1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên

105 291 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các chuyên gia về cỏ trên thế giới đã nhận thấy khả năng của một số giống cỏ hòa thảo nhiệt đới có năng suất cao, chất lượng dinh dưỡng tốt, phù hợp với hệ thống canh tác thuộ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

TỪ TRUNG KIÊN

KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT

VÀ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA MỘT SỐ GIỐNG CỎ

HOÀ THẢO TRỒNG TẠI THÁI NGUYÊN

CHUYÊN NGÀNH : CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT

MÃ SỐ : 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS PHAN ĐÌNH THẮM

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2007

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Từ Trung Kiên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong qúa trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và địa phương Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:

Đảng uỷ, Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Sau Đại học, phòng Đào tạo Khoa học và Hợp tác quốc tế và các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo

hướng dẫn: PGS TS Phan Đình Thắm và thầy giáo: GS.TS Từ Quang Hiển

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Trung tâm thực hành thực nghiệm trường Đại học Nông Lâm, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi-Viện Chăn nuôi

Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lỏng cảm ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2007

Tác giả

Từ Trung Kiên

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Khí tượng khu vực thí nghiệm 61 Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm 62 Bảng 3.3: Tỷ lệ sống của các cỏ thí nghiệm sau trồng 15 ngày (%) 63 Bảng 3.4: Chiều cao và tốc độ sinh trưởng của các cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt

đầu tiên (cm; cm/ngày) 64 Bảng 3.5: Chiều cao tái sinh của các cỏ thí nghiệm (cm) 66 Bảng 3.6: Tốc độ tái sinh của các cỏ thí nghiệm (cm/ngày) 68 Bảng 3.7: Năng suất của các cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt năm thứ nhất (tạ/ha/lứa) 70 Bảng 3.8: Năng suất của các cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt năm thứ hai (tạ/ha/lứa) 73 Bảng 3.9: Sản lượng chất xanh và vật chất khô của các cỏ thí nghiệm

(tấn/ha/năm) 75 Bảng 3.10: Thành phần hóa học của các cỏ thí nghiệm (%, Kcal/kg) 77 Bảng 3.11: Thành phần và hàm lượng axit amin của các cỏ thí nghiệm (g/kg

cỏ tươi) 80 Bảng 3.12: Sản lượng vật chất khô, protein và năng lượng (tấn/ha/năm, kg/ha/năm, MKcal/ha/năm) 83

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Biểu đồ 3.1 Chiều cao của cỏ thí nghiệm ở lứa cắt đầu tiên 65

Biểu đồ 3.2 Chiều cao của cỏ thí nghiệm ở lứa cắt tái sinh 67

Biểu đồ 3.3 Tốc độ tái sinh của cỏ thí nghiệm (cm/ngày) 69

Đồ thị 3.1a Sản lượng của các cỏ thí nghiệm năm thứ nhất (tạ/ha/năm) 72

Đồ thị 3.2a Sản lượng của các cỏ thí nghiệm năm thứ hai (tạ/ha/năm) 74

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1 Cỏ hòa thảo và đặc điểm sinh học của chúng 3

1.1.1 Giới thiệu về cỏ hoà thảo 3

1.1.2 Đặc tính sinh thái 3

1.1.3 Đặc tính sinh vật 4

1.1.4 Đặc tính sinh lý 5

1.1.5 Đặc tính sinh trưởng 6

1.1.5.1 Đặc tính sinh trưởng chung 6

1.1.5.2 Động thái sinh trưởng của thân và lá 8

1.1.5.3 Đặc điểm sinh trưởng của rễ 12

1.1.6 Sức sống của cỏ hòa thảo 13

1.2 Thành phần hóa học của thức ăn xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất, thành phần hóa học của chúng 14

1.2.1 Thành phần hóa học của thức ăn xanh 14

1.2.1.1 Đối với các cây cỏ tự nhiên 15

1.2.1.2 Đối với các cây cỏ trồng 16

1.2.1.3 Đối với phụ phẩm ngành trồng trọt 17

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới năng suất, thành phần hóa học của thức ăn xanh 18

1.2.2.1 Điều kiện khí hậu 18

1.2.2.2 Điều kiện đất 22

1.2.2.3 Ảnh hưởng của mùa vụ và điều kiện hàng năm 22

Trang 7

1.2.2.4 Điều kiện phân bón .23

1.2.2.5 Kỹ thuật trồng trọt 23

1.2.2.6 Thời kỳ thu hoạch và kỹ thuật thu hoạch 23

1.3 Một số nghiên cứu về cỏ hoà thảo 25

1.3.1 Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới 25

1.3.2 Tình hình nghiên cứu cỏ trong nước 33

1.4 Đặc điểm một số loại cỏ thuộc đề tài .41

1.4.1 Cỏ Paspalum atratum 41

1.4.2 Cỏ Setaria splendida 42

1.4.3 Cỏ Brachiaria decumbens 42

1.4.4 Cỏ Brachiaria brizantha 43

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 45

2.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 45

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.2.1 Thu thập số liệu khí tượng thuỷ văn tỉnh Thái Nguyên 45

2.2.2.2 Phân tích thành phân hoá học đất 45

2.2.2.3 Thí nghiệm đối với cỏ 46

2.2.2.4 Lấy mẫu và phân tích thức ăn 48

2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU 60

Chương 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 61

3.1 KHÍ TƯỢNG Ở KHU VỰC THÍ NGHIỆM 61

3.2 THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG ĐẤT THÍ NGHIỆM 62

3.3 TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁC CỎ THÍ NGHIỆM 63

3.4 SINH TRƯỞNG VÀ TÁI SINH CỦA CỎ THÍ NGHIỆM 64

3.4.1 Sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng của cỏ 64

Trang 8

3.4.2 Tái sinh 66

3.4.2.1 Chiều cao tái sinh của cỏ thí nghiệm 66

3.4.2.2 Tốc độ tái sinh của cỏ 68

3.5 NĂNG SUẤT, SẢN LƯỢNG CHẤT XANH VÀ VẬT CHẤT KHÔ CỦA CÁC CỎ THÍ NGHIỆM 70

3.5.1 Năng suất của cỏ 70

3.5.2 Sản lượng chất xanh và vật chất khô trung bình năm 75

3.6 THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ AXIT AMIN CỦA CÁC CỎ THÍ NGHIỆM 76

3.6.1 Thành phần hóa học của cỏ 76

3.6.2 Hàm lượng axit amin trong cỏ 79

3.7 SẢN LƯỢNG VẬT CHẤT KHÔ, NĂNG LƯỢNG, PROTEIN CỦA CỎ THÍ NGHIỆM 82

KÊT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Đề nghị 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

VCK : Vật chất khô CTV : Cộng tác viên DXKN : Dẫn xuất không chứa nitơ

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay đàn gia súc nhai lại, đặc biệt là đàn bò của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc đang tăng trưởng nhanh, vấn đề khan hiếm thức ăn đang ngày một bức bách Cỏ tự nhiên có năng suất thấp và ngày một suy thoái do cỏ bị chăn thả quá nặng, làm cho khả năng tăng đàn gia súc bị giới hạn Tuy nhiên, các chuyên gia về cỏ trên thế giới đã nhận thấy khả năng của một số giống cỏ hòa thảo nhiệt đới có năng suất cao, chất lượng dinh dưỡng tốt, phù hợp với hệ thống canh tác thuộc đất khó trồng trọt, có đặc điểm dinh dưỡng thấp và khô hạn Thực tế, không chỉ các đồng cỏ tự nhiên trên thế giới đang bị suy thoái nghiêm trọng, về số lượng và chất lượng, mà còn giảm về diện tích đất giành cho chăn thả do dân số toàn cầu đang tăng nhanh và tốc độ đô thị hóa ngày càng mạnh Đây cũng sẽ là viễn cảnh của Việt Nam trong những năm tới Dân số tăng

và điều kiện kinh tế tăng đã dẫn đến nhu cầu thức ăn (thịt và sữa) ngày càng tăng lên Tuy nhiên, diện tích đất ngày càng thu hẹp bắt buộc con người phải nghĩ đến trồng những cây thức ăn gia súc có năng suất cao, chất lượng tốt để làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi Thực tế, trên thế giới, các nước ở châu Mỹ La tinh đã nghiên cứu và phát triển các giống cỏ hòa thảo có năng suất cao như B decumbens, B brizantha Việc giới thiệu các giống cỏ này vào đồng cỏ ở các nước đã có tác động làm tăng sản lượng cỏ và làm tăng sản phẩm gia súc ở khu vực Tuy nhiên, ở Việt Nam việc đưa cỏ hòa thảo có năng suất chất lượng cao phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai của từng vùng vào sản xuất còn khá mới mẻ với người dân Đối với các nhà nghiên cứu thì chưa có nhiều công trình công bố về khả năng thích nghi, sinh trưởng, phát triển cũng như chất lượng của cây thức ăn (đặc biệt là ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc) Để đáp ứng nhu cầu, cần đa dạng hoá cơ cấu cây thức ăn, đồng thời, chọn lọc và đưa vào sản xuất những giống thích nghi có năng suất cao, phẩm

Trang 11

chất tốt, đặc biệt là những giống có khả năng chống chịu cao vào mùa đông, thích nghi tốt với các điều kiện đất nghèo dinh dưỡng và khô hạn Cần phải nghiên cứu các biện pháp thâm canh cao trên một diện tích đất trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất và chất lượng thức ăn để có thể chuyển giao khoa học công nghệ đến người dân

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên chúng tôi đã tiến hành thực

hiện đề tài: "Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại Thái Nguyên"

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được khả năng sinh trưởng, sản lượng chất xanh, vật chất khô

và một số thành phần dinh dưỡng của các giống cỏ từ đó chọn được các giống

cỏ tốt để đưa ra sản xuất đại trà

- Góp phần hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc các giống cỏ hòa thảo trong chăn nuôi

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cỏ hòa thảo và đặc điểm sinh học của chúng

1.1.1 Giới thiệu về cỏ hoà thảo

Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Graminea) và có 28

họ phụ, 563 giống, 6802 loài Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng vì nó chiếm

95 - 98% trong thảm cỏ (Từ Quang Hiển) [17]

1.1.2 Đặc tính sinh thái

Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong thảm cỏ do tính thích ứng rộng và chúng có mặt ở tất cả các vùng khí hậu cũng như các vùng đất đai khác nhau

Một số loài có thể sinh trưởng được ở các vùng rất khô hạn, độ ẩm trung bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục tốt như: cỏ xương cá, cỏ lông đồi (Eulalia), cỏ decumbens

Một số loài lại sinh trưởng được ở những vùng đất ẩm thấp, độ ẩm lớn từ

60 - 80%, mùa khô độ ẩm thấp hơn nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục bình thường như: Cỏ Paspalum atratum, cỏ đuôi bò (Festucarubra), cỏ đuôi mèo (Pleuin pratense)

Có loài sống được cả ở những nơi đất ngập nước, đất lầy thụt như: cỏ môi (Leersia hexandra), cỏ bấc (Juncus effusus), cỏ lồng vực (Echinochloa crus - galli)

Trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của các loài cỏ mà ta có thể chọn và trồng thích nghi với những điều kiện có khí hậu và địa chất tương tự như vùng gốc của chúng

Trang 13

1.1.3 Đặc tính sinh vật

Cỏ hoà thảo là cây cỏ một lá mầm Cũng giống như những cây một lá mầm khác, thân của chúng có hình tròn hay bầu dục, lá mọc thành hai dãy, đa số không có cuống nhưng có bẹ, có thìa lìa, phiến lá dài, gân lá song song, thân thuộc dạng thân rạ rỗng, có chia đốt Cũng có một số loài thân đặc như cỏ Voi,

cỏ Goatemala Rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là hoa lưỡng tính

Căn cứ vào hình dáng thân và đặc điểm sinh trưởng của chúng, người ta chia cỏ hòa thảo thành các loại sau:

Loại thân rễ

Đối với loại này có đặc điểm đặc trưng là thân luôn nằm dưới mặt đất

và chia nhánh ở dưới mặt đất, đại diện là cỏ tranh Loài này yêu cầu đất tơi xốp Mật độ cỏ thưa, độ che phủ thấp, thích hợp chăn thả nhẹ, không chăn thả gia súc quá đông và lâu vì cỏ này thường không chịu được giẫm đạp và vùng đất dí chặt

Loại thân bụi

Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành bụi như khóm lúa Nhánh có thể được sinh ra dưới mặt đất hoặc trên mặt đất Cỏ này thường có năng suất cao nhưng đòi hỏi đất phải tơi xốp và thoáng khí Do tốc độ đẻ nhanh, cao nên đòi hỏi phải trồng thưa Có thể trồng để thu cắt hoặc chăn thả Đại diện là các cỏ như: cỏ Mộc Châu, Paspalum atratum, Ghinê TD58, Tây Nghệ An

Loại thân bò

Cỏ này thân thường nhỏ và mềm nên thường nằm ngả trên mặt đất, từ các đốt có khả năng (hoặc không) đâm rễ xuống mặt đất Do thân bò và nằm ngả trên mặt đất nên tạo thành thảm cỏ dày che phủ kín mặt đất Cỏ này có khả năng chịu giẫm đạp tốt nên dùng được trong chăn thả, hay thu cắt làm cỏ khô Tuy nhiên, do đặc tính bò nên khó thu cắt và năng suất thường thấp hơn so với các cỏ khác Đại diện của chúng là cỏ Pangôla (Digitaria decumbens), cỏ Lông para (Brachiaria multica), cỏ Lông đồi Hoà Bình (Ischaenum indicum)

Trang 14

Loại thân đứng

Đây là những loại cỏ mọc mầm từ phần gốc ở dưới đất hoặc hom trồng, mầm vươn thẳng, thân cao, to nên cho năng suất cao Đại diện như cỏ Voi

1.1.4 Đặc tính sinh lý

Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao, hệ số toả hơi nước lớn hơn cỏ họ đậu Hệ

số toả hơi nước vào khoảng 400 - 500

Độ ẩm yêu cầu theo giai đoạn:

Từ nẩy mầm đến chia nhánh: 25 -30%

Giai đoạn phát triển nhánh: 75%

Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần

Đối với cỏ hoà thảo dùng để chăn thả thì yêu cầu về độ ẩm thấp hơn cỏ cắt vì thảm cỏ thấp hơn và cành lá phát triển kém hơn Tuy nhiên, vẫn cần đảm bảo tưới đủ nước và đòi hỏi phải giữ độ ẩm đất từ 50 – 60%

Nhu cầu về dinh dưỡng

Để có được năng suất cao, cỏ hoà thảo đỏi hỏi đất tốt, giàu mùn và đạm (N), lân (P), kali (K) Nhu cầu về N, P, K phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cỏ

Giai đoạn I: từ nẩy mầm đến phân nhánh đòi hỏi cần nhiều N, P, K Giai đoạn II: phân nhánh đòi hỏi cần nhiều N, P

Giai đoạn III: ra hoa, hình thành hạt cần nhiều P, K

Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn, đồng thời cần chống rét cho cỏ bằng cách bón phân cho cỏ vào cuối thu – đầu đông

Nhu cầu về không khí

Các loại cỏ thuộc họ thân đứng, thân bụi, thân rễ chia nhánh dưới mặt đất thì đòi hỏi đất phải tơi xốp, thoáng khí

Các loại cỏ thuộc họ thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí và độ ẩm thấp hơn

Trang 15

Tính chịu đựng sương giá và kháng xuân

Loại cỏ chịu sương giá tốt thì trong giai đoạn cuối thu, đầu đông chúng vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường, còn loại chịu sương giá yếu kém thì ngừng sinh trưởng hoăc bị chết vào mùa đông

Tính kháng xuân hay còn gọi là khả năng chịu đựng của cỏ qua mùa đông

Nó thể hiện khả năng của cỏ chịu đựng được sự chênh lệch giữa nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất, sự chênh lệch này làm cho quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng trong thân cây cỏ và quá trình đồng hóa, dị hóa của cỏ mất điều hòa nên

cỏ có tính kháng xuân kém sẽ bị chết Tuy nhiên, tính kháng xuân của cỏ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Cỏ địa phương kháng xuân tốt hơn cỏ nhập nội,

cỏ mọc riêng rẽ thấp bé kháng xuân mạnh, cỏ thân rễ, cỏ sinh trưởng phát triển chậm kháng xuân tốt Loại cỏ mà mùa xuân phục hồi nhanh thì kháng xuân kém hơn loại phục hồi chậm; Cỏ có hàm lượng vật chất khô cao thì kháng xuân tốt và ngược lại Loại có bộ phận trên mặt đất bị chết trong vụ thu đông thì kháng xuân mạnh và ngược lại

1.1.5 Đặc tính sinh trưởng

1.1.5.1 Đặc tính sinh trưởng chung

Theo David W Pratt 1993 [57] thì tính hiệu quả của cỏ là làm biến đổi năng lượng mặt trời thành lá xanh, để động vật có khả năng thu nhận chúng, tuy nhiên sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào những chu kỳ phát triển của cây Các giống cỏ nói chung và cỏ hòa thảo nói riêng, sinh trưởng và tái sinh trải qua ba giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng và đường mô tả sinh trưởng của nó có cấu tạo theo đường cong chữ S như sau:

Giai đoạn I (sinh trưởng chậm): xảy ra sau khi cây cỏ mới bị chăn thả, thu cắt hay mới gieo trồng Sau khi thu cắt, lá mất đi, cây không có khả năng chắn ánh sáng mặt trời trong khi đó cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển Vì vậy, để bù lại sự thiếu hụt đó, năng lượng được huy động từ rễ Rễ trở nên nhỏ

Trang 16

đi và yếu hơn vì năng lượng được sử dụng để phát triển lá Chính vì vậy khi cây

bị ngập úng vào giai đoạn này sẽ rất dễ bị chết do không có lá để thoát hơi nước, còn rễ thì yếu nên dễ bị tổn thương dẫn đến thối rễ và cây chết

Cây cỏ ở trong giai đoạn I sinh trưởng rất chậm, nhưng lá vô cùng ngon

và có giá trị dinh dưỡng cao nhưng số lượng ít

Giai đoạn II (sinh trưởng nhanh): Sau khi gieo trồng hoặc sau khi thu cắt hay sau chăn thả từ 10 - 15 ngày tới 35-40 ngày Lúc này tốc độ tái sinh của cây đạt tới ¼ hay tới 1/3 kích thước của cây trưởng thành, năng lượng được hấp thu đủ qua quá trình quang hợp để cung cấp cho sự phát triển và bắt đầu bổ sung cho rễ Đây là thời gian phát triển nhanh nhất Trong giai đoạn này, lá chứa đủ protein và năng lượng thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc Cỏ có chất lượng dinh dưỡng cao và số lượng lớn

Giai đoạn III (sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn): Sau khi gieo trồng hoặc sau khi chăn thả, sau khi cắt cỏ khoảng 40 - 70 ngày Cây tiếp tục phát triển mau, lá ngày càng trở nên nhạt dần, lá thấp chết đi và bị phân huỷ Lá sử dụng nhiều năng lượng để hô hấp hơn là chúng có thể tạo ra từ quang hợp Ở giai đoạn 3, cỏ có phần thân chiếm đa số và nhiều xơ Hàm lượng dinh dưỡng cao, ngon, số lượng nhiều, tuy nhiên khả năng tiêu hoá của gia súc đối với lá và thân cây giai đoạn này thấp dần

Vì vậy, cần chăn thả hay thu cắt khi kết thúc giai đoạn II và thời gian nghỉ hợp lý để duy trì cây cỏ lâu dài

Không cho động vật gặm hay cắt cỏ quá thấp để cỏ quay lại giai đoạn I, giai đoạn này tái sinh rất chậm và sẽ làm giảm tổng sản lượng cỏ Không để cây chuyển sang giai đoạn III, vì trong giai đoạn III, lá cây nhạt dần và bắt đầu già yếu làm giảm hiệu suất quang hợp Thu hoạch năng lượng từ đồng cỏ sẽ cao nhất nếu thu cắt cây ở cuối giai đoạn II hoặc đầu giai đoạn III

Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống theo từng giai đoạn để chúng ta định ra thời gian chăm sóc và thu cắt hợp lý

Trang 17

Giai đoạn I và đầu giai đoạn II, cần chăm sóc, xới xáo, diệt cỏ dại và bón thúc phân cho cỏ

Cuối giai đoạn II đầu giai đoạn III, cần nhanh chóng thu cắt hoặc chăn thả Nếu không thu hoạch ngay cỏ sẽ già, giá trị dinh dưỡng kém, ảnh hưởng đến khả năng tái sinh lần sau và giảm số lứa cắt hay số lần chăn thả trên năm Còn nếu thu hoạch non, năng suất sẽ thấp, đồng thời nếu thu hoạch quá nhiều lứa trên năm thì dự trữ đường bột ở gốc để phát triển cành lá sẽ bị kiệt, đồng cỏ chóng bị tàn lụi

Thời gian thu cắt ở một số giống cỏ như sau:

Cỏ thân bò vào khoảng 45 – 50 ngày sau khi trồng hoặc 35 – 45 ngày sau khi thu cắt; Cỏ thân bụi vào khoảng 60 ngày sau khi trồng hoặc 45 – 50 ngày sau khi cắt hoặc chăn thả lứa trước; cỏ thân đứng thì sau khi trồng hoặc sau khi cắt vào khoảng trên dưới 60 ngày

Tuy nhiên, động thái sinh trưởng của thân lá và rễ không hoàn toàn giống nhau và được trình bầy rõ trong mục 1.1.5.2 và 1.1.5.3

1.1.5.2 Động thái sinh trưởng của thân và lá

Theo dõi sinh trưởng của thực vật, người ta thấy rằng: sau khi nẩy mầm khối lượng VCK sẽ giảm dần do chất dự trữ ở hạt được sử dụng trong quá trình nẩy mầm Sinh trưởng lúc này chậm Cho tới khi những lá xanh đầu tiên xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh trưởng bắt đầu tăng dần đến mức đáng kể Đến gần giai đoạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng hẳn, cũng có khi ở giai đoạn này khối lượng VCK của cây bị giảm đi

a ) Nhân tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân, lá

+ Sức nẩy mầm của giống

Sự sinh trưởng của cỏ phụ thuộc vào sức nẩy mầm của hạt, hạt có sức nầy mầm cao sẽ tạo điều kiện tốt cho sinh trưởng sau này Sức nẩy mầm của giống không những phụ thuộc vào bản thân hạt, mà còn vào sự chuẩn bị giống, điều kiện đất đai và khí hậu Đối với các giống cỏ dùng hom cũng vậy Người

Trang 18

ta thấy rằng: những đoạn hom đầu có tỷ lệ nẩy mầm cao nhất và khi tăng số đốt của hom sẽ tăng tỷ lệ nẩy mầm, tuy nhiên từ đốt thứ 3 trở đi thì tỷ lệ nẩy mầm giảm xuống đột ngột

+ Nhiệt độ

Nhiệt độ là nhân tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đối với sinh vật nói chung và thực vật nói riêng Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng (nằm trong nhiệt độ tới hạn) thì sinh trưởng tăng và cũng tương tự nhiệt độ giảm thì sinh trưởng chậm lại Nếu tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân

Vũ và cộng sự, 1976) [51] Theo Bogdan 1977 [53] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới nẩy mầm là 15 - 200 C và tối ưu là 25 - 350 C Nhiệt độ tối ưu cho cỏ

ôn đới quang hợp là 15 - 200 C và cỏ nhiệt đới là 30 - 400C Sự hình thành diệp lục bắt đầu khi T0 > 10 - 150C

Cỏ hòa thảo nhiệt đới và á nhiệt đới có nhiệt độ sinh trưởng thích hợp cao hơn so với cỏ ôn đới Những cỏ như Suđăng, Paspalum dilatatum sinh trưởng rất chậm hoặc không sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ 10 - 150C và ở nhiệt độ

30 - 350C thì tốc độ sinh trưởng cao nhất Cây thức ăn gia súc sinh trưởng tốt nhất trong nhiệt độ ban ngày hẹp từ 7,20C đến 350C Nhiệt độ thích hợp cho đẻ nhánh con của cỏ nhiệt đới thường nhỏ hơn nhiệt độ thích hợp cho nhánh sinh trưởng (Cooper và Tainton, 1968) [10] Ở nhiệt độ thấp dưới 100C cây cỏ nhiệt đới có hiện tượng úa vàng, sau đó chết do diệp lục bị phá hủy

Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng của cỏ Đối với cây hòa thảo nhiệt đới phản ứng với sự thay đổi này mang tính chất đặc trưng, khi nhiệt độ ban đêm giảm xuống sinh trưởng của cây cũng giảm

Nhiệt độ đất có tác dụng đối với nhiệt độ bên trong thực vật lớn hơn nhiệt

độ không khí, do vỏ và cây dẫn nhiệt kém, còn nhiệt độ đất thông qua nước hấp thu từ đất mà chuyển vào cây dễ dàng (Phan Nguyên Hồng, 1971) [18]

Trang 19

+ Ẩm độ

Ẩm độ là một nhân tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây Cây sinh trưởng mạnh nhất khi tế bào bão hòa nước Giảm mức độ bão hòa thì tốc độ sinh trưởng chậm lại Đối với các tế bào đầu rễ vì không có mô che chở như các tế bào trên mặt đất nên phải đủ ẩm thì rễ mới sinh trưởng được Về mùa xuân nước trong đất nhiều, độ ẩm không khí cao, cây ít mất nước và chất nguyên sinh được bão hòa nên sinh trưởng mạnh, còn mùa đông thì ngược lại Trong mùa đông có nhiều yếu tố thay đổi làm ảnh hưởng tới sinh trưởng nhưng thực tế trong mùa đông nhiệt độ và ẩm độ là 2 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng, trong

đó, nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng ẩm độ là nhân tố hạn chế nhất Cho nên tưới nước cho cỏ trong mùa đông là cần thiết để tăng năng suất cây trồng

Ẩm độ không khí cũng là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ, vì ẩm độ giảm thì cường độ thoát hơi nước tăng và ngược lại Nếu thừa nước thì cây bị ngập úng không lấy được oxy Vì vậy, tưới và tiêu nước cũng rất cần thiết trong quá trình phát triển đồng cỏ

+ Ánh sáng

Ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng cho cây tiến hành quang hợp, thoát hơi nước, hình thành chất diệp lục Có ánh sáng cây mới sinh thân, cành,

lá, ra hoa kết quả bình thường

+ Dinh dưỡng trong đất

Điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ trồng, trong đó các chất dinh dưỡng trong đất đóng vai trò quan trọng là N, P, K; và kể

cả những nguyên tố đa vi lượng khác

Độ pH trong đất: quyết định trạng thái dễ tiêu hay không tiêu của các nguyên tố Cỏ hòa thảo ưa đất trung tính còn cỏ bộ đậu ưa đất kiềm vì chúng cần nhiều canxi hơn, chính vì vậy đồng cỏ nhiệt đới thường ít cây họ đậu

Trang 20

b) Nhân tố ảnh hưởng tới tái sinh của thân và lá

Cây cỏ đã được thu hoạch bằng dạng này hay dạng khác chỉ có khả năng tái sinh khi trong rễ và thân còn lại có chứa đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tái sinh Vì vậy khả năng tái sinh phụ thuộc vào các nhân tố như: tuổi thiết lập, tuổi thu hoạch, độ cao cắt vì nó ảnh hưởng tới lượng dinh dưỡng

+ Tuổi thu hoạch

Kể từ lứa cắt lần thứ nhất trở đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi thu hoạch Khi cây dự trữ đủ dinh dưỡng thì ta bắt đầu thu hoạch Voisin

1963 [76] khẳng định : một cây cỏ nếu bị cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt trước dự trữ đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn và có thể không tái sinh được Nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng 1/2 tuổi thu hoạch thích hợp thì năng suất chỉ còn 1/3 Nếu tăng hơn tuổi thích hợp nhất 50% thì chỉ tăng năng suất 20%, nhưng chất lượng giảm, tỷ lệ chất xơ tăng

+ Chiều cao cỏ còn lại sau khi cắt

Chỉ tiêu này là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới việc tăng sản lượng và chất lượng của các giống cỏ

Trang 21

Khi cắt cỏ quá cao sẽ làm giảm sản lượng cỏ vì còn phần để lại, khi cắt cỏ quá thấp sẽ ảnh hưởng tới các lần tái sinh sau đó, làm mất đi phần thân gần gốc

là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản để nuôi rễ và toàn bộ lá, không tạo ra các chất hữu cơ khác được Tùy từng loại cỏ khác nhau mà chiều cao khi cắt để lại là khác nhau

Đối với thân đứng cắt cách mặt đất 4 – 5 cm

Đối với thân bụi cắt cách mặt đất 3 – 5 cm

Đối với thân bò cắt cách mặt đất 7 – 10 cm

1.1.5.3 Đặc điểm sinh trưởng của rễ

Động thái sinh trưởng của rễ

Sinh trưởng của rễ cũng mang tính chất mùa vụ rõ rệt như các bộ phận trên mặt đất Phần lớn bộ rễ sinh trưởng mạnh vào mùa xuân đạt tới mức cao nhất trước khi bộ phận trên mặt đất đạt được và ngừng khi cây ra hoa Khi sinh trưởng của cây cao thì sự ra rễ ngừng và một vài rễ bắt đầu chết Sinh trưởng của rễ cũng phụ thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng và tuổi của rễ

Nhân tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của rễ

+ Nhiệt độ:

Whyte và cộng sự 1964 [77] cho rằng rễ cần nhiệt độ thấp hơn so với thân

và lá để sinh trưởng và phát triển Bởi vậy, ở nhiệt độ cao rễ sinh trưởng chậm hơn so với thân và lá

Ở nhiệt độ thấp, sinh trưởng của rễ tương đối tăng hơn thân lá, nhiệt độ cao thì sinh trưởng của thân lá tương đối tăng hơn rễ

Trang 22

+ Ánh sáng

Nếu chiếu sáng đầy đủ thì bộ rễ phát triển mạnh mẽ hơn và ngược lại Ngày ngắn và việc dự trữ dinh dưỡng trong rễ có tỷ lệ thuận với nhau Tăng cường độ chiếu sáng dẫn đến tăng phát triển rễ và dẫn đến tăng sinh trưởng thân

và lá

+ Dinh dưỡng trong đất

Phân bón, đặc biệt là phân đạm có ảnh hưởng tới kiểu và độ sâu của rễ Với lượng đạm ít sẽ tạo ra bộ rễ phát triển và với lượng hydratcacbon cao ở rễ

và ngược lại nếu đạm nhiều thì tăng phát triển bộ phận trên mặt đất và giảm lượng hydratcacbon trong rễ Đạm thấp làm rễ nhiều và chia nhiều nhánh còn đạm cao thì rễ mập và ngắn

1.1.6 Sức sống của cỏ hòa thảo

Sức sống của cỏ cũng như một số hòa thảo khác có thời gian sống là khác nhau Căn cứ vào độ dài ngắn của thời gian sống của chúng mà người ta chia ra thành loại sống ngắn ngày hay lâu năm Cụ thể người ta chia làm 4 loại sau:

Loại sống một năm: chúng chỉ sống trong vòng một năm hoặc ngắn hơn rồi tàn lụi và chết, thường gọi là cỏ hàng năm như: cỏ lồng vực, cỏ ngô (Zea mays), cỏ Suđăng (Sorghum sudanense)

Loại cỏ có sức sống ngắn (2- 3 năm) như cỏ dầy (Hemarthria compressa),

Trang 23

1.2 Thành phần hóa học của thức ăn xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất, thành phần hóa học của chúng

1.2.1 Thành phần hóa học của thức ăn xanh

Như chúng ta đã biết thức ăn xanh là cụm từ chỉ tất cả các loại thực vật gồm các cây hoà thảo, cây bộ đậu, cây thân gỗ và các cây khác mà có thể sử dụng được để làm thức ăn cho gia súc (chủ yếu là sử dụng cho loài nhai lại và ngựa) Khái niệm về cây thức ăn xanh bao hàm cả các cây thức ăn tự nhiên và các cây thức ăn trồng với mục đích sử dụng làm thức ăn gia súc Đối với thức

ăn xanh trồng với mục đích làm thức ăn gia súc thì được chia làm hai loại chủ yếu là cây hoà thảo và cây bộ đâu Chúng có đặc điểm là được chọn lọc và lai tạo nên thường có năng suất cao, chất lượng tốt và thích nghi với một số vùng nhất định

Đây là loại thức ăn rất quan trọng đối với gia súc gia cầm, đặc biệt đối với loài nhai lại Nó chiếm từ 20-40 khẩu phần cho lợn, 70-100% khẩu phần của gia súc nhai lại và ngựa, 5-10 % khẩu phần của gia cầm Chính vì vậy thức ăn xanh

là loại thức ăn vô cùng cần thiết trong chăn nuôi và chúng có những đặc điểm riêng về thành phần hóa học

Trong thực tế chăn nuôi, để thấy được tính ưu việt của mỗi loại thức ăn hay để phối hợp một cách hợp lý trong khẩu phần thì điều đầu tiên người ta quan tâm trong mỗi loại thức ăn là thành phần dinh dưỡng trong thức ăn, như: hàm lượng vật chất khô, protein, lipit, xơ, khoáng Tuy nhiên, thành phần hóa học của mỗi loại thức ăn là khác nhau và còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố của giống

và môi trường tác động

Đặc điểm của thức ăn xanh:

Là loại thức ăn chứa nhiều nước (70-90%); do đặc điểm là mới thu cắt hay chăn thả trực tiếp ngoài cánh đồng nên thức ăn tươi giữ được tỷ lệ nước cao,

Trang 24

giữ được mùi vị tự nhiên của thức ăn nên chúng ngon miệng, gia súc thích ăn và

dễ tiêu hóa Trong mỗi loại thức ăn khác nhau thì thành phần dinh dưỡng của chúng là khác nhau, cụ thể như sau:

1.2.1.1 Đối với các cây cỏ tự nhiên

Theo tài liệu của Viện chăn nuôi quốc gia, 1995 [50], đối với cây cỏ ngoài

tự nhiên thì hàm lượng dinh dưỡng rất khác nhau như:

Đối với các cây như rong, bèo, rau ở dưới nước thì hàm lượng vật chất khô thường thấp, chiếm từ 6-11% vật chất khô Ví dụ: bèo ong có 10,90% vật chất khô; 0,90 protein thô; 0,20% lipit thô; 1,60% xơ thô; 6,40% dẫn xuất không đạm; 1,80% khoáng tổng số

Đối với các cây mọc trên cạn thì hàm lượng dinh dưỡng cũng rất khác nhau, như rau tầu bay có 9,00% vật chất khô; 2,50 protein thô; 0,20% lipit thô; 1,60% xơ thô; 3,80% dẫn xuất không đạm; 0,90% khoáng tổng số

Cỏ bạc hà (cỏ vừng) có 11,90% vật chất khô, 1,80% protein thô; 0,50% lipit thô; 2,70% xơ thô; 5,10% dẫn xuất không đạm; 1,80% khoáng tổng số

Cỏ thài lài 10,10% vật chất khô; 1,70 protein thô; 0,90% lipit thô; 10,0%

xơ thô; 13,70% dẫn xuất không đạm; 1,60% khoáng tổng số Trong khi đó một

số cỏ khác có mức trung bình về vật chất khô thường từ 18-24% hàm lượng VCK như: Cỏ Mộc Châu mọc tự nhiên có 23,88% vật chất khô; 2,54 protein thô; 0,51% lipit thô; 8,67% xơ thô; 10,13% dẫn xuất không đạm; 2,03% khoáng tổng số

Theo Đoàn Ẩn và Võ Văn Trị, 1976 [1] cỏ Mộc Châu khi được trồng, tùy theo tuổi, thời vụ và thu cắt vào thời điểm hợp lý thì tỷ lệ nước là 82%; 0,95% protein tiêu hóa; 0,68% lipit tiêu hóa và 3,40% xơ tiêu hóa

Một số cỏ có hàm lượng vật chất khô cao (trên 30%) như: cỏ sâu róm có 30,20% vật chất khô và tỷ lệ các chất khác là 2,30% protein thô; 1,60% lipit thô; 9,70% xơ thô; 14,70% dẫn xuất không đạm; 1,90% khoáng tổng số

Trang 25

Đối với cây bộ đậu ngoài tự nhiên thì hàm lượng vật chất khô ở mức từ 15- 25% như: Cây keo dậu rừng (cành-lá) có: 25,30% vật chất khô; 7,20% protein thô; 0,90% lipit thô; 4,30% xơ thô; 11,50% dẫn xuất không đạm; 1,40% khoáng tổng số

Lá cây mít có 43,00% vật chất khô; 7,40% protein thô; 1,90% lipit thô; 9,10% xơ thô; 19,90% dẫn xuất không đạm; 4,70% khoáng tổng số

1.2.1.2 Đối với các cây cỏ trồng

Trong cỏ hòa thảo trồng thì tỷ lệ vật chất khô và các thành phần dinh dưỡng khác trong cỏ cũng dao động rất lớn Theo tài liệu của Viện chăn nuôi quốc gia [50] thì chúng có thể biến động về vật chất khô từ 11 đến trên dưới 35% và phụ thuộc vào giống, loài và tuổi thu cắt

Có những cỏ có thành phần vật chất khô thấp như cỏ Ghigantea có hàm lượng vật chất khô là 13,68% và các thành phần dinh dưỡng khác như protein thô là 2,08%; 0,60% lipit thô; 1,72% xơ thô; 6,07% dẫn xuất không đạm; 3,21% khoáng tổng số

Cỏ Voi non có tỷ lệ vật chất khô là 11,80% và các thành phần dinh dưỡng khác như sau: protein thô là 2,20%; 0,40% lipit thô; 3,20% xơ thô; 4,30% dẫn xuất không đạm; 1,70% khoáng tổng số

Theo Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976 [1], cỏ Voi tuổi càng nhỏ thì hàm lượng protein càng cao, tuổi càng lớn thì lượng chất xơ càng cao (tỷ lệ nghịch với hàm lượng protein và nước) cụ thể là 2 tuần tuổi tỷ lệ nước là 89,56%; 2,67% xơ; protein cỏ khô là 18,42%, cỏ 4 tuần tuổi có 87,40% là nước; 3,72% xơ và 11,49% protit trong cỏ khô

Một số cỏ có tỷ lệ vật chất khô cao như:

Cỏ Ghinê Đông Nam Bộ: có 25,60% vật chất khô, 1,80% protein thô; 0,60% lipit thô; 9,70% xơ thô; 11,90% dẫn xuất không đạm; 1,60% khoáng tổng số

Trang 26

Cỏ Pangôla trung du Bắc bộ có: 35,60% vật chất khô, 2,30% protein thô; 0,90% lipit thô; 11,60% xơ thô; 18,10% dẫn xuất không đạm; 2,70% khoáng tổng số

Theo Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976 [1] cỏ Pangôla thu hoạch hợp lý là lúc

cỏ cho sản phẩm có chất lượng cao nhất Chúng có tỷ lệ nước là 72,57%; 1,79% protein tiêu hóa; 2,30% lipit tiêu hóa, 5,10% mỡ tiêu hóa; 0,172 đơn vị thức ăn/1kg

So sánh cây cỏ hòa thảo trồng và cây cỏ bộ đậu trồng thì cây cỏ bộ đậu trồng có hàm lượng vật chất khô, protein và lipit là cao hơn Cụ thể các cỏ bộ đậu có thành phần dinh dưỡng như sau: Vật chất khô từ 12 đến trên 32%; 2-7% protein thô; lipit nhỏ hơn 1,30% Ví dụ: cây đậu cô ve Cao Bằng có 15,40% vật chất khô; 2,10% protein thô; 1,20% lipit thô; 2,90% xơ thô; 7,50% dẫn xuất không đạm; 1,70% khoáng tổng số Cây cốt khí-lá có 24,10% vật chất khô, 6,50% protein thô; 1,00% lipit thô; 6,70% xơ thô; 8,70% dẫn xuất không đạm; 1,20% khoáng tổng số

Theo tài liệu của Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004 [20], trung bình 1 kg keo dậu tươi có 200-240g chất khô; 45-50g protein thô; năng lượng trao đổi là 589-

655 Kcal

Cây keo dậu Philippin-cành lá (60 ngày) có 32,39% vật chất khô, 5,35% protein thô; 0,73% lipit thô; 7,45% xơ thô; 17,07% dẫn xuất không đạm; 1,79% khoáng tổng số

1.2.1.3 Đối với phụ phẩm ngành trồng trọt

Đây là những phụ phẩm sau khi đã thu hoạch sản phẩm chính (cây ngô đã thu bắp, rơm rạ) nên chúng thường già và chứa nhiều xơ, giá trị dinh dưỡng sử dụng được cho gia súc thấp và tỷ lệ các chất dinh dưỡng cũng biến động rất khác nhau phụ thuộc vào từng loại phụ phẩm và từng loại cây trồng Tỷ lệ vật chất khô dao động từ 5,70% ở cây chuối đã lấy buồng cho tới 61,60% ở cây ngô đã thu bắp- thân lá

Trang 27

Ở cây chuối thân đã lấy buồng có: 5,70% vật chất khô, 0,60% protein thô; 0,20% lipit thô; 2,00% xơ thô; 2,30% dẫn xuất không đạm; 0,60% khoáng tổng số

Cây ngô đã thu bắp (thân lá) có 61,60% vật chất khô; 4,70% protein thô; 1,20% lipit thô; 19,40% xơ thô; 31,90% dẫn xuất không đạm; 4,40% khoáng tổng số

Theo tài liệu của Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004 [20] thì hàm lượng chất

xơ trong cây ngô già mới thu bắp thấp hơn so với rơm lúa (trong rơm 30%, trong thân ngô già chỉ 19,4%) Cũng theo tài liệu này thì dây lạc có tỷ lệ protein cao (15%) và đây là cứu cánh cho nghề chăn nuôi trâu, bò thịt Còn ngọn mía chiếm tới 30% cây mía, chúng có thành phần hóa học tính theo phần trăm như sau: 25,6% vật chất khô; 6,3% protein thô; 2,2 lipit thô; 35,0% xơ thô; 50,3% dẫn xuất không đạm

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới năng suất, thành phần hóa học của thức

độ từ 0 đến 30-350 C ảnh hưởng của nhiệt độ tới cây trồng là theo quy luật Mặt khác khi tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân Vũ và cộng sự 1976) [51]

Bogdan 1977 [53] cho rằng sự hình thành diệp lục bắt đầu khi T0 >

10-150C và nhiệt độ thấp nhất mà cây cỏ nhiệt đới có thể nẩy mầm là 15-200C và

Trang 28

tối ưu là 25-350C Để cây cỏ quang hợp tốt nhất là ở 30-400C Trong giới hạn nhiệt độ cho cây sinh trưởng, ở nhiệt độ tối thích thì cây sinh trưởng mạnh nhất Trên hoặc dưới nhiệt độ tối thích thì cây sinh trưởng chậm dần Ở nhiệt

độ tối thấp và tối cao cây ngừng sinh trưởng nhưng chưa chết, còn ở giữa nhiệt

độ tối thấp đến điểm chết rét và giữa nhiệt độ tối cao đến điểm chết nóng cây ngừng sinh trưởng và rơi vào trạng thái mê Nếu thời gian này kéo dài thì cây dẫn đến chết

Đối với phần lớn các cỏ hòa thảo ôn đới, nhiệt độ thích hợp nhất để sinh trưởng nằm trong khoảng 20-250 C, còn đối với các cỏ hòa thảo nhiệt đới và cận nhiệt đới có nhiệt độ sinh trưởng thích hợp cao hơn Một số cỏ khi gặp điều kiện nhiệt độ thấp dưới 10-150 C thì sự sinh trưởng đã giảm rất rõ rệt Qua nghiên cứu người ta thấy rằng cây thức ăn gia súc sinh trưởng tốt nhất trong nhiệt độ ban ngày hẹp từ 7,2 đến 350C Nhiệt độ thích hợp cho đẻ nhánh thì thấp hơn nhiệt độ cho sinh trưởng của các nhánh (Cooper và Tainton, 1968) [10] Cây cỏ nhiệt đới thường bị phá hủy chất diệp lục khi nhiệt độ môi trường giảm thấp dưới 100 C và dẫn đến cây sẽ lụi dần và chết

Sự chênh lệch về nhiệt độ giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng của cây, ban ngày nhiệt độ cao và có ánh sáng thích hợp thuận lợi cho cây quang hợp và tích lũy năng lượng và các chất dinh dưỡng, ban đêm nhiệt độ thấp sẽ hạn chế sự tiêu phí hữu cơ nên sinh trưởng của cây nhanh hơn (đối với cây cỏ ôn đới) (Trịnh Xuân Vũ và cộng sự, 1976) [51] Trái lại đối với cây cỏ hòa thảo nhiệt đới nó có đặc trưng riêng, nhiệt độ ban đêm giảm xuống thì sinh trưởng của cây giảm xuống

Chính các lý do về nhiệt độ mà ở các vĩ độ khác nhau, độ cao khác nhau thì nhiệt độ ở khu vực đó là khác nhau Do đó tùy theo nhiệt độ ở đó mà ta chọn các loại cỏ chịu hoặc kém chịu nóng sao cho phù hợp

Trang 29

Ẩm độ

Ẩm độ là một trong những nhất tố quan trọng cần thiết tới sự sinh trưởng của cây Ẩm độ đất có ảnh hưởng rất lớn tới phát triển của bộ rễ cỏ và khả năng hút chất dinh dưỡng của cỏ Đối với các tế bào đầu rễ thì phải đảm bảo đủ nước thì mới sinh trưởng được do chúng không có bộ phận bảo vệ như các phần trên mặt đất Các phần trên mặt đất có cutin và mầm lá che chở nên đỉnh sinh trưởng vẫn giữ được độ bão hòa nước và gian bào chứa nước thường xuyên gần bão hòa hoàn toàn, mặc dù độ ẩm không khí giảm xuống dưới mức bão hòa Tuy nhiên, khi độ ẩm không khí quá thấp thì cây có thể mất nước quá nhiều làm cho dịch bào tăng lên và dịch bào lại lấy nước của chất nguyên sinh nên làm cản trở cho quá trình sinh trưởng của cây Mùa xuân cây sinh trưởng mạnh do độ ẩm không khí cũng như độ ẩm đất cao nên cây không bị mất nước, chất nguyên sinh được bão hòa nước nên cây phát triển thuận lợi Đối với mùa đông, ẩm độ đất và không khí đều thấp nên cây bị mất nước, chất nguyên sinh không được bão hòa nước nên cây sinh trưởng chậm lại

Sự thay đổi theo mùa của sinh trưởng là do nhiều yếu tố gây nên, nhưng hạn chế nhất trong mùa đông vẫn là nhiệt độ và ẩm độ mà trong đó nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng ẩm độ là nhân tố hạn chế nhất Chính vì vậy tưới nước là một hình thức cân bằng nước và làm tăng năng suất cỏ do cây có đủ điều kiện để hấp thụ chất dinh dưỡng

Ẩm độ không khí có ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng vì ẩm độ không khí giảm thì cường độ thoát hơi nước của cây tăng và ngược lại Ẩm độ đất cũng

là nhân tố quan trọng cho cây phát triển vì nhờ có nước mà cây có thể hút chất dinh dưỡng Nếu đất thiếu nước thì cây không thể hoạt động mạnh mẽ được Còn thừa nước thì cây bị úng thối do thiếu oxy Chính vì vậy đảm bảo độ ẩm phù hợp cho không khí và đất cho cây phát triển bình thường là điều rất cần thiết trong năm của cây trồng nói chung và cỏ hòa thảo nói riêng

Trang 30

Ánh sáng

Ánh sáng là nhân tố rất cần thiết tới điều kiện sinh trưởng của cây, vì nó cần thiết cho quang hợp Mối quan hệ giữa ánh sáng và sinh trưởng của cây là rất phức tạp Ánh sáng cung cấp năng lượng cho cây quang hợp, thoát hơi nước, hình thành chất diệp lục Có ánh sáng cây mới phát triển thân, cành, lá, rễ và ra hoa kết quả một cách bình thường Ánh sáng ảnh hưởng tới sinh trưởng bởi hai hình thức khác nhau là cường độ sáng và quang chu kỳ Ở điều kiện 500-1000 lux thì cường độ quang hợp tăng nhanh cùng cường độ sáng, nhưng những cường độ sáng mạnh thì mức tăng giảm và bất ngờ đạt bão hòa (Cooper và Tainton, 1968) [10] Đối với cỏ chịu cường độ chiếu sáng yếu, khi cường độ chiếu sáng tăng thì cường độ quang hợp tăng nhưng tăng quá giới hạn thì cường

độ quang hợp lại giảm Cỏ ưa cường độ chiếu sáng mạnh, cường độ chiếu sáng càng tăng thì cường độ quang hợp càng tăng Một số cỏ như cỏ Paspalum dilatatum có thể tăng cường độ chiếu sáng lên tới 60.000 lux vẫn chưa thấy bão hòa Như vậy, ở cường độ chiếu sáng mạnh thì tốc độ sinh trưởng tương đối của

cỏ nhiệt đới tiếp tục tăng, có lẽ do sự phân phối giữa cường độ quang hợp tiềm tàng và những trị số bão hòa ánh sáng cao Theo các nhà nghiên cứu thì hệ số diện tích lá và hệ số khối lượng lá giảm rõ rệt ở cường độ chiếu sáng mạnh đồng thời chiều dài lá và diện tích riêng của lá giảm do đó lá ngắn hơn và dầy hơn Tùy theo yêu cầu của ánh sáng đối với sinh trưởng của cây mà người ta chia ra: cây ưa sáng và cây ưa bóng Cây ưa sáng là cây sinh trưởng mạnh nhất khi có điều kiện chiếu sáng đầy đủ Cây ưa bóng là cây sinh trưởng tốt trong điều kiện che bóng thích hợp để trên cơ sở đó chọn lọc các cây trồng phù hợp với điều kiện ánh sáng

Quang chu kỳ: Các tác giả cho thấy ít có sự thay đổi khi thay đổi quang chu kỳ từ 8 giờ lên 16 giờ, hệ số diện tích riêng của lá, tỷ lệ thân lá/rễ không bị ảnh hưởng rõ rệt Quang chu kỳ chỉ ảnh hưởng tới tốc độ ra lá Chiều dài và đôi

Trang 31

khi cả chiều rộng lá đều tăng nếu kéo dài quang chu kỳ bằng cường độ ánh sáng yếu Trong những ngày hè thì dài lá và thân sinh trưởng thẳng hơn, giảm hình thành mầm nách Trong những ngày ngắn và mát của cuối hè và thu thì sinh trưởng rộng hơn và chồi hình thành nhiều

1.2.2.2 Điều kiện đất

Điều kiện dinh dưỡng trong đất

Điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ trồng, trong đó các chất dinh dưỡng là các yếu tố cơ bản tác động đến sinh trưởng của

cỏ Đất có N P K và pH thích hợp thì cỏ sinh trưởng và phát triển tốt, sản lượng

và chất lượng cỏ cao Nếu pH đất thấp thì làm quá trình phân giải các chất dinh dưỡng trong đất bị gián đoạn do vi sinh vật bị ức chế gây ảnh hưởng tới sinh lý

bộ rễ thực vật Ngoài ra, pH còn ảnh hưởng tới sự hấp thu các muối vô cơ của thực vật như: Bo, clo, coban, đồng, iốt, sắt, mangan Nếu đất có hàm lượng dinh dưỡng tốt thì cung cấp đầy đủ các chất khoáng cho cây trồng qua đó gián tiếp cung cấp cho gia súc

Điều kiện kết cấu đất

Đất có tỷ lệ mùn, cát, sét, sỏi đá khác nhau thì sẽ tạo ra đất có kết cấu khác nhau

Đất nhiều mùn mà tỷ lệ cát, sét, sỏi đá thấp thì đất tơi xốp và vi sinh vật phát triển mạnh thuận lợi cho cây phát triển còn đất có hàm lượng sét quá nhiều thì đất dí chặt, không tơi xốp nên rễ cây kém phát triển dẫn đến cây phát triển kém Nếu tỷ lệ sét ít mà cát cao thì đất không giữ được nước nên bất lợi cho cây phát triển

1.2.2.3 Ảnh hưởng của mùa vụ và điều kiện hàng năm

Ảnh hưởng của mùa vụ là ảnh hưởng của tổng hợp các nhân tố như ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ Mùa mưa thời gian chiếu sáng dài, cường độ chiếu sáng lớn, nhiệt độ, ẩm độ đất và không khí cao, cây sinh trưởng nhanh Sản lượng cỏ

Trang 32

trong mùa mưa (tháng 5-10) có thể đạt 75% tổng sản lượng cả năm Ngược lại, mùa khô mọi nhân tố đều bất lợi nên sản lượng chỉ đạt 25%

Điều kiện hàng năm: Các năm có khí hậu thời tiết khác nhau cây cỏ sẽ sinh trưởng và phát triển khác nhau Nếu mùa mưa đến muộn thì cây tái sinh muộn, sinh trưởng chậm và ngược lại Nếu khí hậu khô hanh và ít mưa thì có thể dẫn tới giảm sản lượng 2-3 lần nhưng nếu điều kiện thuận lợi thì có thể tăng 2-4 lần

1.2.2.4 Điều kiện phân bón

Bón đầy đủ các chất dinh dưỡng và khoáng vi lượng theo yêu cầu của cây

sẽ làm tăng năng suất cây trồng, tăng lượng vật chất khô trong cây, đặc biệt là các nguyên tố khoáng, điều đó gián tiếp làm tăng năng suất chăn nuôi Khi sử dụng phân bón P K và N P K làm tăng năng suất lên tương ứng 33 và 70% Phân bón P K rải 1 lần trong năm có tác dụng trong cả năm làm tăng năng suất

cỏ so với không bón phân Ngược lại, sự tăng năng suất do nitơ chỉ xảy ra ngay sau khi bón phân một thời gian ngắn Chính vì vậy, người ta sử dụng đạm một cách hợp lý bằng cách bón rải ra sau các lứa cắt, chu kỳ chăn thả để làm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm để khắc phục tình trạng mùa do điều kiện thời tiết gây nên

1.2.2.5 Kỹ thuật trồng trọt

Ngoài các điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với cây trồng thì yêu cầu phải trồng đúng thời vụ và đúng mật độ và kỹ thuật trồng là yếu tố cần thiết và đảm bảo cho cây sinh trưởng và phát triển một cách bình thường, cây có tỷ lệ sống cao và năng suất chất xanh cao

1.2.2.6 Thời kỳ thu hoạch và kỹ thuật thu hoạch

Khi thu hoạch cây còn non có ưu điểm là gia súc thích ăn và tiêu hóa tốt thức ăn nhưng vật chất khô của thức ăn thấp và năng suất chất xanh thấp Nếu thu cắt khi cỏ quá non sẽ ảnh hưởng tới tái sinh và năng suất của lứa sau Khi thu hoạch quá non cỏ sẽ bị chết do chất dinh dưỡng chưa kịp tích lũy vào bộ rễ

Trang 33

để cung cấp cho lần tái sinh sau Trong khi đó rễ lại bị giảm đi nhiều về dinh dưỡng để phục vụ cho tái sinh lần trước nên khi thu cắt sớm cây mất lá để dự trữ năng lượng đồng thời dinh dưỡng ở rễ không đủ cung cấp cho tái sinh thì cây có thể dẫn đến chết Nếu cắt quá cao năng suất chất xanh giảm còn cắt quá thấp sẽ ảnh hưởng tới tái sinh của lứa sau

Cắt cỏ với số lần vừa phải trong năm cây cỏ phát triển tốt Cắt quá ít lần trong năm cây già chất lượng kém, ảnh hưởng tới tái sinh lứa sau vì vậy giảm sản lượng cỏ/năm

Cắt cỏ nhiều lần trên năm sẽ có lợi là: Cỏ non, xanh, mềm chưa có hoa,

nụ nên dinh dưỡng vẫn nằm nguyên trong thân và lá Tỷ lệ tiêu hóa thời điểm này cao, tỷ lệ protein cao, khả năng dự trữ dinh dưỡng cho lần tái sinh sau cao

Cắt cỏ quá ít lần trên năm sẽ làm cỏ già và giảm sản lượng cỏ, hàm lượng lân, kali, clo và protein trong cỏ giảm, caroten giảm đồng cỏ bị thoái hóa, rễ kém phát triển và bị teo đi nhiều, lá giảm nhưng thân và hàm lượng celluloza tăng Lá

có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao vì vậy giảm tỷ lệ lá sẽ giảm giá trị dinh dưỡng của cỏ Thân tăng làm cho hàm lượng celluloza tăng, ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêu hóa của cỏ Ngoài ra, khi cắt ít lần trên năm cỏ thường già và cứng nên gia súc không thích ăn hoặc không ăn, tỷ lệ tiêu hóa của cỏ giảm kết quả là cỏ chỉ để độn chuồng làm phân mà gia súc vẫn đói

Ảnh hưởng của cắt quá cao và quá thấp: đây là nhân tố quyết định mức độ lớn và tăng sản lượng, chất lượng của cỏ Khi cắt cỏ cao làm mất sản lượng cỏ, còn cắt thấp làm giảm sản lượng các lứa sau, vì cắt thấp làm mất đi phần thân gần gốc là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản và toàn bộ lá, thiếu các bộ phận này cỏ không tạo ra các chất hữu cơ mới được Vì vậy, nếu cỏ được gieo thì cắt lần một với chiều cao còn lại của gốc là 4-5 cm Nếu trồng bằng thân hay gốc thì cắt còn lại là 6-8 cm, (Từ Quang Hiển, 2002) [17]

Trang 34

1.3 Một số nghiên cứu về cỏ hoà thảo

1.3.1 Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới

Để phát triển chăn nuôi động vật nói chung và động vật nhai lại nói riêng thì một trong những vấn đề cơ bản đầu tiên cần giải quyết là nguồn thức ăn xanh Thực tế có 2 phương thức để cung cấp dinh dưỡng cho gia súc nhai lại, đó

là nguồn thức ăn tinh và thức ăn thô xanh (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại được thỏa mãn bằng thức ăn thô xanh) Chính vì vậy, nguồn thức ăn thô xanh được đặc biệt chú ý nhất là đối với các nước kinh tế còn kém phát triển cũng như các nước phát triển Ở những nước này việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp nguồn thức ăn thô xanh mà còn dùng dự trữ cho gia súc nuôi nhốt Cùng với sự phát triển của nghề chăn nuôi động vật nhai lại, đòi hỏi người chăn nuôi cũng như nhiều nước trên thế giới phải nhập một số các giống cỏ khác nhau

từ các nước khác để đáp ứng nhu cầu cỏ cho loài nhai lại Cỏ Voi có nguồn gốc

từ Nam Phi và phân bố rộng ở các nước nhiệt đới trên thế giới Quê hương lâu đời của cỏ Voi là Uganda nhập vào Mỹ năm 1913, Australia năm 1914, Cuba

1917, Brazil 1920 (Nguyễn Thiện, 2004) [38] Cỏ Pangôla xuất hiện ở bờ sông Pangôla thuộc nam Phi nhập về Mỹ năm 1935, Cuba 1950, Australia 1954 và các nước khác thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Chính sự phát triển đồng cỏ đã làm tăng đáng kể sản phẩm động vật cung cấp cho con người, như: Ở

Úc sản phẩm chăn nuôi chăn thả chiếm tới 50% sản phẩm xuất khẩu, ở Tân Tây Lan tỷ lệ này còn cao hơn (90%)

Sau cuộc “cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây Âu, mà đặc biệt là ở Anh

đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được chú

ý và được sử dụng đúng với vai trò của nó

Theo Điền Văn Hưng, 1974 [21], ở Pháp vào năm 1842 chỉ có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì đến năm 1974 đã thay đổi: 12 triệu ha trồng

cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc

Trang 35

Ở Liên Xô cũ đã tăng diện tích trồng từ 2,1 triệu ha (1913) lên 7,3 triệu ha (1933) và đến 1961 diện tích đã lên tới 51,9 triệu ha

Diện tích cỏ không những được tăng lên mà việc nghiên cứu chọn lọc các giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng, nhiều loại cỏ như cỏ Voi, Ghinê, Pangôla đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới Ngoài cỏ nguyên chủng người ta còn lai tạo ra những giống có năng suất

và giá trị dinh dưỡng cao Đây là những thành tựu đáng kể góp phần giải quyết thức ăn cho gia súc cả về số lượng và chất lượng

Theo ước tính hiện nay trên thế giới, gia súc sử dụng khoảng 3,4 tỷ ha đất dùng cho chăn thả và dùng cho sản xuất thức ăn gia súc, diện tích này được đánh giá là lớn hơn 2/3 diện tích sử dụng cho sản xuất nông nghiệp

Các tác giả T Kanno và M C M Macedo [63] đã tiến hành thí nghiệm gieo hạt của các cỏ Brachiaria decumbens, B brizantha, B dictyoneura, B humidicola, Andropogon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum vào đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đất lầy Các tác giả cho thấy không có loài nào có thể sống sót tại mùa mưa ở khu vực đất lầy Còn khi hạt cỏ được gieo ở giữa mùa mưa, thì chỉ có một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót được cho đến hết mùa mưa Những kết quả chỉ rõ rằng giai đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đất lầy là bắt đầu của mùa khô, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng được máy kéo

Thí nghiệm lập lại với cây trưởng thành của cỏ Brachiaria decumbens, B brizantha, B humidicola, Andropogon gayanus, Paspalum atratum và Cyndon dactylon vào năm 1999 (bắt đầu của mùa khô) các tác giả thấy chúng chịu được ngập úng ở giai đoạn đầu, tuy nhiên sau mùa mưa chỉ có cỏ B humidicola (cv Humidicola) và P atratum (cv BRA-9610) là phát triển được ở vùng đất lầy

Theo John W Miles 2004 [62] giống Brachiaria là giống lớn được sử dụng làm thức ăn cho vật nuôi ở vùng nhiệt đới châu Mỹ Cây trồng thương

Trang 36

phẩm tồn tại được lựa chọn trực tiếp từ chọn lọc chất mầm của loài cỏ có nguồn gốc châu Phi, chúng được chấp nhận ở thể lưỡng bội hữu tính như cỏ B ruziziensis và sự tồn tại của cỏ Brachiaria (B brizantha, B decumbens và B humidicola) ở thể đa bội có kiểu sinh sản vô tính Những cỏ này, được phát triển

từ đầu thập niên 1970 nhưng do sự lai tạo chưa đầy đủ nên đến giữa thập niên

1980, thể tứ bội kiểu sinh học hữu tính của B ruziziensis mới được phát triển tiếp ở Bỉ Sau đó thí nghiệm đầu tiên về dòng lai đã được kiểm tra ở Colombia vào 1989, nhưng không được phát triển tiếp Sau này, Công ty sản xuất giống cỏ của Mexico đã nhân giống cơ bản và thương mại hoá cỏ trồng Brachiaria lai đầu tiên bằng sinh sản vô tính dưới cái tên “Mulato” Thuộc tính đầu tiên là chúng

có sản lượng cao và chất lượng tốt Cỏ lai thứ hai, được gọi là “Mulato II” tại thời điểm trước khi đưa ra chính thức Mulato II có khả năng đề kháng với rệp dãi tốt hơn Mulato và thích nghi tốt với điều kiện khô hạn Tuy nhiên, đến năm

2005 thì người ta phát hiện thấy hiệu quả của giống Mulato II là rất giới hạn Vì vậy, hiện nay người ta tiếp tục lai tạo, lựa chọn tìm kiếm sản phẩm cây lai mới với mục đích làm tăng khả năng đề kháng với rệp dãi, tăng sản lượng, chất lượng cỏ và sản lượng hạt

Theo Quilichao, Colombia CIAT, (1978) [54], giống cỏ Brachiaria decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 4.000 kg/ha/năm với thí nghiệm không có bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thấp

Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum dilatatum là 15.000 kg VCK (Davies, 1970) [56] Tại Fiji năng suất trung bình là 5.313 kg VCK/ha với mức protein thô là 9,9% trong thời kỳ trên 3 năm (Roberts, 1970) [72], tại Mỹ năng suất cỏ này đạt từ 1.230 – 12.000 kg/ha (Bennett, 1973) [52]

Trang 37

Tại Redland Bay, Queensland, Riveros và Wilson, 1970 [71] thông báo năng suất cỏ Setaria sphacelata đạt từ 23.500 – 28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm ure /ha/năm trên nền đất đỏ bazan mầu mỡ

Theo C H Plazas [69] thì cỏ lai Brachiaria cv Mulato (CIAT 36061) tại Eastern Plains, Colombia cho sản lượng cao, chất lượng dinh dưỡng tốt, sức đề kháng tốt và có thể sử dụng phân bón với liều lượng cao ở hệ thống đồng cỏ cắt

Từ 2002 chương trình đồng cỏ nhiệt đới của CIAT và công ty giống cỏ thương phẩm Mexican, Papalotla với sự cộng tác của một vài nhà sản xuất ở khu vực,

đã đánh giá tiềm năng của cỏ lai trong vụ mùa kết hợp với cỏ lai mới với ngô để phục hồi lại đồng cỏ Braquiaria đã suy thoái Hạt cỏ thương phẩm trộn lẫn với

250 kg/ha phân hỗn hợp của hãng Calfos (4% P, 37% Ca) được gieo với khoảng cách luống 50 cm với mật độ 4,3 kg hạt cỏ/ha Sau 45 ngày, nẩy mầm của hạt là 80% với mật độ trung bình là 6 cây/m2 Sản lượng vật chất khô thu được sau 95 ngày trồng là 5,3 tấn/ha, trong khi đó những loại khác chỉ đạt 3,6 tấn/ha, tỷ lệ protein thô là 12% và vật chất khô tiêu hoá là 65,1% Ở trang trại khác ở cùng khu vực, ngô cv Mulatto phối hợp với cỏ, năng suất tương đương với ngô, 138 ngày sau trồng là 3,7 tấn/ha và cỏ Brachiaria lai cv Mulato là 4,2 tấn/ha, tiếp tục cho chăn thả với 39 bò với tỷ lệ 2,6 con/ha (bò chửa và bò tơ) ở 24 và 36 tháng tuổi, khối lượng sống trung bình là 446,2 kg thì cho tăng khối lượng hàng ngày

là 1675g/con

Theo các tác giả H D Diaz L và J O Sierria P [58] đã tiến hành ba cách nhân giống với ba khoảng cách trồng của các giống cỏ B humidicola và B dictyoneura tại Đại học Antioquia Với 3 khoảng cách trồng khác nhau là (0,5; 1,0; 1,5 m) và 3 cách nhân giống là (hạt, cành, gốc) Theo thông số ghi được cứ

21 ngày một lần trong suốt giai đoạn 252 ngày về: Phần trăm nẩy mầm, số lượng trung bình thân/khóm, khoảng cách đốt, số lượng đốt trên thân, độ dài trung bình

Trang 38

của lá, phần trăm che phủ Kết quả cho thấy, nếu dùng thân là (159 ngày) và gốc

là (154 ngày) còn dùng hạt phải mất thêm (92 ngày) nữa để đạt được độ che phủ mặt đất 80% đối với cả 2 loài (với độ tin cậy P<0,01) Ở khoảng cách cây giống:

độ che phủ 80% mặt đất ở cả 2 loài là 109, 169 và 176 ngày lần lượt ở 0,5 và 1,0

và 1,5 m B humidicola gốc đạt độ bao phủ mặt đất ở 128, 179 và 200 ngày, còn thân ở 117, 135 và 186 ngày Hạt ở 158, 179 và 205 ngày lần lượt ở các khoảng cách 0,5; 1,0; và 1,5 m Gốc của B dictyoneura đạt tới độ bao phủ 80% ở 133,

161 và 210 ngày, còn thân ở 120, 178 và 189 ngày và hạt ở 131, 232 và 232 ngày lần lượt ở khoảng cách 0,5; 1,0 và 1,5 m

N de L Costa và cộng sự [55] đã nghiên cứu tại Embrapa-Rondonia, Porto Velho, Brazil, ảnh hưởng của bóng cây cao su thiết lập ở 3 x 7 m tới sản lượng vật chất khô và chất lượng của cỏ Brachiaria brizantha cv Marandu Thu cắt: cứ 14 ngày cắt một lần kể từ ngày thứ 28 sau trồng cho đến khi kết thúc ở

84 ngày tuổi Các tác giả cho biết, tăng thời gian thu cắt thì sản lượng vật chất khô cao hơn và ngược lại Khoảng cách cắt tốt nhất là giữa 56 và 84 ngày ở cỏ dưới tán cây, và giữa 42 và 70 ngày cắt không có tán cây

Theo M.D Hare và cộng sự [61] cho biết các cỏ Brachiaria multica và Paspalum atratum cv Ubon, khi không có cây bộ đậu và dưới điều kiện cằn cỗi, nằm thấp, đất khô ở vùng tây bắc Thailand phát triển tốt ở năm đầu, sản xuất trung bình là 20 tạ/ha vật chất khô Không có sự sai khác có ý nghĩa về sản lượng giữa hai loài và không khác nhau về sản lượng giữa khoảng cách thu cắt

45 ngày và 65 ngày ở mùa mưa đầu tiên Còn ở mùa mưa thứ hai, P atratum sản xuất khoảng 30 tạ/ha vật chất khô, lớn hơn xấp xỉ 10 tạ/ha so với B multica Ở khoảng cách cắt là 30 và 60 ngày trong mùa mưa: Thu cắt P atratum ở khoảng cách cắt 30 ngày chất lượng cỏ cao hơn so với thu cắt ở khoảng cách cắt 60 ngày

và sản lượng vật chất khô giảm với sự sai khác không có ý nghĩa B multica

Trang 39

khoảng cách cắt ở 30 ngày sản xuất vật chất khô ít hơn 40% so với cắt ở 60 ngày Protein của B multica cao hơn so với P atratum là 2-3%

Theo Karina Batista & Francisco Antonio Monteiro [64] thì sự phát triển tốt của hệ rễ là cần thiết cho cây phát triển để đem lại sản lượng cỏ cao Các tác giả đã đánh giá đặc điểm của rễ cỏ Brachiaria brizantha cv Marandu trong quá trình phản ứng lại với sự phối hợp của tỷ lệ nitơ và lưu huỳnh trong dung dịch dinh dưỡng Thí nghiệm với 13 sự liên kết về nitơ và lưu huỳnh trong mg L-1, lần lượt: 14 và 3,2; 14 và 32; 14 và 80; 126 và 12,8; 126 và 64; 462 và 80 Cây được thu hoạch hai lần và sau lần thu hoạch thứ hai, rễ được lấy ra từ chất nền

để đánh giá Các tác giả cho biết sự tập trung nitơ rễ và tỷ lệ nitơ, lưu huỳnh phụ thuộc vào tác động qua lại giữa tỷ lệ nitơ và tỷ lệ lưu huỳnh Tỷ lệ nitơ được xác định theo độ dài, bề mặt, khối lượng khô, tỷ lệ khối lượng khô và sự tập trung lưu huỳnh ở rễ cỏ Khối lượng rễ khô, độ dài, bề mặt và tổng hàm lượng nitơ và lưu huỳnh ở trong cỏ là tương quan có ý nghĩa

J Quinquim Magiero và cộng sự [65] đã tiến hành nghiên cứu ở Planosol, vùng Baixada Fluminense trên cánh đồng thí nghiệm của Đại học Rural Federal

ở Rio de Janeiro Sự ảnh hưởng của bón phân N và K tới vật chất khô và đánh giá sản phẩm vật chất dư của đồng cỏ B humidicola Sự ảnh hưởng của 4 mức

N, K được nghiên cứu như sau: N (dùng ure) là 100, 200 và 400 kg/ha, và K là 55,6 , 111 và 222,2 kg/ha, (dùng KCl); lô đối chứng không có N, K Phân được bón thành 3 hay 6 lần ở khoảng cách là 28 hay 56 ngày trong suốt mùa mưa, sau mỗi lứa cắt Thu cắt cứ sau 28 ngày, trong thời gian từ tháng 10/2003 đến tháng 3/2004, sản phẩm vật chất khô tăng lên theo với các mức tăng của phân bón, nhưng sản lượng cỏ khi bón phân ở khoảng cách cắt 28 ngày (cắt 6 lần) thì sự khác nhau là không có ý nghĩa (p>0,05) Từ những kết quả thu được với 3 lần cắt với khoảng cách 56 ngày, cho thấy những sản phẩm vật chất còn dư cũng tương ứng với các mức phân, nhưng (khoảng cách cắt 56 ngày có sản lượng vật

Trang 40

chất khô cao hơn) có xu hướng giữa các khoảng cách cắt 28 và 56 ngày có khác nhau về sản phẩm vật chất khô Có thể tóm lược lại là sự bón phân N và K làm tăng sản lượng cỏ B humidicola, nhưng phân bón được chia nhỏ để bón không cải thiện hiệu quả của sự mầu mỡ đất

A.C Rincón [70] đã nghiên cứu để phục hồi sản phẩm của đồng cỏ Brachiaria decumbens suy thoái trên vùng đất Oxisol ở Eastern Plains, Colombia Nghiên cứu bao gồm T1 = làm đất + phân cơ bản + bộ đậu tham gia; T2 = làm đất + phân cơ bản + phân Nitơ và bừa đau cộng với 150 kg/ha đá phốt phát (12kg P và 45 Ca) Cây bộ đậu được đưa vào là Pueraria phaseoloides cv Kudzu, với tỷ lệ 2kg hạt/ha, và Arachis pintoi cv Manis Forajero Perenne, với

tỷ lệ là 5 kg/ha Sau 2 tháng trồng, T1 và T2 cũng nhận được phân bón bằng cách rải 30 kg K2O, 17 kg MgO và 14 kg S/ha Thêm vào, T2 nhận được lượng phân bón là 46 kg N (ure)/ha Tiến hành thí nghiệm trong 1 năm cho thấy: Giá trị của đồng cỏ tương tự như T1 và T2, đạt tới 0,75 tấn VCK/ha trong suốt mùa khô và 1,55 tấn/ha suốt trong mùa mưa Ở đồng cỏ đối chứng, với điều kiện chăm sóc và quản lý truyền thống, sản lượng VCK là thấp hơn 40% so với các công thức nghiên cứu nêu trên Ở các công thức nghiên cứu, chất lượng dinh dưỡng của đồng cỏ được cải thiện về hàm lượng protein, Ca, Mg và K, nhưng không cải thiện về P

J G Marinho Guerra và cộng sự [60] đã nghiên cứu sự phản ứng lại của Brachiaria decumbens Stapf Var Autraliana đối với sự bón phân bởi các nguồn phot pho khác nhau tại Itaguaí ở Rio de Janeiro Thiết kế thí nghiệm theo hình khối ngẫu nhiên với 3 nguồn phot pho P (PO, không có; RF, đá phốt phát; và S, tri supe phốt phát), bón với tỷ lệ 20 g P2O5 /m2 tương đương với 200 kg/ha Mô hình tiêu biểu cho từng thời vụ được quan sát về sản phẩm vật chất khô và tỷ lệ tích tụ phốt pho trung bình Sự phối hợp của tri supe phốt phát hay đá Araxas phốt phát trong thời gian trồng cây có ý nghĩa làm tăng sản phẩm vật chất khô,

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7), Viện chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển 1952 7. Lê H8. Bộnghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, học đậun giao công nghệ phục vụ phát triển nông thôn miền9. Đin g (2004), Thành phần hóahọc Chăn nuôi thú y Phần dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi NxbNN 12/2004, tr137 - 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển 1952 "7. Lê H8. Bộ "nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, học đậu "n giao công nghệ phục vụ phát triển nông thôn miền "9. Đin g (2004), "Thành phần hóa
Tác giả: Viện chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển 1952 7. Lê H8. Bộnghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, học đậun giao công nghệ phục vụ phát triển nông thôn miền9. Đin g
Nhà XB: NxbNN 12/2004
Năm: 2004
1. Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị (1976), Cây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao, Nxb Nông nghiệp Hà Nội 1976, tr19, 26, 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao
Tác giả: Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội 1976
Năm: 1976
10. I. P. Cooper, N. M. Taition , Nhu cầu ánh sáng và nhiệt độ để sinh trưởng của cỏ thức ăn gia súc nhiệt đới. Đồng cỏ và cây thức ăn gia súc nhiệt đới tập II. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật 1974, tr86 - 112.ớng phát triển thời kỳ 2006 - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu ánh sáng và nhiệt độ để sinh trưởng của cỏ thức ăn gia súc nhiệt đới
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật 1974
16. Ng ảo, Thử nghiệm một số loại cây thức ăn gia súc và cải tạo 17. Từ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm một số loại cây thức ăn gia súc và cải tạo
13. Cù Xuân Dần (1975), Sinh lý gia súc - Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý gia súc
Tác giả: Cù Xuân Dần
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1975
Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung, Đồng cỏ và cây thức ăn gia súc, Nxb Nông nghiệp, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ và cây thức ăn gia súc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Phan Nguyên Hồng (1971), Sinh thái thực vật. Tài liệu lưu hành nội bộ Đại học Sư phạm Hà Nội II. 1971, tr9 - 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái thực vật
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Năm: 1971
19. Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đinh Văn Cải. Thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh ninh thuận. Tạp chí Chăn nuôi số 12/2006 tr23 -26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh ninh thuận
20. Hội chăn nuôi Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc. 21. Điề23. Tr ánh giá hiện trạng đồng cỏ tự nhiên và24. Ngọ đậu làm thức ăn xanh cho gia súc 27. BùNxb Nông nghiệp, tr6, 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chăn nuôi Việt Nam, "Thức ăn chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc". 21. Điề23. Tr "ánh giá hiện trạng đồng cỏ tự nhiên và "24. Ng"ọ đậu làm thức ăn xanh cho gia súc 27
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
22. Trương Tấn Khanh và CTV, Nghiên cứu khảo nghiệm tập đoàn giống cây thức ăn gia súc nhiệt đới tại M’Drak-Đaklak và phát triển các giống thích nghi trong sản xuất nông hộ. Báo cáo khoa hoc, Chăn nuôi - Thú y, 1999, tr144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khảo nghiệm tập đoàn giống cây thức ăn gia súc nhiệt đới tại M’Drak-Đaklak và phát triển các giống thích nghi trong sản xuất nông hộ
25. Hoàng Thị Lảng, Lê Hòa Bình. Nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh của các giống cây thức ăn để chọn lọc giống năng suất cao, chất lượng tốt dùng cho chăn nuôi khu vực. Báo cáo khoa hoc, Chăn nuôi - Thú y, 2004, tr116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh của các giống cây thức ăn để chọn lọc giống năng suất cao, chất lượng tốt dùng cho chăn nuôi khu vực
26. Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hòa Bình, Đặng Đình Hanh. Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, htại Thái Nguyên, Tạp chí Chăn nuôi số 12/2004, tr20 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, h"tại Thái Nguyên
28. Nguyễn Thị Mận, Lê Chánh, Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh, Xác định giá trị dinh dưỡng cỏ Adropogon gayanus trên vùng đất xám sông Bé, Báo cáo khoa học,Chăn nuôi-Thú y, 1999, tr193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định giá trị dinh dưỡng cỏ Adropogon gayanus trên vùng đất xám sông Bé
35. Pau Pozy, Vũ Chí Cương và cộng sự, (2001), Nghiên c dưỡng của cỏ tự nhiên, cỏ Voi, rơm, làm thức ăn cho gia đình vùng ngoại thành Hà Nội Tạp chí Nông nghiệ nông thôn 6/2001, tr395, 395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cdưỡng của cỏ tự nhiên, cỏ Voi, rơm, làm thức ăn chogia đình vùng ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Pau Pozy, Vũ Chí Cương và cộng sự
Năm: 2001
36. Nguyễn Văn Quang và cộng sự, Nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh n quả trên đất đồi Bá Vân, Thái Nguyên, Tóm tắt37. Ph i dưỡng bò sữa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh "n quả trên đất đồi Bá Vân, Thái Nguyên
40. Th à chế biến thức ăn gia súc (2004), Hội chăn nuôi 41. Bù u mức bón phân ure đối với cỏ Voi và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chăn nuôi "41. Bù
Tác giả: Th à chế biến thức ăn gia súc
Năm: 2004
42. Bù ị dinh dưỡng của một số cây thức ăn gia 43. Hàạc mầu và nén chặt, Phổ biến tiếp cận mới hiệp do các đối tác thực45. T.46. T. TCVN 4328-86- Sx2 (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ị dinh dưỡng của một số cây thức ăn gia "43. Hà"ạc mầu và nén chặt
47. T.C.V.N 4329: 1993 thay thế TCVN 4329- 86- Sx2 (93). và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của một số giống cỏ trong mô hình trồng xen với cây ăbáo cáo khoa học năm 2001, Viện Chăn nuôi, Hà nội, 6/2002, tr197, 198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của một số giống cỏ trong mô hình trồng xen với cây ă
56. Davies, J.G (1970), Pasture development in the sub - tropics, with special reference to Taiwan, Trop - Grassl, p4, 7 - 16.vid W. Pratt, U. C. C. E. Farm Advior, Principles of controlled grazing. Liverstock &amp; rang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasture development in the sub - tropics, with special reference to Taiwan", Trop - Grassl, p4, 7 - 16. vid W. Pratt, U. C. C. E. Farm Advior, "Principles of controlled grazing
Tác giả: Davies, J.G
Năm: 1970
58. H. D. Diaz L. y J. O. Sierria P. Materiales de propagacion y distancias de siembra en Brachiaria humidicola y brachiaria dictyoneura. Pasturas tropicales Vol. 26, No. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Materiales de propagacion y distancias de siembra en Brachiaria humidicola y brachiaria dictyoneura

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Khí tượng khu vực thí nghiệm - Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên
Bảng 3.1 Khí tượng khu vực thí nghiệm (Trang 70)
Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm - Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên
Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm (Trang 71)
Bảng 3.4: Chiều cao và tốc độ sinh trưởng của các cỏ thí nghiệm ở lứa cắt - Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên
Bảng 3.4 Chiều cao và tốc độ sinh trưởng của các cỏ thí nghiệm ở lứa cắt (Trang 73)
Bảng 3.5: Chiều cao tái sinh của các cỏ thí nghiệm (cm) - Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên
Bảng 3.5 Chiều cao tái sinh của các cỏ thí nghiệm (cm) (Trang 75)
Đồ thị 3.1: Năng suất  của các cỏ thí nghiệm năm thứ nhất (tạ/ha/năm) - Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên
th ị 3.1: Năng suất của các cỏ thí nghiệm năm thứ nhất (tạ/ha/năm) (Trang 81)
Bảng 3.8: Năng suất của các cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt năm thứ hai - Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên
Bảng 3.8 Năng suất của các cỏ thí nghiệm ở các lứa cắt năm thứ hai (Trang 82)
Đồ thị 3.2: Năng suất của các cỏ thí nghiệm năm thứ hai (tạ/ha/năm) - Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên
th ị 3.2: Năng suất của các cỏ thí nghiệm năm thứ hai (tạ/ha/năm) (Trang 83)
Bảng 3.9: Sản lượng chất xanh và vật chất khô của các cỏ thí nghiệm - Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo trồng tại thái nguyên
Bảng 3.9 Sản lượng chất xanh và vật chất khô của các cỏ thí nghiệm (Trang 84)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm