ảnh hưởng của các công thức bón phân tổng hợp đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây hoa hồng.... ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá
Trang 1ĐạI HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM
NGUYễN VIệT XUÂN
Đánh giá tình hình sản xuất hoa và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân để nâng cao năng suất,
chất lượng hoa hồng tại tỉnh Vĩnh Phúc
LUậN VĂN THạC Sỹ KHOA HọC NÔNG NGHIệP
CHUYÊN NGàNH: TRồNG TRọT
Mã số:60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
Thái Nguyên, 2008
Trang 2ĐạI HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM
NGUYễN VIệT XUÂN
Đánh giá tình hình sản xuất hoa và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân để nâng cao năng suất,
chất l−ợng hoa hồng tại tỉnh Vĩnh Phúc
LUậN VĂN THạC Sỹ KHOA HọC NÔNG NGHIệP
Thái Nguyên, 2008
Trang 3LờI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp này là hoàn toàn trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã đ−ợc cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
Trang 4- Khoa sau đại học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Lãnh đạo Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Vĩnh Phúc cùng các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về vật chất và tinh thần để hoàn thành luận văn này
Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả những sự giúp
Trang 5Mục lục
Mở Đầu 12
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 13
2.1 Mục tiêu 13
2.2 Yêu cầu 13
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 14
3.1 ý nghĩa khoa học 14
3.2 ý nghĩa thực tiễn 14
Chương I tổng quan tài liệu 15
1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới và ở Việt Nam 15
1.1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới 15
1.1.2 Tình hình sản xuất hoa và tiêu thụ hoa ở Châu á 16
1.1.3 Tình hình sản xuất hoa ở Việt Nam 18
1.1.4 Tình hình sản xuất hoa hồng trên thế giới 19
1.1.5 Tình hình sản xuất hoa hồng ở Việt Nam 21
1.2 Cơ sở khoa học của đề tài 22
1.2.1 Nguồn gốc hoa hồng 22
1.2.2 Đặc điểm thực vật học 13
1.2.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa 24
1.2.3.1 Nhiệt độ 24
1.2.3.2 ánh sáng 25
1.2.3.3 Độ ẩm 25
1.2.3.4 Đất 26
1.2.4 Đặc điểm sinh lý, sinh thái của sự ra hoa 26
1.2.5 Qui luật sinh trưởng và phát triển của cây hoa hồng 27
Trang 61.2.5.1 Cành mẹ của cành hoa 27
1.2.5.2 Sự phân hoá hoa và sự phát dục của cành hoa 28
1.2.5.3 Sự phát sinh cành mù 31
1.2.5.4 Sự phát sinh hoa dị hình 35
1.2.6 Nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây hoa hồng 35
1.2.7 Kỹ thuật trồng hoa hồng trên nền đất 37
1.2.7.1 Phương thức trồng 37
1.2.7.2 Mật độ trồng 37
1.2.7.3 Chuẩn bị đất trồng 38
1.2.7.4 Trồng cây 39
1.2.7.5 Chăm sóc sau trồng 40
1.2.7.6 Kỹ thuật tỉa cành, tỉa nụ 41
1.2.7.7 Thu hoạch và bảo quản hoa 41
1.3 Cơ sở của việc bón phân cho hoa hồng 42
1.4 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón qua lá 44
1.4.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bón qua lá trên thế giới 44
1.4.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón lá ở Việt Nam 45
Chương IIVật liệu, NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU 47
2.1 Vật liệu và đối tượng nghiên cứu 47
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 36
2.3 Nội dung nghiên cứu 48
2.3.1 Điều tra, đánh giá tình hình sản xuất hoa tại tỉnh Vĩnh Phúc 48
2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật về bón phân 48
2.4 Phương pháp nghiên cứu 48
2.4.1 Điều tra tình hình sản xuất hoa ở Vĩnh Phúc 49
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu các thí nghiệm 49
2.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 52
Trang 72.4.3.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển 52
2.4.3.2 Các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng hoa 52
2.4.3.3 Chỉ tiêu về sâu bệnh hại 54
2.4.3.4 Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế sản xuất 54
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 54
Chương IIIKết quả nghiên cứu và thảo luận 55
3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa của tỉnh Vĩnh Phúc 55
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, x∙ hội của tỉnh Vĩnh Phúc 55
3.1.2 Tình hình sản xuất hoa tỉnh Vĩnh Phúc 57
3.1.2.1 Cơ cấu, chủng loại hoa vụ Đông Xuân 2006 - 2007 tại tỉnh Vĩnh Phúc 59
3.1.2.2 Một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong sản xuất hoa tại Vĩnh Phúc 60
3.1.2.3 Hiệu quả kinh tế của một số loại hoa chính được trồng tại Vĩnh Phúc 61
3.1.3 Tình hình tiêu thụ hoa 62
3.1.3.1 Tình hình tiêu thụ hoa tại tỉnh Vĩnh Phúc 62
3.1.3.2 Giá bán một số loại hoa trong những năm gần đây 63
3.1.3.3 Tình hình tiêu thụ hoa tại chợ hoa Mê Linh năm 2007 65
3.2 Kết quả Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân điều khiển sinh trưởng cho cây hoa hồng 67
3.2.1 ảnh hưởng của các công thức bón phân tổng hợp đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây hoa hồng 67
3.2.1.1 ảnh hưởng của các công thức bón phân tổng hợp đến động thái bật mầm và tỷ lệ mầm hữu hiệu của cây hoa hồng 67
3.2.1.2 ảnh hưởng của các công thức bón phân tổng hợp đến động thái tăng trưởng chiều dài và đường kính cành hoa hồng 69
3.2.1.3 ảnh hưởng của các công thức bón phân tổng hợp đến chất lượng hoa hồng 72
3.2.1.4 ảnh hưởng của các loại phân tổng hợp đến khả năng chống chịu sâu, bệnh của cây hoa hồng 75
Trang 83.2.1.5 ảnh hưởng của các công thức bón phân tổng hợp đến năng suất, sản
lượng và hiệu quả kinh tế của hoa hồng 76
3.2.2 ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây hoa hồng 78
3.2.2.1 ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến động thái bật mầm và tỷ lệ mầm hữu hiệu của hoa hồng 79
3.2.2.2.ảnh hưởng của các loại chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến động thái tăng trưởng chiều dài và đường kính cành hoa hồng 81
3.2.2.3 ảnh hưởng của các loại chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến chất lượng hoa hồng 84
3.2.2.4 ảnh hưởng của các loại chế phẩm dinh dưỡng đến khả năng chống chịu sâu, bệnh của cây hoa hồng 85
3.2.2.5 ảnh hưởng của các chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến năng suất và hiệu quả kinh tếcủa hoa hồng…… ……… 73
KếT LUậN Và Đề NGHị 90
1 Kết luận 90
2 Đề nghị 90
Tài liệu Tham khảo 77
I Tài liệu trong nước 91
II Tài liệu nước ngoài 93
Trang 9DANH MụC CáC BảNG
1.1 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước năm 2002 4 1.2 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước năm 2002 5 1.3 Tình hình sản xuất hoa ở các nước Châu á 6
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát dục của hoa 22
3.1 Diện tích gieo trồng hoa, cây cảnh của các huyện, thành, thị
3.7 ảnh hưởng của các loại phân bón tổng hợp đến động thái bật
mầm và tỷ lệ mầm hữu hiệu của cây hoa hồng
54
3.8 ảnh hưởng của một số loại phân bón tổng hợp đến động thái
tăng trưởng chiều dài và đường kính cành hoa hồng
56
3.9 ảnh hưởng của các công thức bón phân tổng hợp đến một số
59
Trang 10chỉ tiêu về chất lượng hoa hồng
3.10 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của cây hoa hồng ở các công
3.11 ảnh hưởng của các công thức bón phân tổng hợp đến năng
suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế của hoa hồng
63
3.12 ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến
động thái bật mầm và tỷ lệ mầm hữu hiệu của hoa hồng
65
3.13 ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến
động thái tăng trưởng chiều dài và đường kính của hoa hồng
68
3.14 ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến một
số chỉ tiêu về chất lượng hoa hồng
70
3.15 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của cây hoa hồng ở các công
thức phun chế phẩm dinh dưỡng qua lá khác nhau 72
3.16 ảnh hưởng của các loại chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến
năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế của cây hoa hồng
74
Trang 11DANH MụC CáC BIểU Đồ
động thái tăng trưởng đường kính cành của hoa hồng 57
3.5 ảnh hưởng của các loại chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến
3.6 ảnh hưởng của các loại chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến
động thái tăng trưởng chiều dài cành của hoa hồng 69 3.7 ảnh hưởng của các loại chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến
động thái tăng trưởng đường kính cành của hoa hồng 69
Trang 12Mở ĐầU
1 Đặt vấn đề
Hoa là một sản phẩm đặc biệt, ngoài giá trị về thẩm mỹ, thưởng ngoạn, hoa còn mang lại nguồn lợi kinh tế cho con người Ngày nay, khi đời sống người dân đã được nâng cao, nhu cầu hoa tươi ngày càng lớn, tạo nền tảng vững chắc cho nghề trồng hoa Sản xuất hoa đã trở thành một ngành kinh tế
có thu nhập cao Sản lượng hoa trên toàn thế giới năm 1999 đạt 40 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 7,8 tỷ USD Trong rất nhiều loại hoa thì hoa hồng là loại
được trồng phổ biến nhất Hoa hồng là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất trên thế giới, với đặc tính hoa to vừa phải, màu sắc đẹp mắt, hương thơm dịu dàng, hoa hồng được coi là “Hoàng hậu của các loài hoa” Hoa hồng biểu hiện cho hoà bình, tươi trẻ, là hoa của tình yêu, tình hữu nghị của niềm vui và sự tốt lành Hoa hồng được trồng ở nhiều nước trên thế giới như: Hà Lan, Mỹ, Colombia, Nhật, Isarel…
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp hiện nay, ở Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất đang là yêu cầu bức thiết của sản xuất
Thực tế trong những năm qua, ở hầu hết các địa phương trong cả nước
đã xuất hiện nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao Nhiều hộ đã đạt thu nhập trên trăm triệu đồng trên 1 ha mỗi năm, trong
đó phải kể đến mô hình chuyển đổi từ trồng lúa hiệu quả kinh tế thấp sang trồng hoa thâm canh đạt hiệu quả kinh tế cao Mặc dù Vĩnh Phúc có những vùng sản xuất hoa lớn như Mê Linh nhưng nhìn chung năng suất còn thấp, chất lượng hoa kém, tỷ lệ hoa loại I (Đạt tiêu chuẩn xuất khẩu) thấp Để khắc phục những tồn tại trên ngoài nguyên nhân bộ giống cũ đã trồng qua nhiều năm khả năng chống chịu sâu, bệnh giảm thì một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng để giải quyết vấn đề trên là biện pháp điều khiển sinh trưởng của cây Thực tiễn sản xuất hoa cho thấy các biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng của cây hoa bao gồm: Kỹ thuật cắt, tỉa, uốn, vít, kỹ thuật bón phân, phun chất điều hoà sinh trưởng…Trong đó biện pháp kỹ thuật bón phân
đóng vai trò rất quan trọng
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở phía bắc vùng Châu thổ sông Hồng, hội
đủ cả 3 vùng sinh thái đồng bằng, trung du và miền núi Vĩnh Phúc có vị trí
Trang 13địa lý, giao thông thuận lợi và có điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, bền vững Nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía bắc, cùng với sự phát triển chung của cả nước, kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc phát triển tương
đối toàn diện, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hầu hết các mục tiêu kinh tế xã hội đều đạt và vượt so mục tiêu đề ra Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng liên tục tăng, giá trị sản xuất công nghiệp đứng thứ 7 trong cả nước Thu ngân sách trên địa bàn tăng nhanh và là một trong 10 tỉnh có số thu đạt trên 2 ngàn
tỷ đồng Các lĩnh vực văn hoá, thể thao đều được quan tâm đầu tư, đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm,
an ninh quốc phòng được giữ vững; được đánh giá là tỉnh giàu tiềm năng phát triển và đang là tỉnh có tốc độ phát triển cao trong tốp đầu của các tỉnh phía Bắc Trong những năm gần đây, Vĩnh Phúc chú trọng đến việc đầu tư trở lại cho nông nghiệp Bên cạnh hàng loạt các Nghị quyết Hội đồng nhân dân liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân phải kể đến Nghị quyết số 07-NQ/HĐND về vùng trồng trọt sản xuất hàng hoá tập trung; cây hoa hồng
là một trong những cây trồng có chủ trương xây dựng thành vùng sản xuất hàng hoá của tỉnh cùng với các cây trồng khác như: Lúa chất lượng cao, bí, dưa chuột, cà chua, ớt…Vì thế việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa nói chung và hoa hồng nói riêng là rất cần thiết
Xuất phát từ thực tế và yêu cầu của sản xuất trên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình sản xuất hoa và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân để nâng cao năng suất, chất lượng hoa
hồng tại tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình sản xuất hoa của tỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ sở
đó đề xuất các mô hình cho thu nhập cao và thích ứng với điều kiện sinh thái tỉnh Vĩnh Phúc
- Nghiên cứu hiệu quả một số biện pháp kỹ thuật bón phân điều khiển sinh trưởng tăng năng suất và chất lượng cây hoa hồng từ đó làm tăng hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho nghề trồng hoa hồng ở tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Yêu cầu
Trang 14- Điều tra, đánh giá được tình hình sản xuất hoa của tỉnh Vĩnh Phúc, đề xuất các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao
- Xác định được ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật bón phân điều khiển sinh trưởng của cây hoa hồng, tính được hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật đó Từ đó đề xuất được loại phân bón phù hợp để hoàn thiện quy trình sản xuất
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 ý nghĩa khoa học
- Phân tích, đánh giá được thực trạng tình hình sản xuất hoa của tỉnh Vĩnh Phúc Từ đó rút ra những kinh nghiệm và đề xuất được những mô hình trồng hoa cho hiệu quả kinh tế cao
- Hoàn thiện quy trình sản xuất, thâm canh điều khiển sinh trưởng cho cây hoa hồng trong điều kiện tỉnh Vĩnh Phúc
- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện đề án chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 ý nghĩa thực tiễn
Tác động biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả kinh tế cho sản xuất hoa hồng
Trang 15Chương I
tổng quan tài liệu 1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới
Hiện nay, sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh
mẽ và đã trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa, cây cảnh Diện tích sản xuất hoa cây cảnh của thế giới ngày càng mở rộng, không ngừng tăng lên Năm 1995 sản lượng hoa cây cảnh thế giới đạt khoảng 31 tỷ đôla Trong
đó hoa hồng chiếm tới 25 tỷ đôla Ba nước sản xuất hoa lớn chiếm khoảng 50% sản lượng hoa thế giới đó là Nhật, Hà Lan, Mỹ
Giá trị nhập khẩu hoa của thế giới tăng hàng năm Sản xuất hoa của thế giới sẽ tiếp tục phát triển và mạnh mẽ ở các nước châu á, châu Phi và châu Mỹ la tinh Hướng sản xuất hoa là tăng năng suất, chất lượng, giảm chi phí lao động, giảm giá thành sản phẩm
Giá trị nhập khẩu hoa, cây cảnh của thế giới tăng hàng năm Năm
1996 là 7,6 tỷ đô la trong đó thị trường hoa Hà Lan chiếm 50%, sau đó
đến các nước Côlômbia, Italia, Đan Mạch, USA, Bỉ, Isarael
Bảng 1.1 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2002
1 Hà Lan 64,8 Li ly, hồng, lay ơn, đồng tiền, cẩm chướng
2 Colombia 12,0 Cúc, hồng, lay ơn, đồng tiền
3 Isarael 5,7 Cẩm chướng, hồng, đồng tiền
5 Tây Ban Nha 1,9 Cẩm chướng, hồng
6 Thái Lan 1,6 Cẩm chướng, phong lan
7 Kenya 1,1 Cẩm chướng, hồng, đồng tiền
8 Các nước khác 7,9 Hồng, lay ơn, cúc, đồng tiền
Nguồn: Nguyễn Xuân Linh, 2002 [8]
Trang 16Bảng 1.2 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2002
6 Hà Lan 4,0 Hồng, lay ơn, lan
7 Italia 2,9 Cúc, hồng, lay ơn, đồng tiền
8 Các nước
khác
15,9 Cẩm chướng, cúc, hồng, lay ơn, lan…
Nguồn: Nguyễn Xuân Linh, 2002 [8]
Mỗi năm thế giới đã tạo ra hàng trăm chủng loại hoa và giống hoa mới, đã xây dựng nhiều nhà máy “sản xuất” hoa với hàng tỷ bông hoa chất lượng cao, cung cấp cho người tiêu dùng, đồng thời thúc đẩy các ngành kinh
tế khác phát triển Theo phân tích và dự báo của các chuyên gia kinh tế thì ngành sản xuất, kinh doanh hoa trên thế giới còn tiếp tục phát triển ở tốc độ cao (12-15%) trong nhưng năm tới [21]
1.1.2 Tình hình sản xuất hoa và tiêu thụ hoa ở Châu á
Nghề trồng hoa ở Châu á có từ rất lâu đời nhưng trồng hoa mang tính thương mại mới phát triển mạnh ở những năm 80 của thế kỷ, khi Châu á mở cửa, tăng cường đầu tư, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu hoa cho khách sạn, du lịch lớn nên thị trường hoa phát triển theo [21]
Diện tích trồng hoa Châu á đạt khoảng 134.000 ha, chiếm 60% diện tích hoa toàn thế giới, nhưng diện tích trồng hoa thương mại nhỏ Tỷ lệ thị
Trang 17trường hoa chỉ chiếm khoảng 20% thị trường hoa thế giới, Nguyên nhân là do các nước Châu á có phần lớn diện tích trồng hoa trong điều kiện tự nhiên và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nội địa Trong đó các nước có diện tích trồng hoa lớn là Trung Quốc (Sản lượng đạt 2 tỷ cành/năm 2000) với các loại hoa chính như hoa hồng, cúc, phăng, lay ơn, đồng tiền; ấn Độ 65.000 ha (giá trị
đạt 2.050 triệu R.S/năm); Thái Lan 5.452 ha (Sản lượng 1.667 cành/năm); Việt Nam 3.500 ha [10], tình sản xuất hoa ở các nước Châu á được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất hoa ở các nước Châu á
TT Tên Nước
Diện tích (ha)
Sản lượng giá trị/năm Các loại hoa chính
2 ấn Độ 65.000
2.050 triệu RS/năm
Anthurium, huệ gysophila, cúc, xuxi, nhài, hồng, lan, các loại hoa
ôn đới
3 Malaysia 1.218 3.370 triệu
RM/năm
Phăng, hồng, Static, cúc, huệ gysophila
4 Srilanka 500 1.667 triệu
cành/năm
Hồng, Phăng, Static, cúc, huệ gysophila
5 Thái Lan 5.452 Lan, hồng, cúc, phăng, nhài
6 Việt Nam 3.500 Lan, Anthurium, hồng
Nguồn: Nguyễn Xuân Linh, 2002 [8]
Các loại hoa chủ yếu được trồng ở Châu á gồm hai nhóm giống hoa, giống hoa có nguồn gốc ôn đới và giống hoa có nguồn gốc nhiệt đới Nhóm
Trang 18có nguồn gốc nhiệt đới bao gồm các loại hoa chính như: Hoa Lan (Orchidacea), Anthurium, hoa đồng tiền (Gerbera)
Nhóm có nguồn gốc ôn đới như: Cúc (Chysanthemum sp), lay ơn (Gladiolus), huệ Đặc biệt hoa lan là sản phẩm hoa nhiệt đới, đặc sản hoa Châu á được thị trường Châu Âu và Châu Mỹ rất ưa chuộng [21]
Sản xuất hoa ở Châu á là một tiềm năng quan trọng thúc đẩy nghề trồng hoa phát triển trong tương lai Tuy nhiên hiện nay sự phát triển hoa ở các nước Châu á gặp các điều kiện, khó khăn sau:
- Điều kiện thuận lợi của sản xuất hoa các nước Châu á:
+ Có nguồn gen cây phong phú và đa dạng
+ Khí hậu nhiệt đới, đất đai phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loài hoa
+ Nguồn lao động dồi dào, giá nhân công thấp
+ Chính phủ đầu tư, khuyến khích phát triển nghề trồng hoa
+ Đời sống con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu hoa tươi ngày càng lớn
Bên cạnh những thuận lợi trên nghề trồng hoa Châu á còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế :
+ Chưa đủ kỹ thuật sản xuất hoa thương mại
+ Vốn đầu tư cao, vay vốn với lãi xuất cao
+ Cơ sở hạ tầng cho sản xuất, bảo quản, vận chuyển còn thiếu
+ Thông tin về thị trường chưa đầy đủ
+ Thiếu vốn đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo cán bộ
+ Thuế cao, sự kiểm dịch khắt khe của các nước nhập khẩu
1.1.3 Tình hình sản xuất hoa ở Việt Nam
Diện tích trồng hoa cây cảnh ở Việt Nam còn nhỏ chiếm khoảng 0,02 diện tích đất Hoa cây cảnh được trồng từ lâu đời Diện tích hoa cây cảnh được trồng ở các vùng trồng truyền thống của Thành phố, khu công nghiệp, khu nghỉ
Trang 19mát, khu du lịch với tổng diện tích khoảng 3.500 ha Chủ yếu ở các tỉnh, thành như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Vĩnh Phúc
Theo điều tra ở các tỉnh trong các vùng sinh thái nông nghiệp, các loại hoa chính được trồng nhiều ở Việt Nam là: Hồng, Cúc, Cẩm chướng, Lay ơn, Thược dược, Lan, Trà mi trong đó hoa hồng chiếm tỷ lệ cao nhất (35%) hoa Cúc (30%), hoa Lay ơn (15%), hoa khác (20%)
Kỹ thuật sản xuất hoa, cây cảnh ở Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống với kỹ thuật nhân giống cổ truyền, chất lượng giống, chất lượng hoa không cao Các loại hoa, cây cảnh phần lớn đựơc trồng ở điều kiện tự nhiên ngoài đồng ruộng nếu so sánh với lúa thì hiệu quả trồng hoa, cây cảnh thường cao hơn từ 5 – 20 lần Bình quân giá trị sản lượng hoa đạt
118 triệu đồng/ha/năm Vì vậy diện tích hoa, cây cảnh ngày một tăng nhanh, sản xuất hoa, cây cảnh đã làm giàu cho các vùng trồng hoa, cây cảnh trong n-
ước
1.1.4 Tình hình sản xuất hoa hồng trên thế giới
Hoa hồng là một trong những loài hoa trồng phổ biến nhất trên thế giới
và được ưa chuộng bởi sự đa dạng chủng loại và phong phú về màu sắc Chính vì thế, hoa hồng được nhiều nước trên thế giới trồng theo hướng hàng hoá đầu tư thâm canh cao và trở thành một ngành thương mại lớn Sản xuất hoa đã mang lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các nước trồng hoa trên thế giới Năm 1995, tổng giá trị hoa cắt trên thế giới tiêu thụ 31 tỷ USD, trong đó hoa hồng chiếm 25 tỷ USD và dự kiến trong những năm tới nhu cầu hoa cắt
sẽ tăng lên tới 35 tỷ USD, trong đó hoa hồng chiếm khoảng 30 tỷ USD [9]
Theo Nguyễn Xuân Linh năm 2002 [8] tổng giá trị hoa cắt tiêu thụ trên thị trường thế giới là 42 tỷ USD, trong đó hoa hồng chiếm 15 tỷ USD còn lại
là cúc, cẩm chướng thơm, lay ơn và các loài hoa khác
Diện tích hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và đang được tăng lên Trong đó tổng diện tích trồng hoa của châu á khoảng 134.000 ha, chiếm khoảng 60% tổng diện tích hoa của thế giới [17] Tỷ lệ thị trường hoa của nước đang phát triển chỉ chiếm 20% thị trường hoa của thế giới Nguyên nhân là do các nước
Trang 20Châu á có diện tích trồng hoa nói chung và hoa hồng nói riêng được đầu tư công nghệ tiên tiến còn ít Hoa của Châu á thường được trồng ở điều kiện tự nhiên, ngoài đồng ruộng và chủ yếu phục vụ thị trường nội địa [9]
Năm 1995 giá trị sản lượng hoa trên thế giới đạt khoảng 20 tỷ USD Ba nước có thu nhập hoa cắt lớn đó là: Nhật Bản khoảng 3,731 tỷ USD, Hà Lan 3,558 tỷ USD, Mỹ khoảng 3,270 tỷ USD lượng hoa này chiếm khoảng 50% lượng hoa của thế giới Giá trị hoa nhập khẩu của thế giới năm 1995 là 6,8 tỷ USD Tỷ lệ nhập khẩu hoa trên thế giới tăng hàng năm là 10% trong đó hoa cắt tăng 69% ở những năm gần đây[9]
Theo Hoàng Ngọc Thuận [17], giá trị nhập khẩu hoa và cây cảnh trên thế giới năm 1982 là 2,5 tỷ USD, năm 1996 là 7,5 tỷ USD Giá trị xuất khẩu tăng từ 1,2
tỷ USD trong năm 1982 lên 3,6 tỷ USD vào năm 1996
Các nước sản xuất hoa hồng chính là: Hà Lan, Mỹ, Colombia, Nhật, Isarel Trong đó Hà Lan là nước trồng và xuất khẩu hoa hồng lớn nhất trên thế giới Hà Lan xuất khẩu khoảng 4 tỷ USD tương đương với 21 tỷ cành Mỹ là nước trồng hoa hồng nhiều nhưng nhập khẩu cũng nhiều Năm 1996 Mỹ sản xuất 3,5 tỷ cành và nhập khẩu 8,3 tỷ cành Trung Quốc là nước bắt đầu sản xuất hoa hồng từ những năm 50 của thế kỷ XX Hiện nay, Quảng Đông là tỉnh trồng hoa hồng nhiều nhất diện tích 4.320 ha, sản xuất 2,96 tỷ bông, tiếp đó là tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Hồ Bắc Hoa chất lượng cao nhất là Vân Nam đây cũng là vùng thích hợp với hoa hồng vì vùng này có vĩ độ thấp, độ cao lớn, bốn mùa mát mẻ biên độ chênh lệch ngày đêm lớn ánh sáng đầy đủ [5]
Theo kết quả thống kê của hiệp hội sản xuất hoa Trung Quốc (1999), ở
đất nước trên 1 tỷ dân này hoa hồng là một trong 15 loại hoa cắt quan trọng,
đứng đầu về diện tích cũng như sản lượng tiếp đó mới đến cẩm chướng, hoa cúc và một số loại hoa khác
Trang 21ở một số nước Tây Âu và Trung Quốc mặc dù nhu cầu tiêu dùng hoa hồng rất lớn, nhưng các nước này chỉ có thể sản xuất hoa vào mùa hè, còn mùa đông do nhiệt độ xuống quá thấp và thường bị băng tuyết bao phủ vì vậy năng suất và chất lượng hoa hồng giảm nhiều Để thu được một bông hồng có chất lượng cao phải chi phí rất lớn Đây chính là một cơ hội cho các nước có điều kiện thuận lợi như Việt Nam đầu tư sản xuất để xuẩt khẩu loài hoa này
Đặc biệt trong điều kiện khí hậu Việt Nam, cây hoa hồng lại sinh trưởng, phát triển tốt vào mùa đông Nếu ta có hướng đầu tư đổi mới giống
và công nghệ thì việc xuất khẩu hoa hồng sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Đài Loan là điều có thể thực hiện được
1.1.5 Tình hình sản xuất hoa hồng ở Việt Nam
Hiện nay, hoa hồng có mặt ở khắp mọi nơi từ vùng núi cao đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị, các vùng trồng nhiều hoa mang tính tập trung là: Hà Nội: 1.100 ha, Thành phố Hồ Chí Minh: 870 ha, Đà Lạt: 560
ha, Hải Phòng: 270 ha, Vĩnh Phúc: 950 ha [4] và hầu hết các tỉnh trong cả nước đều trồng hoa với diện tích từ vài đến vài chục ha như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình [4]
Về cơ cấu chủng loại, trước năm 1997 diện tích trồng hoa hồng nhiều nhất 31% nhưng từ năm 1998 trở lại đây diện tích hoa hồng chỉ còn 29,6% do phần lớn giống hoa hồng trồng hiện nay là giống cũ, năng suất
và chất lượng kém, người dân chưa chịu thay giống mới, đầu tư cho sản xuất còn hạn chế [4]
Đà Lạt là một trung tâm du lịch, nghỉ ngơi tốt nhất của cả nước thuộc cao nguyên miền Trung có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, đất đai màu
mỡ được coi là nơi lý tưởng cho sinh trưởng, phát triển của hầu hết các loại hoa, diện tích trồng hồng chiếm một tỷ lệ lớn Mặt khác, đây là vùng có truyền thống lâu đời và có kinh nghiệm trong việc trồng và phát triển hoa
Trang 22ôn đới cũng như nghệ thuật kiến trúc phong cảnh ở đó đã thu hút đầu tư khá lớn để phát triển hoa từ các công ty trong và ngoài nước Một số công
ty này đã có hoa xuất khẩu sang thị trường Nhật và Đài Loan [16]
Thành Phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ hoa lớn của Việt Nam Nhu cầu tiêu dùng hoa cắt từ 35.000 - 50.000 cành/ngày Trong khi đó hai vùng hoa chuyên canh Sa Đéc và quận Gò Vấp chỉ cung cấp được 10.000 - 15.000 cành/ngày Vì thế mà thành phố vẫn phải nhập các loại hoa (trong
đó có hoa hồng) từ Đà Lạt, Hà Lan, Đài Loan và các tỉnh Miền Bắc [18]
Hà Nội là trung tâm kinh tế của cả nước và cũng là địa phương có diện tích trồng hoa lớn nhất Việt Nam Theo Đặng Văn Đông (2001) diện tích hoa của Hà Nội trong những năm qua tăng lên một cách nhanh chóng: Năm 1997 là 640 ha, năm 1998 tăng lên 1.008 ha và năm 1999 là 1.075 ha, trong đó hoa hồng chiếm diện tích lớn thứ 2 (sau hoa cúc) trong cơ cấu các loại hoa [4]
Trồng hoa hồng mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn so với các loại cây trồng khác đặc biệt là so với lúa Nếu so sánh với lúa hai vụ thì hiệu quả trồng hoa hồng gấp 6 lần, cẩm chướng gấp lúa 2 lần, loa kèn gấp lúa 3 lần, layơn gấp lúa 4 lần, cúc gấp lúa 7 - 8 lần [4]
Thấy rõ được giá trị kinh tế to lớn của các loại hoa đặc biệt là hoa hồng nhiều địa phương và các doanh nghiệp ở Việt Nam đã và đang có kế hoạch
đầu tư sản xuất hoa theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm tiến tới xuất khẩu hoa ra nước ngoài
1.2 Cơ sở khoa học của đề tài
1.2.1 Nguồn gốc hoa hồng
Người ta cho rằng hoa hồng có nguồn gốc từ tầm xuân – có từ kỷ đệ tam cách đây 3,5 – 7 triệu năm, chủ yếu phân bố ở các vùng đại lục ôn đới bắc bán cầu, riêng loại ra hoa bốn mùa có khởi nguyên ở vùng á nhiệt đới Trải qua sự biến đổi lâu dài trong tự nhiên và sự chọn lọc của con người, tầm
Trang 23xuân đã biến thành hoa hồng cổ đại Hoa hồng hiện nay có nguồn gốc rất phức tạp, nó là kết quả tạp giao của Tầm xuân (Rosa multifora) với Mai khôi (Rosa Rugosa) và hoa hồng (Rosa Indica) [5]
Mai khôi (Rosa Rugosa): Có nguồn gốc ở Trung Quốc, hiện có rất nhiều cây hoang dại Mai khôi là loại cây thân gỗ rụng lá, cao tới 2 m, thân dạng bò, màu nâu tro, trên thân có một lớp lông nhung và có gai Lá kép lông chim, có 5 – 9 lá nhỏ, hình thuôn hoặc hình trứng dài 2 – 5 cm, mép lá có răng cưa, mặt trên không có gai, mặt dưới có lông gai Hoa mọc thành chùm màu trắng hoặc đỏ tím, đường kính 6 – 8 cm, có chứa tinh dầu, mùi thơm, thông thường mỗi năm ra hoa một lần vào tháng 5 hoặc tháng 6 hoặc cũng có khi ra thêm một đợt vào tháng 7, tháng 8 Quả hình cầu dẹt, màu đỏ gạch [5]
Tầm xuân (Rosa multifora): Là loại cây bụi rụng lá, cành nhỏ, mọc lan như cây dây leo, lá kép lông chim, hoa nhỏ và mọc thành cành, một năm chỉ
ra hoa một lần Cây có nguồn gốc từ Trung Quốc, Tây Âu, Bắc Mỹ ở Trung Quốc có loại tầm xuân dại (Rosa multiflora) có 5 – 11 lá kép, quanh có gai, hoa nhỏ, màu trắng đến màu đỏ, mọc dày sít như hình cái ô, ra hoa vào tháng
5, tháng 6, quả nhỏ hình cầu Ngoài ra còn có một số loại tầm xuân khác như cẩu tầm xuân (Rosa Camina), tầm xuân màu vàng, tầm xuân lá nhãn, tầm xuân Pháp [5]
Hoa hồng (Rosa Indica): Nguyên sản ở Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Tô Châu, Quảng Đông Hiện nay còn tồn tại những cây cổ thụ hoang dại, là loại cây lùm bụi, rụng lá và nửa rụng lá Cây mọc đứng thẳng hoặc nửa mở Lá kép lông chim có từ 3 -5 lá nhỏ, hình trứng dài 2 -3 cm, đỉnh lá nhọn, mép lá răng cưa, hai mặt lá không có lông Hoa mọc rời hoặc thành chùm trên cành, đường kính 5 cm hoa có màu trắng đến đỏ thẫm, thơm nhẹ, cuống lá nhỏ Một năm cây ra hoa nhiều lần từ cuối tháng 4-10 Quả hình trứng hoặc hình cầu, quả chín vào tháng 4-10 Nhiễm sắc thể 2n = 2x=14, có rất nhiều biến chủng như có loại có lông, không có lông, lá mỏng nhỏ nhiều hoa, là bố,
mẹ của các giống hoa hồng hiện nay [5]
Trang 24ở Trung Quốc thời Hán Vũ Đế (140 năm TCN) trong cung vua đã có hoa hồng Đến Đời Bắc Tống đã có người trồng và đã biết tạo ra giống hồng ra hoa quanh năm, có mùi thơm do lai tạo giữa tầm xuân và hoa hồng ở Châu
âu, trước thế kỷ 17 hoa hồng chủ yếu được nhập từ cao nguyên Tiểu á những giống ra hoa một lần không chịu rét, không thơm, màu sắc đơn điệu Cuối thế
kỷ 15 các giống hồng và tầm xuân Trung Quốc được nhập vào Pháp, qua nhiều lần lai tạo với các loại giống bản địa (R.Gigautua và R Gallica) Đến năm
1837, đã tạo ra giống hoa hồng thơm và đến nay có trên 2 vạn giống, các giống chủ yếu là: Giống hồng lai Hương Trà (Hybrid tea roses HT), hoa hồng nhiều hoa (Floribumda Roses F1), hoa hồng to (Grandiflora roses Gr), hoa hồng nhỏ (Miniaturo Rose Mr), hoa hồng bụi (Shurubs, Shrub rose, S), hoa hồng dây (Ramblers, Grand Cover Rose, R), hoa hồng tiểu thủ (Polyannthas, Pol)
- Hoa: Có nhiều màu sắc và kích cỡ khác nhau, một số giống có mùi thơm
1.2.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa
Trang 25độ tác động tới cây hoa qua con đường quang hợp Quang hợp của cây tăng theo chiều tăng nhiệt độ, khi nhiệt độ tăng lên 10oC thì cường độ quang hợp tăng 2 lần Vì vậy nhiệt độ càng tăng thì hoạt động quang hợp của cây càng mạnh [25] Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến cây hoa hồng, nhiệt độ thích hợp cho cây hoa hồng 18 – 23,9oC Theo Moe R.and Kristoffersen T.(1999)[24], tổng tích ôn của cây hoa hồng là lớn hơn 1.700oC Nhiệt độ tối thích thường là 23-25oC, có một số giống từ 21 – 23oC Nhiệt độ
từ 26 – 27oC cho sản lượng hoa cao hơn ở 29-32oC là 49%, hoa thương phẩm cao hơn 20,8% Nhiệt độ ban đêm ảnh hưởng rất lớn đến số lượng hoa, số lần
ra hoa Đa số các giống ở nhiệt độ ban đêm 16oC cho số lượng và chất lượng hoa tốt Moe R.and Kristoffersen T.(1999)[24] cho rằng nhiệt độ ban ngày thấp và ban đêm cao sẽ khống chế độ dài cành, rất bất lợi cho sản xuất hoa thương phẩm, nhiệt độ ban đêm cao làm cho cành hồng ngắn lại
1.2.3.2 ánh sáng
ánh sáng là điều kiện cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của cây hoa nói chung và hoa hồng nói riêng ánh sáng cung cấp năng lượng cho phản ứng quang hợp, tạo ra chất hữu cơ cho cây, có tới 90 % chất hữu cơ trong cây là do quang hợp tạo nên Cường độ quang hợp phụ thuộc vào điều kiện ánh sáng, thiếu ánh sáng cây không thể quang hợp được, quang hợp phụ thuộc vào thành phần quang phổ của ánh sáng và cường độ chiếu sáng Cường
độ quang hợp của cây tăng khi cường độ chiếu sáng tăng Song nếu cường độ
ánh sáng vượt quá giới hạn, thì cường độ chiếu sáng tăng quang hợp bắt đầu giảm Đối với cây hoa hồng nếu cường độ áng sáng giảm thì chất lượng hoa giảm
1.2.3.3 Độ ẩm
Độ ẩm của không khí và đất đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây hoa hồng Độ ẩm thích hợp thì cây hoa sinh trưởng, phát triển tốt ít sâu bệnh, ra hoa đẹp, chất lượng hoa cao
Nước đóng vai trò quan trọng trong cơ thể thực vật Nước giữ vai trò quan trọng trong phân chia tế bào, khi có đầy đủ nước và môi trường thích
Trang 26hợp, tế bào phân chia, phát triển thuận lợi cây phát triển nhanh Khi thiếu nước các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây hoa giảm, các hợp chất hữu cơ
được tạo thành ít, cây còi cọc kém phát triển Nếu sự thiếu nước kéo dài cây hoa có thể khô héo mà chết Nếu nhiều nước cây bị úng ngập, sinh trưởng phát triển của cây ngừng trệ Quá ẩm ướt sâu bệnh phát triển mạnh, hoa cho năng suất thấp, chất lượng hoa kém Mỗi loại hoa có yêu cầu độ ẩm khác nhau Hoa hồng thuộc loại ôn đới yêu cầu ẩm độ thường khoảng 70 – 80%, nếu khống chế độ ẩm thích hợp thì độ dài cành tăng thêm trung bình 8,2% [27]
1.2.3.4 Đất
Đất là yếu tố môi trường quan trọng cơ bản nhất, là nơi nâng đỡ cây trồng, cung cấp nước, dinh dưỡng cơ bản và không khí cho sự sống của cây hoa Phần lớn cây hoa yêu cầu đất tốt, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước, có khả năng giữa ẩm, tầng canh tác dày [20]
Nhìn chung hoa hồng đều thích nghi và phát triển tốt trên những loại
đất trung tính và ít chua, rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất 60 cm trở lên, một số
ít giống phân bố 1m trở lên Mực nước ngầm lớn hơn 40 m để tránh ảnh hưởng tới bộ rễ Đặc biệt với những loại cây có thời gian thu hoạch nhiều năm như hoa hồng, việc đảm bảo tính chất lý hoá của đất rất quan trọng Đất trồng hoa hồng tốt nhất là đất đen, đá vôi (đất fegarit) hoặc đất đồi giàu mùn Loại
đất này kết cấu viên tốt, khối lượng viên nhỏ, khả năng giữa mùn tốt, thoáng khí, có lợi cho sự phát triển của bộ rễ [10]
1.2.4 Đặc điểm sinh lý, sinh thái của sự ra hoa
Hoa hồng thuộc loại cây thân gỗ bụi, có những đặc tính chung của cây thân gỗ Ưu thế sinh trưởng đỉnh ngọn không mạnh, các mầm ngày càng gần ngọn sức sinh trưởng càng yếu, càng ở phía dưới đất mọc lên sẽ thành cành vượt Vì cành vượt đều mọc từ gốc nên còn gọi là cành gốc Do tất cả các cành dưới gốc đều sinh trưởng mạnh nên tạo thành dáng cây có hình lùm bụi Các cành vượt đều sản sinh sắc tố, khi ra hoa có nhiều cành, đầu ngọn cành
Trang 27nhỏ nên đầu hoa nhỏ, lõi cành lớn mức độ hoá gỗ kém, lượng nước nhiều, sức hút nước kém, dễ cong queo, khó có hoa đẹp
Những cành vượt rất thích hợp cho việc tạo thành cành chủ mới, tức cành mẹ của cành hoa Từ cành mẹ của cành hoa mọc ra các cành thứ cấp thường có sức sinh trưởng mạnh, hoa phân hoá muộn, cành hoa dài, có thể trở thành cành thương phẩm Nói chung các cành mẹ như vậy có tuổi thọ 2-3 năm Khi cành mẹ già, sức ra hoa kém, thường phải lấy cành vượt mọc từ mầm ngủ gần gốc để thay thế Các cành hồng sau phát triển không cần có tác dụng kích thích ngoài đều có thể phân hoá mầm hoa, trở thành một cành hoa Nhưng do ảnh hưởng của ngoại cảnh (nhiệt độ thấp, ánh sáng mạnh, sâu bệnh ) nên có những ngọn không ra được hoa gọi là cành vô hiệu, có cành hoa mọc không bình thường, có cành không đủ độ dài không thể trở thành hàng hoá được Số lượng cành mẹ, độ dài của cành hoa, cành mẹ và hoa dị dạng ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng hoa
1.2.5 Qui luật sinh trưởng và phát triển của cây hoa hồng
1.2.5.1 Cành mẹ của cành hoa
Số lượng và chất lượng của cành mẹ là yếu tố quyết định đến sản lượng
và chất lượng hoa Cành mẹ của cành hoa hình thành từ mầm ngủ, phần gần mắt ghép là phần chính tạo nên cành thay thế Số lượng mầm ngủ phụ thuộc vào giống, vào trạng thái dinh dưỡng của cây, các chất ức chế tích luỹ ở gốc, nhiệt độ, ánh sáng, nước là những yếu tố tác động tổng hợp Trong đó, trạng thái dinh dưỡng của cây là điểm xuất phát cho sự nẩy mầm của mầm ngủ Chất ức chế sự nảy mầm là axit rụng lá tích luỹ ở gốc cây (ABA) Khi dùng kích tố phân bào (ví dụ: Benzyl Adenin) trộn với mỡ bôi hoặc phun vào cây,
có thể kích thích mầm ngủ Xử lý cây ở nhiệt độ thấp thì hoạt tính phân bào của cành sẽ giảm xuống, các chất Hyđrát cacbon sẽ được vận chuyển nhanh
đến gốc làm tăng hoạt tính phần gốc, kích thích mầm gốc sinh trưởng Chiếu sáng có tác dụng lớn đến sự nảy mầm của mầm ngủ gần gốc Chiếu sáng bổ sung, cắt đau, uốn cong cành làm tăng độ chiếu sáng đến gốc thì sẽ tăng được
số cành mới thay thế Ngược lại, che ánh sáng thì ức chế cành nảy mầm và
Trang 28tăng hiệu quả của tác dụng ức chế Khống chế nước cũng có tác dụng làm tăng thêm cành thay thế Ngoài ra, tăng nông độ CO2 trong ruộng, ức chế mầm nách sinh trưởng, ngắt mầm và cắt cành hoa thấp đều có tác dụng kích thích việc hình thành cành mẹ của cành hoa [5]
1.2.5.2 Sự phân hoá hoa và sự phát dục của cành hoa
Cành hoa được hình thành từ cành mẹ, có độ dài nhất định là sản phẩm
mà người trồng mong muốn Độ dài của cành hoa quan hệ rất chặt với giống
và điều kiện trồng trọt Trên cùng một cành, khi ta cắt cành hoa những mầm phía trên sẽ nẩy mầm trước, mầm dưới nảy sau Số lượng cành hoa quyết định
đến năng suất, sản lượng của hoa Số lượng này là một đặc điểm quan trọng của giống và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh
Sự phân hoá mầm hoa của hoa hồng là một quá trình tự phát, không cần có tác động của ánh sáng hoặc nhiệt độ thấp Sau khi nảy mầm một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra sự phân hoá mầm hoa Nhìn chung, khi độ dài cành hoa khoảng 10-15cm thì bắt đầu phân hoá mầm hoa, toàn bộ quá trình này dài khoảng 25 ngày
Do quá trình phát dục và phân hoá hoa chịu ảnh hưởng của sự cân bằng giữa kích tố và điều kiện ngoại cảnh nên có sự biến đổi của sự vận chuyển nhựa luyện, nếu thiếu dinh dưỡng mầm hoa sẽ bị nhỏ lại thui đi, rụng hoặc biến thành dị dạng và cành mù Các giống hoa hồng khác nhau quá trình phát dục cũng không giống nhau Ví dụ: Giữa các giống Đonya, Rudenko, giống hoa hồng thơm Hybinca tea group và giống hoa chùm Floribunda group… sự phát dục của hoa có liên quan đến nhiệt độ và đặc tính sinh học của nó Giống hoa hồng thơm lại so với giống hoa hồng chùm, sinh trưởng sớm hơn 4-5 ngày Thời gian phát dục của hoa hồng chùm so với hồng thơm ngắn hơn 3-4 ngày Thời gian từ khi có mầm hoa đến khi hoa nở của giống hoa hồng thơm
từ 40-44 ngày, giống hoa hồng chùm chỉ từ 38-40 ngày [5]
Phương pháp nhân giống cũng ảnh hưởng đến phát dục của hoa Sản lượng hoa của giống đỏ Pháp nhân bằng phương pháp ghép chỉ bằng 74,05% của giống đó nhân bằng giâm cành Ngoài ra, hoa hồng giâm chẳng những ra hoa sớm, mà thời gian hoa cũng dài (khoảng 1,9 tuần) ánh sáng không những ảnh hưởng đến số lượng cành mà còn ảnh hưởng đến sự phát dục của hoa Sự phân hoá mầm hoa không liên quan đến cường độ chiếu sáng nhưng
Trang 29sự phát dục các bước tiếp theo của hoa lại chịu ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng Tăng cường độ chiếu sáng có thể rút ngắn chu kỳ phát dục của hoa Bởi vì cường độ và chất lượng ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp và khả năng sử dụng vật chất đồng hoá Việc cung cấp chất đồng hoá cho cành non nhiều sẽ kích thích sự sinh trưởng và ra hoa Trong điều kiện ánh sáng đầy đủ thì số lượng chất đồng hoá vận chuyển đến cành gấp nhiều lần vận chuyển đến các
bộ phận khác ánh sách đỏ là ánh sáng có ảnh hưởng tới sự phân phối đồng hoá Dùng ánh sáng đỏ cường độ thấp, chiếu vào cành có thể tăng sự sinh trưởng của cành và sự phát triển của hoa Chiếu bổ sung ánh sách trắng thì sẽ
ức chế sự nảy mầm của cành và tăng tỷ lệ hoa bị hỏng Có thể dùng ánh sáng
đỏ để khắc phục hiện tượng ức chế này mầm và hoa bị hỏng Điều này chứng
tỏ sự phân hoá mầm hoa và hình thành cành mù rất mẫn cảm với sắc tố ánh sáng Chiếu sáng bổ sung 15 giờ bằng ánh sáng đỏ dài làm tăng số hoa bị hỏng, ngược lại ánh sáng đỏ làm tăng tỷ lệ hình thành hoa hữu hiệu Làm đứt
đoạn bóng tối trong đêm cũng không thể khắc phục được hiện tượng hoa bị hỏng do chiếu sáng bổ sung ánh sáng đỏ dài ánh sáng đỏ dài làm tăng sự hình thành cành ở tất cả các mầm trên vị trí khác nhau của thân Khi chiếu bổ sung ánh sáng đỏ cho cây, ở tất cả các mầm phía trên của cây đều trở thành cành hoa, chỉ có một số lượng rất ít là cành mù ánh sáng đỏ ở cường độ thấp
ảnh hưởng rất lớn đối với chất đồng hoá được đánh dấu bằng C14 từ nguồn đến
“kho” (lá - mầm) Xử lý bóng tối đối với cành hoàn toàn có thể ức chế sự vận chuyển chất đồng hoá
Từ đó có thể khẳng định rằng: ánh sáng đỏ dài là yếu tố dẫn đến hỏng hoa và ức chế sự này mầm do nó cản trở sự vận chuyển chất đồng hoá đến mầm Ngoài ra, độ dài chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới sự phân hoá hoa, ánh sáng ngày dài sẽ làm cho cành dài ra kích thích sự hình thành các bộ phận hoa và hoa nở, ánh sáng ngày ngắn thì kéo dài sự phát dục của hoa Tốc độ phát dục của hoa còn chịu sự khống chế của nhiệt độ Nhiệt độ trung bình
180C là nhiệt độ thích hợp nhất với sự sinh trưởng và ra hoa Nhiệt độ thấp dưới 100C sẽ làm hoa hỏng nhiều, hình thành nhiều hoa dị dạng và cành mù
Trang 311.2.5.3 Sự phát sinh cành mù
Những cành nảy mầm và sinh trưởng nhưng không thể ra hoa được gọi
là cành mù Cành mù ảnh hưởng tới sản lượng hoa Thực ra cành mù không phải là không hình thành hoa mà do sự phân hoá hoa chậm, hoa không đầy đủ
và cuối cùng hoa hỏng và bị rụng Đồng thời trên đỉnh cành có những đọt lá mới cũng bị hỏng Đặc điểm hình thành cành mù là tốc độ kéo dài cành mới rất chậm, cành ngắn, sắc tố trong lá và đọt ít, màu sắc nhạt Nhân tố chủ yếu
ảnh hưởng đến sự phát sinh cành mù là dinh dưỡng, vị trí của mầm, nhiệt độ,
ánh sáng, CO2, kích tố nội tại và đặc tính giống
Mầm hoa phát triển trên cành yếu thường bị hỏng, mầm ở trên cành gần gốc thì càng dễ trở thành cành mù Tỷ lệ bật mầm của mầm thứ 3 trên cành khai hoa đợt 1 cao gấp 4 lần cành gốc Việc cắt tỉa cành, bón phân cũng
ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và ra hoa Khi cành mẹ của cành hoa bị uốn cong sẽ kích thích mầm nách sinh trưởng và tăng số lượng cành ra hoa của cây mẹ Cắt cành quá đau sẽ làm chậm sự ra hoa, cắt cành kết hợp bón phân
sẽ làm thay đổi đặc tính hoa, tăng độ dài cành, độ lớn của mầm Không bón
đạm hoặc bón ít đạm thì hoa sẽ ra sớm hơn so với bón nhiều đạm
*Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành cành mù
- Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cành mù Nhiệt
độ ban đêm ảnh hưởng lớn hơn nhiệt độ ban ngày Nhiệt độ thấp làm tăng tỷ
lệ hoa bị hỏng, tăng số cành mù và hoa dị hình nhưng không phải nhiệt độ thấp như thế nào cũng dẫn đến hoa bị hỏng Từ sự quan sát hình thái hoa người ta có thể phân chia chúng làm 6 bước Sau 12 ngày đã quan sát thấy mầm gốc của đài hoa và cành hoa Khi nụ hoa sắp vào giai đoạn bị hỏng thì hoa đã phân hoá nhị và nhuỵ Nhiệt độ cao lên vào lúc nhị và nhuỵ đã hình thành thì hoa vẫn bị hỏng Nhị và nhuỵ hình thành đầy đủ vào khoảng thời gian sau khi mầm hoa phân hoá 21 ngày, lúc đó cành hoa đã dài khoảng 30cm Cành mù và hoa dị hình, hình thành trước lúc nhị phát triển Độ mẫn cảm nhiệt độ của các giống khác nhau cũng khác nhau
- ánh sáng: Sự hình thành cành mù tuy không liên quan đến chu kỳ
ánh sáng, nhưng ánh sáng yếu sẽ làm tăng tác hại của nhiệt độ thấp Thời gian
Trang 32mẫn cảm là lúc mầm cành mới nhú khoảng 2-3cm Lúc đó sự phân hoá hoa ở
vào thời kỳ trước lúc hình thành nhị và nhuỵ Sau khi nhị và nhuỵ đã hình thành thì dù gặp điều kiện bất lợi về ánh sáng thì hoa cũng không bị hỏng
- CO2: Nồng độ CO2 ảnh hưởng nhất định đến chất lượng của hoa Trong điều kiện nồng độ CO2 lớn, hoa ít bị hỏng Trọng lượng chất khô của mầm nách và cuống hoa tăng: Zieslin và Mortenson (1986) nghiên cứu nồng
độ CO2 (300ppm), trên cơ sở chiếu sáng tự nhiên bổ sung 31,3 Mmolm2S
-1PPED, mật độ chiếu xạ hữu hiệu của quang lượng tử trong quang hợp cũng không thể đảm bảo chắc chắn rằng không có mầm bị hỏng (bại dục) nhưng có
thể làm giảm tỷ lệ bại dục Tỷ lệ bại dục của cành hoa trên mầm thứ hai sẽ giảm từ 11/12 xuống còn 7/12 Trong điều kiện chiếu sáng tự nhiên khi tăng nồng độ CO2 đến 1.000ppm thì có thể đạt được hiệu quả như trong điều kiện nồng độ CO2 tự nhiên, chiếu sáng bổ sung 31.3 Mmolm-2s-1PPED, nhưng khi tiếp tục tăng cường độ ánh sáng đến 93,6 thì cũng không có hiệu quả cao hơn
Trong điều kiện tự nhiên, đồng thời với việc bổ sung chiếu sáng 31,3 Mmolm
-2s-1PPED, tăng nồng độ CO2 đến 1.000ppm thì có thể đảm bảo toàn bộ những
mầm thứ nhất và mầm thứ hai trên cành mẹ phát dục thành cành mang hoa không có cành bại dục Nói cách khác thì tăng lượng CO2 trong môi trường
trồng hoa cần tăng cường độ chiếu sáng
Bảng 2.4 ảnh hưởng của ánh sáng và CO 2 đến phát triển cành hoa hồng
Cành
mù
Cành hoa
Cành
mù
Cành hoa
Cành
mù
Cành hoa
Trang 33Tăng nồng độ CO2 có thể chống được sự bại dục của hoa Vì tăng nồng
độ CO2 sẽ tăng được sự phân phối chất đồng hoá đến hai mầm phía trên của cành mẹ, cành hoa Ngoài ra, nồng độ CO2 cao còn có tác dụng kháng etylen (C2H2) gấp 3 lần nồng độ CO2 trong tự nhiên Do có tác dụng kháng etylen nên chống được sự bại dục của hoa làm cho những hoa đã hình thành tiếp tục ohát dục trở thành hoa hữu hiệu
- Kích thích tố: Nồng độ kích thích tố tự nhiên trong cây khống chế sự
hình thành và phát dục của mầm hoa; Sử dụng chất điều tiết sinh trưởng có thể điều tiết tiến trình phát dục của mầm hoa Sự hình thành cành mù có quan
hệ với Gibberellin, trong điều kiện ánh sáng yếu, nhiệt độ thấp thì hàm lượng Gibberellin thấp sẽ dẫn tới sinh sản cành mù So sánh hoạt chất của chất sinh trưởng trên lá của cành mang hoa và cành mù thì trên cành mang hoa có nồng
độ GA, IAA và CTK (Cytolinin) cao, ngược lại trên cành mù thì chất ức chế sinh trưởng nhiều trong đó hàm lượng ABA cao Nhân tố chủ yếu dẫn tới hàm lượng kích tố trong cây thay đổi là nhiệt độ không khí đất thấp Dùng CCC và
GA3 xử lý thì tăng số hoa bại dục Khi độ dài cành hoa từ 8-30cm sử dụng CEPA mẫn cảm nhất Nhiệt độ thấp, ánh sáng yếu sẽ làm thay đổi hàm lượng
GA trong 2 mầm trên cùng của cây đồng thời sản sinh ra etylen Trong điều kiện ánh sáng yếu sẽ làm thay đổi hàm lượng GAtrong 2 mầm trên cùng của cây đồng thời sản sinh ra etylen Cùng điều kiện ánh sáng yếu có thể dùng 2 chất kích thích là: BA và GA để nâng cao tốc độ sinh trưởng và ra hoa của cây Xử lý BA trên mầm thứ 3 của cành mẹ ra hoa có thể hoàn toàn chống
được sự bại dục của mầm hoa GA tuy có làm tăng được lượng chất khô và độ dài của đợt cành thứ 3 nhưng tác dụng đối với việc phân hoá hoa không bằng
BA [5]
- Giống: Số lượng cành mù còn liên quan đến giống, có một số giống
dễ phát sinh cành vô hiệu, một số giống có tỷ lệ hoa hữu hiệu cao
Tóm lại: Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành hoa, tác dụng của các nhân tố có thể tóm tắt trong bảng dưới đây:
Trang 34Bảng 2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát dục của hoa
ánh sáng Cường độ cao
Cường độ thấp
- +
-
- Chất lượng ánh sáng ánh sáng đỏ
ưu thế đỉnh ngọn
Bỏ mầm nhú Kích thích mầm nách
Yếu tố ánh sáng, độ dài ngày, nhiệt độ, chất ức chế sinh trưởng ảnh hưởng đến sự vận chuyển và phân phối chất đồng hoá, từ đó dẫn đến sự biến
đổi hàm lượng hợp chất Hydratcacbon đầy đủ thì mầm hoa phát dục bình thường, quá trình phân hoá hoa duy trì đều đặn Khi cung ứng Hydratcacbon không đủ sẽ làm gián đoạn quá trình phát dục của mầm hoa, bộ phận đã phát dục nhỏ lại và rụng từ đó dẫn đến hiện tượng sản sinh cành mù và bại dục của mầm hoa Vì vậy, đảm bảo cung ứng đầy đủ hợp chất Hydratcacbon cho mầm
là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho sự nảy mầm của mầm nách và sự ra hoa của hoa hồng
Trang 351.2.5.4 Sự phát sinh hoa dị hình
Sự phân hoá mầm hoa chịu ảnh hưởng chủ yếu của các chất dinh dưỡng
và nhiệt độ Khi dinh dưỡng đầy đủ thì mầm hoa phân hoá bình thường, hoa
to ngược lại chất dinh dưỡng thiếu lại dễ xuất hiện hoa dị hình, hoa nhỏ Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phân hoá mầm hoa là từ 16-250C, nhiệt độ không thích hợp thì hoa sẽ dị hình, nhiệt độ cao tới 300C thì cánh hoa ít, màu hoa nhạt, hoa nhỏ Ngoài ra Gibberellin làm cho cuống hoa kéo dài, hàm lượng kích tố phân bào nhiều cũng dẫn đến hoa biến hình
1.2.6 Nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây hoa hồng
Nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm hút dinh dưỡng của cây có liên quan
đến nguồn gốc cây và giống Nhu cầu và tác dụng sinh lý của các nguyên tố của hoa hồng có các đặc điểm sau:
- Đạm (N): Là nguyên tố quan trọng nhất của cây, nó là thành phần của axit amin, protein, aixit nuclêic, men, chất kính thích sinh trưởng, vitamin (chiếm khoảng 1-2% khối lượng chất (khô) Cây có thể hút đạm dưới các dạng: NO3-, NO2, NH4+, axit amin đạm ảnh hưởng rất lớn tới sản lượng và chất lượng hoa, thiếu đạm cây sinh trưởng chậm, phân cành yếu, cành lá nhỏ, diệp lục tố ít, lá biến vàng, lá già và dễ bị rụng, rễ nhỏ dài và ít, cây thấp khả năng quang hợp giảm [5]
- Lân: Tham gia vào thành phần quan trọng của axit nucleic và màng tế bào tạo thành ATP là vật chất mang và tải năng lượng Lân thường chiếm từ 1-1,4% khối lượng chất khô của cây Cây hút lân dưới dạng H2PO4- và HPO42-, lân có thể di chuyển trong cây, chủ yếu tập trung ở phần non Khi thiếu lân thì phần già biểu hiện trước Lân cũng ảnh hưởng lớn đến phẩm chất cây Thiếu lân dẫn tới tích luỹ đạm dưới dạng nitrat gây trở ngại cho việc tổng hợp protein Cành, lá, rễ sinh trưởng chậm, cây thấp bé, lá có mầu tím tối hoặc tím
đỏ ảnh hưởng đến tổng hợp chất tinh bột, hoa nở khó Nhiều lân quá sẽ ức chế sinh trưởng dẫn tới thừa sắt, lá biến vàng ảnh hưởng tới sự hút sắt [26]
- Ka li (K): Không tham gia thành phần cấu tạo của cây, thường tồn tại trong dịch bào dưới dạng ion Tác dụng chủ yếu của kali là điều tiết áp suất thẩm thấu của tế bào, thúc đẩy quá trình hút nước của hoa, hút dinh dưỡng của cây khi ánh sáng yếu ka li có tác dụng kích thích quang hợp tăng sức đề kháng cho cây Trong cây kali di động tự do, nếu thiếu kali sự sinh truởng,
Trang 36phát dục của cây giảm sút mép lá thiếu màu xanh, ngọn lá khô héo sau đó lan
ra toàn lá các đốt ngắn lại, nụ hoa nhỏ và dễ thành hoa mù Kali là nguyên tố cây hút nhiều nhất (gấp 1,8 lần đạm), kali ít ảnh hưởng tới phát triển của cây
so với đạm và lân Tuy nhiên, thiếu kali cây sinh trưởng kém thiếu nhiều ảnh hưởng tới việc hút canxi và magie từ đó ảnh hưởng đến độ cứng của thân, cành và chất lượng hoa [25]
- Canxi (Ca): Chủ yếu tham gia vào sự tạo vách tế bào và hoạt chất của nhiều loại men, có tác dụng tới việc duy trì công năng của màng tế bào và duy trì cân bằng của môi trường bên ngoài Trong cây caxi không di chuyển
tự do, nếu thiếu canxi phần bị hại trước tiên là chóp rễ sau đó đỉnh ngọn chồi
bị xám đen và chết, quanh mép lá non xuất hiện những vết màu tím tối rồi lá khô và rụng, nụ bị teo và rụng Canxi trong đất rất ít di chuyển vì vậy phải bón làm nhiều lần [22]
- Magie (Mg): Tham gia vào hoạt chất của nhiều loại men và tham gia vào thành phần của chất diệp lục Thiếu magiê ảnh hưởng tới quang hợp, mặt dưới và gân lá bị vàng; nếu thiếu nhiều quá gân lá sẽ thâm đen, lá bị rụng Magiê còn tham gia vào quá trình tổng hợp protein và xúc tác cho một số loại men Magiê có thể di chuyển trong cây [22]
- Lưu huỳnh (S): Tham gia vào quá trình hình thành prôtein, cây hút lưu huỳnh dưới dạng SO4 2- Lưu huỳnh di động trong cây rất yếu Thiếu lưu huỳnh biểu hiện ở phần non rõ hơn phần già, protêin tạo thành ít, cây sinh trưởng chậm Thừa lưu huỳnh gây độc cho cây[26]
- Sắt (Fe): Là thành phần của nhiều loại men có liên quan tới quanh hợp Nếu thiếu sắt quang hợp sẽ giảm, lá non thiếu màu xanh Sắt không di chuyển được trong cây, thiếu sắt trước hết biểu hiện ở các phần non Trong
đất sắt thường tồn tại dưới dạng Fe2O3, cây hút sắt ở dạng FeSO4 Nói chung trong đất không thiếu sắt nhưng do có nhiều hợp chất sắt cây không hút được dẫn tới thiếu Khi hàm lượng axit photsphoric cao sắt không hoà tan được, khi
pH trên 6,5 sắt cùng dễ bị kết tủa [26]
- Man gan (Mn): Không phải là thành phần của diệp lục nhưng có sự quan
hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục và quá trình quang hợp Nếu thiếu Mn quang hợp sẽ giảm, man gan sẽ làm tăng hoạt tính của rất nhiều loại men Trong cây, man gan và sắt có tính đối kháng, nhiều man gan thì thiếu sắt, sắt quá nhiều thì thiếu man gan Khi thiếu man gan, trên lá xuất hiện các vết vàng [26]
Trang 37- Bo (Bo): Có tác dụng rất quan trọng trong sự phân hoá hoa tới quá trình thụ phấn, thụ tinh và sự phát dục của cơ quan sinh thực đồng thời có tác
động tới sự chuyển hoá và vận chuyển của đường Nếu thiếu Bo phần chóp ngọn cây ngừng sinh trưởng lá và cành hoa cong lại, đốt ngắn lại Nếu nhiều
Bo quá mép lá biến thành màu nâu, các phần khác biến vàng [7]
- Kẽm (Zn): Kích thích sự giải phóng CO2 trong diệp lục, kích thích quang hợp Kẽm có liên quan đến sự hình thành kích tố sinh trưởng Nếu thiếu kẽm, chất kích thích sinh trưởng khó hình thành ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây, đốt ngắn lại, lá và ngân lá thiếu màu xanh sau đó chuyển vàng, trắng và chết khô [22]
- Đồng (Cu): Có trong các coenzyme, trong nhiều loại men oxidase, tham gia vào quá trình ôxy hoá khử trong cây, Cu có quan hệ chặt chẽ với sự hình thành chất diệp lục, quan hệ tới hiệu suất quang hợp đồng thời còn tham gia vào quá trình trao đổi của đường và protêin [20]
1.2.7 Kỹ thuật trồng hoa hồng trên nền đất [5]
40-1.2.7.2 Mật độ trồng
Mỗi luống trồng hai hàng Mặt luống cao 60-70cm, hàng cách hàng 35cm, cây cách cây 30cm Trong nhà che có thể để khoảng cách hàng 35cm; cây cách cây tuỳ theo giống có thể từ 20-23cm hoặc 25-30cm, ứng với mỗi m2 có thể từ 8-10 hoặc 7-8 cây Trồng ngoài đồng hàng cách hàng có thể rộng từ 40-50cm, cây cách cây 30-40cm Mật độ trồng quyết định bởi đặc
Trang 38tính giống Giống cây dạng đứng, gọn mỗi m2 có thể trồng 10 cây Giống tán rộng mỗi m2 từ 6-8 cây Quy cách hai hàng thông gió tốt, dễ chăm sóc
1.2.7.3 Chuẩn bị đất trồng
ở đất cát pha sét hoặc sét pha cát, thông khí kém, ít màu mỡ cần được cải tạo
- Cải tạo lý tính đất:
Để đảm bảo độ thông khí, độ thoát nước, giữ nước thích hợp nên dùng các biện pháp sau:
+ Cày sâu, độ sâu từ 40-50cm
+ Cải tạo lý hoá tính của đất như: Độ thông khí, độ dẫn nhiệt, độ chua, hàm lượng chất dinh dưỡng, thành phần vi sinh vật có rất nhiều chất để cải tạo đất: Phân gia súc khô tuy dễ kiếm nhưng không bền, có nhiều gốc muối,
vỏ trấu, vỏ lạc, thân lõi ngô, rơm rạ, mùn cưa tuy tốt nhưng khi phân huỷ sinh nhiệt và một số chất hại cho rễ Dùng than bùn bền hiệu quả tốt nhưng giá thành cao Vỏ cây tốt nhưng khó kiếm Tro rơm rạ rất tốt vì tăng lượng K và nhiệt độ cho đất Ngoài ra các loại phân rác ở nông thôn, thành thị sau khi lên men đều có thể dùng Phương pháp cải tạo là kết hợp cày sâu, làm đất, đào rãnh, bón phân theo lớp ở Nhật Bản cứ 100m2 người ta bón 500kg phân chuồng, 300kg phân bò, 20kg bã bột cá, 300kg phân dê, 10kg khô dầu, 35kg bột xương, 20kg super lân, 25kg tro ở Hà Lan mỗi 100m2 nền trong nhà bón các loại phân hữu cơ từ 500-1.000kg Trồng lại thì từ 300-400kg ở Trung Quốc 100m2 bón 300-500kg
Nguyên liệu chủ yếu là: Phân trâu, phân rác, bã mía, mùn cưa, có điều kiện thì kèm theo 0,1m3 than bùn Chú ý: Không nên bón đơn độc một loại phân, khi dùng phân bò, phân lợn thì thêm vào một lượng phân gà, bột xương nếu có điều kiện thì thêm bột cá
Sau khi cải tạo thì độ thông khí và các tính chất hoá học khác của đất
được cải tạo nhiều Cố gắng làm cho hoá tính của đất đạt tới nồng độ H+3.000-3.160Mmol/l (pH=5,5-6,5), độ dẫn điện (trị số EC) 500.000-1.200.000S, Đạm nitrát 200-300mg/1kg
- Tiêu độc đất để diệt tuyến trùng:
Trang 39Vi khuẩn, côn trùng và các loại hạt cỏ cần phải tiêu diệt, có hai cách khử độc: Khử độc bằng xông hơi và khử độc bằng nhiệt độ cao
+ Khử độc bằng xông hơi thuốc: Trước khi xông hơi cần cày lật đất, tránh để đất quá ướt hoặc quá khô thường dùng các loại CuO, BrCH4
BrCH4 Khuyếch tán nhanh khử độc mạnh Sau khi xử lý 4-5 ngày là có thể trồng được, mỗi ha dùng khoảng 300kg Sau khi khử độc cần cày lật đất hoặc tưới nhiều nước để tiêu hết khí độc
+ Khử độc bằng nhiệt độ cao: Dùng hơi nước nóng đốt bằng năng lượng mặt trời Bằng cách dùng vải che mặt đất bơm hơi nước nóng vào làm cho nhiệt độ đất hoặc chất nền đạt tới 82oC trong 30 phút, đa số vi khuẩn trong đất ở 60oC trong 30 phút thì bị chết, đa số hạt cỏ ở 80oC trong 10 phút thì chết Phương pháp này hiệu quả nhanh và an toàn
+ Khử độc bằng ống nước nóng: Bằng cách chôn ống nước nóng trong
đất, dùng lò đun nước và máy bơm, bơm nước ở nhiệt độ 80-90oC chảy tuần hoàn trong ống làm cho nhiệt độ đất tới 60oC, Xử lý như vậy 2-3 ngày có thể tiêu độc được đất ở độ sâu 30-40cm Phương pháp này tốn kém năng lượng, tốn thời gian
+ Tiêu độc bằng cách đốt nóng đất là dùng nhiệt hun đất trong nồi chảo theo kiểu thùng quay
+ Khử độc bằng ánh sáng mặt trời, vào mùa hè nhiệt độ cao sau khi cày
đất và xới xáo trong nhà kính, dùng nilon che toàn bộ mặt đất, sau một tuần nhiệt độ đất sẽ đạt tới trên 50oC có thể diệt khuẩn và bọ gạo Cánh này đơn giản và hiệu quả kinh tế cao
Trang 40nước, để đảm bảo cho cây được tươi Nếu cây ghép thì phải kiểm tra mặt ghép cắt bỏ dây buộc, những cây rễ sâu phải loại bỏ Trước khi trồng tiến hành cắt tỉa để tiện cho chăm sóc và kích thích rễ phát triển Cây nhỏ giữ lại một cành chính, một cành chủ, cây to giữ lại hai cành, bỏ những cành còn lại và cành bệnh, cành gãy Trước khi trồng, cây con cần được xử lý chất kích thích ra rễ bằng Atonic
- Phương pháp trồng: Trước hết phải định vị hố trồng theo hàng, bổ những hố nhỏ, kích thước hố 7cm x 10cm Đặt cây vào hố sau đó lấp thêm đất vào, chú ý không được vùi mắt ghép vào trong đất Tất cả các mắt ghép đều
đặt theo một hướng quay về phía trong để tránh đi lại, làm gãy cành ghép Trồng cây bằng rễ trần lấp đất 1/3 hoặc nửa hố tạo thành giữa cao, xung quanh thấp dần hình bát úp đặt cây vào giữa hố sau đố lấp đất làm hai lần Lần 1 lấp một nửa, nhấc nhẹ cành lên cho rễ đều, sau đó lấp đầy ấn nhẹ sau khi trồng phải đảm bảo thân cây ở giữa rãnh và thẳng đứng, tưới nhẹ: 1 ngày tưới 1-2 lần, nếu trồng vào ngày trời nắng cần che cho cây
1.2.7.5 Chăm sóc sau trồng
- Tưới nước và bón phân:
+ Hoa hồng đòi hỏi nước nhiều, hiện nay đa số là dùng phương pháp tưới phun và tưới trên rãnh Thực tế cho thấy tưới trên rãnh hiệu qủa nhất Nhưng khi độ ẩm không khí quá thấp, cần tưới phun để tăng ẩm độ cho lá
+ Trong các loại phân bón thì phân đạm quan trọng nhất Thường bón
đạm NO3 và NH4+ Tỷ lệ thay đổi theo mùa vụ: Mùa hè 25%, mùa đông 12,5%; các loại phân Nitrát và amon đều được, song không bằng phân Urê, nhất là ở đất sét vì đạm urê tăng độ pH của đất
- Khống chế nhiệt độ: Các giống hồng trồng ở Việt Nam hiện nay yêu cầu nhiệt độ ban đêm 16-17oC Nhiệt độ đất cần khống chế ở 21-25oC Trong sản xuất có thể trồng nhiều giống một lúc, cần bố trí các giống có yêu cầu nhiệt độ giống nhau vào một khu
- Điều chỉnh ánh sáng: