1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

82 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 601,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định tính mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng Salmonella phân lập được bằng phản ứng thử kháng sinh đồ trên đĩa thạch của Kirby-Bauer .... Kết quả xác định một số yếu tố gây

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM

-

Nguyễn Thị Nguyệt

Tờn đề tài

“Xác định sự lưu hành của vi khuẩn Salmonella spp ở

lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

Chuyờn ngành: Thỳ y

Mó số: 60.62.50

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Xuõn Bỡnh

THÁI NGUYấN, 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, cùng với sự lỗ lực cố gắng của bản thân,

tôi xin được đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy: PGS.TS Đặng Xuân Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành l uận văn

Tôi xin được chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y; Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo viện Khoa học sự sống, các thầy cô, các anh, chị, em ở Bộ môn Công nghệ vi sinh - Viện Khoa học sự sống - trường

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Bộ môn vi trùng - Viện Thú y quốc gia

đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Và đặc biệt là gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Thái Nguyên, ngày tháng 10 năm 2012

Nguyễn Thị Nguyệt

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh phó thương hàn trong và ngoài nước 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 8

1.2 Đặc tính sinh vật hóa học của vi khuẩn Salmonella 10

1.2.1 Đặc điểm hình thái 10

1.2.2 Tính chất nuôi cấy 11

1.2.3 Đặc tính sinh hoá 12

1.2.4 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella 12

1.2.5 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh ở vật nuôi do Salmonella gây ra 13

1.2.6 Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella 14

1.2.7 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella 16

1.2.7.1 Các yếu tố không phải là độc tố 16

1.2.7.2 Các yếu tố là độc tố 19

1.3 Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn 22

1.3.1 Đặc tính sinh bệnh 22

Trang 5

1.3.2 Thể nhiễm trùng huyết do S choleraesuis var kunzendorf gây ra 23

1.3.3 Thể viêm ruột do S typhimurium 24

1.4 Biện pháp phòng trị bệnh do Salmonella gây ra ở lợn 28

1.4.1 Phòng bệnh 28

1.4.2 Điều trị bệnh 28

1.5 Bê nhiễm Salmonella 29

1.6 Gà nhiễm Salmonella 29

1.7 Ngộ độc thực phẩm ở người do Salmonella 30

Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31

2.1.1 Đối tượng 31

2.1.2 Thời gian và địa điểm 31

2.2 Vật liệu nghiên cứu 31

2.2.1 Mẫu dùng phân lập vi khuẩn 31

2.2.2 Động vật thí nghiệm 31

2.2.3 Hoá chất và dụng cụ nghiên cứu 31

2.2.3.1 Hoá chất dùng để nhuộm Gram 31

2.2.3.2 Hoá chất dùng để thử phản ứng sinh hoá 31

2.2.4 Môi trường nuôi cấy, phân lập vi khuẩn 32

2.2.5 Dụng cụ thí nghiệm 32

2.3 Nội dung nghiên cứu 32

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm thải trừ của vi khuẩn Salmonella spp ở lợn nái và lợn con sau cai sữa; 32

2.3.2 Phân lập Salmonella từ mẫu phân lợn nái, lợn con sau cai sữa khoẻ và lợn con sau cai sữa nghi mắc bệnh PTH; 32

2.3.3 Xác định một số đặc tính sinh vật hóa học, serotyp và xác định khả năng mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được 32

2.3.4 Xác định độc lực của các chủng vi khuẩn phân lập được trên chuột bạch 32

Trang 6

2.4 Phương pháp nghiên cứu 32

2.4.1 Phương pháp điều tra dịch tễ 32

2.4.2 Phương pháp nuôi cấy, phân lập và xác định vi khuẩn Salmonella 33

2.4.2.1 Nuôi cấy, phân lập 33

2.4.2.2 Phương pháp xác định các đặc tính sinh vật, hoá học của vi khuẩn Salmonella 35

2.4.3 Phương pháp thử độc lực trên chuột bạch 36

2.4.4 Định type huyết thanh học các chủng Salmonella phân lập được bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính 36

2.4.5 Xác định tính mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng Salmonella phân lập được bằng phản ứng thử kháng sinh đồ trên đĩa thạch của Kirby-Bauer 37

2.4.5.1 Chuẩn bị 37

2.4.5.2 Tiến hành 37

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Đặc điểm thải trừ vi khuẩn Salmonella ở lợn nái sinh sản 40

3.1.1 Thải trừ Salmonella ở lợn nái sinh sản theo đàn và theo cá thể 40

3.1.2 Thải trừ Salmonella ở lợn nái sinh sản theo lứa đẻ 41

3.2 Đặc điểm sự thải trừ vi khuẩn Salmonella ở lợn con sau cai sữa 43

3.2.1 Thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa không có triệu chứng lâm sàng, bệnh tích của bệnh phó thương hàn 43

3.2.1.1 Thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa theo đàn và theo cá thể 43

3.2.1.2 Thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa theo các tháng trong năm45 3.2.1.3 Thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa theo tuổi 46

3.2.2 Tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau cai sữa 48

3.2.2.1 Tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau cai sữa theo đàn

và theo cá thể 48

3.2.2.2 Tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau cai sữa theo các tháng trong năm 50

Trang 7

3.3 Phân lập Salmonella từ phân lợn con sau cai sữa mắc bệnh phó thương

hàn 51

3.4 Giám định đặc tính sinh vật hoá học của vi khuẩn Salmonella phân lập được 53

3.5 Xác định tính mẫn cảm với một số loại kháng sinh của vi khuẩn Salmonella phân lập được 55

3.6 Xác định độc lực của vi khuẩn Salmonella phân lập được 56

3.7 Giám định serotype của các chủng Salmonella phân lập được 58

3.8 Kết quả xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 61

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 66

II TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 69

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADP Adenosine diphosphate

ATP Adenosine triphosphate

BHI Brain Heart Infusion

BPW Buffered Pepton Water

CHO Chinese Hamster Ovary Cell

CIRAD Centre de Coopération Internationale en Recherche

Agronomique pour le Développement DHL Deoxycholate Hydrogen sulfide Lactose

DNA Deoxyribonucleic Acid

DT104 Definitive phage type 104

EDTA Ethylene Diamine Tetra Acetic acid

ETEC Enterotoxigenic E coli

mARN Messenger Acide RiboNucleotide

RPF Rapid Permebility Factor

Stn Salmonella toxin

TSI Triple- Sugar- Iron

PCR Polymerase Chain Reaction

Trang 9

Bảng 3.5 Kết quả khảo sát thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa theo tuổi 47

Bảng 3.6 Kết quả điều tra Tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau cai sữa

theo đàn và theo cá thể 49 Bảng 3.7 Kết quả điều tra tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau cai sữa

theo các tháng trong năm 50

Bảng 3.8 Kết quả phân lập Salmonella từ lợn mắc bệnh phó thương hàn 52 Bảng 3.9 Một số đặc tính sinh vật hoá học của chủng Salmonella phân lập được 54 Bảng 3.10 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Salmonella

phân lập được từ lợn con sau cai sữa mắc bệnh phó thương hàn 55

Bảng 3.11 Độc lực của chủng Salmonella sp phân lập được từ lợn sau cai sữa

mắc bệnh phó thương hàn 57

Bảng 3.12 Giám định serotype của các chủng Salmonella phân lập được 59

Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã và đang có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt, đời sống kinh tế xã hội ngày càng được cải thiện Đóng góp một phần không nhỏ cho sự thành công đó phải kể đến các thành tựu của ngành nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi thú y mà

đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn Ngành chăn nuôi lợn đã góp phần đáp ứng

nhu cầu thực phẩm trong nước và một phần dành cho xuất khẩu thu ngoại tệ Theo CIRAD (Trung tâm nghiên cứu và phát triển quốc tế về nông nghiệp của Pháp) (2006)[40], thịt lợn chiếm 77% tổng lượng các loại thịt tiêu dùng hàng ngày trên thị trường Việt Nam

Tuy nhiên, một thách thức không nhỏ đối với việc phát triển chăn nuôi lợn là dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra trên các đàn lợn ở mọi lứa tuổi, làm giảm năng suất, giảm chất lượng con giống hoặc nhiễm vào sản phẩm thịt lợn gây nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm Một trong những bệnh thường

gặp phải kể đến là bệnh tiêu chảy do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn sau cai

sữa, còn gọi là bệnh phó thương hàn, tuy không nổ ra thành dịch lớn, nhưng với đặc điểm dịch tễ hết sức phức tạp, đã và đang gây nên những thiệt hại

đáng kể cho người chăn nuôi Có thể nói rằng ở bất kỳ một cơ sở chăn nuôi

nào dù quy mô lớn hay nhỏ đều xuất hiện bệnh này

Khi đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, vấn đề an toàn

thực phẩm, trong đó có lợn và thịt lợn sạch bệnh, không bị nhiễm Salmonella

là một yêu cầu cấp thiết Có rất nhiều tác giả đã công bố rằng sự nhiễm

Salmonella vào thân thịt lợn trong quá trình giết mổ chủ yếu liên quan đến sự

nhiễm trùng Salmonella ở ruột (Borch và cs, 1996[35]; Berends và cs, 1998[33]) Do đó, việc giảm tỷ lệ các trại bị nhiễm mầm bệnh Salmonella sẽ

Trang 11

làm sự an toàn thịt lợn tăng lên Mục tiêu của các nhà khoa học, nhà sản xuất

là xây dựng các đàn gia súc sạch Salmonella

Theo Bryan (1988)[37]; Nielsen và Wegener (1997)[53]; Berends và cs

1998[33]; Schwartz (1999)[61]: Các đàn lợn bị nhiễm Salmonella không

những gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi mà còn là nguồn tàng trữ mầm bệnh gây hại đối với con người Bởi vậy mà mỗi biện pháp ngăn chặn có hiệu quả ở gia súc đều cần thiết và là điều kiện tiên quyết góp phần giảm thiểu dịch bệnh, tăng thu nhập cho người chăn nuôi, chống ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng

Vì vậy mà việc phân lập vi khuẩn Salmonella, xác định serotype và các

đặc tính gây bệnh của chúng ở lợn, nhằm mục đích phát hiện sớm và tìm ra

hướng phòng và trị bệnh có hiệu quả luôn là những việc làm cấp thiết Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu và yêu cầu của sản xuất, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Xác định sự lưu hành của vi khuẩn Salmonella spp ở lợn

nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định sự lưu hành của vi khuẩn Salmonella ở lợn nái sinh sản, lợn

con sau cai sữa;

- Xác định đặc tính sinh vật hoá học, tính gây bệnh và serotype của các

chủng Salmonella phân lập được;

- Đề xuất biện pháp khống chế tình trạng thải trừ Salmonella ở lợn tại

các cơ sở chăn nuôi

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Xác định tình trạng thải trừ vi khuẩn Salmonella ở lợn nái sinh sản,

lợn con sau cai sữa;

Trang 12

- Giám định đặc tính sinh vật hoá học và serotype vi khuẩn Salmonella

phân lập được

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Cung cấp tư liệu khoa học phục vụ công tác phòng trị bệnh do

Salmonella gây ra ở lợn con sau cai sữa;

- Cung cấp tư liệu khoa học phục vụ công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế ngộ độc thực phẩm cho người

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh phó thương hàn trong và ngoài nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứ u trên thế giới

Năm 1880, Eberth lần đầu tiên quan sát thấy vi khuẩn Salmonella dưới

kính hiển vi Bốn năm sau (1984), Gaffky đã nuôi cấy thành công vi khuẩn này

Loài vi khuẩn Salmonella typhi thời gian đầu được gọi với các tên như: Bacillus

typhous, Bacterium typhi và Eberthella typhi hay Eberthella typhi tiphosa, còn tên

giống Salmonella được Lignires sử dụng đặt tên cho trực khuẩn gây bệnh dịch tả

“Hog-cholera bacillus” vào năm 1900 (Selbizt và cs, 1995[63])

Năm 1885, tên gọi S choleraesuis lần đầu tiên xuất hiện trong báo cáo

năm của phòng chăn nuôi công nghiệp Mỹ Thời gian này, Salmon, D.E là trưởng phòng nghiên cứu, vì vậy mà tên ông được lấy đặt cho vi khuẩn mới này Song Smith, người cộng sự của Salmon mới thật sự là người phát hiện ra

vi khuẩn Salmonella Một vài năm sau đó, lần lượt các loài Salmonella khác

đã được phát hiện và những loài vi khuẩn đó vẫn có ý nghĩa trong y học cho

tới ngày nay

Năm 1891, Jensen đã phân lập được S dublin từ bệnh phẩm của bê bị tiêu chảy Cũng vào năm đó, S typhimurium được phát hiện ở vùng

Greiswald và Breslau Hai năm sau đó (1893), tại Breslau đã xảy ra một vụ ngộ độc thịt do ăn phải thịt bò ốm, kết quả là bệnh đã xảy ra ở người Kaensche là người tìm thấy vi khuẩn, vì vậy vi khuẩn được đặt tên là trực khuẩn Kaensche (Selbizt và cs, 1995[63])

Tất cả các bệnh do Salmonella gây ra lúc đầu được đặt tên chung là phó

thương hàn “Para-typhus”, cho đến năm 1914, có 12 loài vi khuẩn được mô tả

và xếp vào giống Salmonella

Trang 14

Năm 1926, với những công trình nghiên cứu của White về cấu trúc

kháng nguyên của Salmonella đã bắt đầu một thời kỳ khoa học mới về giống

vi khuẩn này Sau đó Kauffmann cũng rất thành công trong lĩnh vực nghiên

cứu về vi khuẩn Salmonella (Selbizt và cs, 1995[63])

Năm 1934, Kauffmann và White đã thiết lập được bảng cấu trúc kháng nguyên đầu tiên và đặt tên là bảng phân loại Kauffmann-White Từ đó đến

nay, bảng cấu trúc kháng nguyên của Salmonella luôn luôn được bổ sung Năm 1993 đã có 2375 serovar Salmonella được định danh (Selbizt và cs,

1995[63]) Năm 1997, số serovar đã lên đến 3000 (Plonait và Birkhardt,

1997[57]) Như vậy, giống Salmonella luôn luôn thu hút sự chú ý của các nhà

chuyên môn trong lĩnh vực vi sinh vật

Trước năm 1983, sự tồn tại của nhiều loài Salmonella được chấp nhận

trong phân loại Từ đó, vì kết quả của những thí nghiệm cho thấy mức tương

đồng DNA cao, tất cả các chủng Salmonella được xếp thành một loài duy

nhất là S Choleraesuis (Salmonella choleraesuis) (Crosa và cs, 1973[43];

Farmer, 1995[46])

Năm 1999, tại khóa phân loại học của trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC: Center for Diease Control and Prevention) của Hoa Kỳ

Euzéby đề nghị đặt tên các typ huyết thanh Salmonella như sau: Giống

Salmonella được chia thành 2 loài, đó là S enterica và S bongori Tất cả các

type huyết thanh gây bệnh cho người và động vật đều thuộc S enterica Loài

S enterica được chia nhỏ thành 6 dưới loài đó là: enterica, salamae, arizonae, diarizonae, houterae và indica, tương ứng với số la mã: I, II, IIIa, IIIb, IV và

VI dựa trên sự tương đồng DNA và phạm vi vật chủ Do dưới loài I có nhiều

typ huyết thanh khác nhau nên dưới loài này được phân loại đến typ huyết thanh Để nhấn mạnh rằng typ huyết thanh không phải là loài riêng biệt nên tên của typ huyết thanh không viết nghiêng và chữ đầu phải viết hoa Vì vậy,

Trang 15

S choleraesuis có tên đầy đủ là S Enterica serotyp choleraesuis, hoặc viết tắt

ngắn gọn hơn là S choleraesuis Mặc dù hệ thống phân loại mới này không

được công nhận một cách chính thức bởi ủy ban quốc tế về vi khuẩn học hệ

thống, nhưng nó đã được tổ chức y tế thế giới và hiệp hội vi sinh vật học ở

Mỹ chấp nhận sử dụng (Euzéby, 1999[45])

Vi khuẩn Salmonella được phân lập từ thịt lợn chết bởi bệnh phó thương hàn thường gặp ở miền Tây của nước Mỹ là S choleraesuis var

kunzendorf, S typhimurium và S typhisuis (Barnes và Sorensen, 1975[32])

Trong một vài trường hợp, ở lợn còn tìm thấy S dublin và S enteritidis Hai serotyp S dublin và S enteritidis cũng gặp ở lợn con đang theo mẹ Những

báo cáo gần đây cho thấy: Ở một số nước như Mỹ, Canada, Anh và Bắc Đài

Loan đã phân lập được S choleraesuis từ người bị bệnh (Khakhria &

Johnson, 1995[50]; Chiu và cs, 1996[38]; Su và cs, 2001[64]) Từ việc tìm

thấy vi khuẩn Salmonella trong động vật ốm, sản phẩm động vật, trong nước

và trong các dụng cụ chăn nuôi , các tác giả đã có những đề xuất về các giải pháp tổng hợp cần thiết nhằm tránh sự lây lan vi khuẩn trong hệ sinh thái môi trường để bảo vệ sức khỏe

Nguồn tàng trữ Salmonella chủ yếu là đường tiêu hoá của người và

động vật mắc bệnh Một vài loài như S typhi, S paratyphi A, S paratyphi B,

S paratyphi C chỉ ký sinh ở người Những loài khác hay gặp hơn như: S choleraesuis, S enteritidis chủ yếu ký sinh ở động vật nhưng cũng có khả

năng gây bệnh cho người

Do tính chất gây bệnh của vi khuẩn Salmonella không những cho gia

súc, gia cầm, động vật máu nóng, máu lạnh và cả ở trên người nên từ lâu trong nhân y và thú y, người ta đã quan tâm nghiên cứu các đặc tính sinh học, yếu tố gây bệnh và các biện pháp phòng và điều trị bệnh do chúng gây ra Theo Wilcock và Schwartz (1992)[69] thì tại nước Anh, năm 1972 tìm thấy vi

Trang 16

khuẩn Salmonella có trong phân lợn là 9,9%, năm 1973 tìm thấy vi khuẩn

Salmonella trong hạch ruột là 7,3%

Tại Nhật Bản, Asai và cs (2002)[31] cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella ở

lợn sau cai sữa bị tiêu chảy là 12,4%; lợn vỗ béo là 17,3%; lợn con theo mẹ

4,5% Tác giả cũng cho biết S typhimurium được phân lập thấy nhiều nhất ở

lợn sau cai sữa là 72,6%; lợn gần xuất chuồng là 73,8%

Kishima và cs (2008)[51] đã điều tra tỷ lệ nhiễm và phân bố của vi

khuẩn Salmonella trong phân lợn khỏe mạnh bình thường trên toàn lãnh thổ

Nhật Bản giữa năm 2003 và năm 2005 là 3,1%

Theo Barnes và Sorensen (1975)[32]; Wilcock và Schwartz (1992)

[69]: Ở lợn, cần phân biệt 2 dạng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra, đó là bệnh phó thương hàn cấp tính ở lợn con do S choleraesuis var kunzendorf và bệnh viêm ruột mãn tính do S typhimurium Ở trâu bò, bệnh chủ yếu do các loài S dublin và S entertidis gây ra Ở cừu, do S abortus ovis, S montevideo,

S dublin, S anatum gây ra Ở ngựa do S abortus equi gây ra, còn ở gia cầm

và chim do S pullorum, S gallinarum, S typhimurium và S enteritidis gây

ra

Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc kháng sinh có thể được sử dụng để

điều trị bệnh, nhất là với lợn con trước và sau cai sữa Tuy nhiên, do việc sử

dụng rộng rãi kháng sinh để phòng và điều trị bệnh nên đã xuất hiện các

chủng vi khuẩn Salmonella kháng thuốc (Kishima và cs, 2008[51])

Gần đây, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào nghiên cứu gen kháng

kháng sinh DT104 ở vi khuẩn Salmonella Chủng đa kháng thuốc S

typhimurium DT104 được phát hiện lần đầu tiên ở người mắc Salmonellosis

tại Anh vào năm 1980 Sau đó được quan sát thấy cả ở người cũng như vật nuôi trên khắp thế giới vào những năm 90 và hiện đang là mối quan ngại hàng

đầu đối với sức khỏe cộng đồng Gen này thường xuất hiện ở các serotyp S

Trang 17

typhimurium và ít thấy ở các serotyp khác Một tổ hợp kháng thuốc điển hình

của S typhimurium DT104 là kháng đồng thời với 5 loại kháng sinh, bao

gồm: Ampicillin, Chloramphenicol, Streptomycin, Sulfonamide và Tetracycline (ACSSuT) (Kishima và cs, 2008[51]) Tuy nhiên, không có chiều ngược lại, tức là nếu các kết quả xác định lâm sàng cho thấy một chủng

vi khuẩn kháng với cả 5 loại kháng sinh này thì vẫn chưa đủ căn cứ để kết luận là chủng vi khuẩn này có mang gen kháng kháng sinh DT104 (Kishima

và cs, 2008[51]) Cũng theo tác giả, có 61,5% số chủng thuộc serotyp S

typhimurium có mang gen DT104

Selbitz (1995)[63] còn cho biết: “genom” của Salmonella được nghiên

cứu tương đối kỹ Cho đến nay ít nhất đã chứng minh được 750 gen, trong đó

có 680 gen đã có trong bản đồ gen

Như vậy, vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gây ra được rất nhiều

các nhà vi sinh vật trên toàn thế giới quan tâm Mục đích của các nghiên cứu này nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để góp phần ngăn chặn và đẩy lùi

bệnh do Salmonella gây ra ở động vật và ở người

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gây ra cho người

và gia súc cũng đã được bắt đầu nghiên cứu từ những năm 50 Viện Pasteur

Sài Gòn trong những năm (1951-1953) đã phân lập được 6 chủng Salmonella

ở người (4 chủng từ máu, 2 chủng từ nước tiểu) Cũng ở Sài Gòn, trong thời

gian này đã phân lập được 35 chủng từ 360 lợn, trong đó có 23 mẫu là S

cholereasuis (Đỗ Đức Diên, 1999[6])

Năm 1989, Nguyễn Thị Nội và cs[20] đã tiến hành điều tra tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn ở miền Bắc đã tìm

thấy 37,5% lợn nhiễm Salmonella Trước tình hình như vậy, nhóm tác giả này

đã nghiên cứu và chế tạo thành công vacxin đa giá Salsco phòng bệnh ỉa chảy

Trang 18

cho lợn con Vacxin đã được áp dụng để phòng bệnh có hiệu quả ở nhiều trại chăn nuôi lợn, tỷ lệ lợn bị tiêu chảy giảm từ 30-50%, tỷ lệ lợn chết do tiêu chảy giảm xuống còn 10-20%

Lê Văn Tạo và cs (1994)[26] đã phân lập và xác định serotyp của vi

khuẩn Salmonella gây bệnh ở lợn, kết quả cho thấy: 50% các chủng phân lập

được thuộc S choleraesuis; 12,5% S enteritidis; 6,25% S typhimurium và số

còn lại thuộc các serotyp khác

Trần Xuân Hạnh (1995)[10] đã phân lập và giám định vi khuẩn

Salmonella ở lợn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả: S typhisuis ở lợn

bệnh là 16,9%; ở lợn bình thường 6-16 tuần tuổi là 4,2%; S paratyphi ở lợn 6-16 tuần tuổi là 2,8% Đặc biệt, vi khuẩn S choleraesuis chiếm 38,7% ở lợn

bệnh và 2,8% ở lợn bình thường

Theo Phùng Quốc Chướng (1995)[2] ở Tây Nguyên, mùa khô lợn mắc

bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra là 20,03%, vụ đông là 28,66%

Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy tại 4

cơ sở chăn nuôi lợn thuộc miền Bắc nước ta của Cù Hữu Phú và cs (2000)[21]

cho biết: Tỷ lệ tìm thấy Salmonella trung bình ở lợn tiêu chảy nuôi tại 4 cơ sở

trên là 80% Đây là điều đáng lo ngại đối với ngành chăn nuôi lợn ở nước ta

Theo Nguyễn Bá Hiên (2001)[12], tỷ lệ nhiễm Salmonella ở các đàn

lợn ngoại thành Hà Nội cao nhất là lợn trên 60 ngày tuổi (88,23%), thấp nhất

là lợn từ 1-21 ngày tuổi (73,68%)

Cùng với quá trình nghiên cứu chi tiết về vi khuẩn, các biện pháp phòng bệnh đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó có vacxin phòng bệnh Nguyễn Văn Lãm (1968)[14] đã tiến hành nghiên cứu chế vacxin

phó thương hàn lợn con từ chủng Salmonella chuẩn của Trung Quốc Hiện

nay, các loại vacxin phòng bệnh phó thương hàn đã được một số công ty, xí

Trang 19

nghiệp thuốc thú y sản xuất như vacxin nhược độc chủng TS - 177, vacxin có

bổ trợ như vacxin keo phèn hay vacxin nhũ hoá có bổ trợ dầu

Như vậy, việc nghiên cứu vi khuẩn Salmonella một cách toàn diện để

từ đó đề ra biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả, giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe con người là một yêu cầu rất cần thiết

1.2 Đặc tính sinh vật hóa học của vi khuẩn Salmonella

Trực khuẩn Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae Giống Salmonella gồm 2 loài: S enterica và S bongori đã được phân chia

thành trên 2000 serotyp theo bảng phân loại Kauffmann-White trên cơ sở cấu trúc của kháng nguyên thân O, kháng nguyên lông H và đôi khi các kháng

nguyên vỏ (kháng nguyên K) Gần đây, loài S enterica đã được phân thành 6 phân loài đó là: S enterica subsp enterica, S enterica subsp salamae, S

enterica subsp arizonae, S enterica subsp diarizinae, S enterica subsp houtenae, S enterica subsp Indica Trong đó phân loài S enterica subsp enterica gồm phần lớn các chủng Salmonella là những tác nhân gây bệnh cho

người và động vật (Quinn, 2002[58])

1.2.1 Đặc điểm hình thái

Theo Bergeys (1994)[34], vi khuẩn Salmonella là những trực khuẩn

ngắn, hai đầu tròn, có kích thước 0,4-0,6 x 1,0-3,0 µm, bắt màu Gram âm,

không hình thành nha bào và giáp mô Đa số loài Salmonella có lông (flagella) từ 7-12 chiếc xung quanh thân (trừ S gallinarum-pullorum)

Lông giúp cho vi khuẩn có khả năng di động Lông có hình tròn, dài, xuất phát từ màng cytoplasma Do có cấu trúc từ các sợi protein hình xoắn nên có thể co giãn và di động nên lông của chúng rất khó nhuộm Nếu nhuộm bằng phương pháp Haschem (1972) thì có thể nhìn thấy chúng dưới kính hiển

vi điện tử (Lê Văn Tạo, 1993[25]) Lông có tính kháng nguyên và do các gen

mã hóa tổng hợp protein riêng quy định

Trang 20

Ngoài ra, trên bề mặt màng ngoài của vi khuẩn Salmonella đều có các

cấu trúc sợi nhỏ hơn, còn gọi là Fimbriae hay Pili Chúng có kích thước chừng 0,01- 0,03 x 1,0 µm Số lượng fimbriae trên 1 vi khuẩn có khoảng 250-

400 cái vươn thẳng ra xung quanh bề mặt tế bào Fimbriae có cấu trúc là protein và có tính kháng nguyên đặc trưng Theo Jones và cs (1981)[49]: Fimbriae tạo cho vi khuẩn khả năng bám dính (adhesion) lên các tế bào biểu

mô ruột và xâm nhập vào lớp niêm mạc

1.2.2 Tính chất nuôi cấy

Salmonella là vi khuẩn yếm khí tùy tiện, dễ nuôi cấy Nhiệt độ nuôi cấy

thích hợp là 37oC, nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ từ 6- 42oC Nuôi cấy ở 43oC có thể loại trừ được tạp khuẩn mà Salmonella vẫn phát triển được

(Timoney và cs, 1988[65]) pH thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 7,6; tuy nhiên vi khuẩn vẫn phát triển được ở pH từ 6-9

Khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường BPW (Buffered Pepton Water)

và môi trường RV (Rappaports Vassiliadis) sau vài giờ nuôi cấy thấy môi trường vẩn đục nhẹ, sau 18 đến 24 giờ thấy canh trùng đục đều, trên mặt môi trường có màng mỏng, đáy ống nghiệm có cặn

Hiện nay có rất nhiều loại môi trường chọn lọc được các nhà vi sinh vật

thú y sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phân lập Salmonella như môi

trường thạch DHL (Deoxycholate Hydrogen sulfide Lactose agar), sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc tròn, lồi, bóng láng (dạng S), có màu vàng nhạt Các chủng sinh H2 S thì giữa khuẩn lạc có màu đen

Môi trường thạch MacConkey: Vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc tròn lồi, trong không màu, nhẵn bóng

Trong môi trường thạch TSI (Triple Sugar Iron), vi khuẩn Salmonella

do sản sinh alkaline nên phần thạch nghiêng có màu đỏ (pH=7,3), đáy ống nghiệm màu vàng (pH=6,8) do vi khuẩn chỉ lên men đường Glucose Phần

Trang 21

giữa ống nghiệm có màu đen do vi khuẩn sản sinh ra khí H2S Nếu để lâu (quá

24 giờ), màu đen môi trường thường làm át phản ứng tạo axit ở phần đáy ống nghiệm (không nhìn thấy màu vàng) Vi khuẩn sinh hơi làm nứt thạch, có khi

đẩy thạch khỏi đáy ống nghiệm (Quinn và cs, 2002[58])

1.2.3 Đặc tính sinh hoá

Theo Quinn và cs (2002)[58], giống vi khuẩn Salmonella được chia

thành 7 phân nhóm, mỗi phân nhóm có khả năng lên men một số loại đường

nhất định và không đổi Phần lớn phân loài S enterica subsp enterica gây

bệnh cho động vật máu nóng Chúng lên men và sinh hơi: Glucoza, Mannit, Mantoza, Galactoza, Dulcitol, Arabonoza, Sorbitol Cũng ở nhóm này, hầu

như các chủng vi khuẩn Salmonella đều không lên men Lactoza và Saccaroza

Đa số các vi khuẩn thuộc giống Salmonella không làm tan chảy

Gelatin, không phân giải Urê, không sản sinh Indol Phản ứng MR, Catalaza

dương tính (trừ S choleraesuis, S gallinarum-pullorum có MR âm tính)

Phản ứng Oxidaza âm tính Phản ứng sinh H2S dương tính (trừ S paratyphi A,

S typhisuis, S choleraesuis) (Ewing và Edwards, 1970[44])

Trong quá trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella thì đặc tính

sinh hóa có ý nghĩa rất quan trọng Đây là bước không thể bỏ qua khi xét

nghiệm vi khuẩn nói chung và vi khuẩn Salmonella nói riêng

1.2.4 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella

Vi khuẩn Salmonella mẫn cảm với nhiệt độ và các chất sát trùng mạnh

Ở nhiệt độ 50o

C trong 1 giờ, 70oC trong 20 phút, 100oC trong 15 phút hoặc ánh sáng mặt trời chiếu thẳng trong 5 giờ có thể diệt được vi khuẩn (Laval, 2000[16])

Các chất sát trùng thông thường dễ phá hủy vi khuẩn hoàn toàn như: Phenol 5%, Formon 1/500 diệt vi khuẩn trong 15- 20 phút

Trang 22

Theo Laval, (2000)[16], vi khuẩn Salmonella sống được lâu trong điều

kiện lạnh, chúng có thể sống trong bột thịt 8 tháng, nhưng ở điều kiện môi trường có độ pH ≤ 5 chúng chỉ sống được trong thời gian ngắn

Vi khuẩn Salmonella tồn tại trong chất độn chuồng tới trên 30 tuần, có

thể sống ở trong đất với độ sâu 0,5cm trong thời gian 2 tháng Ở sàn gỗ, tường

gỗ trong điều kiện ít ánh sáng là 87 ngày, máng gỗ 108 ngày (Đào Trọng Đạt

và cs, 1995[9]) Trong nước tù đọng, đồng cỏ ẩm thấp S typhimurium có thể tồn tại trên 7 tháng Trong xác súc vật chết, Salmonella có thể sống trên 100

ngày, trong thịt ướp muối từ 6-8 tháng (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1970[22])

1.2.5 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh ở vật nuôi do Salmonella gây ra

Vi khuẩn Salmonella gây bệnh cho người và vật nuôi, phân bố ở khắp

nơi trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu về cách truyền lây của vi khuẩn này

được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Một đặc điểm dịch tễ quan trọng của

Salmonella là trạng thái mang trùng và thải trùng của gia súc

Theo Archie Hunter (2002)[13], một nguồn bệnh đặc biệt quan trọng là

gia súc mang vi khuẩn Salmonella nhưng không biểu hiện lâm sàng Những gia

súc này có thể thải mầm bệnh ra ngoài môi trường trong vài tháng Tác giả cũng cho biết cách lây lan như sau: Gia súc nhiễm bệnh thải vi khuẩn

Salmonella vào trong phân và bệnh xảy ra do tiếp xúc trực tiếp hay ô nhiễm

phân vào thức ăn, nước uống hay chuồng trại gia súc

Theo Gray và cs (1995)[48], lợn nhiễm S choleraesuis thường biểu hiện

các dấu hiệu lâm sàng từ 36-48 giờ sau khi nhiễm trùng và có 103- 106 đơn vị vi

khuẩn trong 1 gram phân vào giai đoạn bệnh cao nhất Cũng theo tác giả thì phần lớn những lợn nhiễm tự nhiên sau khi khỏi bệnh, có thể loại thải hoàn toàn vi khuẩn vào giữa 9-12 tuần sau khi nhiễm trùng Điều này cho thấy rằng tình trạng mang trùng lâu dài này có thể dẫn tới sự nhiễm khuẩn môi trường và

sự tái nhiễm tiếp theo của những động vật mới đưa vào trại

Trang 23

Nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu về đường nhiễm Salmonella đều cho rằng: Vi khuẩn Salmonella theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa và có

thể do tiếp xúc Bình thường, chúng sống trong ống tiêu hoá mà không gây bệnh Chỉ khi nào sức đề kháng của lợn giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào máu

và nội tạng gây bệnh Bệnh phó thương hàn chỉ gây thành dịch địa phương, dịch bệnh phụ thuộc vào cơ cấu đàn, tình hình vệ sinh thú y, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và đặc điểm dịch tễ học của cơ sở đó (Phan Thanh Phượng, 1988[23]; Nguyễn Như Thanh, 2001[27]; Laval, 2000[16])

Theo Phan Thanh Phượnsg (1988)[23], tỷ lệ lợn mắc bệnh do Salmonella

gây ra thường tăng lên vào thời kỳ lợn cai sữa, vì lúc đó cơ thể lợn con thay đổi,

dễ nhiễm bệnh Nguyễn Như Thanh (2001)[27], cũng cho biết: vi khuẩn gây ra bệnh phó thương hàn cho lợn con từ 2 - 4 tháng tuổi với tỷ lệ tử vong khoảng 25%, có khi lên đến 95%; bệnh có thể ở lợn lớn với thể mãn tính và ít gây chết

Bệnh ít xảy ra ở lợn con trước cai sữa, bởi chúng được bảo hộ nhờ kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Song nguy cơ nổ ra bệnh tăng dần theo lứa tuổi, đặc biệt là sau cai sữa, khi mà khả năng miễn dịch chủ động chưa thể bù đắp kịp thời để thay thế miễn dịch thụ động (Laval, 2000[16])

1.2.6 Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella

Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella khá phức tạp, bao gồm

3 loại chính:

- Kháng nguyên O (O- Antigen): Kháng nguyên thân

- Kháng nguyên H (H- Antigen): Kháng nguyên lông

- Kháng nguyên K (K- Antigen): Kháng nguyên vỏ

* Kháng nguyên thân O (O- Antigen)

Kháng nguyên O nằm ở thành tế bào vi khuẩn, có cấu trúc Lipopolysaccharide (LPS) là thành phần chính cấu tạo nên lớp màng ngoài của thành tế bào vi khuẩn Gram âm Kháng nguyên O chịu nhiệt (Heat-stable)

Trang 24

và kháng cồn, bị biến tính khi sử lý bằng formaldehyde Kháng nguyên O gồm 2 nhóm chính:

- Polysaccharide không có nhóm hydro, không mang tính đặc trưng của kháng nguyên và chỉ tạo sự khác biệt về hình thái khuẩn lạc từ dạng S (Smooth) sang dạng R (Rough) và dẫn đến giảm độc lực của vi khuẩn (Selbitz, 1995[63])

- Polysaccharide nằm ở ngoài có nhóm hydro quyết định tính kháng nguyên và đặc trưng cho từng serotyp

Kháng nguyên O được xem như là một nội độc tố (Endotoxin) mà nó

được cấu tạo bởi nhóm hỗn hợp Glyco-polypeptide có thể tìm thấy ở màng

ngoài của vỏ bọc vi khuẩn

Theo CIRAD (2006)[40], kháng nguyên O của vi khuẩn Salmonella có

67 loại chính, được chia thành hơn 50 nhóm, số còn lại đóng vai trò phụ

* Kháng nguyên lông H (H- Antigen)

Kháng nguyên H (H-Antigen) là protein nằm trong thành phần lông của

vi khuẩn, là loại kháng nguyên không chịu nhiệt (Heat labile), rất kém bền vững so với kháng nguyên O, bị phá hủy ở nhiệt độ 60oC sau 1 giờ, dễ phá hủy bởi cồn và axit yếu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001[27]) Kháng nguyên

Trang 25

như không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giống loài của vi khuẩn

* Kháng nguyên vỏ (K- Antigen)( hay Vi- Antigen)

Theo Quinn và cs (2002)[58], kháng nguyên vỏ chỉ có ở một số loài như

S typhi, S paratyphi S dublin cũng có thể mang kháng nguyên vỏ, kháng

nguyên K có thể làm che các kháng nguyên thân O Cũng theo tác giả, nếu

đun sôi huyễn dịch của các loài Salmonella này trong 10 đến 12 phút sẽ phá

hủy được kháng nguyên vỏ

Kháng nguyên vỏ là một loại kháng nguyên có khả năng ngưng kết

kháng thể O khi phát triển nhiều Kháng nguyên này chỉ gặp ở 2 serotyp là: S

typhi và S paratyphi C, ký hiệu kháng nguyên hay Vi trong công thức đứng

sau kháng nguyên O Theo sơ đồ của Kauffmann - White; công thức kháng

nguyên của S paratyphi C là: 6,7, Vi: -1,5 và S Typhi là: 9, 12, Vi: c,d

Trong 3 kháng nguyên chủ yếu trên, kháng nguyên O và kháng nguyên H

là 2 loại kháng nguyên có ý nghĩa quan trọng trong công tác chẩn đoán

1.2.7 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella

1.2.7.1 Các yếu tố không phải là độc tố

a) Kháng nguyên O

Chất lượng thành phần hóa học, cấu trúc kháng nguyên O đều ảnh hưởng

tới độc lực của vi khuẩn Salmonella Cụ thể là: S typhimurium nếu thay đổi

thành phần kháng nguyên từ công thức 1, 4, 12 sang 1, 9, 12 thì vi khuẩn từ dạng có độc lực chuyển sang dạng không có độc lực (Valtonen, 1977[67]) Kháng nguyên O là yếu tố độc lực giúp vi khuẩn chống lại khả năng phòng vệ của vật chủ, giúp vi khuẩn phát triển trong tế bào tổ chức, chống lại

sự thực bào của đại thực bào

Kháng nguyên O kích thích các cơ quan đáp ứng miễn dịch hình thành kháng thể đặc hiệu ngưng kết với kháng nguyên tương ứng Cơ chế phòng vệ

Trang 26

này giúp cơ thể vật chủ chống lại quá trình tái xâm nhập của vi khuẩn

Đến nay, người ta đã xác định được trên 3000 serotyp kháng nguyên O

của Salmonella, thành phần kháng nguyên của vi khuẩn S choleraesuis gồm:

c) Kháng nguyên K

Bản chất hóa học của kháng nguyên K là Polysaccharide, nhưng thực chất chúng chỉ là thành phần của kháng nguyên O Kháng nguyên K tạo hàng rào bảo vệ giúp vi khuẩn chống lại tác động ngoại cảnh và hiện tượng thực bào (Nguyễn Như Thanh, 2001[27])

d) Yếu tố bám dính

Theo Jones và Richardson (1981)[49] khả năng bám dính của vi khuẩn

Salmonella lên tế bào nhung mao ruột là bước khởi đầu quan trọng trong quá

trình gây bệnh Hiện tượng bám dính của vi khuẩn lên bề mặt tế bào vừa mang tính chất lý hóa, vừa mang tính chất sinh học và được thực hiện theo 3 bước: Bước 1: Vi khuẩn liên kết từng phần với bề mặt tế bào, thực hiện quá trình này đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động

Bước 2: Là quá trình hấp phụ, phụ thuộc vào đặc tính bề mặt của vi khuẩn và tế bào mà vi khuẩn bám dính và được thực hiện theo hướng thuận nghịch với sự tương hỗ của những tác động khác nhau

Bước 3: Là quá trình tương tác giữa yếu tố bám dính của vi khuẩn với các điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào Yếu tố bám dính của vi khuẩn được sắp

Trang 27

xếp trên các fimbriae

Theo Lê Văn Tạo (1993)[25], trên mỗi tế bào vi khuẩn Salmonella có từ

250- 400 fimbriae, chúng giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non để gây bệnh

e) Yếu tố xâm nhập

Theo Finlay và cs (1988)[47], khả năng xâm nhập vào tế bào có nhân

hoặc lớp niêm mạc của đường ruột là đặc tính của một số chủng Salmonella

có độc lực Các biến chủng Salmonella không có khả năng xâm nhập vào tế

bào thường là các chủng không có độc lực

Sau khi tiếp cận tế bào vật chủ, vi khuẩn Salmonella tác động làm tăng hàm

lượng Ca++ nội bào, hoạt hóa Actin Depolimeriring Enzyme, làm thay đổi cấu trúc, hình dạng các sợi actin, biến đổi màng tế bào, dẫn đến hình thành giả túc bao vây tế bào vi khuẩn dưới dạng các không bào chứa vi khuẩn Sau đó

Salmonella được xâm nhập vào trong tế bào, tồn tại, tiếp tục nhân lên với số

lượng lớn, phá vỡ tế bào vật chủ, sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin), làm xuất hiện quá trình tiêu chảy của vật chủ

Khả năng kháng kháng sinh có thể thay đổi, phụ thuộc vào địa phương, thời điểm làm kháng sinh đồ và loại vật nuôi

Trên đây là 6 yếu tố gây bệnh không phải là độc tố của vi khuẩn

Salmonella Các yếu tố này bằng những cơ chế tác động khác nhau, phương

Trang 28

thức tác động khác nhau, đã tạo điều kiện bất lợi cho cơ thể vật chủ, đồng thời

chúng lại tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Salmonella gây bệnh Chính vì

thế các yếu tố không phải là độc tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá

trình sinh bệnh của vi khuẩn Salmonella Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố

này là hết sức cần thiết, góp phần quan trọng trong việc phòng chống bệnh do

vi khuẩn Salmonella gây nên

1.2.7.2 Các yếu tố là độc tố

Nếu như các yếu tố gây bệnh không phải là độc tố là những tác nhân gián

tiếp, quan trọng trong quá trình sinh bệnh của vi khuẩn Salmonella, thì các yếu

tố gây bệnh là độc tố lại là tác nhân trực tiếp quyết định quá trình sinh bệnh

Các yếu tố gây bệnh là độc tố của Salmonella bao gồm: nội độc tố (Endotoxin),

ngoại độc tố đường ruột (Enterotoxin) và độc tố tế bào (Cytotoxin) (Finlay và Falkov, 1988[47])

a, Độc tố đường ruột (Enterotoxin)

Độc tố đường ruột của vi khuẩn Salmonella có hai thành phần chính:

Độc tố thẩm xuất nhanh RPF (Rapid Permeability Factor) và độc tố thẩm xuất

chậm DPF (Delayed Permeability Factor) (Peteron, 1980[56])

Theo Clarke và cs (1988)[41], độc tố thẩm xuất nhanh có cấu trúc thành

phần giống với độc tố chịu nhiệt của vi khuẩn E coli (Heat-stabile toxin: ST) Yếu tố thẩm xuất nhanh giúp Salmonella xâm nhập vào tế bào biểu mô

của ruột, và thực hiện khả năng thẩm xuất sau 1- 2 giờ, kéo dài 48 giờ và làm trương tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary cell) ST có khả năng chịu được nhiệt độ 100oC trong 4 giờ, bền vững ở nhiệt độ thấp, có thể bảo quản ở -20oC Cấu trúc phân tử gồm nhiều polysaccharide và một số chuỗi polypeptide

Độc tố RPF kích thích lên hệ thống men Guanylate Cyclase trong tế bào biểu mô ruột, chuyển GTP thành GDP Trong tế bào, GDP tăng cao làm cho nồng độ ion Ca++ cũng tăng cao, dẫn đến ngăn cản hấp thu chất điện giải và

Trang 29

nước ở trong xoang ruột Do vậy, lượng nước trong ruột tăng cao, kích thích niêm mạc ruột, tăng co bóp, làm gia súc ỉa chảy

Theo Đỗ Trung Cứ (2001)[3]: 72,7% các chủng Salmonella phân lập được từ

lợn sau cai sữa bị ốm, chết nghi Phó thương hàn sản sinh độc tố chịu nhiệt

Yếu tố thẩm xuất chậm của Salmonella có cấu trúc, thành phần giống độc tố không chịu nhiệt của vi khuẩn E coli (Heat Labile Toxin: LT) Nó thực hiện chức

năng thẩm xuất chậm từ 18- 24 giờ, có thể kéo dài 36-48 giờ DPF bị phá hủy ở

70oC trong vòng 30 phút và ở 56oC trong vòng 4 giờ Cấu trúc phân tử gồm 3 chuỗi polypeptide và một số hợp chất khác, phân tử lượng 40.000- 50.000 dalton

Độc tố thẩm xuất chậm của Salmonella làm thay đổi quá trình trao đổi

nước và chất điện giải, dẫn đến tăng cường bài xuất nước và chất điện giải từ

mô bào vào lòng ruột, cản trở sự hấp thu, gây thoái hóa lớp tế bào villi của thành ruột gây tiêu chảy

Đỗ Trung Cứ và cs (2003)[4] đã kết luận: 81,81% số chủng S

typhimurium phân lập từ lợn mắc bệnh tiêu chảy sản sinh độc tố không chịu

nhiệt (LT) có khả năng gây tích nước trong ruột non của lợn thí nghiệm

b, Nội độc tố (Endotoxin)

Nội độc tố nằm ở lớp màng ngoài của tế bào vi khuẩn và được cấu tạo bởi thành phần cơ bản là Lipopolysaccharide (LPS) LPS có cấu tạo phân tử lớn, gồm 3 vùng riêng biệt với các đặc tính và chức năng riêng biệt: Vùng ưa nước, vùng lõi và vùng lipit A

Vùng ưa nước bao gồm một chuỗi Polysaccharide chứa các đơn vị cấu trúc kháng nguyên O Vùng lõi có bản chất là acid heterooligosaccharide, ở trung tâm, nối kháng nguyên O với vùng lipit A

Vùng lipit A đảm nhận chức năng nội độc tố của vi khuẩn Cấu trúc nội độc stố gần giống với cấu trúc của kháng nguyên O Cấu trúc nội độc tố biến đổi sẽ

dẫn đến sự thay đổi độc lực của Salmonella Các đột biến gen ở vùng lõi, vùng ưa

Trang 30

nước làm cho Salmonella không còn độc lực (Trần Quang Diên, 2002[7])

Lipit A có ái lực với màng tế bào, với lipit khác và với Protein Điều đó chứng tỏ lipit A chính là trung tâm hoạt động của nội độc tố Vùng đa đường Polysaccharide, chỉ giữ vai trò là vật mang các lipit không hòa tan (Bradley, 1979[36])

Nội độc tố là LPS được tiết ra từ vách tế bào vi khuẩn khi bị dung giải Trước khi thể hiện độc tính, LPS cần phải liên kết với các yếu tố liên kết tế bào hoặc các receptor bề mặt các tế bào như: Tế bào lâm ba cầu B, lâm ba cầu

T, tế bào đại thực bào, tiểu cầu, tế bào gan lách

Rất nhiều các cơ quan trong cơ thể vật chủ chịu sự tác động của nội độc

tố LPS: Gan, thận, cơ, hệ tim mạch, hệ tiêu hóa và hệ thống miễn dịch với các biểu hiện bệnh lý như: Tắc mạch máu, giảm trương lực cơ, thiếu oxy mô bào, toan huyết, rối loạn tiêu hóa, mất tính thèm ăn

c, Độc tố tế bào (Cytotoxin)

Đặc tính chung của Cytotoxin là có khả năng ức chế tổng hợp Protein

của tế bào có nhân và làm trương tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary cell)

Đa phần độc tố của chúng bị phá hủy bởi nhiệt độ

Theo Clarke và cs (1988)[41], làm tổn thương tế bào biểu mô là đặc tính quan trọng của Cytotoxin Có ít nhất là 3 dạng Cytotoxin:

+ Dạng 1: Không bền vững với nhiệt và mẫn cảm với Trypsin Độc tố này có trọng lượng phân tử khoảng 56-78 kDa, nó tác động theo cơ chế là ức chế tổng hợp Protein của tế bào Hela và làm teo tế bào

+ Dạng 2: Có nguồn gốc từ Protein màng ngoài tế bào vi khuẩn, có cấu

trúc và chức năng gần giống với các dạng độc tố tế bào do Shigella và các chủng Enterotoxigenic E coli (ETEC) sản sinh ra Dạng độc tố này cũng có ở hầu hết các serovar Salmonella gây bệnh

+ Dạng 3: Dạng này có liên quan với Hemolysin Dạng độc tố này tác

Trang 31

động lên tế bào theo cơ chế dung giải các không bào nội bào Trong phòng thí

nghiệm, độc tố này gây chết tế bào Vero, tế bào Hela và tế bào CHO (Rahman

và cs, 1992[59])

Trên đây là 3 loại độc tố gây bệnh chính của vi khuẩn Salmonella, chúng

là các tác nhân trực tiếp, quyết định khả năng gây bệnh của vi khuẩn

Một số serotyp như: S choleraesuis, S typhimurium, S enteritidis, S

dublin, S gallinarum, S pullorum có mang các plasmid có kích thước lớn

(khoảng từ 50-100 kb) Chính những plasmid này có mang các yếu tố di truyền quyết định khả năng sản sinh các yếu tố độc lực gây bệnh cho người và gia súc với tỷ lệ ốm và chết cao (Krause và Fang, 1995[52])

1.3 Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn

1.3.1 Đặc tính sinh bệnh

Theo Quinn và cs (2002)[58], sự lây truyền Salmonella thường qua con

đường tiêu hóa, một số trường hợp nhiễm trùng qua niêm mạc, kết mạc mắt

và đường hô hấp trên cũng có khả năng xảy ra

Cũng theo Quinn và cs (2002)[58], Salmonella cần xâm nhập vào ruột

non và kết tràng để gây bệnh đường ruột Tuy nhiên, những axit hữu cơ bay hơi được sản sinh bởi hệ vi sinh vật yếm khí bình thường trong đường ruột có

khả năng ức chế sự phát triển của Salmonella Hệ vi sinh vật hiếu khí bình

thường cũng có thể ngăn cản việc tiếp xúc với các vị trí bám gắn cần cho loài

Salmonella Sự rối loạn của hệ vi sinh vật do các yếu tố như: Dùng kháng

sinh, khẩu phần ăn, mất nước làm tăng khả năng mẫn cảm của vật chủ với sự nhiễm trùng Nhu động ruột giảm, stress do vận chuyển và chật chội cũng tạo

điều kiện cho sự xâm nhập đường ruột của Salmonella

Mầm bệnh sau khi nhiễm vào đường tiêu hoá, nhanh chóng đi vào hệ lâm

ba của ruột gây viêm sưng hạch, từ đó vào hệ tuần hoàn, gây bại huyết, làm cho lá lách sưng to, lúc đầu do tụ máu, về sau do tăng sinh, sản sinh nội độc

Trang 32

tố, gây viêm hoại tử gan và hạch

Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn có 2 dạng chủ yếu: Thể nhiễm trùng huyết do S choleraesuis var kunzendorf gây ra và thể viêm ruột do S

typhimurium

1.3.2 Thể nhiễm trùng huyết do S choleraesuis var kunzendorf gây ra

Bệnh Phó thương hàn lợn thể nhiễm trùng máu xảy ra chủ yếu ở lợn

sau cai sữa do S choleraesuis var Kunzendorf gây nên (Laval, 2000[16])

Lợn bệnh bỏ ăn, ủ rũ, thích nằm tập trung lại với nhau ở góc chuồng tối hay chui vào ổ rơm, thân nhiệt tăng cao 40,5 - 41,6oC Mí mắt sưng mọng có nốt tím bầm, viêm kết mạc Khi bị biến chứng, gây viêm phổi, ho khan, có dịch đờm Xuất huyết lấm tấm dưới da, tụ lại thành những vết đỏ thẫm trên da bụng và tai Sau 3 - 4 ngày bị mắc bệnh, lợn ỉa chảy có màu vàng Tác động lâm sàng của bệnh phó thương hàn thể nhiễm trùng máu rất nghiêm trọng và gây chết Trong các ổ dịch, tỷ lệ lợn bệnh chết ở mức cao, tỷ lệ những con ốm không cố định, thường dưới 10% tổng đàn (Wilcock, 1995[70])

Ở thể á cấp tính, hiện tượng ỉa chảy xuất hiện sau 2 - 3 ngày, rồi kéo

dài cho đến khi lợn chết hoặc khỏi bệnh Phân bài xuất nhiều lần trong ngày, sau đó phân chảy ra liên tục, phân có màu vàng, vàng xám, vàng nâu ở lợn con, còn ở lợn trưởng thành phân nhão, phân nước có lẫn máu Lợn gầy sút nhanh (Laval, 2000[16])

Trên da lợn trưởng thành mắc bệnh cũng xuất hiện các mảng da bị đỏ, hoặc tím bầm ở vùng bụng, tai, bẹn,… sau đó xuất hiện chứng viêm phổi, lợn

ho, thở dốc Những lợn như vậy thường bị chết do chứng viêm phổi thứ phát

15 ngày sau khi bị bệnh Tỷ lệ lợn chết ở lợn bị bệnh thể á cấp tính khoảng 40

- 45% Lợn bị bệnh thường mang trùng và đều đặn thải mầm bệnh ra ngoài theo phân, nhưng khó phát hiện một cách chính xác (Laval, 2000[16])

* Bệnh tích đại thể

Trang 33

Khi mổ khám lợn bệnh, những bệnh tích đại thể quan sát được bao gồm: Các vết tím xanh ở rìa tai, trên bề mặt da bụng, bẹn, chân và đuôi; xuất huyết lấm tấm dưới da; hạch màng treo ruột, lách và hạch bạch huyết xưng phồng lên, các thuỳ lách cứng lại Trên bề mặt gan có điểm hoại tử nhỏ màu hơi trắng Xuất hiện những đám hoại tử màu hồng như trứng gà tây ở thận và phổi viêm (Trương Văn Dung và Yoshihara Shinobu, 2002[8])

* Bệnh tích vi thể

Lưới nội mô và hạch bạch huyết tăng trưởng; hoại tử điểm trắng ở gan; xuất huyết và hoại tử ở hạch bạch huyết của màng treo ruột, màng phổi, màng bụng, màng bao tim, thận và màng não lấm tấm xuất huyết (Trương Văn Dung và Yoshihara Shinobu, 2002[8])

Theo Wilcock (1995)[70], dấu hiệu biến đổi bệnh tích vi thể do

Salmonella gây ra là ở hạch lympho màng treo ruột: Sưng, xung huyết, xuất

huyết và có điểm hoại tử màu xám, trên bề mặt gan thấy xuất hiện điểm hoại

tử mô bào Những biến đổi bệnh tích vi thể ở lợn do Salmonella gây ra là

không hề trùng lặp với bất cứ bệnh nào khác ở lợn

* Chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh phó thương hàn thể nhiễm trùng máu do S choleraesuis

var Kunzendorf gây nên không thể chỉ dựa trên các triệu chứng lâm sàng đơn lẻ,

vì các triệu chứng lâm sàng của bệnh giống như nhiều triệu chứng nhiễm trùng

khác ở lợn như bệnh nhiễm trùng do Streptoccocus, bệnh Đóng dấu lợn…

1.3.3 Thể viêm ruột do S typhimurium

Bệnh Phó thương hàn thể viêm ruột thường do các serotyp S

typhimurium gây ra ở lợn con từ sau cai sữa đến khoảng 4-6 tháng tuổi Các

thể bệnh hay gặp là cấp tính hoặc mãn tính (Laval, 2000[16])

* Triệu chứng

Thời kỳ nung bệnh thường từ 3-4 ngày Một trong những triệu chứng

đầu tiên là ỉa chảy, phân dạng nước màu vàng, lẫn máu và chất nhầy

Trang 34

Lợn ốm bỏ ăn, thường uống nhiều nước Đợt sốt đầu tiên kéo dài chừng một tuần, tiếp theo một thời kỳ không sốt mấy ngày, rồi lại tiếp tục sốt Ở một

số lợn ốm thấy bị viêm khớp, chân bị què, đứng không vững, đi xiêu vẹo Ngoài triệu chứng tiêu chảy, lợn ốm còn bị viêm phổi, lợn ho, thở gấp, nước mũi chảy nhiều Hầu hết lợn bệnh bình phục nếu được điều trị kịp thời, nhưng chủ yếu chuyển sang thể mãn tính kéo dài vài tháng Tỷ lệ lợn chết dao động

từ 40% - 50% Số con còn sống sót chậm lớn, còi cọc Những lợn khỏi bệnh thường mang trùng và thải mầm bệnh ra ngoài môi trường (Laval, 2000[16])

đậu, xung quanh có bờ đỏ và nhẵn Van hồi manh tràng bị loét cúc áo, có phủ

một lớp màng (Trương Văn Dung và Yoshihara Shinobu, 2002[8])

* Bệnh tích vi thể

Sự hoại tử nông hay sâu trên bề mặt của lớp tế bào biểu mô ruột là những bệnh lý vi thể đặc trưng của thể viêm ruột; có trường hợp thấy nổi gồ lên khỏi niêm mạc xung huyết của ruột những hạt tròn như hạt đậu màu trắng vàng Phần đầu lông nhung trong hồi tràng bị teo ngắn lại Đa số trường hợp thấy mảng payer bị loét dưới đáy như phủ một lớp tổ chức hoại tử màu vàng trắng, niêm mạc dạ dày có điểm chảy máu rải rác, có một số loét nhỏ tập trung ở bờ cong nhỏ Gan xung huyết, trên bề mặt gan có thể thấy những nốt

u nhỏ (áp xe) mang tính đặc trưng cho thể bệnh không giống với điểm hoại tử trong thể nhiễm trùng huyết (Phạm Sỹ Lăng và cs, (2004)[17])

* Chẩn đoán

Trang 35

Chẩn đoán lâm sàng: Ở thể viêm ruột của bệnh phó thương hàn, căn cứ vào các triệu chứng điển hình như viêm ruột và dạ dày ở lợn con từ sau cai sữa đến 4 tháng tuổi Đồng thời, dựa vào kết quả nuôi cấy, phân lập vi khuẩn trên môi trường pepton và kiểm tra di động trên môi trường thạch và xét nghiệm huyết thanh học

Chẩn đoán phân biệt với bệnh hồng lỵ; Chứng viêm ruột do

Campylobacter (PHE); Viêm ruột hoại tử; bệnh viêm dạ dày ruột

(Transmission Gasto Enteritis-TGE); tiêu chảy ở lợn do E coli Một số tác nhân gây tiêu chảy do vi rút như Rotavirus và Coronavirus gây viêm ruột, bệnh dịch tả lợn, các loại ký sinh trùng như cầu trùng Coccidia…

Ở bệnh phó thương hàn, thân nhiệt lợn ốm vẫn giữ cao (41- 42o

C) trong suốt thời gian lợn bị ỉa chảy, điều đó hoàn toàn khác với bệnh hồng lỵ Hiện tượng tím tái nhiều khu vực trên da lợn bị bệnh phó thương hàn cũng khác với lợn bị bệnh hồng lỵ Ở lợn bị bệnh hồng lỵ, phân có màu xám, xám-đen, đen,

đen nâu, hiện tượng này không có ở lợn bị bệnh phó thương hàn Lách ở lợn

bị bệnh hồng lỵ không bị sưng và không có những biến đổi đặc trưng Màng niêm mạc ruột ở lợn bị bệnh hồng lỵ thường phủ một lớp biểu bì hoại tử, hiện tượng này không có ở lợn bị bệnh phó thương hàn

Để có thể phân biệt rõ các loại bệnh này thường phải tiến hành các xét

nghiệm kiểm tra vi khuẩn trong phòng thí nghiệm

Ở bệnh viêm ruột do Campylobacter (PHE) thể cấp tính có thể thấy xuất

huyết ruột hay tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính, tổn thương thường lan tràn, làm mất đi những bệnh tích nhỏ, lớp niêm mạc nằm dưới các ổ hoại tử có dấu hiệu tăng sinh rất rõ Để tránh nhầm lẫn, cần xét nghiệm, phân lập vi khuẩn

Đối với bệnh viêm ruột hoại tử do vi khuẩn C perfringens, bệnh xuất

hiện trong vòng một vài ngày đầu của lợn sơ sinh, lợn bệnh không sốt Hiện tượng tiêu chảy làm cho niêm mạc hậu môn bị tổn thương, có màu đỏ Lợn

Trang 36

bệnh chết nhanh Giải phẫu ruột thấy có phủ một lớp hoại tử màu vàng hoặc những khối hơi sáng, dễ nát, dính chặt vào niêm mạc ruột Nhung mao của không tràng và tiểu nang là nơi xét nghiệm thấy trực khuẩn Gram (+) (Trương Văn Dung và Yoshihara Shinobu, 2002[8])

Bệnh viêm dạ dày ruột (TGE) thường mắc và tỷ lệ chết cao ở lợn dưới

2 tuần tuổi Khi mổ khám, thấy dạ dày sưng to với các cục sữa vón, ruột non sưng to với bọt khí màu vàng và hình thành các cục sữa do không tiêu hoá

được, thành ruột mỏng, gần như trong suốt Các lông nhung của không tràng

và hồi tràng bị teo đi

Chẩn đoán phân biệt bệnh do Salmonella gây ra ở lợn với các bệnh do

E coli và bệnh dịch tả lợn có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn

Lợn bị tiêu chảy do vi khuẩn E coli gây ra ở lứa tuổi sau cai sữa (4- 9

tuần tuổi) cũng khá phổ biến, lợn có biểu hiện phù mắt, phù đầu nên còn gọi

là bệnh phù đầu lợn con Mổ khám bệnh tích thấy tụ máu trong ruột non, có thể nhìn thấy chất chứa trong ruột non vì thành ruột mỏng và lông nhung

không bị phá huỷ Ở bệnh do Salmonella, lợn tím vành tai, da bụng và vùng

bẹn Các biến đổi bệnh lý ở ruột có tính đặc trưng như mô tả về phần bệnh

tích đại thể và vi thể của bệnh do Salmonella

Bệnh dịch tả lợn xảy ra và lây lan nhanh ở tất cả các lứa tuổi lợn Hiện tượng ỉa chảy ở lợn bị bệnh dịch tả lợn xuất hiện khi nhiệt độ cơ thể giảm, khi sốt cao lợn lại táo bón; còn ở bệnh phó thương hàn lợn bị ỉa chảy khi thân nhiệt sốt cao 2-3 ngày Mổ khám bệnh tích lợn bị bệnh dịch tả thấy xuất huyết

ở khắp các hệ thống cơ quan như hạch lympho, thận, bàng quang và da, nhồi

huyết ở lách, hạch lympho có màu đá hoa cương, viêm loét hình cúc áo trên niêm mạc bị viêm Điều trị bằng kháng sinh, lợn không khỏi bệnh, trong khi dùng kháng sinh điều trị bệnh phó thương hàn có tỷ lệ khỏi cao

Trang 37

1.4 Biện pháp phòng trị bệnh do Salmonella gây ra ở lợn

1.4.1 Phòng bệnh

Phòng bệnh phó thương hàn cho lợn, nhất là ở những nơi chăn nuôi lợn tập trung quy mô lớn và chăn nuôi lợn nái có nhiều lợn con là một việc quan

trọng, vì đặc điểm dịch tễ của căn bệnh là vi khuẩn Samonella không dễ dàng

khống chế và yêu cầu của quá trình phòng bệnh là phải thực hiện được triệt để các nội dung như tiêm phòng vacxin, vệ sinh khử trùng tiêu độc, quản lý chăn nuôi, sử dụng chế phẩm sinh hoá học…

1.4.2 Điều trị bệnh

Hiệu quả chữa bệnh phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như vệ sinh thú y, chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời phải chẩn đoán bệnh kịp thời thì mới nâng cao hiệu quả chữa bệnh

- Sử dụng kháng huyết thanh phó thương hàn

Kháng huyết thanh phó thương hàn được chế bằng cách: Gây tối miễn

dịch cho bò đực thiến bằng canh trùng vi khuẩn S choleraesuis chứa độc tố

được vô hoạt bằng formol Tiêm bắp 30 - 60ml cho lợn dưới 45 ngày tuổi; 50

- 80ml cho lợn 45 ngày tuổi trở lên

- Điều trị bằng kháng sinh

Cho đến nay, việc dùng kháng sinh chữa bệnh phó thương hàn cần chú ý loại trừ các loại kháng sinh đã bị vi khuẩn kháng được nhiều tác giả thông báo như Streptomycin, Ampicillin,… Cũng phải loại trừ các kháng sinh vi khuẩn mẫn cảm nhưng đã bị cấm sử dụng như Chloramphenicol, Furazolidon,…Hiện nay có nhiều loại kháng sinh mà các công ty, xí nghiệp thuốc thú y trong và ngoài nước sản xuất dùng cho điều trị bệnh phó thương hàn, tốt nhất là làm kháng sinh đồ trên môi trường thạch đĩa để đánh giá và chọn loại kháng sinh

điều trị có hiệu quả nhất

Trang 38

1.5 Bê nhiễm Salmonella

Năm 1891 Jensen, đã phân lập được S dublin từ bệnh phẩm của bê bị tiêu chảy Cũng vào năm đó, S typhimurium được phát hiện ở vùng

Greiswald và Breslau Hai năm sau đó (1893), tại Breslau đã xảy ra một vụ ngộ độc thịt do ăn phải thịt bò ốm, kết quả là bệnh đã xảy ra ở người Kaensche là người tìm thấy vi khuẩn, vì vậy vi khuẩn được đặt tên là trực khuẩn Kaensche (Selbizt và cs, 1995[63])

Salmonella nhiễm ở bê tiếp tục là một vấn đề lớn trên toàn thế giới,

nó gây ra thiệt hại kinh tế đáng kể, cả trực tiếp như làm chết gia súc, tăng trưởng kém sau khi hết triệu chứng lâm sàng và gây thiệt hại gián tiếp do

Salmonella nhiễm vào người thông qua thực phẩm Những mẫu phân thu

thập được từ bê bị tiêu chảy cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella cao hơn

(17,5%) so với bê khoẻ mạnh (3,4%) Serovares được xác định cụ thể là

Typhimurium 7,3% và 1,7%, Dublin 5,1% và 0,8%, Enteritidis là 2,9% và

0,8% và Anatum là 2,2% và 0%

1.6 Gà nhiễm Salmonella

Trong số trên 2500 typ huyết thanh đã được phân lập, Salmonella

enteritidis và Salmonella typhimurium là 2 typ huyết thanh thông thường nhất

gây ngộ độc thực phẩm cho người Đây cũng là 2 typ huyết thanh gây tiêu chảy ở gia cầm mới nở và làm cho gia cầm bị chết Đối với gia cầm lấy thịt, gia cầm đẻ trứng, vi khuẩn không đủ độc tính gây chết nhưng lại dẫn tới hiện tượng động vật mang trùng thể ẩn Khi ở trạng thái này vi khuẩn không có biểu hiện lâm sàng để các nhà chăn nuôi loại bỏ trước khi chúng được tiêu

thụ Gia cầm mang trùng truyền Salmonella enteritidis và Salmonella

typhimurium sang người chủ yếu qua nguồn trứng và thịt Vì vậy gây miễn

dịch, phòng Salmonella cho gia cầm không chỉ để giảm thiểu tỷ lệ chết ở gia

Trang 39

cầm mới nở mà còn là biện pháp hữu hiệu để giảm ngộ độc do Salmonella

gây ra ở người

1.7 Ngộ độc thực phẩm ở người do Salmonella

Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Salmonella cũng đã và đang được rất

nhiều tác giả quan tâm Lê Minh Sơn (2003)[24] đã xác định tỷ lệ nhiễm

Salmonella trong thịt lợn giết mổ tiêu dùng nội địa từ 10,91-16,67% và thịt

lợn xuất khẩu trung bình 1,42% Tô Liên Thu (2005)[28] đã xác định tỷ lệ

nhiễm Salmonella của các mẫu thịt gà ở Hà Nội là rất cao: 33% các mẫu lấy

tại siêu thị, 40% các mẫu lấy từ chợ Lò mổ là một mắt xích quan trọng có

nguy cơ cao ô nhiễm Salmonella vào thân thịt sau giết mổ Trần Thị Hạnh và

cs (2009)[11] đã công bố tỷ lệ nhiễm Salmonella tại các cơ sở giết mổ lợn

công nghiệp và cho kết quả: Chất chứa manh tràng của lợn là 59,18%, ở mẫu lau thân thịt là 70%, mẫu lau hậu môn 66%, mẫu lau nền chuồng nhốt lợn chờ giết mổ là 40%, mẫu lau sàn giết mổ là 28%, còn các mẫu nước kiểm tra

không phát hiện Salmonella Tại các cơ sở giết mổ lợn theo phương thức thủ công cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella ở chất chứa manh tràng của lợn chờ

giết mổ là 87,5%, ở mẫu lau thân thịt là 75%, mẫu lau hậu môn là 55%, mẫu lau nền chuồng nhốt lợn chờ giết mổ là 70%, mẫu lau sàn giết mổ là 80%,

mẫu nước là 50%

Trang 40

Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng

- Vi khuẩn Salmonella gây bệnh phó thương hàn trên lợn;

- Lợn nái, lợn con sau cai sữa khoẻ mạnh và lợn con sau cai sữa mắc bệnh phó thương hàn

2.1.2 Thời gian và địa điểm

- Thời gian: Từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 7 năm 2012;

- Địa điểm: Một số trang trại lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Bộ môn Công nghệ Vi sinh - Viện Khoa học Sự sống - Đại học Thái nguyên; và Viện Thú y Quốc gia

2.2 Vật liệu nghiên cứu

2.2.1 Mẫu dùng phân lập vi khuẩn

- Mẫu phân được lấy từ lợn nái, lợn con sau cai sữa khoẻ mạnh và lợn con sau cai sữa mắc bệnh phó thương hàn

2.2.2 Động vật thí nghiệm

- Chuột bạch khoẻ mạnh có trọng lượng từ 18-22 gam/con;

2.2.3 Hoá chất và dụng cụ nghiên cứu

2.2.3.1 Hoá chất dùng để nhuộm Gram

- Dung dịch thuốc nhuộm: Tím Gientian và đỏ Fuchsine;

- Cồn Axeton;

- Dung dịch Lugol;

- Nước cất

2.2.3.2 Hoá chất dùng để thử phản ứng sinh hoá

- Chất thử cho phản ứng Indole: thuốc thử kovac

Ngày đăng: 29/04/2016, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Thị Trà An, Nguyễn Ngọc Tuân, Lê Hữu Ngọc (2006), “Tình hình nhiễm Salmonella trong phân và thân thịt (bò, heo, gà) tại một số tỉnh phía Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 2, tr. 37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm "Salmonella" trong phân và thân thịt (bò, heo, gà) tại một số tỉnh phía Nam”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Võ Thị Trà An, Nguyễn Ngọc Tuân, Lê Hữu Ngọc
Năm: 2006
2. Phùng Quốc Chướng (1995), Tình hình nhiễm Salmonella ở lợn tại vùng Tây Nguyên và khả năng phòng trị. Luận án PTS khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm Salmonella ở lợn tại vùng Tây Nguyên và khả năng phòng trị
Tác giả: Phùng Quốc Chướng
Năm: 1995
3. Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên (2001), “Kết quả phân lập và xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh Phó thương hàn lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 3, tr. 10-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân lập và xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn "Salmonella" spp gây bệnh Phó thương hàn lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc”. "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2001
4. Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Đỗ Thị Lan Phương (2003), “Xác định một số yếu tố gây bệnh của Salmonella Typhimurium phân lập từ lợn bị tiêu chảy ở một số tỉnh miền núi phía Bắc”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 4, tr. 33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số yếu tố gây bệnh của "Salmonella Typhimurium" phân lập từ lợn bị tiêu chảy ở một số tỉnh miền núi phía Bắc”. "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Đỗ Thị Lan Phương
Năm: 2003
5. Đỗ Trung Cứ (2004), Phân lập và xác định yếu tố gây bệnh của Salmonella ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc và biện pháp phòng trị. Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Viện Thú y Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập và xác định yếu tố gây bệnh của Salmonella ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Đỗ Trung Cứ
Năm: 2004
6. Đỗ Đức Diên (1999), Vai trò của E. coli và Salmonella trong hội chứng tiêu chảy lợn con ở Kim Bảng (Hà Nam) và thử nghiệm một số giải pháp phòng trị. Luận án Thạc sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của E. coli và Salmonella trong hội chứng tiêu chảy lợn con ở Kim Bảng (Hà Nam) và thử nghiệm một số giải pháp phòng trị
Tác giả: Đỗ Đức Diên
Năm: 1999
7. Trần Quang Diên (2002), Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc tính gây bệnh của Salmonella gallinarum pullorum trên gà công nghiệp và chế kháng nguyên chẩn đoán. Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc tính gây bệnh của Salmonella gallinarum pullorum trên gà công nghiệp và chế kháng nguyên chẩn đoán
Tác giả: Trần Quang Diên
Năm: 2002
8. Trương Văn Dung, Yoshihara shinobu (2002), Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn về các bệnh gia súc ở Việt Nam. Viện Thú y Quốc gia và Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn về các bệnh gia súc ở Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Dung, Yoshihara shinobu
Năm: 2002
9. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1995), Bệnh đường tiêu hóa ở lợn. NXB Nông nghiệp, tr. 63- 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hóa ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
10. Trần Xuân Hạnh (1995), “Phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella trên lợn ở tuổi giết thịt”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, số 3, tr. 89-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập và giám định vi khuẩn "Salmonella" trên lợn ở tuổi giết thịt”. "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trần Xuân Hạnh
Năm: 1995
11. Trần Thị Hạnh và cộng sự (2009), “Tỷ lệ nhiễm Salmonella spp. tại cơ sở giết mổ lợn công nghiêp và thủ công nghiệp”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 2, tr. 51-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm "Salmonella" spp. tại cơ sở giết mổ lợn công nghiêp và thủ công nghiệp”. "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Trần Thị Hạnh và cộng sự
Năm: 2009
12. Nguyễn Bá Hiên (2001), Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội. Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
14. Nguyễn Văn Lãm (1968), “Chế vacxin Phó thương hàn lợn con”. Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thú y 1968- 1978, NXB Nông nghiệp, tr. 250- 289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế vacxin Phó thương hàn lợn con”. "Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thú y 1968- 1978
Tác giả: Nguyễn Văn Lãm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1968
15. Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân-Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, “Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú Y, số 3, 2006, trang 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”
16. Laval A (2000), “Dịch tễ Salmonellosis”. Báo cáo tại hội thảo về bệnh lợn tại Viện Thú y – Hà Nội tháng 6/2000, Tài liệu dịch của Trần Thị Hạnh – Viện Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ Salmonellosis”. "Báo cáo tại hội thảo về bệnh lợn tại Viện Thú y
Tác giả: Laval A
Năm: 2000
17. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2004), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú (1999), “Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học của chủng phân lập”, tạp chí KHKT Thú y, số 1, tr.15-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học của chủng phân lập”
Tác giả: Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú
Năm: 1999
19. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch (1997), “Tình hình nhiễm Salmonella và vai trò của Salmonella trong bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn”.Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 2, tr. 39-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm "Salmonella" và vai trò của "Salmonella" trong bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn”. "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch
Năm: 1997
20. Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thị Sở (1989), “Kết quả điều tra tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn”. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật Thú y (1985- 1989). Viện Thú y, NXB nông nghiệp, Hà nội 1989, tr. 50-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn”. "Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật Thú y (1985-1989)
Tác giả: Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thị Sở
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1989
21. Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Vũ Bình Minh, Đỗ Ngọc Thuý (2000), “Phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học của các chủng vi khuẩn phân lập được và biện pháp phòng trị”. Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật thú y (1996-2000), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 171-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập vi khuẩn "E.coli" và "Salmonella" ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học của các chủng vi khuẩn phân lập được và biện pháp phòng trị”. "Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật thú y (1996-2000)
Tác giả: Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Vũ Bình Minh, Đỗ Ngọc Thuý
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Sơ đồ ph ân lập và giám định vi khuẩn Salmonella (Trang 43)
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát thải trừ Salmonella ở lợn nái sinh sản theo - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát thải trừ Salmonella ở lợn nái sinh sản theo (Trang 49)
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa theo - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa theo (Trang 54)
Bảng 3.5. Kết quả khảo sát thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.5. Kết quả khảo sát thải trừ Salmonella ở lợn con sau cai sữa (Trang 56)
Bảng 3.6. Kết quả điều tra tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.6. Kết quả điều tra tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau (Trang 58)
Bảng 3.7. Kết quả điều tra tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.7. Kết quả điều tra tình hình bệnh phó thương hàn ở lợn con sau (Trang 59)
Bảng 3.8. Kết quả phân lập Salmonella từ lợn mắc bệnh phó thương hàn - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.8. Kết quả phân lập Salmonella từ lợn mắc bệnh phó thương hàn (Trang 61)
Bảng 3.9. Một số đặc tính sinh vật hoá học của chủng Salmonella phân - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.9. Một số đặc tính sinh vật hoá học của chủng Salmonella phân (Trang 63)
Bảng 3.10. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.10. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn (Trang 64)
Bảng 3.11. Độc lực của chủng Salmonella sp. phân lập được từ lợn sau cai - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.11. Độc lực của chủng Salmonella sp. phân lập được từ lợn sau cai (Trang 66)
Bảng 3.12. Giám định serotype của các chủng Salmonella phân lập được - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.12. Giám định serotype của các chủng Salmonella phân lập được (Trang 68)
Bảng 3.13. Kết quả kiểm tra một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi - Xác định sự lưu hành của vi khuẩn salmonella spp ở lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.13. Kết quả kiểm tra một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm