Tuy nhiên, hiện nay tại một số khu vực trồng chè chính trong tỉnh Thái Nguyên chưa đánh giá được thực trạng sản xuất, năng suất cũng như chất lượng của giống chè Kim Tuyên.. Xuất phát từ
Trang 1––––––––––––––––––––
DƯƠNG THỊ THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
TÍNH CHẤT ĐẤT VÀ PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG GIỐNG CHÈ KIM TUYÊN
TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS NGUYỄN VIẾT HƯNG
2 TS NGUYỄN THẾ HUẤN
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa từng được sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Người viết
Dương Thị Thanh Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Quản
lý Đào tạo Sau đại học, Viện Khoa học sự sống trường đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Thí nghiệm Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, các đơn
vị, địa phương nơi tôi nghiên cứu, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan và gia đình
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Viết Hưng – người hướng dẫn khoa học thứ nhất, thầy giáo TS Nguyễn Thế Huấn – người hướng dẫn khoa học thứ hai đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo của Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo giảng dạy chuyên nghành đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt bản luận văn này
Qua đây tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan và gia đình đã giúp đỡ,
động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Người viết
Dương Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ, hình ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến năng suất và chất lượng chè 3
1.1.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất và chất lượng chè 8
1.1.3 Cơ sở khoa học của dùng phân bón sinh học cho chè 10
1.1.4 Cơ sở khoa học của phân bón qua lá 11
1.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè trên thế giới 13
1.2.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới 13
1.2.2 Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới 14
1.3 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè tại Việt Nam 15
1.3.1 Vai trò của ngành sản xuất chè ở Việt Nam 15
1.3.2 Diện tích, năng suất chè trong cả nước 16
1.3.3.Tình hình chế biến chè trong những năm vừa qua 17
1.3.4 Chủng loại sản phẩm và chất lượng sản phẩm chè 19
1.3.5 Tình hình tiêu thụ chè trong những năm vừa qua 19
1.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Thái Nguyên 21
Trang 51.4.1 Diện tích và cơ cấu giống 21
1.4.2 Thực trạng chế biến và tiêu thụ chè tại Thái Nguyên 23
1.5 Kết quả tổng hợp nghiên cứu chè liên quan đến lĩnh vực của đề tài 25
1.5.1 Nghiên cứu chọn giống chè, nguồn gốc giống chè Kim Tuyên 25
1.5.2 Các nghiên cứu về phân bón đến năng suất, chất lượng chè 27
1.6 Những kết luận về phần phân tích tổng quan 30
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 31
2.3 Nội dung nghiên cứu 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Đánh giá thực trạng sản xuất và tình hình sử dụng phân bón cho chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên 31
2.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tính chất đất đến năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên 32
2.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất, chất lượng chè Kim Tuyên 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Đánh giá thực trạng sản xuất, tình hình sử dụng phân bón cho giống chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên 37
3.1.1 Thực trạng sản xuất giống chè Kim Tuyên tại một số địa điểm ở Thái Nguyên 37
3.1.2 Tình hình sử dụng phân bón cho giống chè Kim Tuyên 44
3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất, chất lượng chè Kim Tuyên 45
3.3 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên 51
Trang 63.3.1.Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến năng suất chè
Kim Tuyên 51
3.3.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên 53
3.3.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Phụ lục 1: Một số hình ảnh kết quả nghiên cứu của đề tài 68
Phụ lục 2: Kết quả xử lý số liệu các thí nghiệm 71
Phụ lục 3: Hạch toán kinh tế chi tiết 3 thí nghiệm phân bón 96
Phụ lục 4: Phiếu điều tra 97
Trang 7HĐKH Bộ NN & PTNT Hội đồng khoa học Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới và một số nước
trồng chè chính năm 2010 14Bảng 1.2 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè ở Việt Namgiai đoạn
2000 - 2010 17Bảng 1.3 Số lượng và giá trị xuất khẩu chè của Việt Nam từ năm 2000đến
năm 2011 20Bảng 1.4 Thị trường xuất khẩu chè năm 2011 của Việt Nam 20Bảng 1.5 Diện tích, sản lượng chè búp tươi ở một số vùng chècủa tỉnh
Thái Nguyên 22Bảng 1.6 Cơ cấu giống chè của tỉnh Thái Nguyên 23Bảng 1.7 Số lượng chè xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên 24Bảng 3.1 Cơ cấu các giống chè trồng mới ở thành phố Thái Nguyên giai đoạn
2008 - 2010 40Bảng 3.2 Cơ cấu các giống chè trồng mới qua 3 năm của huyện Đại Từ 41Bảng 3.3 Cơ cấu các giống chè trồng mới của huyện Đồng Hỷgiai đoạn
2008-2010 42Bảng 3.4 Kết quả điều tra tình hình sử dụng phân bóncho chè Kim Tuyên
tại một số địa điểm 44Bảng 3.5 Kết quả phân tích một số nguyên tố dinh dưỡngtrong đất trồng
giống chè Kim Tuyên tại các địa điểm nghiên cứu 47Bảng 3.6 Tương quan của một số yếu tố dinh dưỡng đấtđến năng suất búp
tươi của giống chè Kim Tuyên 48Bảng 3.7 Tương quan của một số yếu tố dinh dưỡng đất đếnmột số chỉ tiêu
sinh hóa giống chè Kim Tuyên 49
Trang 9Bảng 3.8 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến một số yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất giống chè Kim Tuyên 51Bảng 3.9 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến một số chỉ tiêu sinh hóa của
giống chè Kim Tuyên 52Bảng 3.10 Sơ bộ hạch toán ảnh hưởng của bón phân qua lá đến hiệu quả
kinh tế trên giống chè Kim Tuyên 53Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu lý hóa tính của đất tại địa điểm thí nghiệm 54Bảng 3.12 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất giống chè Kim Tuyên 55Bảng 3.13 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu sinh
hóa của giống chè Kim Tuyên 56Bảng 3.14 Sơ bộ hạch toán ảnh hưởng của bón phân hữu cơ vi sinh đến hiệu
quả kinh tế của giống chè Kim Tuyên 57Bảng 3.15 Ảnh hưởng của loại phân bón đến yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất giống chè Kim Tuyên 58Bảng 3.16 Ảnh hưởng của loại phân bón đến một số chỉ tiêu sinh hóacủa
giống chè Kim Tuyên 60Bảng 3.17 Sơ bộ hạch toán ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến hiệu
quả kinh tế của giống chè Kim Tuyên 61
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 3.1 Diện tích chè tại 3 địa điểm nghiên cứu so với toàn tỉnh 38
Biểu đồ 3.2 Diện tích chè giống mới tại 3 địa điểm điều tra 38
Biểu đồ 3.3 Diện tích chè giống mới tại 9 xã điều tra 39
Biểu đồ 3.4 Cơ cấu giống chè của 3 địa điểm nghiên cứu 42
Biểu đồ 3.5 Giá bán chè Kim Tuyên năm 2011 tại 3 địa điểm nghiên cứu 43
Biểu đồ 3.6 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến năng suất thực thu của giống chè Kim Tuyên 52
Biểu đồ 3.7 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất giống chè Kim Tuyên 55
Biểu đồ 3.8 Ảnh hưởng của loại phân bón đến năng suất thực thu của giống chè Kim Tuyên 59
Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm 1 33
Hình 2.2 Sơ đồ thí nghiệm 2 34
Hình 2.3 Sơ đồ thí nghiệm 3 35
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thái Nguyên là một tỉnh có diện tích và sản lượng chè đứng thứ hai trong
cả nước, với diện tích năm 2010 là 17.660 ha, trong đó chè kinh doanh 16.053 ha
và sản lượng chè búp tươi 171.900 tấn Tuy có diện tích trồng chè lớn nhưng chiếm phần lớn diện tích là trồng chè trung du, chiếm tới 66,79% Sản lượng chè xuất khẩu của Thái Nguyên năm 2009-2010 đạt hơn 7000 tấn, giá trung bình đạt
từ 1,4- 1,6 USD/kg Chè của Thái Nguyên đa số là xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô Với thương hiệu chè Thái Nguyên có từ lâu đời, hiện nay nguồn lợi thu
được từ chè của Thái Nguyên chính là chè xanh tiêu thụ trong nước Cùng với sự
nỗ lực chuyển đổi cơ cấu giống trong những năm vừa qua, đến nay tỉnh Thái Nguyên đã có một số giống chè mới có nguồn gốc nhập nội hoặc qua con đường lai tạo Chè xanh được chế biến từ một số giống chè nhập nội có hương vị thơm ngon, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng trong nước Trong các giống chè hiện nay, giống chè Kim Tuyên là giống chè được đánh giá là một trong số giống chè nhập nội có khả năng chế biến chè xanh có chất lượng cao, giá bán trên thị trường khá
ổn định Tuy nhiên, hiện nay tại một số khu vực trồng chè chính trong tỉnh Thái
Nguyên chưa đánh giá được thực trạng sản xuất, năng suất cũng như chất lượng của giống chè Kim Tuyên Bên cạnh đó, việc nghiên cứu để đưa ra các biện pháp
kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất mà vẫn đảm bảo bảo chất lượng của giống chè này cũng chưa được thực hiện Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn
trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số
tính chất đất và phân bón đến năng suất, chất lượng giống chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên”
Trang 122 Mục tiêu của đề tài
* Mục tiêu tổng quát
Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất, chất lượng chè trên cơ sở đó nghiên cứu áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên
*Mục tiêu cụ thể của đề tài:
- Đánh giá được thực trạng sản xuất và việc sử dụng phân bón cho giống chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón, phân bón qua
lá đến năng suất, chất lượng giống chè Kim Tuyên
3 Ý nghĩa của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung vào quy trình thâm canh các giống chè nhập nội khu vực Tân Cương nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến năng suất và chất lượng chè
1.1.1.1 Điều kiện đất đai và địa hình
So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ
pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là
80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường
- Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ
được phát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần
lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của cây chè như có
độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước những đất này
thường nghèo chất hữu cơ Vì thế, vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây chè bị hại Bởi thế không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4 Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000) [13]
- Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp Song trong những điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy: chè sinh trưởng trên loại đất pha
Trang 14cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt
- Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè trồng trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng Kinh nghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca
có mùi thơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè trồng ở khu vực thấp Nhiều tác giả ở Liên Xô (cũ) như: Kharabava, Đjêmukhatze đã xác định chè trồng ở nơi có địa thế càng cao hơn so mặt biển (trong một chừng mực nhất định) thì khuynh hướng tạo thành và tích lũy tanin càng lớn
Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới thường có độ cao hơn so mặt biển từ 500 đến 800 mét Vùng chè ngon có tiếng ở Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 mét
Chất lượng chè ở vùng cao tốt nhưng về sinh trưởng thường kém hơn ở vùng thấp Hướng dốc có ảnh hưởng đến khả năng tích lũy vật chất trong chè Cường độ tích lũy tanin và vật chất hòa tan phụ thuộc nhiều vào chế độ nhiệt Ở hướng dốc phía nam hàm lượng tanin và chất hòa tan trong búp chè cao hơn ở hướng dốc phía bắc [13]
1.1.1.2 Điều kiện độ ẩm và lượng mưa
Thực vật nói chung muốn hình thành nên một phần vật chất hữu cơ để cấu tạo thành cơ thể của chúng thì chúng phải cần tới 400 phần nước Chè
là loại cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước
và vấn đề cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè lại càng quan trọng hơn
Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100
Trang 15mm, nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh trưởng không tốt Chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85%
Lượng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thời gian sinh trưởng và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cao hay thấp Vùng chè Doomđome ở Bắc Ấn Độ lượng mưa phân bố nhiều vào tháng 5 tới tháng 8 cho nên sản lượng chè thu hoạch được trong năm cũng tập trung vào thời kỳ đó Vùng chè Mlanji (Nam Phi) lượng mưa tập trung vào tháng 11 đến tháng 4 nên sản lượng chè cao nhất trong năm cũng tập trung vào thời kỳ này Ở nước ta phân bố sản lượng chè trong năm cũng có quan hệ rõ rệt với tình hình phân bố lượng mưa trong các tháng
Nước có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phẩm chất chè Khi cung cấp đủ nước, cây chè sinh trưởng tốt, lá to mềm, búp non và phẩm chất có xu hướng tăng lên Những thí nghiệm về tưới nước cho chè ở Liên Xô (cũ) cho thấy, tùy điều kiện đất đai khí hậu khác nhau mà hiệu quả tăng sản của biện pháp tưới nước cũng khác nhau Vùng chè Gruzia tưới nước làm tăng sản bình quân 25 - 30%, vùng chè Kraxnoda 60 - 65%, vùng chè Lencôran thuộc Azecbaizan trên 200% Hiệu quả tăng sản của việc tưới nước cũng rất rõ rệt ở một số nước trồng chè khác như: Trung Quốc (vùng Chiết Giang và Vân Nam) tưới nước làm tăng sản 56,1% Ấn Độ (vùng Atxam) 60% và ở Tây Phi
217 - 293% Ở Việt Nam thí nghiệm tưới nước tại Phú Hộ (1958 - 1960) cũng cho năng suất búp tăng bình quân 41,5% Phẩm chất búp chè được tưới nước
đều tăng lên rõ rệt so với không tưới
Tưới nước là một biện pháp rất quan trọng đối với việc tăng sản lượng
và phẩm chất rất của cây chè Ngoài biện pháp tưới nước, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tổng hợp khác như cày đất, xới xáo, làm cỏ, mật
Trang 16độ, kết hợp phương thức trồng hợp lý, phủ đất, tủ gốc, chọn giống chịu hạn
v.v nhằm giải quyết tốt nhu cầu nước trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây chè mới đạt được sản lượng cao, phẩm chất tốt Kết quả thí nghiệm của trường trung cấp Sông Lô tại Nông trường Tân Trào và Tháng Mười cho thấy tủ gốc làm cho độ ẩm của lớp đất mặt (0 - 20 cm) và ở các lớp đất dưới nhiều hơn 5 - 6% và 3 - 4% so với đối chứng (không tủ gốc), năng suất búp chè tăng từ 15,6 đến 19,6%[13].
1.1.1.3 Điều kiện độ nhiệt không khí
Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt
nhất định Độ nhiệt bình quân hàng năm để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5oC và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 - 23oC Giới hạn độ nhiệt thấp đối với sinh trưởng của chè biểu hiện rõ rệt qua thời kỳ ngừng sinh trưởng trong mùa đông và sinh trưởng trở lại khi có độ nhiệt ấm áp của mùa xuân trong những vùng khí hậu á nhiệt đới Đối với sinh trưởng của cây trong thời kỳ này thì độ nhiệt không khí trở thành nhân tố sinh thái chủ yếu Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.000oC Độ nhiệt tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng được thay đổi tùy theo giống, có thể từ -5oC đến -25oC hoặc thấp hơn
Nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp Chiết Giang cho thấy độ nhiệt thích hợp đối với cây chè là 20 - 30oC, nếu độ nhiệt tăng dần, thì tác dụng xúc tiến việc hình thành và tích lũy tanin trong lá chè biểu hiện rất rõ rệt Độ nhiệt quá thấp hoặc quá cao đều giảm thấp việc tích lũy tanin Độ nhiệt cao quá 35oC thì quá trình tích lũy tanin bị ức chế và nếu độ nhiệt trên
35oC kéo dài liên tục, chè sẽ bị cháy lá Ngược lại khi độ nhiệt giảm thấp sẽ dẫn đến một loạt biến đổi về cơ năng sinh lý thành phần hóa học của búp chè,
ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng của cây và phẩm chất búp Độ nhiệt
thấp và khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù
Trang 17Độ nhiệt là một trong những nhân tố chủ yếu chi phối sự sinh trưởng
của búp và quyết định thời gian thu hoạch búp trong chu kỳ một năm Từ 16
độ vĩ nam đến 19 độ vĩ bắc, không có hai mùa nóng lạnh rõ rệt, cây chè sinh
trưởng quanh năm do đó búp cũng được thu hoạch quanh năm Từ 20 độ vĩ bắc đến 45 độ vĩ bắc, độ nhiệt mùa đông xuống thấp, sinh trưởng và thu hoạch chè đã có mùa rõ rệt Trong những vùng này nơi nào độ nhiệt bình quân mùa đông càng thấp và càng kéo dài thì thời gian sinh trưởng và thu hoạch búp chè ở đó càng ngắn
1.1.1.4 Điều kiện ánh sáng
Cây chè ở vùng nguyên sản sinh sống dưới tán rừng rậm, do vậy có tính chịu bóng rất lớn, nó tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ, ánh sáng trực xạ trong điều kiện độ nhiệt không khí cao, không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè Trong thực tế sản xuất, ở một số nước như Ấn Độ, Xrilanca thường áp dụng biện pháp trồng cây bóng mát cho chè
để hạn chế độ nhiệt cao và ánh sáng quá mạnh
Yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng cũng thay đổi tùy theo tuổi cây
và giống Chè ở thời kỳ cây con yêu cầu ánh sáng ít hơn, cho nên ở vườn
ươm, người ta thường che râm để đạt tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng nhanh
Giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn giống chè nhỏ
Các điều kiện chiếu sáng khác nhau có ảnh hưởng đến cấu tạo của lá và
thành phần hóa học của chúng
Cây chè được che bóng râm, hàm lượng các vật chất có đạm (cafein, N tổng số, protein ) trong búp và lá tăng lên và tích lũy nhiều hơn; các chất không có đạm (tanin, gluxit ) lại có chiều hướng giảm xuống Sự giảm thấp tanin, gluxit và tăng hàm lượng các vật chất có đạm trong lá chè ở một mức
độ nhất định thường có lợi cho phẩm chất chè xanh và không có lợi cho phẩm
Trang 18chất chè đen Vì vậy, trồng cây bóng mát cho chè thường áp dụng cho những vùng trồng chè sản xuất nguyên liệu để chế biến chè xanh
Do cường độ ánh sáng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phẩm chất chè cho nên điều tiết cường độ ánh sáng có thể làm cho năng suất chè tăng lên
rõ rệt Những kết quả nghiên cứu tại Trại thí nghiệm chè Tocklai (Ấn Độ) cho thấy: giảm độ chiếu sáng xuống 30% thì sản lượng búp tươi trong năm đầu tăng 34% so với xử lý cường độ chiếu sáng hoàn toàn và giảm độ chiếu sáng xuống 50% thì năng suất đạt cao nhất Song nếu tiếp tục giảm cường độ chiếu sáng xuống dưới 50% thì năng suất bắt đầu giảm thấp
Ánh sáng còn có quan hệ đến giai đoạn phát dục của cây chè: theo các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô (cũ) thì giống chè Ấn Độ và giống lai Trung -
Ấn nguyên sản ở vùng ngày ngắn, sinh trưởng trong điều kiện Gruzia (Liên
Xô (cũ)) ngày dài, không thể hoàn thành giai đoạn ánh sáng cho nên không ra hoa kết quả Song giống Trung Quốc lá nhỏ đã thích ứng với điều kiện ngày dài, cho nên trồng ở Gruzia vẫn ra hoa kết quả
Đối với giống chè Kim Tuyên tuy được đưa vào trồng tại các huyện
trồng chè của Thái Nguyên từ 2005, nhưng những nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu đến năng suất và chất lượng của giống chưa được
đề cập đến
1.1.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất và chất lượng chè
Cây trồng nói chung và cây chè nói riêng cũng như tất cả các cơ thể sống bình thường khác đều cần thức ăn cho sự sinh trưởng, phát triển Cây trồng sinh trưởng và phát triển được là nhờ hút chất khoáng từ đất và phân bón, thực hiện quá trình quang hợp từ nước và cácboníc dưới tác động của ánh sáng mặt trời Trong thành phần của cây trồng có mặt hầu hết các chất hoá học tự nhiên (khoảng 92 nguyên tố), nhưng chỉ có 16 nguyên tố thiết yếu với cây trồng, trong đó có 13 nguyên tố khoáng Đạm (N), lân (P), kali (K)
Trang 19được cây trồng hút/lấy đi với số lượng lớn được gọi là Nguyên tố đa lượng
canxi (Ca), magiê (Mg), lưu huỳnh (S) được cây trồng lấy đi với số lượng ít
hơn nhưng cũng đáng kể nên được gọi là Nguyên tố trung lượng Sắt (Fe),
kẽm (Zn), mangan (Mn), đồng(Cu), Bo(B), Molypden (Mo), Clor(Cl) được
cây trồng hút/lấy đi với số lượng nhỏ nên được gọi là Nguyên tố vi lượng
Sinh trưởng và phát triển của cây có thể bị ảnh hưởng bởi tương tác giữa hai hay nhiều chất dinh dưỡng, do vậy, sự thiếu hụt đồng thời nhiều chất xảy ra cùng một lúc sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Sự thiếu hụt đa nguyên tố này có thể xảy ra trong trường hợp đất cung cấp không đủ một vài nguyên tố hoặc do bón phân mất cân đối nghiêm trọng (chỉ bón đạm, lân, kali
mà không bón các nguyên tố trung và vi lượng ) ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Khi xuất hiện triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng, trước hết chúng ta cần phải xác định xem sự thiếu hụt là đơn hay đa nguyên tố từ
đó mới xác định được nguyên tố cần bón và lượng bón thích hợp Vì vậy, bón
phân cân đối và hợp lý là yếu tố cần thiết nhằm đảm bảo cho cây trồng cho năng suất và chất lượng tốt nhất Nguyễn Xuân Trường, (2005) [17]).
Cây chè có khả năng hút dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Mặc dù với
điều kiện khí hậu miền Bắc của nước ta về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh
trưởng, nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm
Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh trưởng sinh thực cho chè hái búp và khống chế sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch quả giống
Theo nhiều nghiên cứu, cây chè không yêu cầu nghiêm ngặt lắm về đất, nhưng đất trồng chè thích hợp nhất phải là loại đất giàu hữu cơ, chua, tơi xốp,
có tầng canh tác dày, mực nước ngầm sâu Các loại đất phù hợp trồng chè là
Trang 20các loại đất đỏ vàng phát triển trên đá sét, biến chất, đá bazan, phù sa cổ Nói chung chè sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao trên các loại đất tốt có hàm lượng hữu cơ trung bình- giàu (> 2%), N tổng số giàu (> 0,2%), kali dễ tiêu trung bình (10-15mg/100g đất); lân dễ tiêu giàu (30-32mg/100g đất) và
có đủ các nguyên tố vi lượng như Mn, Al, Zn [13]
Chè ưa đất chua có độ pHKCL 4,5-5,5 và kỵ Ca++, nếu nồng độ Ca++ trong đất lớn hơn 0,2% thì cây chè có thể bị ngộ độc và chết [13]
Khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng của cây chè rất rộng rãi
Nó có thể sống ở nơi đất rừng màu mỡ mới khai phá song cũng có thể sống ở những nơi đất nghèo dinh dưỡng và vẫn cho năng suất nhất định Do đặc điểm
đó, muốn nâng cao năng suất chè cần phải bón phân đầy đủ
Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch từ 5 – 10
tấn/ha, vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp Giống chè Kim Tuyên là giống chè nhập nội, yêu cầu dinh dưỡng khá cao nhất là hàm lượng mùn, để có thể xây dựng được quy trình bón phân cho giống chè Kim Tuyên thì việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng trong đất tới năng suất và chất lượng là cần thiết
1.1.3 Cơ sở khoa học của dùng phân bón sinh học cho chè
Hệ sinh vật trong đất quyết định độ phì của đất, vì chúng phân huỷ chất hữu cơ thành mùn Đất cần phải được coi là vật thể sống do đó cần được
chăm sóc Đất sống có nghĩa là trong đất có vô vàn vi sinh vật hoạt động và
quyết định độ màu mỡ của đất Do vậy, nếu bón nhiều phân hoá học thì độ phì của đất sẽ bị giảm Phân vi sinh không những không tiêu diệt vi sinh vật trong
đất mà còn cung cấp cho cây trồng nguồn thức ăn đạm, lân Xây dựng nền
nông nghiệp hữu cơ bền vững Bón phân vi sinh làm cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn và làm tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, khai thác cây
Trang 21trồng hiệu quả hơn - tăng thời gian sử dụng cây trồng Bón phân vi sinh làm giảm tối đa hàm lượng độc tố NO-3 tồn đọng trong nông sản Bón phân vi sinh làm tăng độ phì nhiêu của đất, khai thác đất hiệu quả bền vững (lâu dài) Bón phân vi sinh là một trong những điều kiện làm cho nông sản an toàn và sạch
Ngày 21/8/2011 UBND tỉnh Thái Nguyên đã phê duyệt đề án nâng cao năng lực sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011-
2015 Theo đề án đến năm 2015 có 100% diện tích chè tại các vùng sản xuất chè tập trung của tỉnh đáp ứng yêu cầu sản xuất an toàn theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (VIETGAP) Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay số gia
đình thực hiện quy trình sản xuất chè an toàn chiếm tỉ lệ rất nhỏ, chất lượng
sản phẩm không đồng đều, hiện tượng lạm dụng các loại phân bón hoá học cũng như thuốc bảo vệ thực vật làm nguy cơ mất an toàn cho sản phẩm vì vậy nghiên cứu các biện pháp canh tác hữu cơ nhằm đảm bảo năng suất và nâng cao chất lượng chè là vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay
1.1.4 Cơ sở khoa học của phân bón qua lá
Bón phân qua lá có vai trò làm gia tăng trong dinh dưỡng cây trồng
và đã được nông dân áp dụng nhiều năm nay ở khắp nơi trên thế giới Phun phân bón qua lá là kỹ thuật cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng qua lá
Kỹ thuật này được phát hiện từ những người làm vườn ở Châu Âu từ thế kỷ thứ 17 và phải hơn 1 thế kỷ sau nó mới trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học Nhưng chỉ những năm gần đây, khi các phương pháp đánh giá quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng qua lá phát triển thì công việc nghiên cứu và ứng dụng bón phân qua lá mới được phát triển mạnh Hiện nay, các nghiên cứu và ứng dụng về các loại phân lỏng và vai trò của phun qua lá đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ Lê Văn Tri, 2002 [16]
Cung cấp (phổ biến là bằng cách phun) chất dinh dưỡng trong phân bón qua lá được sử dụng để bổ sung các chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón Bằng cách cung cấp phân bón qua lá, hiệu
Trang 22quả sử dụng phân bón có thể tăng từ 8 – 20 lần so với bón phân qua gốc, ngoài ra cung cấp phân qua lá còn là biện pháp trợ giúp cây trồng chống lại sự thay đổi và điều kiện khắc nghiệt của thời tiết[16]
Bón phân qua lá là cách tốt nhất để nâng cao năng suất và sức sống của cây trồng Nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng, bón phân qua lá tăng năng suất từ 12 - 25% so với cách bón phân thông thường Nghiên cứu ở nhiều loại cây trồng trong nhiều điều kiện ngoại cảnh khác nhau cho thấy: với cùng một lượng dinh dưỡng nếu phun phân qua lá cây sẽ hấp thụ được 90%, trong khi bón qua đất cây chỉ hấp thụ được 10%, đặc biệt
ở các vùng đất cát pha bón phân qua lá hiệu quả gấp 20 lần bón phân qua đất
Bón phân qua lá là phương pháp hiệu quả nhất để điều chỉnh sự thiếu hụt chất trong đất và giải quyết được vấn đề chuyển hóa dinh dưỡng trong điều kiện khô hạn
Hiện tượng thiếu dinh dưỡng xảy ra khi khả năng hấp thu của bộ rễ bị giới hạn hoặc bị ngăn cản trong một thời gian, do đó không đủ cung cấp theo nhu cầu của cây Nguyên nhân gây nên hiện tượng này có thể do rễ bị tổn thương (do bị bệnh hoặc tổn thương cơ học), do những điều kiện của đất không bảo đảm tốt cho bộ rễ hấp thu dinh dưỡng hoặc do nhu cầu dinh dưỡng
ở đỉnh cao vượt quá khả năng cung cấp, chất dinh dưỡng bị bất động hóa bởi
các vi sinh vật, sự mất cân đối dinh dưỡng trong đất, do thiếu oxy hay khô hạn gây cản trở bộ rễ hút chất dinh dưỡng Do vậy, bón phân qua lá giúp hiệu chỉnh hiện tượng thiếu dinh dưỡng vì phân bón được phun ngay vào thời kỳ
đang thiếu Khi phân bón xuống đất có thể không phát huy được hiệu quả đối
với một vài nguyên tố nào đó (như Mn trong đất có pH cao) thì phân bón qua
lá giúp ngăn ngừa hiện tượng thiếu dinh dưỡng này.[16]
Việc bón phân qua lá phần nào thay thế hoặc bổ sung cho phương pháp bón phân qua rễ, nhưng không bao giờ thay thế hoàn toàn Bón phân qua lá
Trang 23giúp duy trì sự phát triển khỏe mạnh của cây và làm gia tăng chất lượng nông sản vì có thể áp dụng đúng lúc, đúng nơi, độc lập với các điều kiện đất đai và nhất là khả năng tác động nhanh của nó
Sự gia tăng năng suất ngoài mong đợi sau khi áp dụng bón phân qua lá
là do sự liên hợp dẫn đến gia tăng sự hấp thu dinh dưỡng từ bộ rễ Sự gia tăng này là do bón phân qua lá tạo nên sự cân bằng các chất dinh dưỡng bị thiếu,
mà đó lại là yếu tố giới hạn sự quang hợp và sản xuất sinh học Phân bón lá
được sản xuất kết hợp với nhiều nguồn Enzim chiết suất từ động thực vật, sinh
vật hoặc vi nấm, các vi lượng cần thiết giúp cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn Do vậy phương pháp dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong điều kiện đất nghèo dinh dưỡng và sự hấp thu dinh dưỡng của cây bị hạn chế Việc áp dụng phân bón qua lá từ 2-3 lần ở những thời điểm thích hợp hoàn toàn có thể
đáp ứng được nhu cầu của cây và cải thiện được năng suất cây trồng (Lê Văn
Tri, 2002 [16]; Nguyễn Xuân Trường, 2005. [17])
1.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè trên thế giới
1.2.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Cây chè (Camellia sinensis) là một trong những cây công nghiệp chủ
yếu của một số nước trên thế giới Không chỉ ở Việt Nam và một số nước Châu
Á khác chè ngày nay đã trở thành một trong những đồ uống thông dụng nhất Tính đến năm 2010, diện tích chè toàn thế giới đạt 3.117.531 ha, tăng 469.043
ha, tương đương với 19,64% so với năm 2004 Trong đó Trung Quốc là nước
có diện tích chè lớn nhất với 1.419.500 ha, chiếm 45,53% diện tích chè toàn thế giới Ấn Độ là nước đứng thứ 2 về diện tích chè và đạt 583.000 ha, chiếm 18,70%, Srilanca là đất nước đứng thứ ba trên thế giới về diện tích và sản
lượng chè với diện tích 218.300 ha (FA0-2011) Diện tích, năng suất, sản
lượng chè một số nước trên thế giới được trình bày qua bảng 1.1
Trang 24Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới và một số nước
trồng chè chính năm 2010
STT Tên nước Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tạ khô/ha/năm)
Sản lượng khô (1000 tấn)
1.2.2 Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới
Theo đánh giá của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), đến cuối những năm của thế kỷ XX đã có trên một nửa dân số Thế giới uống chè, trong đó có khoảng 160 nước có nhiều người uống chè Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người một năm trên thế giới là 0,5 kg Những nước có mức tiêu dùng chè cao bình quân đầu người một năm là: Quata 3,2 kg, Ailen 3,09 kg, Anh 2,87 kg, Thổ Nhĩ Kỳ 2,72 kg, Iraq 2,59 kg, Coet 2,23 kg, Tuynidi 1,82
kg, Braxin 1,45 kg, Ai Cập 1,44 kg, Srilanka 1,41 kg Việt Nam hiện có mức tiêu thụ thấp (0,36 kg/người/năm) Các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ có mức tiêu dùng bình quân đầu người thấp (tương ứng 0,55 kg, 0,3 kg, 0,45 kg)
Trang 25nhưng do dân số đông nên lại là nước tiêu dùng chè hàng năm rất lớn (Ấn Độ
620 - 650 nghìn tấn, Trung Quốc 430 - 450 nghìn tấn, Mỹ 90 - 100 nghìn tấn) Các nước Anh, Nga, Nhật, Pakistan cũng là những nước tiêu dùng mỗi năm từ 100 đến 200 nghìn tấn Các nước Maroco, Đức, Pháp, Ba Lan, Iran, Iraq, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ có mức tiêu thụ chè hàng năm cũng từ trên
10 nghìn tấn/năm Ở khu vực Châu Phi, các nước Ai Cập, Nam Phi, Lybi, Tunisia chủ yếu nhập chè đen Riêng Ai Cập mỗi năm nhập 60 – 70 nghìn tấn Người dân Ai Cập và khách du lịch đều ưa thích loại chè có màu đỏ tươi sáng
vì vậy chè mảnh CTC được ưa thích ở thị trường này
1.3 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè tại Việt Nam
1.3.1 Vai trò của ngành sản xuất chè ở Việt Nam
Hiện nay với khoảng 130 ngàn ha diện tích chè, Việt Nam là nước sản xuất, xuất khẩu chè đứng thứ 5 trên thế giới Ngành chè thu hút được một lực +-lượng lao động lớn với hơn 6 triệu người tại 34 tỉnh thành trên cả nước, đặc biệt là tại các tỉnh miền núi Từ chỗ chỉ có 2 loại chè xuất khẩu là chè đen và chè xanh, đến nay Việt Nam đã có đầy đủ các loại chè phục vụ nhu cầu đa dạng của thế giới Chè Việt Nam đã xuất khẩu tới hơn 110 thị trường trên thế giới Ngoài các thị trường xuất khẩu chủ lực là Pakistan, Nga, Đài Loan, chè Việt Nam đã tham gia thị trường Nhật Bản với hình thức liên doanh, liên kết bao tiêu sản phẩm và thâm nhập được vào thị trường Bắc Mỹ và châu Âu Một số thị trường khác cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ như: Ấn Độ, Indonesia, Malaysia Tuy nhiên, chất lượng chè chỉ ở mức trung bình và giá
Trang 26bình quân chỉ đạt 1,4 USD/kg so với 2,28 USD/kg giá bình quân của 8 sàn chè quốc tế
Việc sản xuất chè có một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh
tế nói chung và trong phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng Phát triển ngành chè góp phần thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp, tạo công ăn việc làm cho người nông dân, giúp người nông dân tăng thu nhập, nâng cao mức sống, xoá đói giảm nghèo cho các vùng, đồng thời việc trồng chè đã nâng cao việc sử dụng hiệu quả đất đai ở vùng miền núi trung du, giúp đồng bào dân tộc ít người có thu nhập Chè cũng đem lại nhiều lợi nhuận cho nhà nước thông qua việc xuất khẩu sản phẩm chè
Trong số ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam, chè được đánh giá là ngành có nhiều tiềm năng Với điều kiện thổ nhưỡng khí hậu thích hợp, hơn nữa lại được trồng ở vùng trung du và miền núi rộng lớn mà việc trồng loại cây gì cho có hiệu quả kinh tế cao còn chưa rõ nét thì cây chè ít nhiều đã khẳng định được vị trí kinh tế tại đây Chính vì vậy diện tích trồng chè trên cả nước trong vài năm gần đây đã tăng mạnh, với 130 ngàn ha chè năm 2010 Sản phẩm chè Việt Nam đã xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, được người tiêu dùng nước ngoài chấp nhận
1.3.2 Diện tích, năng suất chè trong cả nước
Qua bảng 1.2 cho thấy: tính đến 2010 diện tích chè ở Việt Nam là 129,40 nghìn ha, tăng gần gấp 2 lần so năm 1999 (69,5 nghìn ha) Đến nay diện tích chè ở nước ta đứng thứ 5 trên thế giới sau: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Kenia
- Về năng suất: mười năm qua năng suất chè bình quân cả nước tăng liên tục và đạt bình quân 17,53 tạ búp khô/ha vào năm 2010 Năng suất và sản lượng chè tăng là do giá chè và đặc biệt là thị trường tiêu thụ chè trong những năm vừa qua tương đối ổn định, đã kích thích người làm chè đầu tư thâm canh tăng năng suất và ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Trang 27Bảng 1.2 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè ở Việt Nam
giai đoạn 2000 - 2010
Năm Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tạ khô/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Xuất khẩu (1000 tấn)
(Nguồn: Hiệp hội chè Việt Nam, năm 2011)
1.3.3.Tình hình chế biến chè trong những năm vừa qua
1.3.3.1 Các cơ sở chế biến chè chính trong cả nước
Hiện ngành chế biến chè cả nước có tổng công suất theo thiết kế 4.646 tấn/ngày, năng lực chế biến gần 1,5 triệu tấn búp/năm Trong đó, có hơn 450
cơ sở chế biến chè quy mô công suất từ 1.000 kg chè búp tươi/ngày trở lên Tuy nhiên, để ngành chè phát triển và nâng cao giá trị cần có mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa người trồng chè với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ Ngành chè cần phải thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm chè Việt Nam Phấn đấu trong vòng 5 năm tới (2011-2015) ổn định diện tích ở 130 ngàn ha, với mức tăng trưởng sản lượng 6%/năm, đưa kim ngạch xuất khẩu tăng ít nhất 2 lần so với hiện nay Để đạt
Trang 28được những mục tiêu này, ngành chè cần căn cứ vào nhu cầu thị trường, khẩn
trương cơ cấu lại và đa dạng hóa sản phẩm trà Tập trung đầu tư mới và nâng cấp các nhà máy chế biến theo hướng hiện đại, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao cũng như tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa người trồng chè với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn định, tăng thu nhập cho người trồng chè
1.3.3.2 Thực trạng chất lượng thiết bị và trình độ công nghệ chế biến chè
Mặc dù nhiều cơ sở chế biến đã tiếp thu và ứng dụng công nghệ chế biến chè đen OTD, CTC; Công nghệ chế biến chè xanh của Trung Quốc, Nhật Bản, nhưng đánh giá chung toàn ngành trình độ công nghệ chế biến chè của Việt Nam mới chỉ đạt mức trung bình yếu, sản phẩm chè của Việt Nam bán ra thường thấp hơn mức giá trung bình của Thế giới 20 – 30% và một tỷ lệ khá lớn sản phẩm chè bán ra là loại bán thành phẩm, chất lượng sản phẩm chè chưa cao, mức giá bán ra thấp Ngoài các nguyên nhân về chất lượng nguyên liệu (do giống, kỹ thuật canh tác, thu hái chi phối); chất lượng trình độ tay nghề công nhân chế biến thấp còn phải kể đến sự hạn chế của các dây chuyền thiết bị đang sử dụng trong các cơ sở chế biến
- Những năm gần đây đã xuất hiện một số cơ sở chế biến tiên tiến xây dựng tại Việt Nam thông qua các hoạt động liên doanh – liên kết và đầu tư trực tiếp của nước ngoài như:
+ Dây chuyền chế biến hiện đại của Ấn Độ đầu tư vào Công ty chè Phú Bền + Dây chuyền nhà máy chế biến hợp tác với Nhật Bản ở Thái Nguyên + Dây chuyền sản xuất chè xanh bằng thiết bị và theo công nghệ Đài Loan tại Lâm Đồng, Sơn La (sản xuất chè cao cấp: Ôlong)
+ Một số dây chuyền thành phẩm công nghệ Ý
Trang 291.3.4 Chủng loại sản phẩm và chất lượng sản phẩm chè
Từ thực trạng các cơ sở chế biến chè như vậy nên sản phẩm chế biến chè của ta hiện nay chưa thật đa dạng và còn những nhược điểm như: phần lớn sản phẩm là dạng chè rời, chè bán thành phẩm; chè chất lượng trung bình
và thấp chiếm tỷ trọng lớn; chè thành phẩm (bao gói, túi lọc, chè tan), chè chất lượng cao (chè Ôlong) chiếm tỷ trọng rất nhỏ
Trong cơ cấu sản phẩm chè chế biến: Chè đen OTD chiếm 62,4%, chè
đen TCT chiếm 14,05%; chè xanh các loại 23,55%
1.3.5 Tình hình tiêu thụ chè trong những năm vừa qua
1.3.5.1 Thị trường trong nước
Theo Hiệp hội chè Việt Nam: Hiện nay, tiêu thụ chè trong nước rất đa dạng và phong phú về chủng loại Chỉ tính riêng chè búp chế biến mức tiêu thụ bình quân đầu người ở Việt Nam hiện nay khoảng 0,36 kg/người/ năm, là một chỉ tiêu thấp so với các nước khác Do đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của từng vùng mà hình thức và mức độ tiêu dùng chè khác nhau trong cả nước
- Chè lá tươi pha trực tiếp: Được hầu hết người dân Bắc Trung Bộ,
một số tỉnh Đồng Bằng Sông Hồng ưa thích, kể cả các dịp lễ tết, hiếu, hỷ
- Chè đã qua chế biến:
+ Chè cấp cao chế biến thủ công: Dùng cho người có thu nhập cao, những người uống chè sành điệu theo phương pháp cổ truyền Hiện nay xuất hiện một số giống chè mới chất lượng cao để chế biến chè cao cấp, giá thường
100 - 200 nghìn đồng/kg
+ Chè nội tiêu bình thường: Dùng cho đại bộ phận dân cư Chè được chế biến thủ công, đóng gói hoặc để rời, giá 30 - 50 nghìn đồng/kg
Trang 301.3.5.2 Thị trường xuất khẩu
Bảng 1.3 Số lượng và giá trị xuất khẩu chè của Việt Nam từ năm 2000
đến năm 2011 Năm SL xuất khẩu
(1000 Tấn)
Giá trị (Tr USD)
Giá bình quân (USD/Tấn)
So sánh giá VN/giá TG (%)
(Nguồn: Bộ Công thương năm 2011)
Bảng 1.4 Thị trường xuất khẩu chè năm 2011 của Việt Nam
ĐVT: Lượng (tấn); Trị giá (USD )
so năm 2010 Thị trường
Trang 31Ngành chè Việt Nam đã xuất khẩu đến 110 quốc gia và khu vực trên thế giới, trong đó có 3 nước đạt kim ngạch trên 10 triệu USD là Pakistan , Nga, Trung Quốc Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu chè đạt xấp xỉ 200 triệu USD, tuy giảm nhẹ so với năm 2010 nhưng cao gấp 3,4 lần so với năm 2000
Đó là do sản phẩm đã đa dạng hơn, đã xóa bỏ hẳn độc quyền xuất khẩu; hiện
có khoảng trên 220 doanh nghiệp đủ mọi thành phần tham gia xuất khẩu chè
và các nhà xuất khẩu đã năng động hơn trong việc tìm kiếm thị trường Cho
đến nay, sản phẩm thương hiệu “CheViet” đã được đăng ký và bảo hộ tại 70
thị trường quốc gia và khu vực thuộc cả 5 châu lục Như vậy, chè Việt Nam
đã gia tăng thị phần, dù cho ở mức khiêm tốn (khoảng 6% lượng xuất khẩu
toàn cầu)
1.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Thái Nguyên
1.4.1 Diện tích và cơ cấu giống
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển của cây chè Vùng chè trọng
điểm của tỉnh Thái Nguyên tập trung ở 6 huyện thị trên tổng số 9 huyện thị
của tỉnh Tính đến nay, tỉnh Thái Nguyên có diện tích đất nông nghiệp là 275.310,11 ha, trong đó diện tích đất trồng chè là 16.726 ha, chủ yếu thuộc nhóm Feralit, nằm ở độ cao 20 - 200m so với mực nước biển, rất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây chè Các loại đất có ưu thế phát triển chè hơn cả là đất vàng đỏ trên phiến thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù sa cổ [19] Chè Thái Nguyên phát triển tập trung ở một số huyện như Định Hoá, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương, Phổ Yên, TP Thái Nguyên Cùng với sự hỗ trợ tạo điều kiện của Nhà nước, những năm gần đây nhiều giống chè mới giâm bằng cành đã được đưa vào các huyện nhằm nâng cao diện tích, năng suất
Trang 32Bảng 1.5 Diện tích, sản lượng chè búp tươi ở một số vùng chè
của tỉnh Thái Nguyên
Chỉ tiêu
Khu vực
Diện tích (ha)
Sản lượng búp tươi (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng búp tươi (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng búp tươi (tấn)
(Nguồn: Số liệu thống kê 2011) [19] Niên giám thống kê 2011 tỉnh Thái Nguyên
Nhận xét: Số liệu bảng 1.5 cho thấy, các huyện trồng nhiều chè hiện nay của Thái Nguyên tập trung tại một số khu vực: Thành phố Thái Nguyên, Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại Từ Diện tích cũng như sản lượng chè búp tươi của
cả tỉnh không ngừng tăng lên Diện tích chè năm 2010 so với 2008 đã tăng
666 ha, sản lượng tăng 22.645 tấn Cơ cấu giống chè trong những năm qua đã
có nhiều thay đổi, giống chè Trung Du đã được thay bằng các giống chè nhập nội và chọn tạo có năng suất cao, chất lượng tốt được người tiêu dùng chấp nhận Cơ cấu giống chè hiện nay của tỉnh được trình bày qua bảng 1.6:
Trang 33Bảng 1.6 Cơ cấu giống chè của tỉnh Thái Nguyên
Chỉ tiêu
Khu vực
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Số liệu thống kê 2011) [19] Báo cáo của Ủy ban nhân dân
tỉnh Thái nguyên tại Festival chè 11/2011
Kết quả bảng 1.6 cho thấy cơ cấu diện tích chè của Thái Nguyên đã thay đổi rất lớn, từ chỗ năm 2001 diện tích chè trung du lá nhỏ chiếm tới 92,09% thì đến năm 2011 diện tích chè giống mới đã lên tới 6.041 ha, chiếm 34,33% tổng diện tích Tỉnh có kế hoạch phấn đấu đến năm 2015 diện chè giống mới trên toàn tỉnh sẽ lên tới 50%
1.4.2 Thực trạng chế biến và tiêu thụ chè tại Thái Nguyên
Hiện nay, Thái Nguyên có 28 cơ sở chế biến công nghiệp, tổng công suất 776 tấn búp tươi/ngày (120.280 tấn búp tươi/năm) Tuy nhiên, chủ yếu là công nghệ cũ của Liên Xô (cũ) và Ấn Độ do vậy sản phẩm chưa đáp ứng
được yêu cầu của một số thị trường khó tính như EU, Mỹ Ngoài ra trên địa
bàn tỉnh còn có hàng chục xưởng chế biến thủ công bán cơ giới và và hàng vạn lò chế biến thủ công của các hộ gia đình
Năm 2010, chế biến chè trong nhân dân chiếm 66,34% sản lượng chè toàn tỉnh Chủ yếu chè chế biến ở hộ gia đình là chè xanh thành phẩm tiêu dùng hàng ngày và chè bán thành phẩm làm nguyên liệu cho chế biến công nghiệp Đã có 63,7% so với tổng số hộ trồng chè sử dụng 29.353 máy chế biến chè các loại, bình quân cứ 1,5 hộ có 1 máy chế biến chè Do áp dụng công cụ chế biến bằng máy và công cụ cải tiến đã giảm được 2/3 thời gian chế
Trang 34biến, giảm công chế biến chỉ còn 1/4, tiết kiệm chất đốt được 1,6 - 2 lần làm cho giá thành chè bán thành phẩm hạ xuống một cách đáng kể (Quy hoạch vùng chè Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015)
Về tiêu thụ sản phẩm: Số liệu xuất khẩu chè trực tiếp từ các doanh nghiệp chè đóng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua 2 năm được trình bày qua bảng 1.7:
Bảng 1.7 Số lượng chè xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên
lượng (tấn)
Trị giá (1000 USD)
Số lượng (tấn)
Trị giá (1000 USD)
(Nguồn: Sở Công thương Thái Nguyên tháng 12 năm 2010)
Số liệu bảng 1.7 cho thấy, lượng chè xuất khẩu trực tiếp từ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chỉ đạt khoảng 30% tổng sản lượng chè toàn tỉnh, giá trung bình chỉ đạt 1,24 USD/1kg năm 2009 và 1,38 USD năm 2010 thấp hơn giá chè xuất khẩu trung bình của toàn quốc và của thế giới Một số công ty chè lớn như Công ty TNHH MTV chè Sông Cầu,
Trang 35không xuất khẩu chè trực tiếp mà xuất khẩu gián tiếp thông qua Tổng công
ty chè Việt Nam Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, còn có Công ty cổ phần chè Hoàng Bình, công ty chuyên sản xuất các loại chè xanh chất lượng cao
được chế biến từ chè Trung Du, sản phẩm của công ty phần lớn được tiêu thụ
trong nước, giá bán chè xanh cao, dao động từ 100 - 400.000 đ/kg tùy vào chất lượng chè và bao bì đóng gói Tại huyện Đại Từ còn có Hợp tác xã chè
La Bằng, nhưng hoạt động của hợp tác xã cũng chủ yếu là thu mua chè trung
du loại ngon sau đó đóng gói Không có những hợp đồng mang tính pháp lý giữa các hộ dân bán chè cho hợp tác xã cũng như ngược lại
Năm 2011, giá chè trong nước có xu hướng tăng dần và ổn định vào cuối quý III Tại thành phố Thái Nguyên, giá chè búp khô và chè chất lượng cao đều tăng nhanh từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 8 Giá chè búp khô tăng từ 90.000 đ/kg (ngày 1/7/2011) tăng lên 200.000 đ/kg (30/8/2011); chè chất lượng cao cũng tăng từ 180.000 đ/kg (ngày 1/7/2011) lên mức 320.000 đ/kg (ngày 26/9/2011)
1.5 Kết quả tổng hợp nghiên cứu chè liên quan đến lĩnh vực của đề tài
1.5.1 Nghiên cứu chọn giống chè, nguồn gốc giống chè Kim Tuyên
* Kết quả nghiên cứu chọn giống chè
Theo Đỗ Văn Ngọc (2005) [11],Viện Khoa học kỹ thuật miền núi phía Bắc, đã nghiên cứu chọn tạo và nhân giống chè chất lượng cao trong giai đoạn
từ năm 2000 đến 2004 Kết quả đã công nhận giống LDP1 là giống quốc gia, 7 giống khảo nghiệm có nguồn gốc từ Trung Quốc; và 13 cây chè shan đầu dòng khảo nghiệm trong sản xuất Cơ cấu giống chè đã thay đổi với 35,15% diện tích giống chè mới chọn lọc và trồng bằng cành Chỉ trong vòng 5 năm tỉ
lệ diện tích trồng giống mới chọn lọc đã tăng khoảng 22% so trước 2000, năng suất chè cũng đạt 5,288 tấn/ha (tăng 43,69% so trước 2000) Tập đoàn giống chè được thu thập bảo quản để khai thác cũng tăng 54 giống, tăng 36,4% so tổng số giống bảo quản Kết quả trồng khảo nghiệm các giống chè
Trang 36Trung Quốc nhập nội cho thấy: Tại các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Tĩnh,
Hà Giang, Sơn La, Lâm Đồng các giống đã nhập vào Việt Nam năm 2000 gồm: PT95, Keo Am Tích (KAT), Phú Thọ 10 (PT10), Hoa Nhật Kim (HNK), Phúc Vân Tiên (PVT), Thiết Bảo Trà (TBT), Long Vân 2000 (LV2000), Hùng Đỉnh Bạch (HĐB) Kết quả cho thấy 4 giống PT95, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, và Hùng Đỉnh Bạch là 4 giống sinh trưởng phát triển tốt hơn cả Giống Thiết Bảo Trà sinh trưởng phát triển kém nhất Năng suất cao nhất 2 giống Phúc Vân Tiên và PT95 Chất lượng chè xanh của tất cả các
giống đều xếp loại khá, trong đó chất lượng tốt nhất là giống Keo Am Tích
Đánh giá, bình tuyển các giống chè có nguồn gốc Đài Loan gồm 5
giống: Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Ôlong Thanh tâm, D4 và Bát Tiên nhập vào Việt Nam trước năm 2000 Kết quả đã thông qua HĐKH Bộ NN& PTNT 7 giống chè nhập nội là: Phúc Vân Tiên, Hùng Đỉnh Bạch, Keo Am Tích, PT95, Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Bát Tiên năm 2003
Lê Đình Giang (2006) [5], khi nghiên cứu mô hình trồng 3 giống chè là Keo Am Tích, Phúc Vân Tiên, PT 95 tại Phú hộ cho thấy: Trong 3 giống theo dõi, giống Phúc Vân Tiên có thời gian thu hoạch búp từ tháng 3 đến tháng 12 nên năng suất cao hơn các giống còn lại
* Nguồn gốc giống chè Kim Tuyên
Đây là giống mang mã số 12 của Đài Loan được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính giữa mẹ là Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975 Nhập nội vào Việt Nam năm 1994, trồng ở các vùng chè có điều kiện sản xuất chè Ôlong, chè xanh chất lượng cao
Trang 37- Sinh trưởng: Cây sinh trưởng khoẻ, mật độ búp dày, có tỷ lệ sống cao Cây chè 4- 5 tuổi tán rộng trung bình 117 cm; cây chè 5 tuổi tại Lâm Đồng
đạt 10500 kg búp/ha; cây chè 4 tuổi tại Lạng Sơn năng suất đạt 4500 kg búp
/ha Nhân giống bằng giâm hom có tỷ lệ sống cao
- Chất lượng: Chế biến chè xanh có chất lượng rất cao Thành phần một số chất: axit amin tổng số 1,6%; Catechin tổng số (mg/gck) 135; Tanin 26,97%; Chất hoà tan 38,85%
1.5.2 Các nghiên cứu về phân bón đến năng suất, chất lượng chè
Đặng Văn Minh (2003) [9] khi phân tích tương quan giữa một số yếu tố hóa, lý tính đối với năng suất chè Trung du trồng tại Đồng Hỷ- Thái Nguyên cho thấy: trong 13 yếu tố nghiên cứu chỉ có 10 nguyên tố là tương quan hồi quy tuyến tính với năng suất chè Khi áp dụng phân tích hồi quy tuyến tính đa nhân tố với biến phụ thuộc là năng suất chè và các biến độc lập là các nhân tố
độc lập đã được xác định, chỉ có 4 yếu tố là cacbon hữu cơ, kali tổng số, lân
dễ tiêu và khả năng chứa ẩm là có ý nghĩa về mặt thống kê
Đặng Văn Minh (2004) [10] khi sử dụng hàm sản xuất Cobb- Douglas
để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất chè cho thấy: ở điều kiện
nghiên cứu, năng suất chè tỷ lệ thuận với các yếu tố phân bón, điều kiện thâm canh và trình độ của nông hộ, tỷ lệ nghịch với tuổi chè Bón vôi và phân hữu
cơ là hai yếu tố ít ảnh hưởng đến năng suất chè
Biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp cho cây chè muốn áp dụng thành công cần kết hợp các biện pháp đồng bộ như: mức độ đầu tư, thâm canh, phương pháp kết hợp thăm đồng phát hiện ngưỡng sâu bệnh hại và cần phải phun thuốc phòng trừ theo đúng nguyên tắc
Nghiên cứu của Phạm Văn Chương và cs (2007) [3]: Bón phân hữu cơ sinh học kết hợp với sử dụng phân bón lá, thuốc bảo vệ thực vật sinh học và
hệ thống tưới phun có tác dụng nâng cao năng suất và chất lượng chè nguyên liệu Với lượng bón cho 1 ha, 10-15 tấn phân hữu cơ sinh học, 36 lít phân bón
lá có thể giảm 40% đạm và 33% lân supe làm tăng năng suất chè từ (19-34%)
Trang 38Bón phân hữu cơ sinh học không những tăng năng suất và hiệu quả sản xuất chè mà còn góp phần nâng cao chất lượng thương phẩm của chè Lãi thuần của 1 ha sản xuất chè với mức đầu tư như trên đạt được từ 10.483.000 - 14.640.000 đồng/ha/năm, so với đối chứng chỉ thu lãi thuần là 5.267.000
đồng/ha/năm
Theo Chu Xuân Ái (2003) [2], Lê Đình Danh (2008) [4], khi trồng xen cây phân xanh trên đồi chè kiến thiết cơ bản và tận dụng chất xanh bón cho chè sẽ góp phần tăng năng suất chè và cải thiện được lý tính của đất Trong những biện pháp giữ ẩm, biện pháp tủ ẩm bằng chất hữu cơ là biện pháp có hiệu quả nhất Vì vậy, với những nương chè khi trồng mới, nên tiến hành trồng xen các loại cây phân xanh họ đậu vừa có tác dụng cải tạo đất chống xói mòn vừa có một lượng chất hữu cơ đáng kể để tủ gốc chè giữ ẩm khi trồng mới và suốt thời kỳ kiến thiết cơ bản
Phan Thanh Huyền và cs (2010) [6], nghiên cứu sau 3 năm đã tìm ra tổ hợp phân bón: 300 kg N + 150 kg P2O5 + 150 kg K2O/ha/năm) là công thức bón phân cân đối, hợp lý, vừa cho hiệu quả kinh tế cao vừa tiết kiệm được phân bón, năng suất đạt 12,81 tấn chè búp tươi/ha, lợi nhuận đạt trên 50 triệu
đồng Nhu cầu về đạm của cây chè trên vùng đất nghiên cứu rất lớn, quyết định rõ rệt đến năng suất chè và tình trạng thiếu đạm là một trong những yếu
tố hạn chế của đất đỏ vàng trên đá sét ở Thái Nguyên Việc bón N, P, K và S trong thí nghiệm không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về chất lượng chè
Nguyễn Võ Linh và cs (2011) [8], khi nghiên cứu hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất trồng chè của 6 xã khu vực thành phố Thái Nguyên cho thấy các hàm lượng chất vi lượng đều thấp hơn nhiều so với giới hạn cho phép
Phan Thanh Huyền và cs (2011) [7], kết quả nghiên cứu bón bổ sung
Mg và Bo cho chè Trung Du ở đại từ cho thấy, khi bón 25 kg Mg đã làm tăng
Trang 39năng suất chè lên 8,19% Bón Bo không làm tăng năng suất nhưng chất lượng chè được cải thiện, đặc biệt làm tăng hàm lượng axitamin trong chè
Phan Thanh Huyền và cs (2011) [7], nghiên cứu một số tính chất vật lý của các loại đất trồng chè Thái Nguyên cho thấy: Dung trọng đất trồng chè tỉnh Thái Nguyên dao động từ 1,12-1,22g/cm3 thuộc phân cấp đất bị nén ít, đất có hàm lượng mùn trung bình Loại đất đỏ vàng trên đá sét (fs) có kết cấu tốt, hệ số cấu trúc trên 70% và hệ số phân tán trên 3% Tương quan giữa độ ẩm đất trong mùa khô và năng suất chè thể hiện mối tương quan chặt với r=0,82
Ipinmoroti và cộng sự (1999) [21], nghiên cứu các mức đạm bón từ 652
kg N, 326 kg N, 163 kg N/ha bón đơn lẻ và kết hợp phân chuồng cho chè Kết quả cho thấy công thức bón 163 kg N kết hợp 4 tấn phân chuồng 1 ha cho năng suất cao nhất Ở Nhật Bản từ những năm 1999 công nghệ bón phân cho cây trồng dựa trên nguyên tắc giảm bớt lượng phân vô cơ để đảm bảo chất lượng môi trường đã được ứng dụng rộng rãi Cây chè là cây trồng yêu cầu lượng lớn phân vô cơ nhất là phân đạm Các nghiên cứu về bón phân đạm cho chè đã được nghiên cứu dựa trên nguyên tắc cân bằng hàm lượng đạm trong cây kết hợp với nước tưới, kết quả đã giảm được lượng phân đạm bón trên nương chè mà vẫn duy trì được năng suất
Theo Nokaka Kunihiko (2006) [25], khi nghiên cứu các mức phân đạm
từ 200 - 600 N/ha cho thấy: chất lượng chè bị giảm khi bón đạm cho chè với liều lượng hơn 400kg N/ha
Venkatesan (2004) [28], khi phân tích hàm lượng nitrat trong lá chè cho thấy, khi được bón các hàm lượng đạm khác nhau, hàm lượng nitrat trong lá chè đạt cao nhất ở lá đầu tiên của búp chè, hàm lượng này tăng lên khi lượng bón N tăng lên Hàm lượng nitrat đạt cao nhất vào khoảng 7 ngày sau khi bón
và hàm lượng này duy trì ổn định khoảng 28 ngày sau khi bón
Trang 40Sudoi V và cộng sự (2001) [26], khi bón đạm kết hợp phun bổ sung một
số nguyên tố vi lượng cho chè đã nhận thấy phân vi lượng có vai trò quan trọng với cây chè, không những làm tăng năng suất mà còn tăng phẩm chất rõ rệt, trong các nguyên tố thì Zn là nguyên tố có hiệu quả hơn so với các nguyên tố khác, nếu bón 2-5kg/ha sẽ tăng tanin 2-5%, catechin tăng 20-43% Nếu sử dụng hỗn hợp urê và Bo, Zn sẽ làm tăng sản lượng chè 12-25%
Zhu Yong-xin, Chen Fu-xing, (2001) [30], khi phun selenite natri với các nồng độ khác nhau cho cho chè cho thấy: vị ngọt và mùi thơm của chất chiết xuất từ trà xanh đã được tăng lên và làm giảm đáng kể bằng selen hàm lượng tanin cho chè vào mùa hè Tổng số acid amin và vitamin C của trà xanh
đã được tăng lên đáng kể
1.6 Những kết luận về phần phân tích tổng quan
Việt Nam là nước đứng thứ năm trên thế giới về xuất khẩu chè, nhưng sản phẩm xuất khẩu đa số là nguyên liệu thô, sản phẩm là chè xanh, chè đen giá chè thấp chỉ đạt mức trung bình so với giá chè trên thế giới
Thái Nguyên với diện tích 17.660 ha, trong đó giống chè trung du chiếm 65,67% diện tích Đã có nhiều giống chè nhập nội và lai tạo được trồng trên địa bàn tỉnh, trong đó giống chè Kim Tuyên là một trong những giống chè được đưa vào cơ cấu giống chè thay thế giống trung du giai đoạn 2011-2015.( Quy hoạch vùng chè Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015)
Sản phẩm chè của Thái Nguyên đa số là chè xanh được tiêu thụ trong nước, giá bán các loại chè giống mới trong đó có giống chè Kim Tuyên khá cao, có thể đạt 120.000-250.000 đ/kg tùy thời điểm thu hoạch
Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy điều kiện sinh thái cũng như dinh dưỡng đất có ảnh hưởng nhiều đến năng suất cũng như chất lượng chè, tuy nhiên đối với giống chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên những nghiên cứu này còn chưa được đề cập đến