chịu rét tốt khi đưa lên vùng cao Cả 3 giống này đều là giống cổ truyền địa phương [52]

Ở Nhật bản, diện tích lúa cạn được trồng là 184 nghìn ha Việc nghiên cứu chọn lọc lúa cạn ở Nhật Bản bắt đầu từ năm 1929 và có khoảng

50 giống đã được tinh lọc và phổ biến từ nguồn lúa cạn cổ truyền Người ta bắt đầu thử tính chịu hạn trong các giống Indica và Japonica nhiệt đới (năm 1978) đối với sự biến đổi tính di truyền và tìm thấy một số giống Indica cổ truyền chịu hạn Các giống Kantomochi 168 được bồi dục năm 1991 và Kantomochi 172 được bồi dục từ năm 1992 Kantomochi 168 được lựa

Trang 33

chọn từ JC 81 và Normochi 4, Kantomochi 172 được chọn tạo từ IRAT 109

và giống lúa cạn Nhật Bản Các giống này ăn tuy không ngon nhưng năng suất ổn định [37]

Tại Viện lúa quốc tế IRRI, chương trình cải tiến giống lúa cạn bao gồm những nghiên cứu ngay tại IRRI - Losbanos và sự hợp tác với các chương trình nghiên cứu của các quốc gia và các tổ chức quốc gia như IITA, WARDA, IRAT và CIAT Nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu tại các quốc gia, các dòng lai tạo tại IRRI đã được chuyển giao cho các nước: năm

1982 đã cung cấp 35 dòng cho Bangladesh, 35 dòng giống cho Brazil, 6 cho IITA, 42 cho Ấn Độ, 47 cho Thái Lan Cho đến nay trên 4.000 dòng, giống đã được thử nghiệm và lựa chọn tại các quốc gia

Trong báo cáo tổng kết về tiến trình lai tạo giống lúa cho môi trường cạn tại Viện lúa quốc tế IRRI, T.T.Chang và các cộng sự đã nhấn mạnh đến việc nghiên cứu trong quá trình lai tạo: Trước tiên phải đánh giá về đặc điểm bộ rễ và thân lá của lúa cạn Sự tương quan giữa nông và sâu của rễ

và tính chịu hạn, sự héo rũ, mềm của lá héo và lá không bị héo với khả năng duy trì trạng thái nước thích hợp trong tế bào của cây, giữa khả năng phục hồi và trạng thái sinh trưởng bình thường nếu như bị hạn

Những đặc điểm chính của lúa cạn được IRRI tổng kết [37]:

- Đã phát hiện được nhiều giống lúa có khả năng chịu hạn tốt và có khả năng phục hồi sau hạn khá

- Tiềm năng cho năng suất trong điều kiện thuận lợi có thể tăng lên tới 4 tấn/ha

- Khả năng chống chịu tốt với một số sâu, bệnh và đáp ứng một số chất lượng hạt gạo

- Qua thử nghiệm và cải tiến vật liệu đã phân loại được một số giống cho vùng thuận lợi, vùng khó khăn hoặc tất cả các vùng

Trang 34

- Hơn 100 dòng, giống của những gen tại IRRI và các giống cổ truyền trong chương trình hợp tác đã được cung cấp cho các trung tâm nghiên cứu các quốc gia và khu vực để chọn lọc tại các địa phương

Năm 1986 Viện lúa quốc tế IRRI đã đưa ra 3 giống lúa mới là NDR

84, NDR 85, NDR 118 có tiềm năng năng suất cao, thân lùn, hạt thon dài, năng suất ổn định Trong đó giống NDR 118 có thời gian sinh trưởng ngắn (95 ngày) rất thích hợp trong luân canh với lúa mì, khoai tây, đậu đỗ

Năm 1988 IRRI đã chọn lọc được các giống BR 319-1, IR 1375-7-3,

IR 26958-34-2 và IR 26957-86-2 Các giống này thuộc nhóm chín muộn, thời gian sinh trưởng từ 130-135 ngày, chiều cao cây dưới 110 cm, năng suất đạt 3,2-3,5 tấn/ha [45]

Từ năm 1970 Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI đã thành lập chương trình chọn tạo giống lúa cạn do T.T Chang đứng đầu cùng với các cộng sự tập trung vào 2 mục tiêu chính:

+ Thu thập, giữ gìn quỹ gen lúa cạn trên thế giới làm thuần các giống lúa cho từng địa phương

+ Ứng dụng những kết quả chọn tạo giống mới của các nước Đưa một số giống tốt phục vụ sản xuất Những giống này có đặc điểm thời gian sinh trưởng ngắn, thấp cây, chịu hạn tốt, có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái từng vùng, có khả năng cho năng suất cao và ổn định hơn giống cổ truyền địa phương

P.C Gupta và J.C Otoole (1986) [37] đã nêu rõ hướng chọn tạo giống lúa cạn là cần thay đổi theo từng vùng sinh thái nhưng theo một hướng chung:

- Năng suất cao và ổn định

- Có nhiều dạng hình phong phú, có tính thích nghi cao, chiều cao từ

110 cm - 130 cm, khả năng đẻ nhánh khá, chống đổ tốt

Trang 35

- Chuyển từ dạng bông to sang dạng nhiều bông, trong điều kiện thuận lợi thì vẫn cho năng suất cao và chất lượng tốt

- Có bộ rễ khỏe, dầy, ăn sâu

- Mọc khỏe, có khả năng lấn át cỏ dại

- Chín tập trung, tỷ lệ hạt chắc cao, hạt mẩy đều

- Chịu hạn tốt, chịu phân đạm trung bình

- Chống chịu với các bệnh đạo ôn, khô vằn, đốm nâu

- Chống chịu được với sâu như sâu đục thân…

- Chịu được đất nghèo dinh dưỡng, thiếu lân, thừa nhôm, chịu được đất chua

Năm 1976 T.T Chang [31] đã đưa ra mục tiêu chung cho các nhà chọn tạo giống lúa cạn là:

1- Nâng cao tiềm năng năng suất bằng cách phát triển các kiểu hình

có chiều cao trung bình, đẻ nhánh khá thay thế các giống địa phương cao cây, thân yếu, thời gian sinh trưởng dài Với mục tiêu năng suất đạt 2 tấn/ha cho vùng khó khăn và 4 tấn/ha cho vùng thuận lợi Ở những vùng khó khăn cây cần có chiều cao vừa phải, lá dài trung bình, lá trên thẳng, lá dưới rủ để lấn át cỏ dại

2- Giữ được cơ chế chống chịu có liên quan đến sự ổn định năng suất như chịu được hạn, chống bệnh đạo ôn, khả năng phục hồi nhanh sau các đợt hạn

3- Tạo được những giống có thời gian sinh trưởng khác nhau để thích hợp với các vùng sinh thái yếu nhạy cảm với quang chu kỳ

4- Giữ được những đặc tính nông học tốt: bông dài, phơi màu tốt, dinh dưỡng bông cao, hạt không hở, phẩm chất hạt tốt, cơm dẻo, ổn định về mặt di truyền

Trang 36

5- Nâng cao tính chịu sâu bệnh từ các vật liệu cải tiến (chủ yếu là nửa lùn) Các đặc điểm nổi bật là chống chịu bệnh đạo ôn, khô vằn, đốm nâu, sâu đục thân, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá và tuyến trùng…

6- Duy trì và nâng cao tính chống chịu với các yếu tố bất thuận của đất như thiếu lân, thừa Al, Mn…

Suichi Yoshida (1979) [15] trong cải tiến các đặc điểm giống cho các điều kiện bất thuận cho rằng:

Đối với các nhà chọn giống việc biết được điều lợi và mặt hại của các đặc điểm tương phản của cây lúa là rất quan trọng, vì mỗi một điểm có lợi hoặc bất lợi trong các điều kiện khác nhau thì tác động đến cây lúa cũng không giống nhau và không giống lúa nào có thể đáp ứng được tất cả các điều kiện sinh thái

Hiện nay đứng trước những thách thức của nghề trồng lúa là nước, đất, sinh học và các vấn đề về kinh tế xã hội… Viện lúa quốc tế đã đề ra mục tiêu cần đạt tới sau khi tạo ra giống mới thấp cây cho cách mạng xanh Mục tiêu mới đặt ra là tạo ra những giống siêu lúa có năng suất cao hơn hẳn và thích hợp với các điều kiện sản xuất khác nhau:

- Đối với vùng có tưới, siêu lúa chỉ có 3-4 bông một cây, không có nhánh vô hiệu, bông dài, có từ 200-250 hạt mỗi bông, cây cứng, lá xanh thẫm, thẳng và dầy Cây cao 90 cm, có thời gian sinh trưởng 100-130 ngày,

rễ khỏe, có chỉ số thu hoạch là 0,6 và năng suất 13-15 tấn/ha

- Ở vùng lúa nước trời, đất thấp, siêu lúa có 6-10 bông, không có nhánh vô hiệu, bông có 150-200 hạt, cây cứng, cao 130 cm, lá xanh thẫm, đứng thẳng hay chỉ hơi cong Chống chịu tốt, rễ phát triển rộng, chịu ngập,

có thể đạt năng suất 5-7 tấn/ha

- Ở đất cạn có hai kiểu hình siêu lúa: Siêu lúa đất cạn hàng năm 5-8 bông/cây, bông 150-200 hạt, cứng lá, lá trên thẳng, lá dưới cong, cây cao

130 cm, thời gian sinh trưởng 100 ngày, có tính chống chịu, có khả năng

Trang 37

cho năng suất 3-4 tấn/ha Siêu lúa đất cạn lâu năm có 5-7 bông/cây,

100-150 hạt/bông, cây cao 130-100-150 cm, rễ ăn sâu, có rễ hoành, có thể có khả năng cố định đạm, cho năng suất 3-4 tấn/vụ/năm

“Siêu lúa” không phải là mục tiêu hoàn toàn mới của Viện nghiên cứu lúa quốc tế Các nhà khoa học Trung Quốc và Nhật Bản đã bắt đầu nghiên cứu từ nhiều năm trước để tạo ra những giống lúa có năng suất cao hơn những giống lúa thấp cây đang được trồng Các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu lúa quốc tế hình dung tạo ta những siêu lúa tức là tạo ra những giống lúa có chỉ số thu hoạch cao khoảng 0,6 trong khi ở các giống lúa cao cây trước Cách mạng xanh chỉ số này là 0,2-0,3 và ở các giống lúa thấp cây của Cách mạng xanh chỉ số này là 0,45-0,5 Siêu lúa cũng phải sử dụng đạm có hiệu quả hơn Siêu lúa với những giống lúa cạn lưu niên có thể có nốt sần có vi sinh vật cộng sinh để tự tạo ra đạm [4]

1.5.3 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước

Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam châu Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thích hợp cho sự phát triển của cây lúa Có nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn được phù sa bồi đắp thường xuyên, các vùng đồng bằng châu thổ đều được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa

Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, cây lúa luôn gắn liền với đời sống hàng ngày của dân tộc ta Vì vậy có thể nói rằng Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước mà nó còn góp phần quan trọng vào thị trường xuất khẩu lúa gạo của thế giới

Trước năm 1954, người dân Việt Nam với đức tính cần cù sáng tạo

đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và đã sử dụng các giống lúa địa phương, mặc dù năng suất không cao song chất lượng tốt, thích ứng với điều kiện đất đai khí hậu của Việt Nam, đồng thời có khả năng chống

Trang 38

chịu tốt với sâu, bệnh Nhiều giống lúa được lưu truyền trong sản xuất từ đời này sang đời khác như giống: Chiêm Tép, Chiêm Sài Đường, Chiêm cút… các giống gieo cấy vụ Mùa như: lúa Di, lúa Tám Soan, lúa Dự…

Từ sau ngày hòa bình lập lại (1954), miền Bắc nước ta bước vào công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng tới việc phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng với mục đích nhanh chóng đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh trở thành một đất nước có nền công nghiệp phát triển Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau kinh tế của đất nước ta vẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng Đất nước vẫn không thể chuyển mình và nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Trước thực trạng đó Đảng và Nhà nước ta đã có những nhìn nhận đúng đắn, thẳng thắn về đường lối chính sách và vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Đảng và Nhà nước ta quan tâm đó là tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp Các nhà nông học đã nhập nội, thử nghiệm sản xuất nhiều giống lúa ngắn ngày của Trung Quốc, làm tiền đề cho sự ra đời của vụ lúa Xuân gieo cấy bằng các giống Chân Trâu Lùn, Trà Trung Tử…

Khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta được thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975), nước ta đã tập trung nhiều vào nghiên cứu cây lúa, trong đó công tác chọn tạo và lai tạo các giống lúa được đặc biệt chú trọng Nhờ các thành tự trong nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất lúa của Việt Nam không ngừng tăng Nước ta cũng đã nhập nội một số giống lúa từ Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và của một số nước khác làm phong phú bộ giống lúa của Việt Nam

Nhận rõ tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, từ Đại hội Đảng lần thứ VI và các thời kỳ đại hội

Trang 39

tiếp theo, ngành nông nghiệp đã được Đảng, Nhà nước quan tâm thúc đẩy đúng mức Trong một thời gian không lâu nước ta đang từ một quốc gia nhập khẩu lương thực, người nông dân làm ra sản phẩm lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác song quanh năm vẫn chịu cảnh thiếu đói lương thực, nay đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đứng thứ 2 thế giới Tuy nhiên một vấn đề đặt ra đó là số lượng xuất khẩu nhiều nhưng giá bán không cao do chất lượng gạo của Việt Nam còn kém so với các nước khác như Thái Lan Vì thế chiến lược sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong những năm tới và các thập niên tiếp theo là: phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm ở mức gần 40 triệu tấn như hiện nay, đồng thời đưa vào gieo cấy khoảng 1 triệu ha lúa chất lượng cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu gạo chất lượng cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế

Với điều kiện thời tiết, khí hậu địa lý thuận lợi cho người trồng lúa, Việt Nam được coi như là cái nôi của nền văn minh lúa nước Phát huy những lợi thế đó, trong những năm qua thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, từ Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay nền nông nghiệp nước ta được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi nông nghiệp

là mặt trận hàng đầu và đã được đầu tư đúng mức nên năng suất và sản lượng lúa gạo Việt Nam không ngừng được nâng cao

Để có được một ngành nông nghiệp như ngày nay, đã có nhiều thế

hệ nhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoa học nông nghiệp có giá trị, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước từ những năm trước giải phóng cho tới nay, sau thành công về sản lượng lúa chúng ta cần có một cách nhìn toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn đề chất lượng của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm

Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng trong cả nước, có nhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau Một số

Trang 40

giống lúa chất lượng cao như giống Tám thơm, lúa Dự, Nàng thơm, Nếp Cái Hoa Vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú lệ, các giống Nếp nương, Tẻ nương… đã được đưa vào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Nước ta đã nhập và thuần hóa nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hóa, Khaodômaly Tiền Giang… [20]

1.5.4 Tình hình nghiên cứu lúa cạn ở Việt Nam

Ở Việt Nam, lúa cạn được trồng ở khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam Theo số liệu thống kê năm 1987 diện tích gieo trồng lúa cạn của cả nước là 0,537 triệu ha Đến năm 1994 diện tích giảm xuống còn 0,4-0,45 triệu ha, chiếm khoảng 7-8% diện tích trồng lúa trong cả nước, tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn nhất là về đường xá để vận chuyển hàng hóa và cung ứng lương thực thực phẩm Tổng sản lượng hàng năm vào khoảng 500.000 tấn [46]

Ngoài diện tích trồng lúa cạn nêu trên, ở Việt Nam còn khoảng 1,5 triệu ha đất không chủ động nước Những diện tích này đòi hỏi cần có bộ giống phù hợp để có thể thâm canh đạt năng suất cao, đồng thời cần có các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để xóa bỏ phương thức trồng lạc hậu “dao canh hỏa chủng” đốt nương làm rẫy [10]

Lúa cạn ở Việt Nam gồm hai loại [10]:

Lúa cạn cổ truyền: Được nông dân Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên canh tác lâu đời trên nương rẫy theo dạng nương định canh hoặc du canh

Ở những nơi có độ dốc lớn, lợi dụng độ phì tự nhiên của đất để canh tác lúa cạn một vài vụ Khi độ phì tự nhiên đã cạn kiệt thì năng suất lúa thấp và giảm nhanh qua hàng năm, đất càng nghèo dinh dưỡng thì diện tích chặt phá rừng càng rộng để tìm nương mới Cứ như thế du canh kéo theo du cư Mất rừng, mất nguồn nước, khí hậu khu vực thay đổi, hạn hán lũ lụt xảy ra,

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây (Trang 18)
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới 2009 - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới 2009 (Trang 20)
Bảng 1.4. Sự đa dạng của giống lúa cạn truyền thống - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 1.4. Sự đa dạng của giống lúa cạn truyền thống (Trang 49)
Bảng 3.1. Một số yếu tố khí hậu, thời tiết qua các tháng, - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.1. Một số yếu tố khí hậu, thời tiết qua các tháng, (Trang 67)
Bảng 3.3. Phân loại giống theo thời gian sinh trưởng - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.3. Phân loại giống theo thời gian sinh trưởng (Trang 71)
Bảng 3.6. Phân loại giống lúa theo đặc điểm hình thái hạt - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.6. Phân loại giống lúa theo đặc điểm hình thái hạt (Trang 77)
Bảng 3.7. Phân loại nhanh các giống lúa - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.7. Phân loại nhanh các giống lúa (Trang 79)
Bảng 3.10. Phân loại giống theo số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.10. Phân loại giống theo số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt (Trang 82)
Bảng 3.11. Tương quan giữa số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.11. Tương quan giữa số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt (Trang 83)
Bảng 3.12. Phân loại giống theo khối lượng hạt/bông và năng suất cá thể - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.12. Phân loại giống theo khối lượng hạt/bông và năng suất cá thể (Trang 84)
Bảng 3.14. Phân loại giống theo số bông/khóm và chiều dài bông chính - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.14. Phân loại giống theo số bông/khóm và chiều dài bông chính (Trang 87)
Bảng 3.19. Đặc điểm hình thái của một số giống lúa điển hình - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.19. Đặc điểm hình thái của một số giống lúa điển hình (Trang 95)
Bảng 3.21. Khả năng chống chịu và một số chỉ tiêu chất lượng gạo - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.21. Khả năng chống chịu và một số chỉ tiêu chất lượng gạo (Trang 99)
Bảng 3.22. Đặc điểm năng suất một số giống lúa nếp điển hình - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.22. Đặc điểm năng suất một số giống lúa nếp điển hình (Trang 101)
Bảng 3.23. Đặc điểm năng suất một số giống lúa tẻ điển hình - Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống lúa cạn thu thập ở các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3.23. Đặc điểm năng suất một số giống lúa tẻ điển hình (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w