Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý tới cây trồng nói chung và cây chè nói riêng là hết sức quan trọng và cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng thuận lợi, cho năng
Trang 1LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc n«ng nghiÖp
Ng−êi h−íng dÉn: PGS - TS §Æng V¨n Minh
Th¸i Nguyªn - 2007
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi đI nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo giảng dạy, Thầy giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể, cá nhân, và nhân dân địa bàn nơi thực hiện đề tài Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
PGS.TS Đặng Văn Minh: Trưởng khoa sau Đại học - Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên
Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Thái Nguyên
Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ
Phòng nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Đồng Hỷ
Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xI Minh Lập
Gia đình và bạn bè đI động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2007 Tác giả
Trần Thị Thu Huyền
Trang 3Lời cam Đoan
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn của tôi hoàn toàn trung thực và ch−a hề sử dụng cho bảo vệ học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đ−ợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đI đ−ợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Trần Thị Thu Huyền
Trang 4Mục lục
Chương I:Đặt vấn đề 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 3
1.3 Yêu cầu của đề tài 4
1.4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Chương II:Tổng quan tài liệu 5
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2 Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố của cây chè 9
2.2.1 Nguồn gốc 9
2.2.2 Phân loại 10
2.2.3 Sự phân bố của cây chè 11
2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và ở Việt Nam 11
2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 11
2.3.1.1 Tình hình sản xuất chè 11
2.3.1.2 Tình hình tiêu thụ chè 15
2.3.2 Tình hình sản xuất tiêu thụ chè ở Việt Nam 16
2.3.2.1 Tình hình sản xuất và tiệu thụ chè 16
2.3.2.2 Tình hình sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên 19
2.3.2.3 Tình hình sản xuất chè của huyện Đồng Hỷ 22
2.3.2.4 Đánh giá chung tình hình sản xuất chè ở nước ta 23
2.4 Nhu cầu và vai trò của các yếu tố dinh dưỡng với cây chè 24
2.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng 24
2.4.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng 25
2.5 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 28
Trang 52.5.1 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 28
2.5.2 Nghiên cứu chè ở Việt Nam 33
2.5.2.1 Nghiên cứu về đất trồng chè 33
2.5.2.2 Nghiên cứu về hình thái và sinh trưởng của chè 36
2.5.2.3 Nghiên cứu về sâu bệnh hại chè 37
2.5.2.4 Nghiên cứu về giống chè 39
2.5.2.5 Nghiên cứu về giữ ẩm và tưới nước cho chè 41
2.5.2.6 Những nghiên cứu về phân bón cho chè 43
Chương III:đối tượng Nội dung và phương pháp nghiên cứu 46
3.1 Đối tượng nghiên cứu 46
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 46
3.3 Nội dung nghiên cứu 46
3.3.1 Điều kiện tự nhiên của Thái Nguyên tác động đến sản xuất chè và tình hình sản xuất chè đông xuân tại xI Minh Lập 46
3.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh chè đông xuân tới năng suất chè và chất lượng đất 46
3.4 Phương pháp nghiên cứu 47
3.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp của huyện Đồng Hỷ và tỉnh Thái Nguyên 47
3.4.2 Điều tra, đánh giá tình hình sản xuất chè đông xuân và tìm hiểu những thuận lợi khó khăn trong sản xuất chè đông xuân 47
3.4.3 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số biệnpháp kỹ thuật tới năng suất chè vụ đông xuân và chất lượng đất 48
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi 50
3.4.5 Phương pháp sử lý số liệu 51
Chương IV:kết quả nghiên cứu 52
Trang 64.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xI hội của tỉnh Thái Nguyên 52
4.1.1 Vị trí địa lý 52
4.1.2 Địa hình và địa mạo 52
4.1.3 Đất đai 54
4.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 57
4.1.5 Đánh giá sự thích nghi của cây chè với các yếu tố tự nhiên 58
4.1.6 Điều kiện kinh tế, xI hội liên quan tới sản xuất chè tại Thái Nguyên 60
4.1.6.1 Điều kiện xI hội 60
4.1.6.2 Điều kiện về khoa học kỹ thuật, cơ chế chính sách cho phát triển chè 61
4.2 Kết quả điều tra đánh giá tình hình sản xuất chè vụ đông xuân 62
4.2.1 Thông tin về diện tích, giống, tuổi chè TB ở một hộ điều tra 62
4.2.2 Đầu tư phân bón, thuốc BVTV cho chè TB ở một hộ điều tra 63
4.2.3 Sự áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất chè đông xuân ở các hộ điều tra 65
4.2.4 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong SX chè đông xuân 66
4.2.5 Người dân đánh giá ảnh hưởng của SX chè đông xuân tới đất đai 70
4.3 ảnh hưởng của các biện pháp tưới tủ, giữ ẩm tới các yếu tố cấu thành năng
suất, năng suất chè, hiệu quả kinh tế và 1 số chỉ tiêu lý, hoá tính đất 71
4.3.1 ảnh hưởng của các biện pháp tưới tủ, giữ ẩm tới các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè, hiệu quả kinh tế 71
4.3.1.1 ảnh hưởng của biện pháp tưới tủ đến mật độ búp chè 72
4.3.1.2 ảnh hưởng của biện pháp tưới tủ đến khối lượng búp 73
4.3.1.3 ảnh hưởng của biện pháp tưới tủ đến tỷ lệ búp có tôm 74
Trang 74.3.1.4 ảnh hưởng của biện pháp tưới tủ đến năng suất chè 75
4.3.1.5 Hạch toán kinh tế trên thí nghiệm tưới tủ cho chè 77
4.3.2 ảnh hưởng của các biện pháp tưới tủ giữ ẩm đến một số chỉ tiêu lý, hóa tính và động vật đất 78
4.3.2.1 Chỉ tiêu hoá tính đất 78
4.3.2.2 Chỉ tiêu lý tính đất và động vật đất 80
4.4 ảnh hưởng của phân vi sinh, phân vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè hiệu quả kinh tế và một số chỉ tiêu lý, hóa tính đất 84
4.4.1 ảnh hưởng của phân vi sinh, phân vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè hiệu quả kinh tế 85
4.4.1.1 ảnh hưởng của phân vi sinh, phân vô cơ đến mật độ búp 85
4.4.1.2 ảnh hưởng của phân vi sinh, phân vô cơ đến khối lượng búp 86
4.4.1.3 ảnh hưởng của phân vi sinh, phân vô cơ đến tỷ lệ búp có tôm 87
4.4.1.4 ảnh hưởng của phân vi sinh, phân vô cơ đến năng suất chè 88
4.4.1.5 Hạch toán kinh tế trên thí nghiệm bón phân cho chè 89
4.4.2 ảnh hưởng của các công thức phân bón đến 1 số chỉ tiêu lý hóa tính đất và động vật đất 90
4.4.2.1 Chỉ tiêu hoá tính đất 90
4.4.2.2 Chỉ tiêu lý tính đất và động vật đất 92
Phần V:Kết luận và đề nghị 95
5.1 Kết luận 95
5.2 Đề nghị 95
tài liệu tham khảo 96
Phụ lục
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 2.01: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính
năm 2001 - 2005 12
Bảng 2.02: Diễn biến năng suất chè của thế giới và một số nước trồng chè chính năm 2001 - 2005 13
Bảng 2.03: Tình hình sản lượng chè trên thế giới và một số nước trồng chè chính năm 2001 - 2005 14
Bảng 2.04: Diện tích năng suất sản lượng chè Việt Nam năm 1996 - 2005 18
Bảng 2.05: Tình hình sản xuất chè tại Thái Nguyên 19
Bảng 2.06: Cơ cấu giống chè đI trồng ở tỉnh Thái Nguyên 2000 - 2005 21
Bảng 2.07: Tình hình sản xuất chè của huyện Đồng Hỷ 22
Bảng 4.01: Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất của huyện Đồng Hỷ năm 2005 56
Bảng 4.02: Chỉ tiêu phân loại khí hậu địa hình đất đai đối với cây chè 59
Bảng 4.03: Thông tin về diện tích giống tuổi chè TB ở 1 hộ điều tra 62
Bảng 4.04: Đầu tư phân bón thuốc bảo vệ thực vật cho chè trung bình ở một hộ điều tra xI Minh Lập 63
Bảng 4.05: Đầu tư phân bón thuốc bảo vệ thực vật cho chè trung bình ở một hộ điều tra thị trấn Sông Cầu 64
Bảng 4.06: Đánh giá sự áp dụng các biện pháp kỹ thuật SX chè đông xuân 66
Bảng 4.07: Đánh giá những thuận lợi trong sản xuất chè vụ đông xuân 67
Bảng 4.08: Đánh giá những khó khăn trong sản xuất chè vụ đông xuân 68
Bảng 4.09: Người dân đánh giá sự thay đổi chất lượng đất so với nơi không sản xuất chè đông xuân 71
Bảng 4.10: ảnh hưởng của biện pháp tưới tủ đến mật độ búp chè 72
Bảng 4.11: ảnh hưởng của biện pháp tưới tủ đến khối lượng búp chè .74
Bảng 4.12: ảnh hưởng của biện pháp tưới tủ đến tỷ lệ búp có tôm 75
Bảng 4.13: ảnh hưởng của biện pháp tưới tủ đến năng suất chè 76
Trang 9Bảng 4.14: Hiệu quả kinh tế của các biện pháp tưới tủ cho chè 77
Bảng 4.15: Kết quả phân tích độ pH đất hàm lượng mùn trong đất trên
các công thức thí nghiệm tưới tủ giữ ẩm cho chè 79
Bảng 4.16: Kết quả phân tích N và P2O5 tổng số của đất trên các công
thức thí nghiệm tưới tủ giữ ẩm cho chè 80
Bảng 4.17 : Diễn biến ẩm độ đất trên các công thức thí nghiệm tưới tủ cho chè 81 Bảng 4.18: Dung trọng, độ xốp đất trên các công thức thí nghiệm tưới
Bảng 4.24: Hiệu quả kinh tế trên thí nghiệm bón phân cho chè 89
Bảng 4.25: Kết quả phân tích độ pH đất hàm lượng mùn trong đất trên
Trang 10Chương I
Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nhiệm kỳ kinh tế dài, mau cho sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định Cây chè có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, nên chè sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm
Chè có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Nước chè là thứ nước uống giải khát phổ biến của 2/3 dân số toàn thế giới Cây chè còn là cây bản địa truyền thống, khi trồng chè đúng quy trình kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật phủ xanh đất trống đồi núi trọc có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái Ngoài
ra cây chè còn mang nhiều lợi ích về kinh tế - xI hội khác cho con người như: Tạo ra công ăn việc làm và ổn định đời sống cho hàng vạn hộ gia đình, là mặt hàng nông sản xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước (Djemukhatze, 1982)[7]
Hiện nay trên thế giới đI có 58 nước trồng chè và có 163 quốc gia và lInh thổ dùng chè Nền văn minh nhân loại phát triển, chất lượng cuộc sống càng cao thì nhu cầu dùng chè càng nhiều, đặc biệt là chè xanh và chè chất lượng cao, (Đỗ Ngọc Quỹ - Lê Tất Khương, 2000) [31]
Trong các loại cây công nghiệp dài ngày, cây chè đI từng bước phát triển thành một chuyên ngành được cả thế giới công nhận
Do giá trị dinh dưỡng, kinh tế, xI hội, văn hoá, bảo vệ môi trường, bảo
vệ sức khoẻ con người nên cây chè đI được xây dựng thành một trong mười chương trình trọng điểm về phát triển nông nghiệp trong kế hoạch phát triển kinh tế xI hội Việt Nam đến năm 2010 Sau thời kỳ đổi mới, Việt Nam bắt
đầu hoà nhập vào khu vực và thế giới, sản phẩm chè không chỉ xuất khẩu sang
Trang 11các thị trường truyền thống như Liên Xô cũ và Đông Âu mà còn bán sang nhiều thị trường mới ở Trung Đông, Tây Âu và Bắc Mỹ
Ngày nay ở Việt Nam sản xuất chè đI trở thành ngành kinh tế kỹ thuật
với diện tích khoảng 124.000 ha chè, 275 nhà máy chế biến lớn, vừa và nhỏ,
hàng vạn hộ nông dân sản xuất và chế biến chè, các trung tâm nghiên cứu chè tại các miền của đất nước, các khóa đào tạo về ngành chè của các trường Đại học nông nghiệp Hiện nay ở nước ta có khoảng 120 giống chè trong đó có những giống chè không những có năng suất cao mà còn có chất lượng tốt Chúng ta đI có hàng trăm loại sản phẩm chè khác nhau với hình thức bao bì mẫu mI khá hấp dẫn Sản lượng sản xuất ra đạt trên 133 ngàn tấn, xuất khẩu trên 98 ngàn tấn Gần 6 triệu dân ở vùng chè đI tích cực làm chè và đI có thu nhập chủ yếu từ cây chè Bạn bè trên thế giới đI đến Việt Nam để thưởng thức chè và mua chè với doanh số gần 100 triệu USD Tuy còn khiêm tốn nhưng về xuất khẩu Việt Nam đI đứng hàng thứ 8 và diện tích đI đứng thứ 5 trên thế giới Năng suất chè Việt Nam đI đạt 1,27 tấn khô/ha bình quân cả nước là trung bình khá của thế giới, (Hiệp hội chè Việt Nam, 2004, 2005) [10]
Cây chè đI có từ lâu ở Thái Nguyên nhưng thực sự phát triển mạnh từ những năm 60, khi Nhà nước chú trọng đầu tư thành vùng chè tập trung với quy mô lớn Hiện nay toàn tỉnh có trên 16.985 ha chè (trong đó có 14.662 ha chè kinh doanh) với năng suất bình quân toàn tỉnh là 88,60 tạ/ha, đI tạo ra giá trị sản xuất trên mỗi ha là 22 triệu đồng/năm [33] Ngoài ra, cây chè sinh trưởng phát triển mạnh còn có tác dụng che phủ đất và hạn chế xói mòn
Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý tới cây trồng nói chung và cây chè nói riêng là hết sức quan trọng và cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng thuận lợi, cho năng suất cao, chất lượng tốt, đạt hiệu quả kinh tế cao, nhiệm kỳ kinh tế dài, duy trì và bảo vệ được môi trường sinh thái
Trang 12Tuy nhiên do nhận thức không đầy đủ, do tập quán canh tác lạc hậu của người dân, áp dụng các biện pháp kỹ thuật không hợp lý, sử dụng thái quá phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật Chính điều đó không nâng cao được năng suất chè, hiệu quả kinh tế, tuổi thọ của cây chè mà còn để lại một lượng lớn tồn dư trong đất, gây ảnh hưởng xấu đến đất đai và môi trường sinh thái
Sản xuất chè vụ đông, ngày càng được phát triển cả về quy mô và chiều sâu, ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng Sản xuất chè vụ đông là áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp nhằm tạo điều kiện cho cây sinh trưởng búp, cho thu hoạch trong điều kiện vụ đông mưa ít, nhiệt độ thấp, cường độ ánh sáng yếu
Ngày nay, nhu cầu sử dụng chè của người dân ngày càng cao, đặc biệt
là trong vụ đông - xuân, xung quanh dịp tết nguyên đán, ngày lễ cổ truyền của người Việt Nam thì nhu cầu sử dụng chè cao hơn rất nhiều Bên cạnh đó, vụ
đông - xuân là thời điểm giá rét, mưa ít, sương muối nhiều làm cho cây chè sinh trưởng chậm, năng suất thấp gây ra hiện tượng tăng giá chè xanh đột ngột
do sự mất cân đối giữa cung và cầu
Xuất phát từ những vấn đề trên của thực tiễn sản xuất chè ở Thái
Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của một số bịên pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân tới năng suất chè và chất lượng đất tại x+ Minh Lập huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích của đề tài
- Xác định một số biện pháp kỹ thuật thâm canh chè đông xuân, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế sản xuất chè vụ đông xuân
- Tìm hiểu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác chè đông xuân tới một số chỉ tiêu lý, hoá tính đất nhằm đề ra các giải pháp bảo vệ và nâng cao chất lượng đất
Trang 131.3 Yêu cầu của đề tài
Xác định điều kiện tự nhiên, kinh tế – xI hội của Thái Nguyên tác động
đến sản xuất chè đông xuân như thế nào
ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân
đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè
ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân
đến một số chỉ tiêu lý, hoá tính cơ bản của đất
1.4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài xuất phát từ yêu cầu giải quyết vấn đề giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè vụ đông xuân ở Thái Nguyên
Trên cơ sở điều tra đánh giá tình hình tự nhiên, kinh tế, xI hội và tình hình sản xuất chè đông xuân ở Thái Nguyên, chúng tôi nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân nhằm nâng cao năng suất chè, bảo vệ đất, góp phần xây dựng Thái Nguyên thành vùng chè xanh đặc sản có sản lượng cao
Từ việc nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân, đề tài sẽ góp phần giải quyết sự mất cân đối giữa nhu cầu tiêu dùng cao
về chè và sự giảm nhanh sản lượng chè trong vụ đông xuân, tạo công ăn việc làm cho người nông dân vào thời kỳ cây khô lá vàng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
Trang 14Chương ii
Tổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Sản xuất chè vụ đông - xuân là quá trình áp dụng các biện pháp kĩ thuật thích hợp nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng tốt trong cả vụ đông - xuân, khi nhiệt độ thấp, ít mưa Sản xuất chè đông - xuân có tác dụng rải vụ thu hoạch chè, tạo việc làm cho người làm chè trong các tháng vụ đông - xuân, tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao, tăng thu nhập cho người làm chè
Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sinh trưởng búp chè các nhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam đều cho rằng độ không sinh vật học của cây chè là 100C, nghĩa là trong điều kiện t0 > 100C thì cây chè vẫn sinh trưởng búp Mặt khác sản lượng búp chè hàng tháng có quan hệ rất chặt với lượng mưa, những tháng có mưa < 50 mm/tháng sản lượng chè chỉ đạt < 5% tổng sản lượng cả năm, những tháng có lượng mưa 50 – 100 mm/tháng sản lượng chè háng tháng đạt từ 5 – 10% tổng sản lượng cả năm, những tháng
có lượng mưa > 100 mm/tháng, sản lượng hàng tháng đạt > 10% tổng sản lượng cả năm Như vậy trong các tháng vụ đông, vụ xuân ở vùng trung du phía bắc t0 trung bình tháng thấp nhất đều > 100C thì yếu tố hạn chế năng suất chính là lượng mưa Nếu tưới nước đủ ẩm cây sẽ sinh trưởng búp và cho thu hoạch đáng kể [31]
Thực tế ở vùng trung du miền núi phía Bắc cho thấy sản lượng chè các tháng vụ đông vụ xuân giảm mạnh, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ chè tăng nhanh làm cho giá chè tăng mạnh có khi gấp 2 - 2,5 lần những tháng giữa vụ (đặc biệt là chè mới chế biến) Trong khi đó giá thành sản xuất chè vụ đông xuân không cao do chi phí bảo vệ thực vật, chi phí chế biến giảm, do vậy sản xuất chè vụ đông - xuân thường đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 15Một trong những khó khăn của sản xuất chè là sản lượng chè phân bố không đều giữa các tháng trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 7, 8, 9 (chiếm 40 - 50%) tổng sản lượng cả năm, gây khó khăn cho việc thu hái, chế biến Sản xuất chè vụ đông - xuân sẽ rải vụ thu hoạch chè, rải vụ chế biến chè, tạo việc làm cho người làm chè vào các tháng vụ đông - xuân
* Điều kiện sinh thái cây chè
+ Điều kiện khí hậu:
- Mưa: Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè trên thế giới là 1.500 - 2.000 mm ở nước ta lượng mưa trung bình các vùng chè là 1.750 - 2.500 mm/năm, phù hợp với sinh trưởng cây chè Số ngày mưa
có ảnh hưởng rất lớn đến lao động hái chè, cũng như chế biến chè Mưa còn
ảnh hưởng đến chất lượng chè, vụ đông - xuân chè có chất lượng cao, vụ hè thu chè có chất lượng thấp Mưa phùn, mưa xuân có lợi cho sinh trưởng chè, vì tăng độ ẩm không khí Mưa ít những phân phối đều, xen kẽ vài ngày nắng thúc đẩy sinh trưởng chè Độ ẩm tương đối không khí cần thiết là 80 - 85%
- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí thuận lợi cho sinh trưởng chè là 22 - 280C, nhiệt độ từ 10 - 180C và > 300C cây chè sinh trưởng chậm Biên độ nhiệt độ ngày
đêm lớn có lợi cho chất lượng chè
- ánh sáng: Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm, lớn lên ưa ánh sáng ánh sáng tán xạ
ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến phẩm chất chè hơn ánh sáng trực xạ Sương
mù nhiều, ẩm ướt và nhiệt độ thấp ở núi cao là nơi sản xuất chè chất lượng cao trên thế giới
+ Điều kiện đất đai:
- Đất phải sâu từ 60 - 100 cm, mực nước ngầm dưới 100 cm
Trang 16- Đất phải chua, độ chua pHKCl thích hợp cho cây chè 4,5 - 5,5 đây là chỉ tiêu quan trọng quyết định đến đời sống cây chè
- Đất giàu mùn và chất dinh dưỡng nhất là đạm
- Kết cấu đất: Đất kết cấu viên, hạt tơi xốp giữ nước nhiều, thấm nước nhanh có lợi cho sự phát triển của bộ rễ và vi sinh vật trong đất
- Thành phân cơ giới: Đất thịt pha cát đến đất thịt nặng có chế độ nước
và không khí điều hòa thuận lợi cho hoạt động của các quá trình hoá học và vi sinh vật trong đất
Qua cơ sở khoa học trên và yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây chè, thì tỉnh Thái Nguyên thích hợp cho sản xuất chè vụ đông, thông qua các biện pháp tưới, tủ, làm đất giữ ẩm cho chè nhằm khắc phục yếu tố hạn chế lớn nhất
đến cây chè vụ đông là mưa ít, nhờ vậy mà cây chè sinh trưởng búp thuận lợi
và cho thu hoạch sản lượng
* Điều kiện để chuyển nương chè sang sản xuất chè vụ đông - xuân:
- Chỉ sản xuất chè vụ đông - xuân trên những diện tích chè có khả năng tưới nước
- Sản xuất chè vụ đông - xuân chỉ có hiệu quả kinh tế cao ở vùng chè có
ưu thế sản xuất chè xanh
* Sản xuất chè vụ đông - xuân:
Trang 17- Đốn chè: Đốn từ 15 đến 30 tháng 4 (đốn vào giai đoạn cây chè có chu kì nghỉ sinh lí ngắn)
- Tưới nước: Là biện pháp quyết định đối với sản xuất chè vụ đông - xuân Thời kì tưới: Bắt đầu tưới có hiệu quả khi lượng mưa giảm ở Thái Nguyên và các tỉnh thuộc vùng trung du có thể tưới vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 trở đi, kết thúc tưới khi có mưa rào (tháng 4 - 5)
Lượng nước tưới: 600 - 700 m3/ha/tháng, chia làm 3 - 4 lần/tháng (tương đương 7 - 8 m3/sào/tháng/lần, tháng tưới 3 - 4 lần) Lượng nước tưới,
số lần tưới phụ thuộc vào lượng mưa, mưa nhiều tưới ít và ngược lại Tháng
2 - 3 hàng năm khi ẩm độ không khí lớn cần tăng lượng nước tưới trong một lần và giảm số lần tưới/tháng nhằm hạn chế bệnh phồng lá
- Các biện pháp giữ ẩm: Dùng trâu (bò) cày 2 - 3 lượt giữa 2 hàng chè (hoặc cuốc lật băng đất rộng 50 - 60 cm giữa 2 hàng chè), vào tháng 9, tháng
10 khi bắt đầu tưới và tháng 4 - 5 sau đốn
Tủ giữ ẩm: Vật liệu tủ là rơm, rạ, guột, cỏ de và các sản phẩm phụ khác như thân cây ngô, đỗ, cành lá già Lượng tủ: 30 tấn/ha (1 - 1,1 tấn/sào) Thời gian tủ: Tháng 9, tháng 10 khi đất còn ẩm, sau khi cày xới hoặc tháng 4 - 5 sau đốn
- Bón phân: Phân hữu cơ (nếu có) bón 20 - 30 tấn/ha (gần 1 tấn/sào) Tùy theo sinh trưởng của nương chè, khả năng cho năng suất của nương chè
mà tính lượng phân vô cơ cho thích hợp: Bón 5 - 10 kg Super lân/sào/năm +
3 - 6 kg Urê + 2 - 3 kg Kalisunphat/lần Các tháng từ tháng 5 đến tháng 10, hai tháng bón 1 lần; các tháng vụ đông xuân từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mỗi tháng bón 1 lần, bón sau khi hái chè
Phương pháp bón: Phân lân bón sau đốn cùng với ép xanh cành lá già, bón sâu 15 - 20 cm Phân đạm, kali bón sâu 6 - 8 cm, bón sau khi hái chè, bón trước khi tưới
Trang 18- Phòng trừ sâu bệnh: Ưu diểm của sản xuất chè đông - xuân là nhiệt độ thấp, sâu hại, bệnh phát sinh phát triển chậm Do vậy chỉ sử dụng thuốc khi xuất hiện sâu bệnh hại nặng Phòng bệnh phồng lá: Tháng 2 - 3, ẩm độ không khí cao cần giảm số lần tưới, tăng lượng nước tưới/1 lần tưới, dọn cắt cành la, cây che bóng giúp cho vườn chè thông thoáng
- Thu hoạch: Thu búp 1 tôm 2 lá Các tháng sản xuất chè vụ đông (tháng
10 đến tháng 4 năm sau, không cần chừa lá thật, chỉ chừa lá cá và lá vẩy ốc) Các biện pháp kĩ thuật khác cần tiến hành như đối với nương chè bình thường
2.2 Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố của cây chè
2.2.1 Nguồn gốc
Nguồn gốc cây chè rất phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là:
Theo Carl Von Linnaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, lần đầu tiên trên thế giới đI xác nhận Trung Quốc là vùng nguyên sản của cây chè thế giới và
định tên khoa học cây chè là Thea sinensis, phân thành 2 thứ chè là: Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh), (Dubinin.N.P, 1982) [6]
Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc ấn Độ: Năm 1823, Robert Bruel đI phát hiện được những cây chè dại, lá to hoàn toàn khác với cây chè Trung Quốc ở vùng núi cao Atxam Đông Bắc của ấn Độ và cây chè được tìm thấy ở tất cả những nơi theo các tuyến đường giữa Trung Quốc và ấn Độ Từ đó ông cho rằng nguyên sản của cây chè là ở ấn Độ, (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [15]
Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc Việt Nam: Những công trình nghiên cứu của Djemukhatze.K.M, 1982 [7], từ năm 1961 đến năm
1976, đI tiến hành điều tra cây chè dại tại Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lào Cai, Tam
Đảo và tiến hành phân tích sinh hoá để so sánh với loại chè trồng trọt, từ đó
Trang 19tìm ra sự tiến hoá của cây chè làm cơ sở xác định nguồn gốc Djemukhatze thấy rằng phức catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin giữa chè được trồng và chè hoang dại, Djemukhatze đI nêu quan điểm về sự tiến hoá sinh hoá của cây chè Dựa trên cơ sở đó, Djemukhatze đi đến kết luận “nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam”
Tuy còn có nhiều quan điểm khác nhau nhưng phần đông các nhà khoa học cho rằng: Cây chè có nguồn gốc ở Châu á, nơi có điều kiện khí hậu nóng và ẩm
2.2.2 Phân loại cây chè
Tên của cây chè đI trải qua nhiều tranh luận và có rất nhiều cách đặt
tên Tên gọi đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển Line đặt là Thea sinensis
vào năm 1753 Đến nay, tên khoa học của cây chè được nhiều người công
nhận nhất là: Camellia sinensis (L) Okuntze [15], xếp trong hệ thống phân
Cây chè được chia thành nhiều thứ chè (Varietas), căn cứ vào đặc điểm
hình thái, đặc điểm sinh lý, sinh hoá và tính chống chịu có nhiều cách phân loại nhưng bảng phân loại của nhà bác học Hà Lan Cohen Stuart (1916) được nhiều người công nhận nhất (Theo Nguyễn Ngọc Kính, 1979; Đỗ Ngọc Quỹ,
1980 ) [15],[29] Cohen Stuart chia chè ra làm 4 thứ sau:
- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis Var Microphylla)
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var Macrophylla)
Trang 20- Chè Shan (Camellia sinensis Var Shan)
- Chè Atxam (chè ấn Độ) (Camellia sinensis Var Atxamica)
Hiện nay, cả 4 thứ chè trên đều đI được trồng ở Việt Nam nhưng phổ biến hơn cả là 2 thứ chè Trung Quốc lá to và chè Shan
2.2.3 Sự phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên, khí hậu Tất cả các công trình nghiên cứu trước đây đều đI có kết luận: Vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới đều thích hợp cho sự phát triển của cây chè Vùng biên khu Kratxnoda trên núi Pôchi có thể gọi là khu vực cao nhất phía bắc địa cầu, vùng chè Miosiones của Achentina là khu vực thấp nhất nam địa cầu, vùng chè tập trung nhất là ở giữa 6 - 220 vĩ Bắc Ngày nay, sinh trưởng cây chè thiên về 5 châu lục trong đó nhiều nhất là ở Châu á, sau đó là Châu Phi, Châu Mỹ, rồi đến Châu Đại Dương là ít nhất, (Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) [29]
Đến nay trên thế giới có 58 nước trồng chè, sản xuất chế biến chè ở các quy mô khác nhau, phân bố ở khắp 5 châu, (Đỗ Ngọc Quỹ - Lê Tất Khương, 2000) [31]
Các nhà khoa học cho rằng: Chè trồng ở những nơi có độ cao lớn hơn so với mực nước biển thường có chất lượng tốt hơn chè trồng ở vùng thấp Chè trồng ở Hoàng Sơn (An Huy- Trung Quốc), Sư Tử phong (Triết Giang - Trung Quốc), Hà Giang, Mộc Châu, Nghĩa Lộ (Việt Nam) đều có chất lượng cao
2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
2.3.1.1 Tình hình sản xuất chè
Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (trên 4000 năm) Ngày nay, cây chè
đI trở thành một cây không còn xa lạ với bất cứ một dân tộc nào trên thế giới Chè là thứ nước uống có giá trị, phổ biến với những sản phẩm đa dạng và
Trang 21phong phú như chè đen, chè xanh ngoài việc thoả mIn nhu cầu giải khát, dinh dưỡng thưởng thức chè ở nhiều nước đI được nâng lên tầm văn hoá với cả những nghi thức trang trọng của trà đạo
Từ lâu, chè được dùng để chế biến các loại thuốc trợ tim, cầm máu, lợi tiểu Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy uống nước chè có tác dụng làm giảm quá trình viêm ở người bệnh thấp khớp, viêm gan mIn tính, làm tăng tính đàn hồi của thành mạch máu Nước chè được dùng điều trị có kết quả các bệnh như lị, xuất huyết dạ dày, xuất huyết nIo và suy yếu mao mạch do tuổi già, làm giảm tác hại của phóng xạ, (Nguyễn Hanh Khôi, 1983) [17]
Theo FAO (2006) thì tình hình sản xuất chè, tiêu thụ chè trên thế giới tính đến năm 2005 như sau:
(Nguồn: Theo FAO Start Citation 2002 - 2006)
Trang 22Tính đến năm 2005, diện tích chè toàn thế giới tương đối cao đạt 2.561.001 ha, tăng 100.019 ha, tương đương với 4,1% so với năm 2004
Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích đạt 952.500 ha, chiếm 37,19% diện tích chè toàn thế giới ấn Độ
là nước đứng thứ 2 về diện tích đạt 500.000 ha, chiếm 19,52% so với tổng diện tích chè của toàn thế giới Diện tích chè của Việt Nam là 104.000 ha, chỉ chiếm 4,06% diện tích chè của toàn thế giới
(Nguồn: Theo FAO Start Citation 2002 - 2006)
Qua bảng 2.02 cho thấy năng suất chè khô trung bình toàn thế giới năm 2005 đạt 12,449 tạ/ha giảm 0,491 tạ/ha tương ứng với 3,78% so với năm
Trang 232004 Trong đó, các nước đạt năng suất chè cao như: ấn Độ, Srilanka, Nhật Bản đạt từ 13,056 - 20,408 tạ chè khô/ha Thấp nhất là Thái Lan chỉ đạt 3,000 tạ/ha tương ứng 24,000% so với năng suất toàn thế giới Việt Nam năng suất đạt 10,577 tạ chè khô/ha
(Nguồn: Theo FAO Start Citation 2002 - 2006)
Sản lượng chè trung bình toàn thế giới năm 2005 đạt 3.200.877 tấn, tăng 3.996 tấn tương đương với 0,12% so với năm 2004 Đứng đầu về sản lượng là trung Quốc đạt 900.500 tấn, chiếm 28,13% so với tổng sản lượng toàn thế giới Sản lượng thấp nhất là Thái Lan đạt 6.000 tấn, chiếm tỷ lệ 0,187% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới Sản lượng chè của Việt Nam đạt 110.000 tấn, chiếm tỷ lệ 3,44% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới
Trang 242.3.1.2 Tình hình tiêu thụ chè
* Về tiêu thụ
Năm 2005, chè đen tiêu thụ trên thế giới ước đạt 2,67 triệu tấn, tăng trung bình hàng năm là 2,8% Trong đó, mức tăng chủ yếu tập trung ở các nước phát triển đạt 1,95 triệu tấn, tăng 3% Tiêu thụ chè đen của các nước phát triển cũng đạt mức tăng hàng năm là 2,2 %, đạt 719.000 tấn Đặc biệt tiêu thụ chè đen của ấn Độ tiếp tục tăng khá mạnh, đạt 832.000 tấn năm 2005, tăng trung bình hàng năm 3,2%, theo FAO Start Citation 2006
Theo số liệu thống kê, các nước tiêu thụ chè hàng năm thường phải nhập khẩu chè bao gồm 115 nước: 34 nước châu Phi, 29 nước châu á, 28 nước châu Âu, 19 nước châu Mỹ, 5 nước châu Đại Dương
Qua số liệu bảng 2.01, 2.02, 2.03 cho thấy, 2 nước có diện tích và sản lượng chè cao nhất là ấn Độ và Trung Quốc cũng là 2 nước có khả năng tiêu thụ chè lớn nhất thế giới Các nước còn lại như Anh, Mỹ sẽ là thị trường tiềm năng cho những nước xuất khẩu chè
Sản phẩm phong phú đa dạng, chè xanh được tiêu dùng chủ yếu ở các nước châu á và Tây Bắc Phi, chè đen được tiêu dùng ở một số nước châu Âu, châu Mỹ, châu úc, các nước Trung Đông và một số nước châu Phi
Hiện nay, tỷ lệ chè đen trong tổng sản lượng chè thế giới đang tăng lên Trung Quốc là nước đứng đầu trong sản xuất chè xanh, chiếm khoảng 63% tổng sản lượng chè xanh thế giới Ngoài hai loại chè chủ yếu trên, các nước sản xuất và tiêu dùng còn tái chế ra nhiều loại chè ướp hương hoa, chè đóng lon, chè hoà tan Những năm cuối thập kỷ 20, sản lượng chè hoà tan đI tăng lên một cách nhanh chóng do thị hiếu của người tiêu dùng tăng lên và sự tiện lợi của nó trong sử dụng
Trang 25và Zimbabue, theo FAO Start Citation 2006
* Về giá
Năm 2005, giá chè có phục hồi đạt 1.790 USD/tấn, đến năm 2010 dự tính giá chè xuất khẩu đạt 1.950 USD/tấn, theo FAO Start Citation 2006
2.3.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam
2.3.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè
Chè là một thứ nước uống truyền thống ở Việt Nam và các nước Châu
á khác như Trung Quốc, Nhật bản, ấn Độ… Ngày nay nó trở thành một thứ
đồ uống thông dụng nhất trên thế giới Chè không chỉ là thứ nước uống giải khát thông thường mà uống nước chè còn có khả năng chữa một số bệnh như bệnh đường ruột, bệnh tim mạch Hàm lượng Cafein trong chè có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương Đồng thời, chè cũng có tác dụng loại thải một số chất phóng xạ ra khỏi cơ thể Cây chè Việt Nam đI được một số nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu và Djemukhatze cho rằng miền Bắc Việt Nam
là một trong những nơi xác định là nguồn gốc của cây chè Cây chè Việt Nam được chính thức khảo sát nghiên cứu vào năm 1885 do người pháp tiến hành Sau đó vào các năm 1890 - 1891 người Pháp tiếp tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở Việt Nam năm 1890 ở Tĩnh Cương Phú Thọ
Trang 26và thành lập các trạm nghiên cứu chè ở Phú Hộ (1918) Pleicu (1927) và Bảo Lộc (1931), (Nguyễn Hanh Khôi, 1983) [17]
Thời kỳ đầu (1890) Việt Nam có khoảng 300 ha, đến năm 1939 chúng
ta có khoảng 13.408 ha với sản lượng 10.900 tấn búp khô đứng thứ 6 trên thế giới theo (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [15], tr 10-12
Trong thời gian chiến tranh 1945 - 1954 do chiến tranh nên vườn chè kém được chăm sóc do đó diện tích và sản lượng giảm nghiêm trọng Sau khi hoà bình được lập lại cây chè lại được chú trọng phát triển, các nông trường
được thành lập nhờ chính sách, các vùng kinh tế mới và lúc này thị trường
được mở rộng Năm 1977 cả nước có 44.330 ha sản lượng là 17.890 tấn chè búp khô Đến năm 1985 cả nước có 52.047 ha, sản lượng đạt 25.392 tấn chè búp khô, theo báo cáo định hướng phát triển của ngành chè (2005) [11]
Từ năm 1990 - 1995 sự phát triển ngành chè có phần chững lại do thị trường truyền thống Việt Nam là Liên Xô bị sụp đổ
ở Việt Nam cây chè đI có từ lâu đời, uống chè đI trở thành tập quán
và nhu cầu thiết yếu hàng ngày của nhân dân ta Với đất đai khí hậu thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè Việt Nam là một trong bảy nước vùng chè cổ xưa của thế giới Chất lượng chè búp tươi ở một số vùng không thua kém các nước xuất khẩu như: ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Kênia Do điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp, cây chè trồng ở nước ta sinh trưởng và phát triển rất mạnh Thời gian thu hoạch búp kéo dài tới 9 đến 10 tháng hoặc dài hơn
Cây chè được trồng chủ yếu ở vùng trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên người trồng chè chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, nông dân nghèo từ miền xuôi lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới Việc phát triển cây chè cùng với việc xây dựng các cơ sở công nghiệp chế biến thời gian qua
Trang 27đI giải quyết việc làm cho hơn 20 vạn lao động, ổn định đời sống cho trên 10 vạn hộ gia đình Góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo ra một số trung tâm công nghiệp - dịch vụ gắn liền với nông nghiệp Góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào miền núi
và Tây nguyên, (Djmukhatze K.M, 1982) [7]
Tại Việt Nam trong 10 năm qua do có chính sách chủ trương phát triển chè đúng đắn của Nhà Nước, các chính sách phát triển chè riêng của từng tỉnh,
đặc biệt có sự hỗ trợ trực tiếp từ vốn, các hoạt động khuyến nông như tham quan, tập huấn kỹ thuật của dự án phát triển đI thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng chè nội tiêu và xuất khẩu, tình hình sản xuất chè ở Việt Nam được thể hiện qua bảng 2.04
Bảng 2.04: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam
từ năm 1996 - 2005 Năm
Sản lượng (tấn khô)
N suất (T.khô/ha )
S lượng xuất khẩu (tấn)
Kim ngạch (1000USD)
Bình quân
Trang 28Tính hết năm 2005 diện tích chè đạt 123.742 ha so với 74.800 ha năm
1995, tăng 60%, trong đó có 105.000 ha chè kinh doanh Tổng sản lượng chè búp khô các loại đạt 133.350 tấn, so với 46.800 tấn năm 1995, tăng 284,9% Kim ngạch xuất khẩu đạt 96.887.000 USD, so với 31.200.000 USD năm 1996, tăng 290,6%
2.3.2.2 Tình hình sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên
Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có 16.985 ha chè, trong đó chè đang trong giai đoạn kinh doanh là 14.662 ha, sản lượng chè tươi 129.905 tấn đứng thứ hai ở Việt Nam về diện tích, sản lượng sau Lâm Đồng
Bảng 2.05: Tình hình sản xuất chè tại Thái Nguyên Chỉ tiêu
Năm
Tổng diện tích (ha)
Tổng diện tích chè kinh doanh (ha)
Năng suất chè (tạ /ha)
Sản lượng chè búp (tấn)
Trang 29Năng suất chè Thái nguyên không ngừng tăng Thái Nguyên đI quy hoạch vùng sản xuất thành 2 vùng chính: Vùng sản xuất chè nguyên liệu cho sản xuất chế biến công nghiệp (chè xanh và chè đen) và vùng sản xuất chế biến chè xanh đặc sản chất lượng cao Nhân dân Thái nguyên có truyền thống trồng chè từ lâu đời với nhiều kinh nghiệm sản xuất chế biến chè ngon, chè
đặc sản chất lượng cao được cả nước biết đến (vùng chè Tân Cương, vùng chè Trại Cài) Chè Thái Nguyên trong những năm gần đây bước đầu quan tâm đến vấn đề chất lượng sản phẩm
Năng suất chè Thái Nguyên không ngừng tăng do người dân được nâng cao về kiến thức trồng và chăm sóc chè Năm 1996 năng suất chè chỉ đạt 23,54 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 18.660 tấn Đến năm 2006 năng suất chè
đạt 88,60 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 129.905 tấn, giá trị sản xuất cây chè tăng 19,48%, chiếm 10% giá trị sản lượng ngành trồng trọt
Tính đến hết năm 2006 Thái Nguyên là một tỉnh có diện tích chè đứng thứ 2 trong cả nước, sau Lâm Đồng Tốc độ tăng diện tích từ năm 1996 đến năm 2006 bình quân 4,9%/năm Là tỉnh có tốc độ tăng nhanh nhất trong cả nước, năng suất chè trong 10 năm qua của tỉnh tăng nhanh từ 23,54 tạ/ha lên 88,60 tạ/ha, bình quân tăng 6,5%/năm
* Về chế biến chè: Số lượng các nhà máy, cơ sở chế biến tăng nhanh, năm 2000 toàn tỉnh chỉ có 8 cơ sở chế biến chè đến năm 2006 toàn tỉnh có 30 doanh nghiệp chế biến chè và trên 54.000 cơ sở chế biến chè quy mô hộ gia
đình: Tôn sao quay tay có 35.999 chiếc, tôn sao quay có động cơ có 4.819 chiếc, máy vò chè có 13.755 chiếc Sản lượng chè tươi chế biến công nghiệp trên 38.000 tấn [33]
* Về tiêu thụ sản phẩm chè: Chè Thái Nguyên đI được tiêu thụ trong và ngoài nước, sản lượng nội tiêu khoảng 70% (chủ yếu là chè xanh thành phẩm), sản lượng xuất khẩu chiếm khoảng 30%, cả chè nguyên liệu búp tươi, chè sơ
Trang 30chế, chè bán thành phẩm, chè thành phẩm Năm 2006 Thái Nguyên xuất khẩu trực tiếp được 11.806 tấn chè tăng 47% so với năm 2005, kim ngạch xuất khẩu 12.082.221 USD, (Sở Nông Nghiệp & PTNT, 2007) [33]
* Cơ cấu giống chè đI trồng ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2005
Bảng 2.06: Cơ cấu giống chè đã trồng ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2000 2001 2002 2003 2004 2005 Tổng diện tích trồng mới 533 833 1180 830 582 560 4518
(Nguồn: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2006) [33]
Đến năm 2005 diện tích chè trồng mới bằng giống chè trung du trồng bằng hạt tỷ lệ rất ít, đây là tín hiệu đáng mừng vì người dân đI nhận thức được tầm quan trọng của giống mới, giống có năng suất chất lượng cao Diện tích các giống chè nhập nội chất lượng cao hàng năm đều tăng, đến năm 2005 các giống chè này đạt 122,37 ha, chiếm 2,71%
Trang 312.3.2.3 Tình hình sản xuất chè của huyện Đồng Hỷ
Hiện nay huyện Đồng Hỷ có 2.173 ha chè trong đó diện tích chè đang trong giai đoạn kinh doanh là 1.759 ha, sản lượng chè búp tươi năm 2006 đạt 13.140 tấn đứng thứ 4 ở tỉnh Thái Nguyên về diện tích, sản lượng (sau huyện
Tổng diện tích chè kinh doanh (ha)
Năng suất chè (tạ/ha)
Sản lượng chè búp (tấn)
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2007) [23]
Năng suất chè huyện Đồng Hỷ không ngừng tăng do người dân được nâng cao về kiến thức trồng và chăm sóc chè Năm 1996 năng suất chè chỉ đạt 15,09 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 955 tấn Đến năm 2006 năng suất chè đạt 74,70 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 13.140 tấn, giá trị sản xuất cây chè tăng nhanh Sản lượng chế biến năm 2006 đạt 2.389 tấn chè búp khô, trong đó chế biến qua công nghiệp 50 % sản phẩm chè nguyên liệu của toàn huyện
Trang 32Về cơ cấu giống: Chủ yếu vẫn là giống chè trung du, trong những năm gần đây thực hiện đề án phát triển cây chè của UBND tỉnh Thái Nguyên, Nông dân đI từng bước mở rộng diện tích trồng mới bằng các giống chè cành giống mới, đến nay đI trồng khoảng hơn trên 200 ha chiếm 10% tổng diện tích
Về chế biến - tiêu thụ: Trên địa bàn huyện có 5 nhà máy chế biến chè với tổng công suất 96 tấn/ngày, chế biến qua công nghiệp hàng năm đạt trên 50% sản lượng chè búp tươi
Sản phẩm chè chủ yếu là nội tiêu, trong huyện, tỉnh và trong nước thông qua các tư thương và các công ty thu mua để xuất khẩu
Cây chè là cây trồng chính trên đất vườn đồi của huyện Đồng Hỷ và
được xác định là cây kinh tế mũi nhọn, vừa là cây xóa đói vừa là cây làm giàu cho các hộ nông dân do vậy sản xuất chè luôn được sự quan tâm của các cấp
ủy Đảng, chính quyền địa phương cùng các Sở, Ban, Ngành từ tỉnh đến huyện các xI thị trấn đI tập trung chỉ đạo phát huy thế mạnh của cây chè, đề xuất và quyết định nhiều chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm chè
2.3.2.4 Đánh giá tình hình chung về sản xuất chè ở nước ta
- Những thành tựu:
+ Chè là cây công nghiệp có giá trị tiêu dùng và giá trị xuất khẩu cao,
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, có tác dụng che phủ đất, hạn chế xói mòn rửa trôi, là cây cho hiệu quả kinh tế, được xác định là cây làm giàu, là cây mũi nhọn của các tỉnh trung
du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
+ Thông qua các chương trình quốc gia đến nay nước ta có khoảng 2.000 ha được trồng mới bằng giống chè nhập nội So với năm 1999 có khoảng 10% diện tích chè trồng mới
Trang 33+ Sản xuất chè ở Việt Nam được phát triển theo hướng tăng dần cả về diện tích, năng suất và sản lượng Hình thành vùng sản xuất tập trung, duy trì
được các vùng đặc sản Chất lượng chè nguyên liệu không ngừng được nâng cao, tỷ lệ giống mới chất lượng cao trong cơ cấu giống chè Việt Nam ngày càng tăng
+ Thị trường xuất khẩu không ngừng mở rộng, sản lượng chè xuất khẩu ngày càng cao, kim ngạch xuất khẩu đạt đạt trên 96 triệu USD/năm đứng thứ 9 trên thế giới
- Những tồn tại:
+ Giá trị xuất khẩu thấp so với bình quân của thế giới, Việt Nam chỉ bằng 65% (Việt Nam đạt xấp xỉ 1 USD/kg, thế giới đạt 1,5 – 1,7 USD/kg) So với các nước sản xuất chè tiên tiến như Srilanca, ấn độ thì Việt Nam chỉ đạt 50%
+ Hiệu quả sản xuất chè chưa cao, mức độ thâm canh chưa đều, chủ yếu vẫn theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng chè nguyên liệu chưa
2.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng
Hiện nay ở nước ta cây chè được trồng trên nhiều loại đất, nhưng chủ yếu là trên nhóm đất đỏ vàng Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến
ít chua, độ dày tầng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt
và tuổi thọ của cây chè càng kéo dài So với các cây trồng khác thì cây chè
Trang 34có khả năng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập Tuy nhiên muốn cây chè cho năng suất cao, chất lượng tốt có nhiệm kỳ kinh tế dài cần phải bón đầy đủ sao cho đất trồng chè cần phải đạt những yêu cầu sau:
Quan hệ giữa đất đến năng suất, phẩm chất chè rất phức tạp, phẩm chất
do nhiều yếu tố quyết định Điều kiện dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, phẩm chất chè do vậy ngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có
ở trong đất thì việc bón phân cho chè là một biện pháp có hiệu quả
2.4.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng
* Phân bón hữu cơ cho chè
Đối với chè phân bón hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng cho chè mà còn cải thiện lý tính của đất làm cho đất tơi xốp có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, tăng các
hệ vi sinh vật trong đất, thành phần dinh dưỡng N, P, K và các yếu tố vi lượng khác trong đất Tuy nhiên việc sử dụng phân hữu cơ cho chè ít được quan tâm,
đặc biệt đối với vùng miền núi, bởi điều kiện địa hình khó vận chuyển, nguồn phân hữu cơ còn hạn chế Song cần chú ý rằng bón phân hữu cơ cho chè có hiệu quả và cần thiết nhất là khi chè còn nhỏ và khi gieo trồng Do vậy, khi gieo trồng chè nhất thiết phải bón đầy đủ lượng phân hữu cơ hoặc trồng xen với các loại cây họ đậu nhằm tăng lượng chất hữu cơ cho đất
Theo các nhà khoa học người pháp: D.Pasquier và J.J.B.Deuss (Djemukhatze, 1982), [7,tr330] đI nghiên cứu thành công một số loại cây họ
đậu làm cây phân xanh, đồng thời làm cây che bóng cho chè
Trang 35Theo kết quả nghiên cứu của Viện chè Phú Hộ cho thấy việc bón phân hữu cơ kết hợp với vô cơ năng suất chè tăng 30 – 32% so với sử dụng riêng rẽ phân vô cơ, (Djemukhatze, 1982) [7]
Theo quy trình bón phân hữu cơ cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam quy định: Đối với chè kinh doanh 3 năm bón một lần với lượng 20 –
30 tấn/ha kết hợp với phân lân, (Đỗ Ngọc Quỹ - Lê Tất Khương, 2000) [31]
* Dinh dưỡng đạm đối với chè
Đối với cây lấy lá như chè thì dinh dưỡng đạm là yếu tố quan trọng có tương quan chặt chẽ đến năng suất, bón đạm sẽ thúc đẩy sự phát triển của cây giúp cho búp, lá phát triển, lá to xanh, quang hợp tốt dẫn đến năng suất, sản lượng chè tăng
Các thí nghiệm tại Trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: Bón N làm tăng năng suất từ 2 - 2,5 lần so với đối chứng không bón, [31]
Về phẩm chất: Các tài liệu ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng bón N không hợp lý (bón quá nhiều hoặc đơn độc) làm giảm phẩm chất chè,
đặc biệt là sản xuất chè đen Bón quá nhiều N làm cho hàm lượng tanin, cafein giảm, hàm lượng ancaloit tăng, chè có vị đắng [31]
Theo dõi của Assam thấy rằng hiệu lực của đạm tăng đều đặn theo thời gian, hiệu suất 1 kg đạm của lần 1, 2, 3, 4 lần lượt là 2, 4, 6, 8 kg chè khô ở
Đông Phi cho thấy: Hiệu suất của 1 kg đạm là 4 – 8 kg chè khô, nếu hiệu suất
là < 4 kg chè khô/1 kg N thì đI xuất hiện một yếu tố nào khác là lân hay kali Các thí nghiệm tại Phú Hộ cho thấy bón đạm làm tăng năng suất từ 2 – 2,5 lần
so với đối chứng không bón [7] Theo L.M.Briava (1973) liều lượng bón đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10 tấn/ha thí bón 200
kg N là hiệu quả nhất [31]
*Dinh dưỡng lân đối với chè
Trang 36Theo Enden (1958) lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, lân
có vai trò tích luỹ năng lượng cho cây và có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét và chống hạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm và có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp, (Đỗ Ngọc Quỹ - Lê Tất Khương, 2000) [31]
Các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô, Việt Nam và nhiều nước khác cho thấy: Bón lân làm tăng năng suất chè rõ rệt, đặc biệt bón lân trên nên N, K
Đất mà thiếu N, K cũng làm giảm hiệu quả của phân lân đối với chè Điều
đáng chú ý là bón lân có hiệu quả phải tương đối dài, thậm chí đến 20 – 25 năm sau Theo nghiên cứu của F.Hurisa (Liên Xô) thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân và liều lượng 126 – 196 kg/ha trên nền N, K tăng sản lượng búp 5 – 30% so với đối chứng chỉ bón N, K song hiệu quả tăng, sản lượng bình quân
21 năm về sau là 60 – 78 ở Liên Xô trên đất đỏ hiệu quả phân lân ở những năm sau thường cao hơn năm trực tiếp bón [31]
Theo nghiên cứu 10 năm liên tiếp của trại chè Phú Hộ về việc bón phân
N, P, K thấy: Trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 P2O5/ha trong từng năm không có chênh lệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu do phân bón là rất rõ rệt qua 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng được 3,5 kg chè búp tươi [31]
Kết quả nghiên cứu của Curxanop (1954) và T.C.Migaloblisvili (1966)
ở Liên Xô đI khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng Catechin trong búp chè có lợi cho chất lượng chè
Trong đất nếu hàm lượng P2O5 là 30 – 32 mg/100g đất thì cây chè sinh trưởng bình thường, nếu là 10 – 12 mg/100g đất thì thiếu lân
Quy trình bón P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy
định 5 năm bón P2O5 1 lần với liều lượng 100 kg/ha bón kết hợp với phân chuồng sau khi đốn, bón sâu khoảng 20 – 30 cm, [31]
*Dinh dưỡng kali cho chè
Trang 37Kali có trong các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộ phận
đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây, làm tăng
sự hoạt động của men, tăng sự tích luỹ gluxit, các axitamin và khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất chất lượng búp chè làm tăng khả năng chống bệnh chịu rét cho chè
Thiếu kali rìa lá có vết nâu, búp nhỏ, lá nhỏ, rụng lá nhiều ở những nương chè mới trồng phân bón kali thường có hiệu quả thấp vì trong đất hàm lượng kali còn cao (khoảng 20 – 25 mg K2O/100g đất) còn đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây [31]
Về chất lượng chè, kali lại ảnh hưởng rất rõ đến chất lượng chè, theo A.D.Makharobitze (1948) chất lượng chè trong các công thức phân bón khác nhau được xếp theo thứ tự P, K, N và sau cùng là không bón, (Đỗ Ngọc Quỹ, 1997) [30]
Quy trình bón phân cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam năm
1988 quy định: Năng suất đạt 60 - 100 tạ/ha, bón 80 - 100 kg K2O/ha, năng suất > 100 tạ/ha bón 100 - 120 K2O/ha [31]
Để nâng cao năng suất, chất lượng chè thì việc bón phân trả lại cho đất các chất dinh dưỡng mà cây đI lấy đi là rất quan trọng và cần thiết Muốn bón phân có hiệu quả, ta phải bón phân đúng nguyên tắc như: Bón theo tuổi và năng suất cây, chè con bón ít, chè lớn năng suất cao bón nhiều; Bón cân đối các yếu tố NPK, bón bổ sung phân trung lượng và vi lượng khi cần thiết; Bón
đúng cách và đúng lúc, đúng đối tượng, bón lót đầy đủ, bón thúc kịp thời; Tùy
điều kiện đất đai, khí hậu quy định lượng phân, tỷ lệ bón cho phù hợp
2.5 Nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước
2.5.1 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới
* Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng phát triển của chè
Chè là cây lâu năm, có hai chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ
Trang 38Chu kỳ phát triển nhỏ là chu kỳ phát triển hàng năm của cây chè Hàng năm vào mùa đông, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nhiệt
độ thấp, khô hạn… cây chè sinh trưởng và phát triển chậm dần và ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ thấp hơn 100 C Cây chè sinh trưởng trở lại khi nhiệt độ
và ẩm độ tăng dần
Chu kỳ phát triển lớn hay còn gọi là chu kỳ phát dục cá thể của cây chè, bao gồm cả đời sống cây chè, được tính từ khi hoa chè được thụ phấn, hình thành hạt, mọc thành cây, qua nhiều năm sinh trưởng phát triển đến khi già cỗi và chết Chu kỳ này thường kéo dài 30 - 50 năm, có khi tới hàng trăm năm
- Các tác giả đI chia chu kỳ phát triển cảu cây chè ra làm 5 giai đoạn : + Giai đoạn 1: Giai đoạn phôi thai (giai đoạn hạt) được tính từ khi hoa
được thụ phấn, hình thành hạt và quả chín
+ Giai đoạn 2: Giai đoạn cây con tính từ khi hạt nảy mần mọc thành cây cho đến khi cây ra hoa kết quả lần đầu (từ 1- 2 năm sau khi trồng)
+ Giai đoạn 3: Giai đoạn cây non được tính từ khi cây ra hoa đầu tiên cho tới khi cây có bộ khung ổn định (từ năm thứ 2 - 3 đến năm thứ 4 sau trồng)
+ Giai đoạn 4: Giai đoạn chè lớn (Giai đoạn kinh doanh sản xuất) thời
kỳ này kéo dài 20 - 30 năm có khi tới 50 - 60 năm phụ thuộc vào điều kiện giống, đất đai và điều kiện canh tác
+ Giai đoạn 5: Giai đoạn chè già giai đoạn này cây chè đI trải qua thời kỳ kinh doanh sản xuất, cây chè có biểu hiện già cỗi, năng xuất giảm nhanh chóng
Căn cứ vào đặc điểm của từng giai đoạn mà người ta xây dựng các biện pháp kỹ thuật khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt phát huy hết tiềm năng
Trang 39của giống Do vậy việc đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển của các giống chè trong vùng sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng
- Những nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chè M.A Alikhatde (1964) cho rằng: Khi cây chè có 5 lá thì ở các nách lá thứ nhất, thứ 2 có mầm nách, khi có lá thứ 6 xuất hiện thì có mần nách thứ 3, khi
có lá thứ 7 thì mầm nách thứ 4 xuất hiện… Ông cho rằng khi mầm chè qua
đông, 2 lá đầu tiên bao bọc mần chè là lá vẩy ốc, tiếp theo là lá cá Các mầm nách của lá thứ 4 và lá thứ 5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ 2 [7]
- K.E Bakhotatde(1971) và K.M Djemukhatze(1976) nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè cho rằng: Sự sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào
điều kiện khí hậu, ở những nước có mùa đông rõ rệt, búp chè sẽ ngừng sinh trưởng vào mùa đông và nó được phục hồi vào thời kỳ ấm lên, ngược lại ở những nước nhiệt đới (quần đảo Gjava) Srilanca hay Nam ấn Độ búp chè sinh trưởng liên tục, thời vụ thu hoạch búp chè quanh năm [7]
- Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè trong điều kiện không đốn và có
đốn Tác giả Djemukhatze (1976) [7] cho rằng: Trong điều kiện để giống hay không đốn thì các mầm chè được phân hoá trọng vụ thu, vụ đông và hình thành búp trong vụ xuân Như vậy nương chè có hái búp, có đốn thì sinh trưởng bắt đầu muộn hơn một số ngày so với nương chè để giống hay không đốn
- K.M Djemukhatze nghiên cứu quan hệ giữa búp chè và năng suất đI chỉ ra rằng: Tương quan giữa số lượng búp trên đơn vị diện tích và năng suất
tương quan chặt chẽ với nhau [7]
* Những kết quả nghiên cứu về giống chè
Chè là cây lâu năm, giống chè tốt có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sản xuất Do vậy việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất đI được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm
Trang 40Năm 1905, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên đảo Java Đến năm 1913 Cohen Stuart đI phân loại các nhóm chè dựa theo hình thái và chọn theo 7 bước gồm: Nghiên cứu vật liệu cơ bản; chọn hạt; lựa chọn trong vương ươm; nhân giống hữu tính và vô tính; chọn dòng; lựa chọn tiếp tục khi thu hái búp ở các dòng chọn lọc; thử nghiệm thế hệ sau như thân, cành, lá, búp, hoa và quả
Các nước phát triển chè mạnh đầu tư rất lớn cho việc chọn tạo giống mới:
ấn Độ từ những năm 50 của thế kỷ này đI thành công trong việc chọn tạo ra 110 giống chè tốt trong đó có 102 giống nhân vô tính
Trung Quốc là nước có lịch sử trồng chè từ rất sớm, khoảng 4000 năm
Từ những năm 1950 - 1960 các tác giả đI đi sâu nghiên cứu và đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố hình thái của cây đối với sản lượng, chất lượng và tương quan giữa các chỉ tiêu đó đối với nhau, ngày nay đI xác định 52 giống chè tốt, diện tích giống chè tốt 25% diện tích chè cả nước
Nhật Bản, ấn Độ, Srilanca, Liên Xô cũ và Trung Quốc còn lần lượt vận dụng kỹ thuật công nghệ sinh học cho chọn giống chè tốt, đồng thời triển khai dùng phôi non, lá cành non, phấn hoa của cây chè bỗi dưỡng thành một cây chè hoàn chỉnh và thu được thành công đáng mừng
Bằng sự nỗ lực trong mấy chục năm gần đây, cả thế giới có trên 1000 giống chè mới, trong đó các nước sản xuất chè chủ yếu đI chọn lọc và phổ biến rộng được hơn 400 giống, (Tổng công ty chè Việt Nam, 2001) [41]
* Những kết quả nghiên cứu về tưới nước cho chè
- Theo M.K Daraselia (1989) thì những thí nghiệm tưới nước cho chè
ở Liên Xô lần đầu tiên được tiến hành ở Viện nghiên cứu chè và cây trồng á nhiệt đới Grudia vào năm 1934 – 1936 và sau đó ở Lencoran vào những năm