1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên tỉnh bắc giang

96 229 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 21,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy sự hiểu biết về năng suất và thành phần của sữa lợn mẹ có vai trò quan trọng, đó là cơ sở cho việc đưa ra quyết định thời điểm cai sữa lợn con thích hợp và chăm sóc nuôi số lợn co

Trang 1

đại học thái nguyên

Trang 2

đại học thái nguyên

Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

Người hướng dẫn khoa học: TS trương hữu dũng

Thái nguyên, năm 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực và chưa từng sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi

sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

TS Trương Hữu Dũng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá

trình thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp Tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên, trại chăn nuôi CHAROEN POKHAN Việt Yên – Bắc Giang đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Xin được cảm ơn bạn bè, gia đình và đồng nghiệp đã động viên, tạo mọi

điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả những sự giúp đỡ quý báu trên

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

MỞ ĐẦU 1 1 Đặt vấn đề 8 2 Mục đích đề tài 9 3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10 1.1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 10 1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng 19 1.3 Cai sữa cho lợn con 32 1.4 Nguồn gốc, đặc điểm và năng suất sinh sản của giống lợn ngoại Landrace và Yorkshire 34

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU40

Trang 6

3.1 Ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến khả năng sinh trưởng của lợn con

Trang 8

3.4 Độ đồng đều của đàn lợn thí nghiệm qua các giai đoạn 55

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.4 Độ đồng đều của lợn con qua các giai đoạn thí nghiệm 57

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Nền nông nghiệp nước ta có 2 ngành sản xuất chính đó là trồng trọt và chăn nuôi Trong chăn nuôi thì chăn nuôi lợn là nghề truyền thống và giữ vị trí quan trọng, sản phẩm chăn nuôi được cung cấp ra thị trường chủ yếu là thịt lợn chiếm 75 - 76% Đàn lợn trong cả nước đã có sự tăng trưởng trong những năm vừa qua với tổng đàn có mặt thường xuyên từ 21,8 triệu con năm 2001

và tăng lên 27,63 triệu con năm 2009 Xu hướng đàn nái ngoại tăng cao, nái nội và nái lai tăng chậm hơn Tổng đàn lợn nái tăng từ 2,9 triệu con năm 2001 lên 4,09 triệu con năm 2009, trong đó nái ngoại chiếm 13,10%, phấn đấu đến năm 2010 đạt 14,20 % (Cục Chăn nuôi, 2009), [7]

Mặc dù chăn nuôi lợn ở nước ta đã tăng trưởng khá nhanh về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, chất lượng thịt lợn đang được sản xuất ra còn thấp, tỷ

lệ nạc chưa cao, đặc biệt ở các tỉnh miền Bắc Do đó, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng hiện nay đó là thịt lợn có nhiều nạc, ít mỡ, thịt mềm, mùi vị thơm ngon, cũng như chưa có đủ sức cạnh tranh với thị trường khu vực và trên thế giới

Để đáp ứng được yêu cầu trên ngành chăn nuôi lợn đã có các giải pháp

nhằm nâng cao năng suất và chất lượng bằng cách nhập các giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshire, Duroc ) Các giống này được sử dụng trong chương trình nhân giống để tạo ra các tổ hợp lai, trong đó giống lợn Landrace và Yorkshire rất phù hợp với điều kiện ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam

Là một trong 9 huyện của tỉnh Bắc Giang, huyện Việt Yên đã rất quan tâm

đến phát triển đàn lợn nái ngoại trong trang trại, tuy nhiên người chăn nuôi khi

chuyển từ tập quán chăn nuôi lợn nội, lợn lai sang chăn nuôi các giống lợn cao sản, còn nhiều khó khăn như: kỹ thuật chăm sóc, công tác quản lý, phòng

Trang 11

bệnh… nhưng hơn cả là vấn đề về thời gian cai sữa cho lợn con ở thời điểm nào để đạt hiệu quả kinh tế nhất

Hiện nay ở cỏc trại đang thực hiện cai sữa cho lợn con ở thời điểm từ 21

đến 25 ngày tuổi Nhưng với mục đớch nõng cao năng suất sinh sản của lợn

nỏi ngoại, giảm chi phớ thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa, tăng số lứa

đẻ/nỏi/năm, hạn chế truyền một số bệnh từ lợn mẹ sang lợn con, thỡ việc lựa

chọn thời điểm cai sữa thớch hợp cho lợn con là việc cần phải làm

Xuất phỏt từ thực tế trờn chỳng tụi tiến hành đề tài:

“ Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con

huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang”

3 í nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trờn cơ sở kết quả nghiờn cứu của đề tài, cung cấp thờm một số thụng tin kỹ thuật để người chăn nuụi cú định hướng trong việc lựa chọn thời điểm cai sữa tốt nhất cho lợn con, gúp phần nõng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuụi lợn ngoại

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái

1.1.1.1 Đặc điểm hoạt động sinh dục

Lợn cái thường thành thục về tính dục ở thời điểm 6 - 8 tháng tuổi và phụ thuộc vào phẩm giống, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, thời tiết khí hậu Biểu hiện động dục lần đầu báo hiệu sự thành thục về tính ở lợn cái hậu bị, ở lần động dục này đa số chưa ổn định và sự ổn định sẽ đạt dần qua các lần động dục tiếp theo Tuổi động dục lần đầu có ý nghĩa quan trọng giúp người chăn nuôi định tuổi phối giống thích hợp, nhằm tăng thời gian

và hiệu quả sử dụng lợn nái Tuổi động dục lần đầu ngoài chịu ảnh hưởng của giống, còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như khả năng sinh trưởng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậu và tác động kích thích từ con

đực Phạm vi biến động từ 135 - 250 ngày tuổi (Hughes và cs, 1975) [40]

Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân, 1998 [30] cho biết, lợn Landrace thành thục tính dục là 213,1 ngày và lợn Yorkshire là 219,4 ngày

Lợn cái được đưa vào nhân giống ở 7 tháng tuổi, khi đã thành thục về tính, cơ quan sinh dục con cái có những biến đổi khác nhau và hiện tượng rụng trứng xuất hiện, lặp đi lặp lại theo khoảng thời gian nhất định Hiện tượng này chính là chu kỳ tính hay là chu kỳ động dục, ở mỗi loài, giống khác nhau thì chu kỳ động dục cũng khác nhau (Schmitten và cs, 1989) [48]

Theo tác giả Banne Bonadona, 1995 [3], thì chu kỳ động dục ở lợn cái là

21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn: tiền động dục (Prooestrus) kéo dài

Trang 13

khoảng 4 ngày; động dục (Oestrus) khoảng 6 ngày; sau động dục (Postoestrus)

3 ngày và giai đoạn yên tĩnh (Pioestrus) khoảng 8 ngày

Kết quả nghiên cứu của Rapael, 1971 [22] cho thấy: ở lợn cái hậu bị

có chu kỳ động dục ngắn hơn lợn nái trưởng thành Lứa đẻ thứ 2, 3 có chu

kỳ động dục là 19,40 ngày; lứa 4, 5 là 20,80 ngày; lứa thứ 6, 7 là 21,50 ngày; lứa 8, 9 là 22,40 ngày

Chu kỳ động dục ở lợn cái được điều khiển bởi hệ thống thần kinh trung

ương và hormone của vùng dưới đồi (Hypothalamus), tuyến yên và buồng

trứng theo cơ chế điều hòa ngược (Schmitten và cs, 1989) [48]

Dưới tác dụng kích thích của pheremon, ánh sáng, nhiệt độ, màu sắc, vào vỏ đại não thì Hypothalamus sẽ tiết ra hormone GRH (gồm có FRF và LRF) và chính hormone này sẽ kích thích thuỳ trước tuyến yên sinh ra gồm hai loại:

- FSH (Follicle Stimulating Hormone), hormone này có tác dụng kích thích bao noãn làm cho nó phát triển và tiết ra kích tố Oestrogen

- LH (Luteinizing Hormone), thúc đẩy bao noãn chín và hình thành thể vàng Hai loại hormone này có tỉ lệ luôn ổn định và FSH tiết ra trước, LH được tiết ra sau

Khi noãn bào chín, nó sẽ tiết ra hormone oestrogen làm cho lượng oestrogen trong máu tăng lên từ 64 tới 112 mg% gây kích thích toàn thân và biểu hiện động dục Đồng thời cơ quan sinh dục cũng biến đổi theo, tử cung hé mở,

âm đạo xung huyết có màu đỏ, dịch nhờn tiết ra đặc, keo dính Sừng tử cung và

ống dẫn trứng tăng sinh, tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này

Bên cạnh đó, oestrogen còn kích thích làm tuyến yên ngừng tiết FSH

và tăng tiết LH và Prolactin, các hormone này tác động đến quá trình trứng chín và rụng Tuỳ theo giống lợn mà thời gian trứng rụng kéo dài hay ngắn, trung bình khoảng 6 - 8 giờ, ở lợn cái hậu bị thì có thể 10 giờ, ở lợn trưởng

Trang 14

thành số trứng rụng trong một chu kỳ động dục 15 - 25 trứng, tuy nhiên trứng rụng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào giống, tuổi và nồng độ GSH có trong máu và chế độ nuôi dưỡng Khi trứng được thụ tinh tạo thành hợp tử, hợp tử sẽ được làm tổ ở sừng tử cung và phát triển thành bào thai Đồng thời thể vàng sẽ tồn tại suốt trong quá trình con vật mang thai, nó sản sinh

ra progesteron (tác dụng lên tuyến yên làm ngừng tiết FSH) Thời gian mang thai ở lợn nái thường kéo dài 114 ngày

Sau khi cai sữa cho lợn con khoảng 7 ngày thì lợn mẹ động dục trở lại, thời gian này có thể dao động từ 5 - 12 ngày Biết được đặc điểm sinh lý này giúp việc phát hiện động dục kịp thời và phối giống đúng thời điểm, sẽ góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

1.1.1.2 Sinh lý tiết sữa

Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp do có những đặc điểm khác với gia súc là bầu vú của lợn nái không

có bể sữa nên ở lợn nái không có dự trữ sữa trong bầu vú Sữa tiết ra trong 2 –

3 ngày đầu sau đẻ gọi là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm có màu vàng đậm, hơi mặn, hàm lượng chất khô và chất hữu cơ gấp 1,3 lần, protein gấp 3,5 lần so với hàm lượng chất dinh dưỡng tương ứng trong sữa lợn mẹ sau đẻ 45 ngày

Đặc biệt trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể và các chất khác bảo vệ lợn

con mới đẻ chống lại sự tấn công các virus, vi trùng gây bệnh

Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống của lợn con Trên thực tế người ta có thể tiến hành cai sữa cho lợn con ngay từ khi đẻ ra, tuy nhiên sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức

ăn lý tưởng cho lợn con

Theo quy luật tiết sữa của lợn nái, lượng sữa lợn tiết ra tăng dần từ tuần lễ thứ nhất đến đỉnh cao lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần

Trang 15

Lượng sữa này nhiều hay ít phụ thuộc vào tính chất di truyền giống, đặc biệt chế độ nuôi dưỡng lợn nái, ít phụ thuộc vào số con đẻ ra Ngày nay

có những nghiên cứu về chất lượng và sản lượng sữa của lợn nái trong chu kỳ tiết sữa có xu hướng ngắn lại từ 28 ngày tuổi năm 1952 (5 kg sữa/ngày), 21 ngày tuổi năm 1971 (7 kg sữa/ngày) đến 14 ngày năm 1996 (với 15 kg sữa/ngày) cho thấy việc rút ngắn hơn nữa thời gian cai sữa cho lợn con là điều hoàn toàn trong tầm tay Vì vậy sự hiểu biết về năng suất

và thành phần của sữa lợn mẹ có vai trò quan trọng, đó là cơ sở cho việc

đưa ra quyết định thời điểm cai sữa lợn con thích hợp và chăm sóc nuôi

số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá

đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái Tác giả cũng cho biết tầm

quan trọng của các thành phần cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ,

tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa

đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau Theo Ducos (1994) [36],

các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống đến khi cai sữa gồm:

số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn con sống tới khi cai sữa Theo kết quả nghiên cứu của Mabry và cộng sự (1997) [44] thì các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái

Trang 16

Ở nước ta theo tiờu chuẩn nhà nước (TCVN - 1280 - 81, 3879 - 54, 3900

- 84, ngày 1/1/1995), cỏc chỉ tiờu giỏm định về khả năng sinh sản của lợn nỏi nuụi tại cỏc cơ sở cụng nghiệp lợn giống nhà nước như sau:

- Số con đẻ ra sống/lứa (con)

- Khối l−ợng sơ sinh/ổ (kg)

- Khối l−ợng sơ sinh/con (kg)

- Khối lượng 21 ngày tuổi/lứa (kg)

- Khối lượng cai sữa/lứa (kg)

- Tuổi đẻ lứa đầu (với lợn đẻ lứa 1) (ngày)

- Khoảng cỏch giữa 2 lứa đẻ (ngày)

- Số lứa đẻ/năm

Năng suất sinh sản của lợn nỏi cú mối liờn quan chặt chẽ đến 2 yếu tố, đú là

di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tớnh con giống, mỗi giống khỏc nhau thỡ tuổi thành thục về tớnh, sức sản xuất cũng khỏc nhau Yếu tố ngoại cảnh bao gồm: thức ăn, thỳ y, chuồng trại, qui trỡnh chăm súc…

Đồng thời năng suất sinh sản của lợn nỏi phụ thuộc vào nhiều chỉ tiờu

khỏc nhau như số con cai sữa/lứa, khoảng cỏch lứa đẻ, số lợn con đẻ ra cũn sống, thời gian phối giống sau cai sữa, tỉ lệ thụ thai, số trứng rụng Những chỉ tiờu này cú hệ số di truyền thấp khoảng 0,02 - 0,30, do vậy nú chịu ảnh hưởng nhiều của cỏc điều kiện ngoại cảnh

* Ảnh hưởng của mựa vụ

Theo Nguyễn Văn Đức (1997) [37] cỏc yếu tố cố định cơ sở, năm, mựa

vụ và mối tương tỏc giữa chỳng cú ảnh hưởng rừ rệt đến cỏc chỉ tiờu năng suất sinh sản Chỳng ảnh hưởng trực tiếp đến số con sơ sinh sống/lứa, khối lượng lợn con sơ sinh/lứa, số con cai sữa/lứa và khối lượng lợn con cai sữa/lứa tương ứng với mức P < 0,01; P < 0,001

Trang 17

Mựa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nỏi Mựa vụ cú ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Mựa cú nhiệt độ cao là nguyờn nhõn làm kết quả sinh sản ở lợn nỏi nuụi chăn thả thấp, tỷ lệ chết ở lợn con cao Nhiệt độ cao làm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nỏi thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nỏi tăng và tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm

Ở Việt Nam theo bỏo cỏo của Trần Quốc Việt (1997) [32]: yếu tố mựa vụ

gõy ảnh hưởng rừ rệt đến khối lượng lợn con Lợn con được đẻ vào mựa đụng đều

cú khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa cao hơn cỏc mựa khỏc trong năm

Sự khác biệt về mùa vụ khi lợn sinh ra cũng có tác động tới kỳ động dục

đầu tiên Nói chung lợn nái hậu bị sinh ra trong mùa thu sẽ thành thục khi thể trọng còn thấp hơn và tuổi cũng ít hơn so với lợn hậu bị được sinh ra trong mùa xuân (Trương Hữu Dũng, 2000) [9]

* Ảnh hưởng của dinh dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nỏi Lợn nỏi và lợn cỏi hậu bị cú chửa cần được cung cấp đủ về số và chất lượng cỏc chất dinh dưỡng để cú kết quả sinh sản tốt

Zimmerman và cộng sự (1996) (trớch từ Rothschild và cộng sự, 1998) [47] cho biết: cỏc mức ăn khỏc nhau trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống trở lại cú ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai Nuụi dưỡng hạn chế đối với lợn cỏi trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuụi dưỡng đầy đủ [51] Nuụi dưỡng tốt lợn nỏi trước khi

động dục cú thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phụi sống (Books và

Cooper, 1972; trớch từ Ian Gordon, 1997) [41]

Do đú ỏp dụng chế độ dinh dưỡng “Flushing” trong pha sinh trưởng của buồng trứng của lợn nỏi đó làm tăng số lượng trứng rụng (85% so với 64%) và tăng lượng progesterone trong mỏu lờn 10,5 ng so với 4,5 ng/ml

Trang 18

Tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu

kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng làm giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng làm tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu (Ian Gordon, 2004) [41]

Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày dừng sản xuất ít nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối lượng cơ thể thích hợp trong giai đoạn nuôi con

Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin và protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống trên ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ đồng thời giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con [51] Song mức protein quá cao trong khẩu phần sẽ không tốt cho lợn nái

* Ảnh hưởng của bệnh và số lứa đẻ

Bệnh sẽ làm giảm năng suất sinh sản ở lợn Ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ cùng độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh Hơn nữa, ở các nước đang phát triển sức khoẻ của động vật chưa được kiểm tra tốt, bệnh tật sẽ làm tăng giá thành các sản phẩm ngành chăn nuôi Bệnh có thể làm cho lợn nái mất khả năng thụ thai, giảm số con sống/lứa, cùng với việc số con sơ sinh chết và thai gỗ tăng lên

Yếu tố lứa đẻ ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con/lứa Đã có nhiều nghiên cứu

về vấn đề này cho thấy: nhìn chung số con/lứa tăng từ lứa thứ nhất đến lứa thứ 4, 5 và sau đó giảm dần đến lứa thứ 10 [37]

Theo Đặng Vũ Bình (1999) [4] năng suất sinh sản của hai giống Landrace và Yorkshire từ lứa 1 đến lứa 6 như sau:

- Số con sơ sinh còn sống/ổ tăng từ lứa 1 đến lứa 6 lần lượt là: 8,86; 8,89; 9,83; 9,98; 10,72; 10,75con

Trang 19

- Số con 21 ngày tuổi từ lứa 1 đến lứa 6 lần lượt là: 8,24; 8,93; 8,87; 8,64; 9,01; 8,52con

- Khối lượng sơ sinh trung bình/con từ lứa 1 đến lứa 6 lần lượt là: 1,23; 1,23; 1,24; 1,28; 1,26; 1,22kg Chỉ tiêu này cao nhất ở lứa thứ 4 và 5, thấp nhất ở lứa thứ 6

Như vậy ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ đến năng suất sinh sản là khá rõ rệt Năng suất sinh sản tăng từ lứa 1 đến lứa 5, từ lứa 6 bắt đầu có xu thế giảm xuống

* Ảnh hưởng của phương pháp phối giống

Có hai phương pháp phối giống là cho phối trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Phương pháp thụ tinh nhân tạo thường làm giảm tỷ lệ thụ thai từ 10 - 25% so với phương pháp phối trực tiếp Nguyên nhân chủ yếu là do kỹ thuật thụ tinh nhân tạo chưa thực hiện đúng vào thời điểm phù hợp với sự rụng trứng

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhiệm và CS (2002) [19] trên đàn lợn nái Landrace, Yorkshire và Móng Cái: số con sơ sinh/ổ bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo và cho phối trực tiếp lần lượt là 10,83; 9,43con và số con sơ sinh còn sống là 9,9; 8,6con

Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượng lợn con/lứa Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa Nếu lợn nái động dục kéo dài 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 – 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37 – 40 giờ sau khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ sẽ giảm

Số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái có ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ (Clark và Leman, 1986, trích từ Ian Gordon, 1997) [41] và chính Clark và Leman (1986) còn cho biết: phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối giống hai lần trong một chu kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ

* Ảnh hưởng của thời gian nuôi con

Trang 20

Thời gian nuôi con có ảnh hưởng đến khoảng cách lứa đẻ, số lứa/nái/năm, số lợn con cai sữa/nái/năm, từ đó ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn mẹ

Lợn nái động dục khi đang nuôi con nhất là khi tiết sữa kéo dài quá 5 - 6 tuần Nếu lợn mẹ không có biểu hiện động dục trong khi đang nuôi con, hầu như sẽ không động dục trở lại trong vòng 3 - 7 ngày sau cai sữa Vì khi tiết sữa, động dục và rụng trứng đều có quan hệ khống chế nhau đều thông qua thần kinh thể dịch hình thành những điểm hưng phấn khác nhau Hormon protalactin vừa có tác dụng tiết sữa vừa có tác dụng duy trì thể vàng tiết progesteron, hai tác động này kìm hãm tuyến yên tiết FSH và LH làm cho bao noãn không phát triển, do đó con vật tạm thời không hưng phấn trong thời gian cho con bú Việc chọn giống những nái động dục trong vòng 7 ngày sau cai sữa là chỉ tiêu chính để giữ lợn nái lại làm giống

Cai sữa sớm cho lợn con là một biện pháp rút ngắn thời gian nuôi con

và tăng số lứa đẻ/nái/năm, cũng như giảm tỷ lệ hao hụt lợn mẹ, nhằm tăng năng suất sinh sản lợn nái

Trần Quốc Việt và cs (1997) [32] cho biết: đối với lợn nái cai sữa sớm hơn 10 - 15 ngày so với cai sữa truyền thống vẫn động dục trở lại trong vòng 5 - 7 ngày sau khi cai sữa lợn con, tỷ lệ hao mòn cơ thể thấp hơn (7,5% và 8,72% so với 15,08%)

* Ảnh hưởng của số con để lại nuôi

Khi số con để lại nuôi nhiều, cơ thể mẹ phải huy động nhiều năng lượng, dinh dưỡng để tạo sữa, đáp ứng nhu cầu nuôi con Nếu khẩu phần thức ăn hàng ngày cung cấp không đủ cho nhu cầu duy trì và tiết sữa thì lợn mẹ phải huy động năng lượng dự trữ của cơ thể để sản sinh sữa dẫn đến sự hao hụt khối lượng cơ thể mẹ đồng thời làm ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất và động dục trở lại

Trang 21

sau cai sữa Thời gian động dục trở lại sau cai sữa sẽ kéo dài hơn và tỷ lệ thụ thai thấp hơn nên nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản của lợn nái

1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng

1.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con

Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ nhờ đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật, trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Phát dục là quá trình hình thành những tổ chức, bộ phận mới của cơ thể ngay từ giai đoạn đầu tiên của bào thai và trong cả quá trình phát triển của cơ thể sinh vật, hay có thể hiểu phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là sự tăng thêm, hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận trong cơ thể gia súc Theo Nguyễn Văn Thiện và cs, (2005) [26] lợn con bú sữa có khả năng sinh trưởng phát dục nhanh So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 10 - 15 lần

Trong thực tế sản xuất khối lượng cai sữa của lợn con tăng lên gấp 15 -

20 lần so với khối lượng lúc sơ sinh vì vậy khả năng đồng hoá và trao đổi chất của lợn con rất mạnh làm cho lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh Một lợn con sau khi đẻ 20 ngày tuổi mỗi ngày cần tích luỹ được 0,9 - 1,4gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành mỗi ngày cần tích luỹ được 3 - 4 gam protein /1kg khối lượng cơ thể

Tuy lợn con bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nhưng không

đều qua các giai đoạn Tốc độ sinh trưởng tăng nhanh nhất là 21 ngày đầu,

sau 21 ngày tốc độ sinh trưởng giảm xuống Tốc độ sinh trưởng giảm do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin của lợn con cũng giảm Thời gian giảm tốc độ phát triển

Trang 22

thường kéo dài khoảng hai tuần gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Giai đoạn này, lợn dễ bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ còi cọc cao, dễ mắc bệnh và

có tỷ lệ chết cao Chúng ta có thể hạn chế ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng bằng cách cho lợn con tập ăn sớm để bổ sung dinh dưỡng cho chúng

1.2.2 Đặc điểm cơ quan tiêu hóa của lợn con

1.2.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con

Tiêu hoá là quá trình biến đổi thức ăn một cách toàn diện về mặt lý, hóa học để làm cho thức ăn từ dạng hợp chất phức tạp trở thành dạng đơn giản mà

cơ thể có thể dễ dàng hấp thu và chuyển hoá được Quá trình tiêu hoá chịu tác

động bởi 3 tác động: cơ học, hoá học, vi sinh vật học

Khối lượng cơ thể lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với sơ sinh Các

cơ quan tiêu hoá phát triển, tăng về kích thước, hoàn thiện về chức năng Dung dịch dạ dày tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, sau 70 ngày tăng lên 8 lần và khi trưởng thành đạt 3,4 - 4 lít Chiều dài ruột non sau 20 ngày tăng 3 lần, ruột già tăng 1,5 lần so với lúc sơ sinh

Chức năng của bộ máy tiêu hoá chưa hoàn thiện đặc biệt là trong thời gian 3

- 4 tuần đầu Nguyên nhân do thiếu HCl, men pepsinogen không được hoạt hóa thành pepsin nên giai đoạn trước 21 ngày lợn tiêu hoá kém, đặc biệt là các thức

ăn ngoài sữa Lợn con chỉ tiêu hoá được nhờ sữa, men capepsin và tripsin hỗ trợ

HCl trong dạ dày có chức năng diệt khuẩn, do trong dạ dày bị thiếu nên giai đoạn này lợn con dễ mắc phải bệnh ỉa phân trắng [8]

Trong giai đoạn này phản xạ thần kinh và thể dịch lợn con còn yếu khả năng phân tiết dịch vị còn chậm, hoạt tính của dịch vị và khả năng kháng khuẩn còn kém nên cần chú ý tới vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng trại Lợn con sinh ra thường thiếu sắt do sữa lợn mẹ thiếu vì thế cần bổ sung bằng cách tiêm sắt dưới dạng Dextran Fe ở ngày tuổi thứ 3 và ngày thứ 10

Trang 23

Theo A.V.K Vasnhixky, (1954) [33] lợn con 20 - 30 ngày tuổi lượng dịch tụy phân tiết trong một ngày là 150 - 350 ml Chức năng tiêu hoá của lợn con sơ sinh chưa hoàn thiện, trong giai đoạn theo mẹ chức năng tiêu hoá của một số men tiêu hoá được hoàn thiện dần [21]

+ Men Pepsin: đây là men tiêu hóa protein thức ăn, men Pepsin ở lợn dưới 25 ngày tuổi chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn do thiếu HCl Nếu tập ăn cho lợn con sớm từ 7 - 10 ngày tuổi thì HCl ở dạng tự do

có thể được tiết ra từ lúc 14 ngày tuổi [21]

+ Men Amilaza và Mantaza: sau 3 tuần tuổi 2 men này mới có hoạt tính mạnh do đó khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con cũng tốt hơn

+ Men Saccraza: đối với lợn con dưới hai tuần tuổi men này hoạt tính còn thấp, nếu cho ăn đường Sacacrose trong thời gian này lợn con rất dễ bị ỉa chảy Nếu có bổ xung đường thì nên bổ xung đường đơn như: Glucose, Fuctose

+ Men Lactaza: có tác dụng tiêu hoá lượng lactose trong sữa, men này

có hoạt tính mạnh ngay từ khi mới đẻ và hoạt lực tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2 sau đó giảm dần

Ngoài ra còn có một số men khác giảm dần qua các lứa tuổi như Trypsin, Catepsin, Lipaza và men Chymosin

1.2.2.2 Hệ vi sinh vật đường tiêu hoá của lợn

Nghiên cứu của Đào Trọng Đạt và cs, (1995) [12] cho thấy: vi sinh vật tại chỗ trong dạ dày và ruột được phân thành 5 nhóm:

- Vi khuẩn gram âm: chủ yếu thuộc chi Lactobacillus, cư trú ở biểu

mô lát phân lớp của phần trước dạ dày

- Nấm men: thuộc chi Candida, cư trú ở mô hình trụ của phần dạ dày

- Vi khuẩn hình sợi: cư trú ở biểu mô của 2/3 chiều dài đoạn cuối ruột non

- Vi khuẩn yếm khí: tuỳ tiện và tuyệt đối cư trú ở biểu mô của ruột tịt

và ruột kết

Trang 24

- Vi khuẩn hình xoắn và Spirocheta: cư trú trong các hốc Lieberkihn của

ruột tịt và ruột kết

Tác động qua lại của vi khuẩn đường tiêu hoá có thể là đối kháng hay hiệp

đồng Tác động qua lại của chúng chịu trách nhiệm chính về sự duy trì và điều

tiết hệ sinh thái giữa vật chủ và các vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hoá Khi có bất cứ một nhân tố stress nào tác động vào hệ sinh thái đường tiêu hoá, ảnh hưởng đến sự cân đối của quần thể sinh vật cư trú trong dạ dày -

ruột đều có thể tạo thuận lợi cho những loài “vi sinh vật không mong

muốn” xâm nhập và dẫn tới tiêu chảy

Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, thân nhiệt lợn con chưa ổn định, sự sinh nhiệt và thải nhiệt của lợn con chưa cân bằng, thân nhiệt luôn có xu hướng hạ thấp

Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con kém do nhiều nguyên nhân:

- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glyceril dự trữ trong cơ thể còn thấp, trên thân lợn con lông còn thưa nên khả năng cung cấp và giữ nhiệt rất kém

- Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh Trung khu

điều tiết nhiệt nằm ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất

ở cả giai đoạn trong và ngoài bào thai

- Diện tích bề mặt của lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao, nên lợn con dễ dàng bị mất nhiệt nhanh khi gặp khí hậu lạnh

- Lợn con lúc này phải làm quen với môi trường sống mới, khi còn trong bào thai điều kiện sống tương đối ổn định, các chất dinh dưỡng được cơ thể mẹ cung cấp qua nhau thai Sau khi sinh ra cơ thể con tiếp xúc với điều kiện ngoại cảnh Do đó chăm sóc không tốt lợn con dễ dàng bị mắc một số bệnh như: còi cọc, chậm lớn, ỉa chảy, cảm lạnh và tỷ lệ chết cao

Trang 25

Lợn con giai đoạn đầu duy trì được thân nhiệt chủ yếu nhờ nước trong cơ thể, sự hoạt động mạnh của hệ tuần hoàn Hàm lượng nước trong

cơ thể lợn con giảm từ 81 - 81,5% xuống còn 75 - 78% ở 3 - 4 tuần tuổi, nhịp đập của tim là 200 lần/phút Đây là yếu tố quan trọng trong việc điều tiết thân nhiệt (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [24]

Lợn con sẽ bị hạ thân nhiệt nếu được nuôi trong chuồng có nhiệt độ

phòng ấm, thân nhiệt vẫn tiếp tục hạ xuống 4 phút nữa, nhưng hiện tượng

đó không xảy ra với lợn con lúc 20 ngày tuổi [24]

Tóm lại khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi còn kém, nhất là trong tuần đầu mới sinh Nhiệt độ của chuồng nuôi càng thấp thì thân nhiệt lợn con giảm càng nhanh Sau 3 tuần tuổi thì cơ năng điều tiết nhiệt mới

Lợn con khi mới sinh ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh ngay sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con hoàn toàn thụ động, phụ thuộc lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ Do đó lợn con không được

bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao Vì vậy việc cho lợn con bú sữa đầu là vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng và phòng bệnh ở lợn con Sau khi đẻ cần cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt và tiến hành cố định đầu vú cho chúng [21]

Các nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinh học của lợn con đều đi

đến kết luận rằng: Lợn con ngay từ khi sinh ra đến khi trưởng thành trải qua 3

thời kỳ khủng hoảng do điều kiện sống mang lại đó là:

Trang 26

* Từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi

Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con, do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, do lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong cơ thể còn mệt mỏi, đi lại còn nặng nề do sức khoẻ chưa hồi phục hoàn toàn, trong khi đứng lên nằm xuống dễ đè chết lợn con, do đó cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con trong thời gian này Tốt nhất là sử dụng

ổ úm, lồng úm để tránh lợn mẹ đè chết con

* Thời kỳ 3 tuần tuổi

Đây là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con do quy luật tiết sữa của

lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau khi đẻ và đạt cao nhất ở 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh Có con lợn

mẹ thiếu sữa ngay từ tuần lễ đầu hoặc do con nhiều, vú ít Trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này ta cần tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 7 - 10 ngày tuổi sau khi sinh Cho lợn ăn sớm kích thích tiết dịch vị, tiết HCl khi thức ăn cơ giới tác động vào thành dạ dày Bộ máy tiêu hóa phát triển, ruột dài ra, tăng tiêu hóa, sinh trưởng mau thì đến 15 ngày tuổi đã biết ăn và 20 ngày tuổi có thể ăn được bình thường [29]

Đã có một số kết quả thực nghiệm về tập ăn sớm ở các ngày tuổi cho

thấy: nếu lượng tiết sữa của lợn nái cao nhưng cho tập ăn muộn kết quả cai sữa lợn con thấp, ngược lại nếu lượng sữa thấp nhưng cho lợn con ăn sớm kết quả cai sữa cao hơn [17] Vì vậy để làm giảm ảnh hưởng của thời kỳ khủng hoảng thứ 2 này nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm

Trang 27

* Thời kỳ sau cai sữa

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 của lợn con do môi trường sống thay đổi,

do nhân tố cai sữa gây nên Việc cai sữa lợn con ở độ tuổi nào cũng đều là sự gây mất cân đối với chúng Nói chung lợn con có thể được cai sữa bất cứ khi nào, nhưng lợn càng bé đòi hỏi sự quản lý nhiều hơn để thực hiện cai sữa

được thắng lợi Do thức ăn của lợn con ở thời kỳ này thay đổi chuyển từ thức

ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn con người cung cấp Lợn con ở

giai đoạn này nếu không được chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo, thức ăn cho lợn không đảm bảo vệ sinh, không cân đối về mặt khẩu phần lợn con dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hoá, hô hấp, làm giảm khả năng sinh trưởng, tăng thời gian nuôi đến xuất chuồng [21]

Hiện nay, cai sữa sớm là một biện pháp kỹ thuật được áp dụng rộng rãi

Đặc biệt trong chăn nuôi lợn nái ngoại thì cai sữa sớm thường bắt đầu lúc 21

ngày tuổi, kết thúc ở 23 - 24 ngày tuổi thì khi đó thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau Do đó làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con

Các tính trạng sản xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật Giá trị kiểu hình của các tính trạng sản xuất có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi yếu tố ngoại cảnh Giá trị kiểu hình của bất

kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường Giá trị kiểu hình được biểu thị như sau:

P = G + E P: giá trị kiểu hình (Phenotypic value) G: giá trị kiểu gen (Genotypic value) E: sai lệch môi trường (Enviromental deviation)

Trang 28

* Ảnh hưởng của yếu tố di truyền

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, yếu tố dòng, giống ảnh hưởng rất lớn

đến năng suất sinh sản và sinh trưởng của lợn Các giống khác nhau có khả

năng sinh trưởng khác nhau và tiềm năng di truyền về sinh trưởng của gia súc thông qua hệ số di truyền Theo nghiên cứu của Hazen (1993) [38] ở lợn bú sữa

Triebler (1982) [50] cho rằng hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,02 hệ số này thấp hơn so với sinh trưởng ở thời kỳ sau cai sữa, vỗ béo Hệ số di truyền về khả năng tăng khối lượng/ngày, tiêu tốn thức ăn, đều phụ thuộc vào giống, quần thể, phương thức nuôi Theo Busse và cs (1986) [34] hệ số di truyền về chỉ tiêu sinh trưởng trong thời gian kiểm tra ở giai đoạn từ 20 - 100kg là 0,50, biến động 0,30 -

M (1994) [11] cho biết hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh trưởng như sau:

Hệ số di truyền càng cao thì thời gian chọn lọc càng ngắn và ngược lại

* Ảnh hưởng của dinh dưỡng

Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70 - 80% giá thành sản phẩm, do đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn đồng thời làm tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối

Trang 29

lượng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn

* Ảnh hưởng của giai đoạn sinh trưởng phát triển của lợn con

Do cơ thể của lợn ở từng giai đoạn có những đặc điểm khác nhau nên cần chú ý tới việc đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng trong từng giai đoạn Do

đặc điểm tiêu hóa nên giai đoạn từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi, cần chú ý tới

số lượng và chất lượng sữa, đặc biệt là sữa đầu của lợn mẹ, tập cho con ăn

từ 7 - 10 ngày tuổi giúp thúc đẩy phát triển và hoàn thiện bộ máy tiêu hóa Lợn con trước 20 ngày tuổi khả năng tiêu hóa kém, sữa nhân tạo nên bổ sung thêm men pepsin và HCl loãng để tiêu hóa được thuận lợi, các loại thức ăn có kháng men phải được khử trước khi sử dụng

* Phương thức nuôi dưỡng

Phương thức nuôi dưỡng có ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của lợn con (theo dõi 3 phương thức nuôi dưỡng là bú mẹ, bú mẹ có bổ sung sữa và nuôi hoàn toàn nhân tạo thì tăng trọng lần lượt là 237g, 324g

và 576g/ngày) Mức năng lượng chung cho lợn con hàng ngày ở 1 tuần tuổi

là 965Kcal, ở 3 tuần tuổi là 1430Kcal Nhật Bản đưa ra mức năng lượng tiêu hóa (ME) cho lợn có khối lượng cơ thể từ 1- 5kg là 0,850 Mcal/ngày; 5

- 10kg là 1,41 Mcal/ngày và 10 - 30kg là 3,58 Mcal/ngày [18]

Việc cai sữa sớm cho lợn con hiện nay đã khá phổ biến, đặc biệt là đối với lợn ngoại 21 - 28 ngày tuổi Người ta đã nhận thấy có mối tương quan thuận giữa khối lượng cai sữa và khối lượng lúc 60 ngày tuổi Vì vậy để có khối lượng 60 ngày tuổi cao thì cần phải tiến hành cai sữa sớm cho lợn con Tuy nhiên đối với lợn con được cai sữa ở 1 ngày tuổi có khối lượng ở 60 ngày tuổi rất cao nhưng khả năng sinh trưởng ở các giai đoạn tiếp theo lại

Trang 30

kém, chất lượng thịt không cao

1.2.6.1 Thời kỳ hoàn toàn bú sữa

* Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con

Lợn con đẻ ra cần bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa

đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng sữa đầu có ý nghĩa nhất với

lợn con là trong 24h đầu sau khi đẻ Sau 2h, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả

đàn cùng bú nhưng nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì cho những con đẻ trước bú đồng thời kích thích được lợn nái đẻ tiếp

Sữa đầu chứa nhiều vitamin A, D, B12 gấp 5 lần và chất khoáng gấp 2 lần so với sữa thường Sữa đầu rất quan trọng với lợn con, chứa nhiều globulin miễn dịch, vitamin hoà tan trong dầu, cả những chất bảo vệ lợn con mới đẻ tăng cường khả năng miễn dịch

Để nâng cao tỷ lệ đồng đều, những con yếu cho bú những vú phía

ngực, những con khoẻ cho bú các vú sau Những vú ở phần ngực gần tim lượng máu đến những vú này trước nên lượng sữa ở các vú này nhiều hơn Các con lợn yếu được bú vú này sẽ có điều kiện nâng cao sức khoẻ, thể trạng và tăng trọng nhanh làm cho tỷ lệ đồng đều trong đàn cao Cố định bầu vú cho lợn nên tiến hành ngay từ khi cho bú sữa đầu [21]

Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen dần và tự bú các vú quy định cho nó Lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào tư thể nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường nằm về một phía khi cho lợn con bú thì lợn con sẽ nhanh chóng quen với núm vú quy định của nó sớm hơn là lợn

mẹ khi cho con bú lại thường xuyên thay đổi tư thế nằm

* Bổ sung sắt cho lợn con

Trang 31

Trong những ngày đầu lợn con chưa ăn được thức ăn mà chủ yếu sử dụng sữa mẹ, tuy nhiên trong sữa mẹ hàm lượng sắt không đáp ứng đủ cho nhu cầu của lợn con do đó cần bổ sung sắt cho lợn con

Nhu cầu sắt của lợn con là 7 mg/ngày như vậy trong 30 ngày đầu 1 lợn con cần 210 mg Trong khi đó lượng sắt mà lợn mẹ cung cấp trong sữa là 1 -

2 mg/ngày Vậy lượng sắt mà lợn con thiếu hụt trong 30 ngày đầu là 150 -

180 mg, do đó chúng cần được bổ sung lượng sắt thiếu hụt

Sắt tham gia tạo nên các tế bào máu (Hemoglobin), myoglobin và trong các men trong cơ thể Biểu hiện của lợn thiếu sắt là da bạc màu, tim lớn, thở khó sau khi vận động, hồng cầu bé, thiếu tế bào máu đỏ, giảm sức

đề kháng Nhưng mặt khác thừa sắt có thể gây trúng độc, liều cao có thể

gây tổn thương thần kinh, dẫn đến rối loạn [43]

Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh Việc tiêm sắt cùng làm với các thao tác đỡ đẻ sẽ tiết kiệm công lao động Nếu tiến hành cai sữa ở 3 tuần tuổi thì chỉ cần tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ nhưng cai sữa trên 3 tuần tuổi thì nên tiêm 200 mg sắt và chia làm hai lần: lần 1 tiêm lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm lúc 10 - 13 ngày tuổi (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [21]

1.2.6.2 Thời kỳ tập cho lợn con ăn sớm

Lợn con sinh trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng cao Sau khi đẻ 8 ngày tăng gấp đôi, 10 ngày tăng gấp 3 - 4 lần, 55 – 60 ngày tăng gấp 15 – 20 lần Lợn con càng lớn, nhu cầu sữa càng nhiều, nhưng lượng tiết sữa của lợn mẹ lại giảm từ tuần thứ 3, tuần thứ 4 rõ rệt nên không cung cấp đủ năng lượng cho lợn con vì vậy ta phải tập ăn sớm cho lợn con Ở giai đoạn sơ sinh, dạ dày lợn con chỉ chứa được 4 – 5 gam sữa, 20 ngày tăng gấp 4 – 6 lần, khi cai sữa tăng 20 –

Trang 32

25 lần Do vậy muốn cai sữa sớm phải đi đôi với tập cho lợn con ăn sớm Khi lợn con được bổ sung thức ăn sớm có nhiều tác dụng như:

- Kích thích tiết dịch vị, HCl khi thức ăn tác động cơ giới vào thành dạ dày

Bộ máy tiêu hóa phát triển, ruột dài ra, tăng tiêu hóa và sinh trưởng nhanh

- Lượng pepsin ở lợn sơ sinh ít, tăng đều đặn trong khoảng 3 - 6 tuần tuổi Từ sơ sinh đến 20 - 25 ngày tuổi không tiết HCl, nhưng do ăn sớm bằng ngũ cốc từ 14 – 20 ngày tuổi thì tiết HCl giúp tiêu hóa tốt hơn

- Amylaza trong nước bọt hoạt động cao nhất lúc lợn 2 - 3 tuần tuổi Amylaza tuyến tụy tăng nhanh khi lợn 4 - 5 tuần tuổi Khi 35 ngày tuổi lợn con đủ lượng amylaza để tiêu hóa gluxit trong khẩu phần thức ăn

Tinh bột ngũ cốc cho ăn sống không tiêu hóa một cách dễ dàng cho tới khi lợn 23 – 25 ngày tuổi, bởi lẽ đó thức ăn tập ăn sớm cho lợn con phải được chế biến như rang, sấy hoặc nghiền bột

- Enzyme maltaza ở ruột non sơ sinh tác dụng thấp nhưng tăng lên khi 5 tuần tuổi Lipaza trong 4 tuần đầu hoạt động cao và càng tăng dần từ đó thủy phân triglyxerit thành mono glyxerit Sự tiết mật ảnh hưởng đến sự hấp thu lipit, lượng dịch mật tăng chậm trong 3 tuần đầu Qua thay đổi hệ thống enzyme ở lợn con, việc tập ăn sớm để cai sữa 3 - 4 tuần tuổi là phù hợp

Lợn con khi mới sinh thường bị hội chứng ỉa chảy, đây là vấn đề nổi cộm chủ yếu cho người nuôi lợn Ỉa chảy phổ biến nhất do các chủng

Escherichia Coli, một vi khuẩn gram âm thường có trong đường ruột của tất

cả các loài động vật có vú Lợn con mẫn cảm nhất từ 1 - 4 ngày tuổi, lúc 3 tuần tuổi và lúc cai sữa Vì vậy khi nuôi dưỡng lợn con ở thời kỳ này có các biện pháp phòng bệnh thích hợp

Trang 33

1.2.7 Một số bệnh thường gặp ở lợn con

1.2.7.1 Bệnh tiêu chảy ở lợn con

- Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh tiêu chảy ở lợn con như ảnh hưởng của môi trường quản lý chăm sóc, do virus, vi khuẩn E.coli và Salmonella, ký sinh trùng và thức ăn nước uống

- Triệu chứng bệnh tích: khi mới bị bệnh lợn con vẫn bú nhưng ít dần đi Thân nhiệt hơi tăng, lợn chướng bụng đầy hơi, bệnh kéo dài thì bụng tóp lại Lợn con khát nước, đôi khi lợn nôn ọe ra sữa chưa tiêu, có mùi chua (Đào Trọng Đạt, 1995) [12]

Phân có màu trắng ngà đến màu vàng nhạt, lông xơ xác, gầy tọp, chân đi lảo đảo không định hướng, đuôi và hậu môn dính phân

Bệnh tích: dạ dày căng phồng chứa sữa không tiêu Ruột non sung huyết, chứa dịch lỏng màu vàng, có chất nhầy

1.2.7.2 Bệnh cầu trùng lợn con

Bệnh cầu trùng là một bệnh thường gặp và chiếm một vị trí quan trọng trong các bệnh của lợn con từ 5 - 15 ngày tuổi với triệu chứng ỉa chảy, sau đó

là chậm lớn và có thể gây chết ở lợn con đến 20%

- Nguyên nhân: sosporasuis gây bệnh cầu trùng lợn con từ 5 - 15 ngày

tuổi hiện diện khắp thế giới Cầu trùng theo thức ăn, nước uống qua đường ruột xâm nhập vào các tế bào niêm mạc ruột, sinh sản ở đó và phá vỡ các tế bào, mao quản làm cho lợn con ỉa chảy, ỉa ra máu

Trong điều kiện môi trường thiếu vệ sinh, chuồng trại ẩm ướt bệnh cầu trùng phát triển càng nhanh Tỷ lệ chết ở lợn con do bệnh này chiếm tới 20%

Trang 34

- Triệu chứng và bệnh tích: cầu trùng ký sinh ở trong tế bào niêm mạc ruột non Bệnh nặng hay nhẹ phụ thuộc vào lượng noãn nang lợn nuốt vào, độc tính của chúng ký sinh và sự bội nhiễm các chủng vi khuẩn hay virus khác ở đường ruột Lợn con từ 7 - 15 ngày tuổi thường mắc chứng ỉa chảy, phân trắng, phân vàng, có thể lẫn máu Tỷ lệ lợn mắc bệnh có khi đến 75% Lợn con bỏ bú hoặc ít bú, có thể hơi sốt , ủ rũ, tỷ lệ chết cao đến 20%

1.3 Cai sữa cho lợn con

1.3.1 Lợi ích của cai sữa sớm lợn con

Nhiều nước trên thế giới thực hiện cai sữa sớm lợn con ở những ngày tuổi khác nhau Vậy lợi ích của cai sữa sớm cho lợn con như:

- Nâng cao lứa đẻ: nuôi con tháng thứ 2, cơ thể lợn nái hao mòn từ 15 – 30% Nếu rút ngắn thời gian nuôi con, lợn nái sung sức, động hớn sớm, phối giống dễ thụ thai Lợn nái nuôi con 60 ngày, có chửa 114 ngày, như vậy, một lứa sinh sản (chửa, đẻ, nuôi con) hết 174 ngày Một năm lợn đẻ 2 lứa cần phải

348 ngày Vậy chỉ còn 17 ngày dành cho hai lần động dục trở lại và phối giống Thường sau 6 - 7 ngày sau cai sữa lợn nái động hớn Nếu phối giống không thụ thai phải đợi 19 - 21 ngày sau mới động hớn trở lại và phối giống tiếp Như vậy, cai sữa 60 ngày, một năm lợn nái khó đạt 2 lứa Nếu cai sữa 55 ngày thì khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 13 ngày, cai sữa 50 ngày có khoảng cách 18 ngày, cai sữa 40 ngày có khoảng 28 ngày để nái động hớn và phối giống lợn, dù trượt một chu kỳ vẫn đạt chỉ tiêu 2 lứa một năm Nhiều nước trên thế giới cai sữa sớm 28 ngày tuổi nên nái đẻ 2,4 - 2,5 lứa một năm

Tăng số lượng lợn con nuôi được cả năm để tăng sản lượng thịt: cai sữa sớm tăng số lứa đẻ/nái/năm nên một năm một lợn nái sản xuất nhiều lợn con hơn

- Tránh được nguy cơ lợn mẹ bị yếu chân, bại liệt và giảm số con ở lứa sau

Trang 35

- Giảm sự hao mòn của cơ thể con mẹ: lợn mẹ nuôi con phải tiết ra một lượng sữa lớn để nuôi đàn con, vì vậy cai sữa muộn làm cơ thể lợn nái hao mòn lớn, động dục trở lại muộn

- Rút ngắn thời gian chờ phối của con mẹ

- Hạn chế một số bệnh truyền nhiễm từ lợn nái sang lợn con như: viêm phổi

do Mycoplasma, bệnh lỵ, ghẻ và một số bệnh ký sinh trùng đường ruột

- Giảm chi phí:

+ Giảm số đầu lợn nái phải nuôi: nếu cai sữa sớm thì đàn lợn con

có thể tăng lên 20% Nái đẻ 2 lứa, tỷ lệ lợn nái chỉ còn 8 - 9% so với tổng

đàn

+ Giảm chi phí thức ăn: nếu đẻ sai, bình quân 1 kg lợn con cai sữa chi phí mất 6 - 7 kg thức ăn (cả mẹ lẫn con), nếu đẻ thưa nuôi ít chi phí lên

đến 10 - 12 kg thức ăn Nhờ giảm thức ăn nên có thể tập trung thức ăn tốt

cho giai đoạn tiết sữa , tạo sự chuyển hóa thức cao cho lợn con

+ Giảm bớt diện tích chuồng nuôi: đầu lợn nái ít, đàn lợn quay vòng nhanh, yêu cầu chuồng trại giảm, hiệu suất sử dụng chuồng trại cao hơn, giảm chi phí khấu hao chuồng trại

+ Giảm bớt công lao động nuôi lợn nái và các chi phí khác Vì trong

cơ cấu giá thành chăn nuôi lợn, chi phí lao động chiếm 1,6%, thức ăn 75%, giống 17%, khấu hao chuồng 2%, chi phí khác 4,4% [17]

Thực tiễn ở nước ta cho thấy, có thể cai sữa lợn con ngay sau khi đẻ 1 - 2 ngày, 7 ngày nhưng đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh phức tạp nên khó áp dụng

Mặt khác nếu cai sữa sớm quá lúc này lợn nái chưa có khả năng thụ thai tốt sau đẻ, nên lựa chọn thời điểm cai sữa thích hợp tức là phù hợp cho

cả lợn con (có khả năng chống đỡ bệnh tật và hấp thụ thức ăn tốt, vừa phù

Trang 36

hợp với đặc điểm sinh học đảm bảo phát triển bình thường) và phù hợp với

đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] cho biết: hiện nay có 2 hình thức cai sữa là:

+ Cai sữa thông thường

Thời gian cai sữa thông thường được quy định theo từng nước Nói chung ở các cơ sở chăn nuôi lợn nái nội, nông hộ thường cai sữa lợn con trong khoảng 35 – 42 ngày

+ Cai sữa sớm 21 – 28 ngày tuổi

Hầu hết các cơ sở chăn nuôi lợn ngoại của ta hiện nay cai sữa lợn con trong khoảng thời gian 21 - 28 ngày tuổi tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng đàn và cơ sở vật chất kỹ thuật của từng trại từ đó lựa chọn thời gian cai sữa thích hợp

1.4 Nguồn gốc, đặc điểm và năng suất sinh sản của giống lợn ngoại Landrace và Yorkshire

Giống lợn Landrace có thành tích sản xuất như hiện nay là giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch Từ những năm 1984 Đan Mạch đã nhập nhiều giống lợn từ các nước Anh, Đức, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… để cải tạo giống lợn trong nước tạo ra những dòng lợn có tỷ lệ nạc cao

Giống lợn Landrace Đan Mạch được hình thành từ sự lại tạo giữa các giống lợn Youtland của Đức và Yorkshire từ Anh

Từ năm 1869 lợn Landrace đòi hỏi phải có tỷ lệ nạc cao, năm 1990 lợn Landrace được chọn lọc theo hướng nhanh chóng thành thục, có hình thuỷ lôi, phần mông phát triển, màu lông trắng tuyền, mình dài, tai to cúp về phía trước bụng to gọn ngực không sâu, bốn chân mảnh dẻ đẹp

Giống lợn Yorkshire được hình thành ở vùng Yorkshire của nước Anh từ thế kỷ 19 Với đặc điểm lông trắng hơi có ánh vàng, đầu cổ hơi nhỏ và dài,

Trang 37

mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía rước, mình dài lưng hơi cong, bụng gọn, bốn chân dài chắc chắn, có 14 vú Da trắng tuy nhiên thỉnh thoảng

có một số nốt đen Lợn Yorkshire được nhập vào nước ta năm 1964 từ Liên

Xô cũ với tên gọi là lợn Đại bạch [22]

Việc nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của các giống lợn ngoại đã

và đang được sự quan tâm đặc biệt của các nhà chăn nuôi

Theo báo cáo nghiên cứu khoa học của Đinh Văn Chỉnh và cộng tác viên (2001) [6] cho biết chỉ tiêu sinh lý và khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire như sau:

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu sinh lý và khả năng sinh sản

của lợn Yorkshire và Landrace

Giống

TT Chỉ tiêu theo dõi ĐVT

Yorkshire Landrace

Theo Phùng Thị Vân và cộng sự (2001) [31] nghiên cứu khả năng sinh sản của Landrace và Yorkshire bình quân của 3 lứa đẻ I, II và III cho biết:

Trang 38

Bảng 1.2: Khả năng sinh sản bình quân của 3 lứa đẻ 1, 2 và 3

của lợn Yorkshire và Landrace

TT Các chỉ tiêu theo dõi ĐVT Giống

Yorkshire Landrace

ngày tuổi

Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái có sự biến động khá lớn và hệ số di truyền thấp nên các điều kiện chăn nuôi khác nhau thì năng suất sinh sản khác nhau [13]

1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Rút ngắn khoảng cách 2 lứa đẻ bằng cai sữa sớm cho lợn con, đây là một biện pháp nhằm tăng lứa đẻ/nái/năm Cùng với việc cải tiến điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của gia súc cái thì khả năng truyền giống của đực giống là rất cần thiết, có ý nghĩa trong công tác giống và thực tiễn sản xuất

Trang 39

Ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu những thực nghiệm chính

về cai sữa sớm cho lợn con như sau:

Nguyễn Nghi từ năm 1973 - 1974 đã nghiên cứu cai sớm cho lợn ở 35 ngày, 45 ngày, 60 ngày (trên đàn lợn lai), sử dụng thức ăn tinh cho lợn Kết quả

ở giai đoạn 45 - 60 ngày tuổi, lô cai sữa 60 ngày mỗi ngày ăn được 344 gam, lô

cai sữa 45 ngày ăn được 571 gam/ngày, lô cai sữa 35 ngày ăn được 604 gam/ngày thức ăn tinh Còn giai đoạn 60 - 90 ngày tuổi, tương ứng là 809, 875,

1010 gam/ngày Do đó lợn cai sữa càng sớm càng ăn nhiều thức ăn tinh, sinh trưởng phát dục tốt hơn Khối lượng trung bình một con lợn lúc 90 ngày tuổi các

lô lần lượt tương ứng 15,77; 16,63; 19,64 tức cai sớm tăng trọng cao hơn đáng

kể, chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng giảm được 10 - 30% thức ăn tinh Nếu tính cả thức ăn cho lợn mẹ và thức ăn cho lợn con tập ăn thì để sản xuất ra 1 kg lợn giống lúc 60 ngày tuổi ở lô cai sữa 60 ngày tuổi là 4,97 kg, lô cai sữa 45 ngày là 4,29 kg, lô 35 ngày là 3,86 kg Mặt khác cai sữa sớm còn rút khoảng cách giữa 2 lứa đẻ từ 179 ngày xuống 164; 155 ngày và đẻ từ 2 lên 2,2 hoặc 2,35 lứa tạo điều kiện cho 1 lợn nái mỗi năm sản xuất hơn 20 lợn con giống

Qua nghiên cứu của Viện chăn nuôi khi tiến hành theo dõi yếu tố tiểu khí hậu

đến trạng thái lợn con cai sữa sớm trên 300 lợn móng Cái thuần, 300 lợn Móng Cái

lai (HTX Tiên Phong) đi đến kết luận: chăm sóc tốt, đạt tỷ lệ nuôi sống cao Nhiệt

độ quá thấp thì tỷ lệ lợn con chết tăng nhiều Cùng điều kiện chăm sóc, tỷ lệ nuôi

sống lợn con trong mùa hè cao hơn mùa đông, ngược lại nếu chăm sóc không tốt thì cai sữa muộn trong mùa đông tỷ lệ nuôi sống vẫn thấp hơn cai sữa sớm mùa hè

Lê Hồng Mận, (2002) [20] khẳng định: việc tăng năng xuất đàn lợn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó cai sữa sớm đóng vai trò quan trọng đặc biệt

Cai sữa sớm cho lợn đã loại trừ được phần nào các bệnh truyền nhiễm

từ lợn mẹ sang lợn con, tăng năng xuất đàn nái, giảm thời gian cho một chu

kỳ sinh sản tức là tăng lứa đẻ, tăng số lượng lợn con/nái/năm, tăng sức

Trang 40

khoẻ cho đàn nái sinh sản Ngoài ra, cai sữa sớm cho lợn con còn có thể

loại trừ được một số mần bệnh như: viêm phổi do Mycoplasma, bạch lỵ,

viêm phế quản, viêm dạ dày - ruột, ghẻ [15]

Theo báo điện tử của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (5/08/2009)

[1]: cai sữa heo con lúc 10 ngày thì thời gian động dục lại của con mẹ là 9,4

ngày, cai sữa lúc 21 ngày là 6,2 ngày và cai sữa lúc 56 ngày là 4 ngày Số lượng trứng rụng ở lứa kế tiếp là: cai sữa 10 ngày là 12,8 trứng, 21 ngày là 15,2 trứng và 56 ngày là 16,4 trứng Do vậy nếu cai sữa lúc 4 tuần tuổi thời khoảng cách giữa 2 lứa nuôi là 148 ngày (114 ngày mang thai, 28 ngày nuôi con và 6 ngày chờ phối) khả năng một năm nái có thể cho khoảng 2,2 - 2,4 lứa/năm Theo báo nông nghiệp ngày 23/6/2009 [2] đưa ra nhận định rằng: cai sữa 21 ngày tuy làm tăng được số lứa đẻ của lợn nái trong năm, nhưng tổng lượng thịt mà một lợn nái sản xuất trong một năm thì lại không bằng cai sữa 28 ngày, ngoài ra lợn sau cai sữa khoẻ mạnh hơn và ít bị rối loạn tiêu hoá hơn

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm, đây là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Theo kết quả nghiên cứu của Thomas W.J.K., 1973 [49] cho biết: số lợn con đẻ ra trung bình/ổ của đàn lợn ở nước Anh là 11,0 con/ổ, trong đó số con còn sống/ổ là 10,4 con, số con còn sống đến cai sữa là 8,6 con/ổ, tỉ lệ nuôi sống đạt 86,7% Số lợn con cai sữa/1nái/năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuổi thành thục về tính, tỉ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra, số lứa đẻ trong năm, thời gian cai sữa, tỉ lệ nuôi sống đến cai sữa

Các yếu tố stress đó bao gồm việc thay đổi đột ngột thức ăn, chuyển sang chuồng mới, xáo trộn khi ghép đàn với các cá thể lạ Trong sản xuất người ta

sử dụng nhiều biện pháp nhằm làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi đó

để tăng năng suất lợn con ở 60 ngày tuổi, trong đó có phương pháp cai sữa

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu sinh lý và khả năng sinh sản - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu sinh lý và khả năng sinh sản (Trang 37)
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn tập ăn của lợn con - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn tập ăn của lợn con (Trang 43)
SƠ ĐỒ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
SƠ ĐỒ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM (Trang 44)
Bảng 3.1: Sinh trưởng tích luỹ của đàn lợn thí nghiệm (kg/con) - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 3.1 Sinh trưởng tích luỹ của đàn lợn thí nghiệm (kg/con) (Trang 48)
Hình 3.1: Sinh trưởng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Hình 3.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn (Trang 51)
Bảng 3.2: Sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn thí nghiệm (gam/con/ngày) - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn thí nghiệm (gam/con/ngày) (Trang 52)
Hình 3.2: Sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Hình 3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn thí nghiệm (Trang 52)
Hình 3.3:  Sinh trưởng tương đối của đàn lợn thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Hình 3.3 Sinh trưởng tương đối của đàn lợn thí nghiệm (Trang 55)
Bảng 3.4: Độ đồng đều của đàn lợn thí nghiệm qua các giai đoạn - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 3.4 Độ đồng đều của đàn lợn thí nghiệm qua các giai đoạn (Trang 57)
Hình 3.4: Độ đồng đều của lợn con qua các giai đoạn thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Hình 3.4 Độ đồng đều của lợn con qua các giai đoạn thí nghiệm (Trang 59)
Bảng 3.7: Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở lợn thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở lợn thí nghiệm (Trang 64)
Bảng 3.8: Kết quả theo dõi năng suất sinh sản của lợn nái ngoại ở lứa thứ 4 - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 3.8 Kết quả theo dõi năng suất sinh sản của lợn nái ngoại ở lứa thứ 4 (Trang 66)
Hình 3.5: Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh cón sống/ổ và số con cai sữa/ổ - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Hình 3.5 Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh cón sống/ổ và số con cai sữa/ổ (Trang 67)
Bảng 3.9: Kết quả theo dõi năng suất sinh sản của lợn nái ngoại ở lứa thứ 5 - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 3.9 Kết quả theo dõi năng suất sinh sản của lợn nái ngoại ở lứa thứ 5 (Trang 71)
Bảng 3.10.  Tiêu tốn thức ăn/kg cho lợn 60 ngày tuổi ở lứa đẻ 5 - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng của lợn con và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN huyện việt yên   tỉnh bắc giang
Bảng 3.10. Tiêu tốn thức ăn/kg cho lợn 60 ngày tuổi ở lứa đẻ 5 (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w