Mặt khác, khi tiến hành đánh giá được một giống tốt cần có sự theo dõi nghiên cứu giữa năng suất với các yếu tố cấu thành năng suất, chính vì vậy để xác định được những chỉ tiêu nào là q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
-WX -
VŨ THỊ NGUYÊN
Đánh giá, chọn lọc và xác định mối tương quan của một số tính trạng với năng suất củ các dòng giống
sắn có triển vọng từ hạt lai nhập nội của ciat
tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Luận văn thạc sỹ nông nghiệp
Thái nguyên, 2007
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
sắn có triển vọng từ hạt lai nhập nội của ciat
tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
Luận văn thạc sỹ nông nghiệp
Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Ngọc Ngoạn
Thái nguyên, 2007
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Vũ Thị Nguyên
Trang 4- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Khoa Sau Đại Học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Gia đình, Bố mẹ, Chồng, Anh, Chị, Em và bạn bè đồng nghiệp
Trang 5Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
CIAT : Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới
CIAT/Colombia : Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới đặt tại Colombia CIAT/Thái Lan : Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới đặt tại Thái
Lan FAO : Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới
IITA : Viện Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới
NS củ tươi : Năng suất củ tươi
NS tinh bột : Năng suất tinh bột
NS thân lá : Năng suất thân lá
NS sinh vật học : Năng suất sinh vật học
TL chất khô : Tỷ lệ chất khô
NS củ khô : Năng suất củ khô
TL tinh bột : Tỷ lệ tinh bột
XVP : Xanh Vĩnh Phú
Trang 7Bảng 3.16 Đặc điểm của 2 dòng giống sắn cho năng suất cao, ổn định so với đối chứng
Số liệu trung bình 3 năm 2003 - 2005 UT 60
Trang 9Đặt vấn đề
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây sắn có tên khoa học là Manihot esculenta Crantz, thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae) có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ Trung tâm khởi nguyên là Brazin, Bolivia, Mexico (Rogers and Appan - 1973, Spath - 1973, Massar - 1978), sau đó cây sắn được truyền bá và nhu nhập đến Châu Phi, Châu á cùng với sự di cư của người dân.B
Hiện nay sắn được trồng rộng rãi từ 30P
mà đã trở thành cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao
Đối với Việt Nam, sắn là một trong những cây trồng quan trọng trong chiến lược an toàn thực phẩm quốc gia (12,2% tỉ lệ sắn dùng làm lương thực) Sắn là nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho các nhà máy chế biến tinh bột (48,6%) và thức ăn cho gia súc (23,4%) với sản phẩm đa dạng và phong phú Năm 2005 diện tích sắn trên toàn quốc là 390.000 ha, năng suất trung bình 14,61 tấn/ha, sản lượng đạt 5.770.000 tấn (FaoStat 2005)[73]
Hiện nay trên cả nước có 53 nhà máy đã hoạt động và đang xây dựng với tổng công suất thiết kế ước tính đạt 3.190 tấn/ngày (Sản lượng sắn qua chế biến công nghiệp ước đạt 2,1 triệu tấn/năm)[73] Đầu ra cho sắn được đảm bảo ổn định, nông dân yên tâm đầu tư sản xuất Việc phát triển các giống
Trang 10sắn có năng suất cao, ổn định đang được đặc biệt quan tâm, bởi đây là động lực để cho công nghiệp chế biến sắn phát triển làm đa dạng hoá sản phẩm lương thực, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân
Tại Hội thảo về sắn Việt Nam năm 2001 các nhà nghiên cứu đã nhận định để đưa năng suất sắn lên cao thì giống là khâu tiên phong và rất quan trọng Hiện nay Việt Nam đã có một số giống chủ lực như KM94, KM60, KM98-7, KM98-1 đang được trồng rộng rãi trong cả nước Song việc nghiên cứu chọn lọc các dòng giống sắn cần được tiến hành thường xuyên liên tục để góp phần vào tập đoàn giống những giống có tiềm năng, năng suất cao, thích ứng với điều kiện canh tác [8], [11]
ở cây sắn các đặc tính di truyền được duy trì ổn định qua các thế hệ nhờ nhân giống vô tính nên việc nghiên cứu giống từ nguồn vật liệu hạt lai được xem là hướng đi có hiệu quả trong công tác chọn lọc giống sắn [20] Mặt khác, khi tiến hành đánh giá được một giống tốt cần có sự theo dõi nghiên cứu giữa năng suất với các yếu tố cấu thành năng suất, chính vì vậy để xác định được những chỉ tiêu nào là quan trọng nhất cho quá trình đánh giá, tuyển chọn giống sắn tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá, chọn lọc và xác định mối tương quan của một số tính trạng với năng suất củ các dòng giống sắn
có triển vọng từ hạt lai nhập nội của CIAT tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên"
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được những dòng giống sắn có năng suất cao, chất lượng tốt nhằm góp phần phục vụ cho công tác nghiên cứu và phát triển giống sắn ở Việt Nam
- Phân tích mối tương quan giữa một số tính trạng với năng suất củ tươi
từ đó làm cơ sở giới thiệu các đặc trưng, đặc tính quý cho chương trình chọn
Trang 11lọc giống sắn mới, và làm cơ sở cho việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tác động tích cực lên cây trồng
3 Yêu cầu nghiên cứu
- Theo dõi các đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các dòng giống sắn
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất từ đó so sánh với những giống đối chứng để chọn ra các dòng có năng suất cao, chất lượng tốt
- Theo dõi các đặc trưng, đặc tính có liên quan đến sinh trưởng, các yếu
tố cấu thành năng suất và năng suất từ đó phân tích mối tương quan giữa các yếu tố đó với năng suất củ để chọn ra các chỉ tiêu quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu cải tiến giống sắn mới ở nước ta
Trang 12
Chương 1 Tổng quan tài liệu 1.1 Cơ sở đánh giá chọn lọc giống sắn
1.1.1 Cơ sở lý luận
Sắn là cây trồng thuộc lớp 2 lá mầm, hầu hết các giống sắn có khả năng
ra hoa Hoa sắn là loại hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực và hoa cái ra riêng rẽ trên cùng một cây Song thông thường hoa đực nở trước hoa cái từ 1-2 tuần Điều đó làm giảm nguy cơ thoái hoá giống xuống thấp nhất Do vậy công tác nghiên cứu và lợi dụng ưu thế lai ở cây sắn thông qua sinh sản hữu tính đã được ứng dụng rộng rãi trong công tác chọn lọc giống [25], [40]
Vì vậy, việc chọn lọc các cặp bố mẹ và đánh giá chúng theo khả năng
tổ hợp chung, riêng của cây sắn để xác định các cặp lai nhằm tạo ra một lượng hạt lai để chọn lọc ra các dòng ưu tú là phương pháp chủ yếu đã được áp dụng trong các chương trình cải tiến giống sắn của thế giới hiện nay Với ưu thế hơn hẳn của công tác chọn giống đối với cây trồng này là nhân giống vô tính ngay cả ở thế hệ con lai đầu tiên, do đó về mặt di truyền mà nói thì tính trạng tốt được chọn lọc giữ lại đều có khả năng duy trì qua các thế hệ nhân giống vô tính Sự phối hợp giữa hai phương thức sinh sản trong cải tiến giống sắn là một tiến bộ trong công tác chọn lọc giống cây trồng
Việc lựa chọn các dòng, giống ưu tú thông thường đều dựa trên quan trắc đồng ruộng là ảnh hưởng của điều kiện sinh thái khác nhau Do đó các đặc trưng đặc tính được sử dụng để đánh giá các dòng, giống sắn đều dựa vào một số tính trạng có hệ số di truyền nghĩa rộng (hP
2
b) cao như: Số lượng củ/gốc, chiều cao cây, tỷ lệ chất khô, năng suất sinh học, chỉ số thu hoạch, thời gian từ trồng đến phân cành cấp 1, tuổi thọ trung bình của một lá, chỉ số diện tích lá Trong đó năng suất sinh học, chỉ số thu hoạch được coi là chỉ tiêu chính để chọn lọc (Birader và ctv 1978, Goln và ctv, 1973, Kawano, 1978) ( Birader R.S Raijendran P.G and Hnishin)[57]
Trang 13Việc tuyển chọn giống sắn dựa trên nghiên cứu tương tác gen với môi
trường có cơ sở thực tiễn và khoa học của nguyên lý di truyền cũng như sinh
lý thực vật Nó chỉ ra cho các nhà chọn giống về hình mẫu của một giống sắn
“lý tưởng” đạt năng suất cao, chất lượng tốt (tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột, chất
lượng bột) phù hợp với điều kiện sinh thái cụ thể tại địa phương, nó là tiêu
chuẩn chọn lọc trong nghiên cứu về khả năng cho năng suất của các dòng,
giống sắn [37], [40], [41]
1.1.2 Một số đặc tính cơ bản của cây sắn
Bảng 1.1 Đặc điểm các vùng trồng sắn chính ở trên thế giới
(tháng)
Lượng mưa
1
Vùng đất thấp nhiệt đới mùa khô kéo
dài, lượng mưa từ thấp đến trung bình
Nhiệt độ cao quanh năm (một số vùng
của Colombia, Venezuela, Thái Lan)
700-2000
mm, phân bố không đều trong năm
2
Vùng đất thấp nhiệt đới lượng mưa từ
thấp đến trung bình, đất nghèo, PH thấp
Mùa khô dài, độ ẩm thấp trong mùa khô
(một số vùng của Colombia, Venezuela,
Brazil)
25 3-6
>1200mm phân bố không đều
3
Vùng đất thấp nhiệt đới, mùa khô rất
ngắn, lượng mưa hàng năm cao, độ ẩm
không khí cao (vùng Plorencia và Leticia
của Bazazil, Ecuador, Peru, vùng rừng
nhiệt đới của Châu Phi, Châu á)
25
Rất ngắn hoặc không
có
>2000mm
4
Vùng nhiệt đới có độ cao trung bình, độ
dài mùa khô trung bình, nhiệt độ trung
bình (Vùng Palmina, Philippin, Bolivia,
Brazil, Châu Phi, ấn Độ, Indonesia, Việt
Nam)
21-24 4 1000-2000 mm, phân bố
không đều
5
Vùng cao nguyên khí hậu mát, mưa từ
trung bình đến nhiều (Vùng Andean,
Đông Phi)
6
Vùng á nhiệt đới, mùa đông mát, độ dài
ngày thay đổi (Mehico, miền nam Brazil,
Cuba, Paraguay, Bắc Achentina, Nam
Trang 14Sắn là cây trồng có khả năng thích ứng rộng, song điều kiện khí hậu nóng ẩm quanh năm là thích hợp nhất Năng suất cao có thể đạt trong điều kiện nhiệt độ từ 25P
Nhiệt
độ
Bệnh hại
Sâu hại
Đất và điều kiện khác
Vùng đất thấp
nhiệt đới có mùa
khô (Thái Lan)
Khô 3÷5 tháng
Rệp, sâu
ăn lá, ruồi trắng
Tỷ lệ tinh bột ít trong
củ Vùng đất thấp nhiệt
đới có mùa khô, đất
nghèo (Brazil)
Khô 3÷5 tháng nhiệt độ cao gần bão hoà trong mùa mưa
Thất thường, sâu bệnh phát triển do nhiệt
độ cao
Nấm loang
Rệp, sâu đục thân
ăn lá
Nghèo, chua, độc nhôm Vùng đất thấp ẩm
(Châu á, Châu Phi) Mưa rất nhiều
Nấm loang, đốm nâu, thối rễ
Sâu ăn lá, rệp
Nghèo, chua, độc nhôm Vùng đất cao trung
bình nhiệt độ cao
(Việt Nam) Khô 3÷4 tháng
Thối rễ
nấm loang, đốm nâu
Sâu ăn lá
Độ phì thay đổi nghèo Vùng cao nguyên
Nấm loang, đốm
Trang 151.1.3 Giá trị kinh tế
Sắn là cây đa dụng, có giá trị kinh tế cao, có thể triệt để sử dụng các bộ phận của cây, ngoài việc cung cấp thức ăn cho con người, còn là nguồn thức
ăn cho chăn nuôi gia súc, cá, tằm
Từ tinh bột sắn có thể phát triển theo 34 hướng khác nhau, song tuỳ vào mục đích mà yêu cầu chất lượng tinh bột khác nhau Ngoài tinh bột củ, lá thân sắn cũng có nhiều công dụng, lá sắn tươi chứa nhiều prôtêin, hyđrát cacbon, vitamin Công dụng của cây sắn được thể hiện qua sơ đồ:
Sơ đồ 1.1 Công dụng của cây sắn
Ngµnh CN kh¸c: dung dÞch kho¸ng chÊt dÎo sinh häc
PhÕ liÖu tõ s¶n xuÊt tinh bét
Trang 16Sắn lát và tinh bột dùng làm chế biến thức ăn gia súc, rượu cồn, sử dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm làm mì ăn liền, mì sợi, nước sốt, bánh công nghiệp Tinh bột sắn là nguyên liệu chính để chế biến bột ngọt (MSG) Tinh bột sắn còn được sử dụng trong công nghiệp giấy, công nghiệp dệt
để làm cho vải bền bóng và đẹp hơn; chế tạo keo dán, ván ép, các chất kết dính; chế tạo các loại bao bì tự huỷ; dùng làm phụ gia dược liệu trong công nghiệp dược
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Sắn là cây trồng phổ biến trên thế giới, có trên 100 nước trồng sắn, chủ yếu là Châu Phi, Châu á, Châu Mỹ Theo tổng hợp của (FAO STAT 2005) diện tích trồng sắn của toàn thế giới là: 18.51triệu ha, năng suất bình quân 10,94 tấn/ha, sản lượng đạt 202,64 triệu tấn[73] Diện tích, năng suất sắn của thế giới có xu hướng tăng trong 10 năm qua 1995 – 2005 Bảng (1.3)
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên thế giới
Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 17Toàn thế giới có 89 nước trồng sắn, trong đó 22 nước đạt sản lượng sắn
hàng năm trên 1 triệu tấn Châu Phi chiếm 53% sản lượng sắn của thế giới,
sau đó là Châu á 29%, Châu Mỹ Latinh và vùng Caribbean 17% (bảng 1.4)
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những vùng trồng sắn
chính trên thế giới năm 2004 (sản lượng hơn 1 triệu tấn)
Vùng trồng Diện tích
(1.000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn) Toàn thế giới 18.511 10,94 202,64
Trang 18Châu Phi có tổng diện tích trồng sắn năm 2004 là 12,25 triệu ha, năng suất củ tươi bình quân 8,8 tấn/ha, sản lượng 108,01 triệu tấn [73] Sắn là nguồn lương thực chính của người dân tại nước này Những nước trồng nhiều sắn ở Châu Phi là: Negeria (38,17 triệu tấn), Congo (14,95 triệu tấn), Ghana (9,73 triệu tấn), Tanzania (6,89 triệu tấn), Mozambique (6,15 triệu tấn), Angola (5,60 triệu tấn), Uganda (5,50 triệu tấn) Cây sắn hiện được coi là giải pháp an toàn lương thực hàng đầu tại Châu Phi nơi tình trạng suy dinh dưỡng tăng lên gấp đôi trong hai thập kỷ qua Tồn tại chính trong sản xuất và tiêu thụ sắn ở Châu Phi là dịch bệnh rụi lá và virus trên diện rộng, năng suất thấp do thiếu giống kháng bệnh và chế biến công nghiệp, trình độ kỹ thuật canh tác còn thấp, ít đầu tư thâm canh
Châu Mỹ là nôi phát sinh của cây sắn Tác giả Baiping Fang (1990),[53] đã tập hợp nhiều công trình nghiên cứu về nguồn gốc cây sắn cho biết rằng: cây sắn được trồng tại vùng này cách đây từ 3000 năm đến 7000 năm Khảo cổ học đã chứng minh có 4 trung tâm khởi nguyên chính của cây sắn là Brazil có 2 trung tâm, ngoài ra ở Bolivia và Mexico Sắn ở Châu Mỹ là 2,72 triệu ha, năng suất củ tươi bình quân 13,00 tấn/ha, sản lượng 35,44 triệu tấn Trong đó, vùng Nam Mỹ có 11 nước trồng sắn với diện tích sắn trồng 2,48 triệu ha, năng suất củ tươi bình quân đạt 13,67 tấn/ha, sản lượng 34,01 triệu tấn; Vùng Bắc và Trung Mỹ có 24 nước trồng sắn (chủ yếu tại các đảo vùng nhiệt đới Trung Mỹ) với diện tích 240 ngàn ha, năng suất củ tới bình quân 5,9 tấn/ha, sản lượng 1,42 triệu tấn [73] Tồn tại chính trong sản xuất và tiêu thụ ở Châu Mỹ là công nghiệp chế biến tinh bột sắn không phát triển bằng Châu á, sắn chủ yếu sử dụng làm thức ăn cho gia súc và tiêu thụ sắn tươi, trình độ kỹ thuật thâm canh chưa cao
Trang 19Châu á là một trong những vùng sắn quan trọng nhất thế giới, cùng với Châu Phi và Châu Mỹ la tinh Diện tích trồng sắn Châu á 3,51 triệu ha (năm 2005), sản lượng đạt 58,92 triệu tấn, đứng thứ hai sau Châu Phi Xét về mặt năng suất thì Châu á hiện vẫn đứng đầu trên thế giới đạt bình quân 16,76 tấn/ha, so với Châu Phi diện tích trồng 12.299 nghìn ha, với năng suất bình quân đạt 8,32 tấn/ha và sản lượng bình quân 12,30 tấn/ha nên năng suất đạt bình quân 12,30 tấn/ha, sản lượng đạt 32,48 triệu tấn Điều đó thể hiện mức
độ trồng sắn ở Châu á thâm canh cao so với Châu lục khác trên thế giới Nhưng 96% sản lượng sắn tập trung vào một số nước như sau: Thái Lan (18,43 triệu tấn), ấn Độ (7,10 triệu tấn) và Philippin (1,40 triệu tấn) Nước có năng suất cao nhất ở Châu á là ấn Độ có năng suất đạt bình quân năm 2005 là 26,29 tấn/ha [73]
Hình 1.1: Những vùng trồng sắn chính của châu á
Mỗi chấm tương ứng 10.000 ha sắn năm 2003 (Nguồn: R.H Howeler
2004)[69]
Trang 20Bảng 1.5 Năng suất sắn của một số nước Châu á từ năm 2001 đến 2005
Năng suất sắn (tấn/ha) Nước
Bảng 1.5 cho thấy năng suất của ấn độ đạt cao nhất, từ 25.00 tấn/ha -
26.29 tấn/ha Việt Nam năng suất được tăng dần lên từ 2001 với 12.99 tấn/ha
tới 2005 đạt 14.61 tấn/ha
Giá trị sản lượng sắn tăng thêm do áp dụng giống mới ước đạt 818 tỷ
đồng (51.89 triệu USD) so với việc sử dụng giống cũ (Bảng 1.6)
Bảng 1.6 Giá trị bội thu do áp dụng giống sắn mới so với giống cũ tại Việt
Nam, Thái Lan và Trung Quốc
Năng suất sắn (tấn/ha) Nước
Diện tích sắn 2003 (ha) 1999 2003
Bội thu năng suất (tấn/ha)
Giá sắn tươi giao tại nhà máy (USD/tấn)
Giá trị bội thu do tăng năng suất (USD)
Trang 21Các nước ở Châu Phi và Châu á dùng tinh bột sắn ngày càng nhiều Trên thế giới nước xuất khẩu sắn nhiều nhất là Thái Lan ước 18,95 triệu tấn sấn củ tươi, chế biến 2,5 triệu tấn tinh bột và xuất khẩu 3,0 triệu tấn (Charae Chutharakul 2004)
Bảng 1.7 Buôn bán sắn (sắt lát, sắn viên, tinh bột) trên thế giới
Đơn vị tính: triệu tấn
ThÞ tr−êng Tr b×nh
83-85
Tr.b×nh 92-93
Tr.b×nh 95-96 1999 2000 2001 2002
Nguồn: Hoàng Kim tổng hợp từ FAO/FIEWS-Food Outlook
No.4-Oct.2003; Pham Van Bien, Hoang Kim et al 2002; FAO/FIEWS-Food Outlook No.4 -Oct.2001; Hoang Kim et al 2000, Henry and Hershey, 1998, Henry and Gottret, 1996
Trang 22Lượng nhập khẩu sắn của cộng đồng Châu Âu (EC) năm 2002 giảm 1,0 triệu tấn so với năm 2000 và hơn 1,0 triệu tấn năm 2001 nhưng lại gia tăng ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc
Bảng 1.8 Hiệu quả kinh tế của việc áp dụng các giống sắn mới và kỹ
thuật thâm canh sắn một số nước Châu á (năm 2002)
N¨ng suÊt (tÊn/ha) Vïng trång
DiÖn tÝch s¾n n¨m
2002 ha 1994 2002
Gi¸ s¾n (USD/tÊn)
Sù t¨ng n¨ng suÊt (tÊn/ha)
Sù t¨ng gi¸ trÞ s¶n phÈm triÖu USD
Ch©u ¸ 3.486.502 12,93 14,67 25 1,74 151,70 Th¸i Lan 1.030.000 13,80 16,38 21-24 2,58 59,80 ViÖt Nam 329.900 8,44 12,60 22-29 4,16 35,00 Trung Quèc 240.100 15,21 16,04 24-30 0,83 5,40
Nguồn CIAT Review 2003, http//www.ciat.cgiar.org/asia cassava
Qua số liệu trên cho chúng ta thấy hiệu quả của sử dụng giống mới trong những năm gần đây đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các quốc gia trồng sắn toàn Châu á Giá trị kinh tế tăng tới 151,70 triệu USD, trong đó Thái Lan là nước tăng cao nhất đạt 59,80 triệu USD; Việt Nam đứng thứ hai sau Thái Lan đạt 35.00 triệu USD
Những tồn tại chủ yếu về sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm từ sắn của Châu á được thể hiện ở bảng 1.9
Trang 23Bảng 1.9 Tồn tại chủ yếu về sản xuất, chế biến và tiêu thụ sắn ở một số nước trồng sắn chính của Châu á và tiềm năng của các sản phẩm chế
biến từ sắn Nước Tồn tại Tiềm năng
Thái Lan Giá biến động
Thiếu công lao động Đất nghèo dinh dưỡng Đất bị xói mòn
Tinh bột biến tính Ethanol
Thức ăn gia súc Bột ngọt
Indonesia Quy mô canh tác nhỏ
Giá biến động Đất bị xói mòn Đất nghèo dinh dưỡng
Tinh bột Tinh bột biến tính Bánh kẹo
Sago, mì sợi
ấn Độ Cạnh tranh cây trồng
Bệnh virus Quy mô canh tác nhỏ Thị trường
Tinh bột Bột ngọt Thức ăn gia súc
Việt Nam Quy mô canh tác nhỏ
Thiếu vốn đầu tư Đất nghèo dinh dưỡng Đất bị xói mòn
Tinh bột Bột ngọt Thức ăn gia súc
Trung
Quốc
Cạnh tranh cây trồng Quy mô canh tác nhỏ Đất bị xói mòn
Đất nghèo dinh dưỡng
Tinh bột Bột ngọt Tinh bột biến tính Thức ăn gia súc Nguồn: Trần Ngọc Ngoạn (2003) [37]
Trang 24Viện nghiên cứu Chiến lược Lương thực Quốc tế và Trung tâm Khoai
tây Quốc tế đã nghiên cứu thị trường, giá cả tinh bột sắn Bảng 1.10
Bảng 1.10 Diễn biến giá của tinh bột sắn, tinh bột khoai tây, ngô và
bột lúa mì tại thị trường Mỹ giai đoạn 1996 – 2003
Đơn vị tính: (USD/tấn)
Năm Tinh bột
sắn
Tinh bột khoai tây
Tinh bột ngô
Tinh bột lúa mì
Trang 25ứng là 1,98% và 0,95% Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn
cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn Trong đó, khối
lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 130,2 triệu tấn
(77,2%), làm thức ăn cho gia súc là 7,5 triệu tấn (4,4%) Tốc độ tăng về tiêu thụ sản phẩm sắn hàng năm giai đoạn 1993 – 2020 ở Châu Mỹ Latinh ước đạt
1,3%, Châu Phi là 2,44% và Châu á là 0,84 – 0,96%
Bảng 1.11 Dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu đến năm
2020 và tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn hàng năm giai đoạn 1993-2020
Tiêu thụ sắn 2020 (triệu tấn)
Tốc độ tăng (%) giai đoạn 1993-2020
Vùng
Sản xuất sắn
2020 (triệu tấn)
Lương thực, thực phẩm
Thức
ăn gia súc
Tổng cộng
Lương thực, thực phẩm
Thức
ăn gia súc
Tổng cộng
Trang 261.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình chung về sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
ở Việt Nam sắn là một trong bốn cây trồng quan trọng, có vai trò quan trọng trong chiến lược an toàn thực phẩm quốc gia sau lúa và ngô (Bảng 1.12)
Bảng 1.12 Diện tích, năng suất và sản lượng của một số cây lương thực
chính ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2004
2002 đến nay đã có nhiều nhà máy phục vụ cho những vùng trồng sắn công
Trang 27nghiệp như: Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên
Đây là bước đột phá trong nghề trồng sắn ở miền Bắc Việt Nam ở miền Nam đã
từ lâu cây sắn đã là nguồn nguyên liệu chính để chế biến tinh bột và làm thức ăn
gia súc công nghiệp, đặc biệt ở các vùng Đông Nam Bộ Diện tích, năng suất,
sản lượng sắn Việt Nam đã tăng nhanh từ 1994 đến 2004 (Bảng 1.13)
Bảng 1.13 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn Việt Nam 1994 - 2004
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất (tấn /ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích sắn Việt Nam có mức tăng hàng năm 11,7% Năng suất sắn
năm 2004 đạt 14,50 tấn/ha tăng 71,8% so với năm 1994, mức tăng hàng năm
14,7% Sản lượng sắn năm 2004 đạt 5.365.000 tấn tăng gần gắp đôi so với
năm 1994 Việt Nam là nước điển hình Châu á và thế giới về việc tăng nhanh
năng suất sản lượng sắn Những nguyên nhân chính tạo nên sự đột phá này là:
1 Do việc phát triển rộng rãi các giống sắn mới có năng suất tinh bột
cao như (KM94, KM98-5, KM140, KM98-7 )
Trang 28Bảng 1.14 Các nhà máy chế biến tinh bột sắn ở Việt Nam năm 2004
Vùng Tỉnh
Số nhà máy
Công suất chế biến (tấn bột/ngày)
Sản lượng (1000 tấn củ/năm)
Trang 292 Hệ thống các nhà máy chế biến tinh bột tăng nhanh, ước khoảng trên
53 nhà máy chế biến, tổng công thiết kế, ước đạt 3,8 triệu tấn củ tươi/năm (Bảng 1.10) tạo thuận lợi cho sản xuất sắn
3 Sắn Việt Nam thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa - Việt Nam hiện đã trở thành nước xuất khẩu tinh bột sắn đứng hàng thứ 3 trên thế giới, sau Thái Lan và Indonesia
4 Sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông thôn Nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó áp dụng giống mới
và tiến bộ kỹ thuật mới
Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 500.000 tấn tinh bột sắn, trong đó khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30% tiêu thụ nội địa Thị trường xuất khẩu sắn của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc và Đài Loan Kim ngạch xuất khẩu sắn của Việt Nam cho thị trường Trung Quốc hàng năm bình quân đạt hơn 10 triệu USD Mặc dù ngành chế biến tinh bột sắn ở Việt Nam còn khá non trẻ, nhưng các nhà máy chế biến đều khá hiện đại, đạt giá thành sản xuất chế biến rẻ nên sắn Việt Nam có lợi thế so sánh và có nhu cầu thị trường[38], [39]
1.2.2.2 Tình hình sản xuất sắn ở Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, với nhiều dân tộc khác nhau Điều kiện sinh sống của nông dân còn gặp rất nhiều khó khăn, cây sắn từ lâu đã là cây lương thực quan trọng của toàn tỉnh, đặc biệt ở các huyện vùng cao Diện tích trồng sắn của toàn tỉnh hàng năm đều tăng, nhất là những năm gần đây khi cây sắn đang dần chuyển từ cây lương
thực sang cây công nghiệp
Trang 30Bảng 1.15 Diện tích, năng suất, một số cây trồng chính trong toàn tỉnh
Vụ Đông 2004 V Xuân 2005 Cây
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Nguồn: Số liệu thống kê năm 2005 - Chi cục thống kê tỉnh Thái Nguyên
Ta thấy sắn là cây trồng đứng hàng thứ 4 về diện tích năng suất các cây trồng chính của toàn tỉnh Mặc dù diện tích tăng, năm 2005 diện tích toàn tỉnh
là 3.530 ha nhưng năng suất còn thấp chỉ đạt trung bình 10 tấn/ha Sở dĩ như vậy vì những giống sắn mới, năng suất cao chưa được phổ biến rộng rãi ra các huyện, chủ yếu mới chỉ biết đến ở Phổ Yên, Phú Lương, Phú Bình
(Báo cáo chính thức diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm của Sở khoa học và Phát triển Nông thôn, 2005) Theo kế hoạch năm 2006 tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên sẽ xây dựng nhà máy chế biến tinh bột sắn, vùng nguyên liệu chính đã được xác định, các giống mới đã được trồng và nhân rộng Chắc chắn những năm tiếp theo, Thái Nguyên sẽ mở rộng vùng nguyên liệu trồng giống mới phục vụ cho nhà máy Đây có thể nói là niềm vui cho những người nông dân
1.3 Tình hình nghiên cứu về cây sắn trên thế giới và trong nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về cây sắn trên thế giới
Sắn được nhân giống chủ yếu bằng hom, có ưu điểm về mặt duy trì tính trạng tốt qua các thế hệ Song bên cạnh đó cũng có những khó khăn, về
hệ số nhân giống rất thấp trung bình là 1:7 Mặt khác, quá trình chọn tạo
Trang 31giống mới cần ít nhất là 6 năm [15], [16], [47], Vì thế cho nên về vấn đề có tầm quan trọng nhất để bắt đầu công tác chọn tạo giống sắn là sự đa dạng phong phú về nguồn gen giống sắn, sau đến là xác định được phương pháp chọn lọc và tạo ra vật liệu có ích, các tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá nhận biết các dòng sắn có triển vọng Đây là cơ sở để tạo giống tốt
Trên thế giới việc nghiên cứu về giống sắn mới được thực hiện chủ yếu
ở các Viện nghiên cứu Quốc tế (CIAT) ở Colombia và Viện nông nghiệp nhiệt đới (IITA) ở Nigienia là hai tổ chức đã có nhiều chương trình nghiên cứu rộng lớn về cây sắn và cũng đã kết hợp chặt chẽ các chương trình sắn quốc gia của các nước trên thế giới nhằm thu thập, nhập nội, chọn tạo và cải tiến giống sắn [1], [2] Mục tiêu của chiến lược được thay đổi tuỳ theo sự cần thiết và khả năng của từng chương trình quốc gia gồm các công tác: Tập huấn, phân phối, nguồn vật liệu giống ban đầu và được điều tiết bởi các chuyên gia chọn tạo giống của CIAT [ 3]
Đến năm 1992 CIAT đã thu thập được 5236 mẫu giống theo các mục tiêu: khả năng chống chịu sâu bệnh hại, khả năng cho năng suất, khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường từ đó lựa chọn ra được những cặp
bố mẹ phục vụ cho công tác cải tiến giống sắn, cải tiến và trao đổi quỹ gen cho các nước Qua đó xác định được 251 dòng, giống làm vật liệu lai và giới thiệu cho các nước thuộc khu vực Châu Mỹ, Châu á [64]
CIAT cũng đã cung cấp cho các chương trình giống quốc gia 141.021 hạt lai của 131 cặp bố mẹ Ngày nay đã có 35 loài sắn hoang dại trong số 98 loài được mô tả, thu thập tham gia vào sơ đồ lai tạo giống.[64], [65]
CIAT hiện có những nghiên cứu rất sâu về di truyền số lượng, ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống và bảo tồn nguồn gen để tạo giống sắn ngắn ngày, chất lượng cao, giầu protêin, carotene và vitamin; tạo giống sắn kháng bệnh virus, bệnh héo vi khuẩn (Xanthomonas manihotis),
Trang 32bệnh đốm nâu lá (Cercospora spp), bệnh thán thư (Coletotrichum spp), ruồi trắng, rệp, sâu đục thân,
Tại Châu Mỹ Latinh, chiến lược chọn tạo giống sắn của CIAT đã cùng với chương trình sắn quốc gia của các nước như: Mêhicô, Braxin và Côlombia đã giới thiệu cho sản xuất sắn ở các nước này nhiều giống sắn mới như (CM 3435-3, SG337-2) Những giống này có năng suất tương đối cao dẫn đến đưa sản lượng sắn tăng lên một cách đáng kể [49]
ở Châu Phi, CIAT phối hợp với IITA và những chương trình quốc gia của các nước Nigeria, Congo, Ghana, Tanzania, Mozambique, Angola, Uganda cùng nhiều tổ chức như FAO, IFAD, Bill Gate Foundation, DDPSC, OSU nhằm phát triển các giống sắn mới ngắn ngày, chất lượng cao (giàu carotene, vitamin, protein, ) thích hợp ăn tươi và có khả năng kháng bệnh virus (bệnh dịch hại nghiêm trọng ở Châu Phi)
ở Châu á các nhà chọn tạo giống sắn của các nước tham dự hội thảo sắn của Châu á được tổ chức tại Thái Lan tháng 11/1987 đã cùng nhau xác định mục đích và yêu cầu cho các chương trình chọn tạo giống quốc gia là chọn tạo những giống sắn có năng suất cao, chín sớm và có hàm lượng tinh bột cao cao nhằm phục vụ cho chế biến công nghiệp Còn đối với các quốc gia sử dụng sắn làm lương thực như: ấn Độ, Indonesia, Srilanca thì mục tiêu của chọn giống sắn là chọn ra giống có hàm lượng axit cyanhydric trong củ thấp Bên cạnh đó thì một số chỉ tiêu về chọn lọc giống đó là (tỷ lệ nẩy mầm) hình dáng cây, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh [51]
Viện nghiên cứu cây có củ Trung ương ấn Độ đã thu thập và bảo quản, đánh giá được 1354 mẫu giống sắn và tiến hành lai giữa các dòng với nhau để tạo ra được hàng nghìn các hạt lai phục vụ cho chương chình chọn tạo các giống sắn mới Trong số 5 giống sắn mới được nhà nước ấn Độ công nhận là giống quốc gia trong đó có một giống được chọn lọc trực tiếp từ nguồn vật
Trang 33liệu nhập nội Đó là giống Sreeprakash Giống này không những đạt được năng suất củ tươi cao từ 35 - 40tấn/ha lại chống chịu được bệnh khảm do nấm Đây là một giống mới có nhiều triển vọng của ấn Độ [67], [68]
Từ năm 1989 đến nay, hàng năm cơ sở vùng Châu á của CIAT tại Thái Lan đã cung cấp cho 17 Viện nghiên cứu quốc gia của 11 nước Châu á mỗi năm khoảng 40.000 hạt lai và những giống sắn có triển vọng [69]
Thái Lan là nước có chương trình chọn tạo giống sắn mạnh nhất khu vực Tại trung tâm nghiên cứu cây trồng Rayong mỗi năm có 15.000÷20.000 hạt sắn lai F1 được khảo sát và đánh giá đã lựa chọn ra được một số giống mới có năng suất cao và phẩm chất tốt Thái Lan đã nghiên cứu được nhiều giống sắn có năng suất tinh bột cao Năm 1993 có 20 giống sắn mới được công nhận là giống quốc gia tại các nước Châu á với diện tích trồng khoảng 150.000 ha Nguồn gen của CIAT/Colombia và CIAT/Thái Lan có vai trò quan trọng trong việc điều phối mạng lưới chọn lọc giống sắn ở Châu á [53], [66]
Chương trình chọn tạo giống sắn của Indonesia được tập trung thực hiện tại trường Đại học Branijaya và Viện nghiên cứu cây lương thực Manlang (MARIR) Năm 1978 hai giống sắn mới được giới thiệu ra là Adira
1 và Adira 2, kế đó Adira 4 được giới thiệu năm 1980 và mới đây (MARIF) công bố một số giống sắn mới Marlang 1, Marlang 2 và trong 21.200 hạt lai F1 của CIAT đánh giá và chọn lọc đã có một số dòng có triển vọng đang được trồng khảo nghiệm rộng rãi (Somearjio poespodansona và yudi Widodo, 1995)
ở Malaysia nghiên cứu sắn chủ yếu được tiến hành tại viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Malaysia Trong 5.526 hạt lai nhập nội từ CIAT( giai đoạn 1990 - 1993) đã chọn được một dòng chín sớm, năng suất củ tươi cao là MM92, song hàm lượng tinh bột thấp chỉ đạt 20% (S.L Tan và S.K Chan 1995)
Trang 34Ngoài ra từ những công tác chọn tạo giống sắn trên thế giới các quốc gia ở Châu á như: ấn Độ, Malaysia, Việt Nam, Philippin đã có những thành tựu to lớn về việc cải tiến giống sắn mới ở Châu á[63,64,69]
Chương trình cải tiến giống sắn của Châu á đã đạt được những tiến bộ vượt bậc CIAT cũng ước lượng diện tích sử dụng của các giống sắn mới trên toàn thế giới năm 2003 đạt khoảng 1,6 triệu ha [73], trong đó vùng Châu Mỹ vào 250 ngìn ha, Châu á 1,35 triệu ha, thì Thái Lan 1,1 triệu ha Việt Nam 190 ngìn ha và Trung Quốc 40 nghìn ha Giống sắn mới đã mang lại năng suất và lợi nhuận cho các nông hộ
Việt Nam là một trong những nước điển hình của Châu á về cải tiến giống và nâng cao năng suất sắn (Đồ thị 1.1)
Năng suất
củ tươi (tấn/ ha)
Đồ thị 1.1: Năng suất sắn của ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam
giai đoạn (1994 - 2003) Nguồn: FAOSTAT 2004, [73]
Những tiến bộ vượt bậc về công tác chọn tạo giống sắn ở các nước đã khẳng định vai trò quan trọng của nguồn vật liệu khởi đầu và phương pháp cũng như kỹ năng chọn tạo giống sắn Công tác thực hành tuyển chọn giống
Year
Ên §é
Th¸i Lan TrungQuèc ViÖt Nam
Trang 35sắn trên đồng ruộng chỉ có kết quả khi các tính trạng quan sát, đảm bảo vững chắc trên cơ sở di truyền các tính trạng nông học như: Năng suất củ tươi, hàm lượng chất khô chỉ số thu hoạch có hệ số di truyền nghĩa rộng cao, song các hàm lượng chất khô hay (tinh bột) là tính trạng có hệ số cải tạo di truyền thấp và ít được biến động bởi điều kiện môi trường[17]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về cây sắn ở Việt Nam
Theo tác giả Phạm Văn Biên, Hoàng Kim [Cây sắn TPHCM, 1995] cây sắn được du nhập vào Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ 18
Trước năm 1975 nguồn gen giống sắn đã được nhập nội và khảo sát tại Viện khảo cứu nông nghiệp Sài Gòn [12], ở phía Bắc cũng đã có một số thí nghiệm tập đoàn so sánh giống [36] kết quả chọn ra được giống sắn H34 thuộc nhóm sắn đắng có hàm lượng tinh bột cao (>30%)
Trong giai đoạn 1975 - 1990 ở miền Bắc nghiên cứu giống sắn cũng được thực hiện tại Trường Đại học nông nghiệp 3 tỉnh Bắc Thái đã thu thập đánh giá nguồn gen của 20 giống sắn và xác định được giống sắn Xanh Vĩnh Phú là giống sắn địa phương tốt nhất của các tỉnh phía Bắc [30], [47] cũng trong giai đoạn này Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam đã tiến hành thu thập nguồn gen giống sắn địa phương và đánh giá tại trung tâm nghiên cứu thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc [30] kết quả đã giới thiệu cho sản xuất một số giống sắn có năng suất củ cao hơn so với các giống sắn địa phương như HL23, HL24, HL20 [32], [33] Nhìn chung, mục tiêu của công tác giống trong giai đoạn này là phục vụ cho nhu cầu về lương thực Những giống sắn được chọn lọc trong giai đoạn này có năng suất bình quân trong thí nghiệm đạt từ 15÷25 tấn/ha, hàm lượng tinh bột dao động từ 20÷25% thích hợp với nhiều vùng sinh thái
Trong giai đoạn 1990÷1995 chương trình cây có củ Quốc gia được hình thành trong sự liên kết chặt chẽ cùng CIAT và mạng lưới nghiên cứu sắn
Trang 36Châu á Công tác chọn tạo và phát triển giống sắn đạt được một bước đột phá quan trọng của nghề trồng sắn của Việt Nam [1], [2], [15] [16], mạng lưới nghiên cứu khuyến nông sắn Việt Nam được hình thành từ năm 1991 Mục tiêu của công tác giống trong giai đoạn này tập trung vào chọn lọc những giống sắn phục vụ cho chế biến công nghiệp
Giai đoạn này đã đưa ra sản xuất hai giống sắn mới KM60 và KM94 do trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Hưng Lộc - Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam đề nghị được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận là giống quốc gia [31] Ngày nay các giống sắn này đã được trồng phổ biến ở Đông Nam Bộ, vùng núi phía Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ So sánh với các giống sắn đang trồng ở các địa phương thì hai giống sắn này có năng suất và hàm lượng tinh bột cao hơn (năng suất củ tươi cao hơn từ 20÷40%)[3]
Giai đoạn từ 1995 đến nay, mục tiêu của công tác chọn tạo giống là đưa
ra sản xuất những giống sắn đa dạng, thích hợp cho cả chế biến công nghiệp
và nhu cầu về lương thực ở vùng sâu, vùng xa, trong giai đoạn này công tác chọn tạo giống đã bước đầu thu được kết quả tốt như đã tuyển chọn và giới thiệu cho sản xuất một số giống sắn tốt như: KM60, KM98-5, SM937-26, KM95-3 và KM98-1 Trong đó có hai giống KM94 và KM60 được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận là giống Quốc gia [19], [20], [31]
Giống sắn mới KM94 năm 2001/2002 đã được trồng trên diện tích 94.500ha Với năng suất bội thu 5 tấn/ha dẫn đến sản lượng bội thu thêm 450.000 tấn sắn củ tươi/năm tương ứng 126.000 tấn tinh bột với giá tinh bột 200÷300 USD/tấn lợi nhuận do sử dụng giống sắn mới hàng năm ước tăng thêm 252÷378 tỷ đồng Giống mới đã thực sự nâng cao thu nhập cho các nông
hộ, tạo công ăn việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng sức cạnh tranh của tinh bột xuất khẩu và các sản phẩm khác chế biến từ sắn [13;14]
Trang 37Kết quả khảo nghiệm các dòng, giống sắn có triển vọng tại một số tỉnh Miền Bắc Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Ngoạn và Nguyễn Viết Hưng bước đầu cũng cho ra được kết quả khả quan trong 9 dòng, giống (có 7 dòng, giống được chọn lọc từ hạt lai nhập nội) tham gia thí nghiệm đã chọn ra được một số dòng giống có triển vọng phát triển rộng ở một số tỉnh Miền Bắc Việt Nam như: KM94; KM140 - 2; KM98 - 7 [35], [36]
Với những kết quả như trên chúng ta có thể thấy rằng cây sắn đã tạo được niềm tin trong nông dân và rất phù hợp với quy mô sản xuất như ở Việt Nam, trong khi chưa thể phát triển mạnh cây lương thực khác do địa hình nước
ta 3/4 là đồi núi thì có thể mở rộng diện tích trồng sắn Điều này sẽ thúc đẩy ngành chế biến tinh bột sắn ở nước ta phát triển và toàn diện hơn
Tóm lại: Khái quát thông tin về sự cần thiết nghiên cứu, cơ sở khoa học
và thực tiễn của luận văn cho thấy:
1 Sắn là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu người trên thế giới, đồng thời là cây thức ăn cho gia súc, cây hàng hoá xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho chế biến bột ngọt, rượu, cồn, bánh kẹo, mì ăn liền và nhiều sản phẩm khác nhau
2 ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa, ngô Hiện nay cây sắn nước ta đang chuyển đổi nhanh chóng từ cây lương thực thành cây công nghiệp xuất khẩu và làm thức ăn cho gia súc Diện tích được tăng theo hàng năm, nhiều nhà máy sản xuất tinh bột đã được xây dựng trên cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến tinh bột xuất khẩu
3 Đã có những công trình nghiên cứu về giống sắn, tuy vậy năng suất chưa thật sự cao, giống chưa phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau, mùa vụ khác nhau Vấn đề nghiên cứu chọn lọc giống sắn tốt đang được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm ở cây sắn đặc tính di truyền được duy trì ổn định qua các thế hệ nhờ nhân giống vô tính nên việc
Trang 38nghiên cứu giống từ nguồn vật liệu hạt lai được coi là hướng đi có hiệu quả
Mặt khác, năng suất cây sắn là sự kết hợp của các yếu tố nội tại bên trong như
(chiều dài củ, đường kính củ, số củ/gốc ) và các yếu tố bên ngoài như (nhiệt
độ, lượng mưa, dinh dưỡng ) tác động trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Cho nên để chọn lọc được một giống sắn
không chỉ dựa vào năng suất đơn thuần mà cần có sự kết hợp giữa năng suất
với các yếu tố cấu thành năng suất, có như vậy quá trình chọn lọc mới đạt
kết quả cao Do vậy việc nghiên cứu đề tài: "Đánh giá, chọn lọc và xác
định mối tương quan của một số tính trạng với năng suất củ các dòng
giống sắn có triển vọng từ hạt lai nhập nội của CIAT tại trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên” có ý nghĩa quan trọng về khoa học và thực tiễn
trong sản xuất hiện nay
Trang 39Chương 2
Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Vật liệu nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1.1 Vật liệu nghiên cứu năm 2003
Gồm 20 dòng/giống sắn Trong đó có 3 giống đối chứng XVP, KM94
và KM98-7 là những giống đã được trồng phổ biến cho năng suất khá và ổn định qua nhiều năm
2.1.1.2 Vật liệu nghiên cứu năm 2004
Gồm 9 dòng/giống sắn Trong đó có 3 giống đối chứng XVP, KM94, KM98-7
2.1.1.3 Vật liệu nghiên cứu năm 2005
Gồm 7 dòng/giống sắn Trong đó có 3 giống đối chứng XVP, KM94, KM98-7
1 Xanh Vĩnh Phú (đ/c) 5 CM 9952 - 24
3 KM 98 - 7 (đ/c) 7 GM 155 - 17
Trang 404 CM 9952 - 6
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí trên đất trồng sắn tại khu cây trồng cạn, trường
Đại học Nông lâm Thái nguyên
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí theo dõi từ năm 2003 – 2005
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu và đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 20 dòng giống sắn năm 2003
2.2.2 Nghiên cứu và đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 9 dòng giống sắn năm 2004
2.2.3 Nghiên cứu, đánh giá đặc điểm sinh trưởng, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 7 dòng, giống năm 2005
2.2.4 Phân tích tương quan của một số tính trạng với năng suất củ tươi ở các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm năm 2005
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
2.3.1.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm năm 2003
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp tuần tự một hàng từ 1 - 20, không có lần nhắc lại Mỗi dòng trồng 25 hom
Sơ đồ bố trí thí nghiệm Dòng số
1 2 XVP KM 94
Bảo vệ