Chẳng hạn theo tổ chức Gỗ nhiệt đới ITTO thì “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những diện tích rừng cố định nhằm đạt được những mục tiêu là đảm bảo sản xuất liên tục những sản
Trang 1–––––––––––––––––––––
NGUYỄN MẠNH TUẤN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
GÓP PHẦN QUẢN LÝ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN RỪNG
TRÊN NÚI ĐÁ VÔI HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN QUỐC HƯNG
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo cao học Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học, khoá XVIII (2010 - 2012)
Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn thạc sỹ này, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, các bạn bè đồng nghiệp và địa phương nơi tác giả thực hiện nghiên cứu Nhân dịp này
tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu và hiệu quả đó
Trước tiên, tác giả xin đặc biệt cảm ơn TS Trần Quốc Hưng - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học và các thầy,
cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giảng dạy, cung cấp kiến thức và giúp đỡ tác giả hoàn thành khoá học
Tác giả cũng xin cảm ơn Lãnh đạo UBND huyện Tràng Định - nơi tôi đang công tác, các bạn bè đồng nghiệp và địa phương nơi tôi thực hiện nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn Phòng Nông nghiệp và phát triển nông, UBND các xã Tri Phương, Quốc Khánh, Chí Minh và Hạt Kiểm lâm và một số hộ nông dân trên địa bàn huyện Tràng Định đã tạo điều kiện, cung cấp thông tin và số liệu giúp tác giả hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả Nguyễn Mạnh Tuấn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về quản lý rừng bền vững 3
1.2 Trên thế giới 5
1.3 Ở Việt Nam 11
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu tổng quát 19
2.2 Mục tiêu cụ thể 19
2.3 Giới hạn nghiên cứu 19
2.4 Nội dung nghiên cứu 19
2.5 Phương pháp nghiên cứu 20
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 20
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu thực địa 20
2.5.3 Phương pháp sử lý số liệu 24
CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
3.1 Điều kiện tự nhiên 25
2.1.1 Vị trí địa lý 25
3.1.2 Địa hình địa mạo 26
Trang 43.1.3 Khí hậu 26
3.1.4 Thuỷ văn 27
3.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng 27
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
3.2.1 Dân số, lao động và dân tộc 28
3.2.2 Tình hình kinh tế trong khu vực 29
3.2.3 Cơ sở hạ tầng 29
3.3 Nhận xét và đánh giá chung 30
3.3.1 Thuận lợi 30
3.3.2 Khó khăn 30
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Hiện trạng tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 33
4.1.1 Hiện trạng tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu 33
4.1.2 Hiện trạng tài nguyên về động vật rừng 40
4.2 Thực trạng quản lý tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 41
4.2.1 Các mối đe doạ đến tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 41
4.2.2 Thực trạng về cơ cấu tổ chức và tiềm lực của Hạt Kiểm lâm Tràng Định 48
4.2.3 Thực trạng về quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ở Khu vực nghiên cứu 49
4.2.4 Thực trạng về khai thác, sử dụng rừng ở Khu vực nghiên cứu 52
4.3 Đánh giá các yếu tố thuận lợi khó khăn đối với quản lý tài nguyên rừng ở khu vực nghiên cứu 53
4.3.1 Các giải pháp về quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng 53
4.3.2 Các giải pháp về khoa học công nghệ 62
4.3.3 Các giải pháp phát triển kinh tế địa phương 63
4.3.4 Các giải pháp phát triển xã hội 65
Trang 54.3.5 Phân tích những khó khăn, tồn tại, điểm mạnh, điểm yếu
trong công tác QLBVR 67
4.4 Một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 68
4.4.1 Nhóm giải pháp quản lý bảo vệ rừng 68
4.4.2 Giải pháp về khoa học và công nghệ 72
4.4.3 Giải pháp về kinh tế 73
4.4.4 Giải pháp về xã hội 75
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Tồn tại 79
5.3 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu 01: Điều tra thống kê tầng cây gỗ 22
Biểu 02: Điều tra thống kê tầng cây tái sinh và cây bụi thảm tươi 22
Biểu 03: Điểu tra động vật rừng 23
Bảng 4.1 Sơ bộ đặc điểm thực vật học tại khu vực nghiên cứu 33
Bảng 4.2 Thực vật có giá trị tại khu vực nghiên cứu 34
Bảng 4.3 Tổ thành loài cây tầng cao tại khu vực nghiên cứu 35
Bảng 4.4 Tổ thành loài cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu 38
Bảng 4.5 Tài nguyên Động vật rừng tại khu vực nghiên cứu 41
Bảng 4.6 Các mối đe doạ tới tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 42
Bảng 4.7 Sản lượng khai thác một số loại lâm sản ngoài gỗ chủ yếu 46
Bảng 4.8 Thống kê các vụ vi phạm trong các năm 2010- 7/2012 50
Bảng 4.9 Kết quả hoạt động tuyên truyền vận động 51
Bảng 4.10 Các loại lâm sản thường được sử dụng 53
Bảng 4.11 Phương thức quản lý đối với rừng núi đá huyện Tràng Định 55
Bảng 4.12 Tổng hợp các chương trình nâng cao nhận thức của cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Tràng Định 56
Bảng 4.13 Giáo dục và nâng cao nhận thức: 59
Bảng 4.14 Hoạt động Chương trình 135 giai đoạn 2006-2010 64
Bảng 4.15 Hoạt động của các dự án lồng ghép khác 65
Bảng 4.16 Phân tích SWOT 67
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu 20 Hình 2.1 Khu vực nghiên cứu 32
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý báu mà thiên nhiên
đã ban tặng cho con người Ngoài giá trị kinh tế, rừng còn có tác dụng cung cấp các loại dược liệu cho y học để phục vụ sức khỏe con người Đặc biệt rừng còn có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế lũ lụt, Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên có khả năng tái tạo nếu như nó nhận được những tác động hợp lý theo hướng có lợi của con người
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nhu cầu ngày càng cao của con người thì tài nguyên rừng ngày càng bị cạn kiệt cả số lượng và chất lượng của rừng Hay nói cách khác để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, trong những năm qua con người đã khai thác kiệt quệ tài nguyên rừng làm cho các hệ sinh thái rừng mất đi tính bền vững vốn có và làm cho nó khó có khả năng phục hồi, thậm chí diện tích rừng bị giảm nhanh chóng ở những năm 90
Nếu tính từ 1943 thì đất nước ta có khoảng 14,3 triệu ha rừng với độ che phủ chung là 43% thì hiện nay nước ta có khoảng 10,9 triệu ha rừng với
độ che phủ chỉ còn 33,2% thấp hơn chỉ mức báo động che phủ rừng tối thiểu
để duy trì cân bằng sinh thái cho một quốc gia Chẳng những diện tích rừng
và chất lượng rừng bị giảm sút gây nên nhiều biến động xấu về kinh tế và môi trường mà còn làm mất đi tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng, mất
đi những nguồn gen động thực vật qúy hiếm Đặc biệt đối với tài nguyên rừng trên núi đá vôi, đây là trạng thái rừng có tính đa dạng cao và đặc thù tuy nhiên cũng dễ bị tổn thương bởi tác động của con người
Khu rừng núi đá của huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn nằm ở 3 xã Tri Phương, quốc Khánh và Chí Minh Đây là khu vực có hệ sinh thái rừng núi đá độc đáo, có tính đa dạng sinh học phong phú với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm và nhiều hệ sinh thái chuẩn của vùng núi đá
Trang 10Đây là hệ thống rừng núi đá tập trung ở các xã phía Bắc - Đông Bắc của huyện Tràng Định - là một trong ít khu vực còn lại diện tích và trữ lượng rừng tự nhiên đáng kể trong tỉnh Lạng Sơn Nó nằm trong vùng núi đá miền Bắc Việt Nam có thể khẳng định đây là một mẫu rừng đặc trưng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tỉnh Lạng Sơn Hiện tại, những tác động tiêu cực của một số người dân địa phương và các vùng lân cận đã và đang tàn phá khu rừng, những mối đe dọa không ngừng gia tăng làm cho nguy cơ mất đi một trong những hệ sinh thái rừng đặc thù và còn tính chất đa dạng sinh học cao là một thực tế khó tránh khỏi Trong khi đó, khả năng phục hồi rừng trên núi đá
là rất khó khăn, nếu để mất rừng núi đá sẽ làm mất đi nguồn tài nguyên khó khôi phục và sẽ gây nên những hậu quả khó lường Trong những năm gần đây, công tác quản lý bảo vệ rừng đã được quan tâm và thực hiện một cách tốt hơn Tuy nhiên, do địa hình núi đá hiểm trở, phức tạp trong khi lực lượng kiểm lâm mỏng, địa bàn quản lý rộng nên công tác bảo vệ rừng thường xuyên gặp khó khăn, rừng trong khu vực vẫn tiếp tục bị đe doạ Mức độ đe dọa đối với hệ sinh thái rừng và các loài động thực vật quý hiếm vẫn đang ở mức cao, nếu không có sự quản lý bảo vệ thì hệ sinh thái rừng nơi đây sẽ tiếp tục bị tàn phá và trong những năm tới sẽ không còn giá trị bảo tồn Để góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên, trong phạm vi luận văn, chúng tôi đã thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài
nguyên rừng trên núi đá vôi tại huyện Tràng Định - tỉnh Lạng Sơn"
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về quản lý rừng bền vững
Trước đây, rừng tự nhiên bao trùm phần lớn diện tích mặt đất Tuy nhiên, do những tác động của con người như khai thác lâm sản quá mức, phá rừng lấy đất trồng trọt, đất chăn thả, xây dựng các khu công nghiệp, mở rộng các điểm dân cư,… đã làm cho rừng ngày một thu hẹp dần về diện tích Tỷ lệ che phủ của rừng tự nhiên giảm đi mỗi ngày một nhanh Trong những năm đầu của thế kỷ 20, sau hàng nghìn năm khai thác và sử dụng của con người diện tích rừng trên thế giới vẫn còn khoảng 60-65%, nhưng chỉ trong gần 1 thế kỷ, tính đến năm 1995 con số này đã giảm đi một nửa Theo số liệu của tổ chức lương thực thế giới, tổng diện tích rừng tự nhiên hiện chỉ còn khoảng 3.454 triệu ha tương đương khoảng 35% diện tích mặt đất Bình quân mỗi năm diện tích rừng bị giảm đi khoảng 23 triệu ha [34]
Ở Việt Nam hiện tượng mất rừng cũng tương tự như vậy Vào năm
1943 tỷ lệ che phủ của rừng tự nhiên còn khoảng 43% diện tích lãnh thổ Đến nay tỷ lệ này chỉ còn khoảng 33,2%, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, Đông nam bộ và miền trung Rừng tự nhiên ở nước ta không chỉ bị thu hẹp về diện tích mà còn bị giảm đi về chất lượng Các loài gỗ quý đã bị khai thác cạn kiệt, các loài cho sản phẩm có giá trị cao như lương thực, thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu cho công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, trở nên khan hiếm, nhiều loài động vật hoang dã trong rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng
Sự suy giảm diện tích và chất lượng của rừng tự nhiên chẳng những đã làm xuống cấp một nguồn tài nguyên có khả năng cung cấp liên tục những sản phẩm đa dạng cho cuộc sống con người, mà còn kéo theo những biến đổi nguy hiểm của điều kiện sinh thái trên hành tinh Hậu quả quan trọng nhất của mất rừng trong thế kỷ qua làm cho khí hậu biến đổi, nguồn nước không ổn
Trang 12định, đất đai bị hoang hoá, quy mô và cường độ của những thiên tai như gió, bão, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng ngày một gia tăng Sự mất rừng đã trở thành nguyên nhân trực tiếp của sự đói nghèo ở nhiều quốc gia, là nguyên nhân của hiểm họa sinh thái đe dọa sự tồn tại lâu bền của con người và thiên nhiên trên toàn thế giới
Trước tình hình đó một yêu cầu cấp bách đặt ra là phải quản lý rừng như thế nào để ngăn chặn được tình trạng mất rừng, trong đó việc khai thác những giá trị kinh tế của rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích và chất lượng của nó, duy trì và phát huy những chức năng sinh thái to lớn với sự tồn tại lâu bền của con người và thiên nhiên Đây cũng là xuất phát điểm của những ý tưởng của quản lý rừng bền vững - quản lý rừng nhằm phát huy đồng thời những giá trị về kinh tế, xã hội và môi trường của rừng Mặc dù nội dung của quản lý rừng bền vững rất phong phú và đa dạng với những khác biệt nhất định phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng quốc gia, song người ta cũng đang cố gắng đưa ra những khái niệm để diễn đạt bản chất của nó Chẳng hạn theo tổ chức Gỗ nhiệt đới (ITTO) thì “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những diện tích rừng cố định nhằm đạt được những mục tiêu là đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường vật lý và xã hội”, còn theo hiệp ước Helsinki thì “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác” Mặc dù có sự sai khác nhất định trong cách diễn đạt ngôn từ, nhưng các khái niệm đều hướng vào
Trang 13mô tả mục tiêu chung của quản lý rừng bền vững Đó là quản lý để đạt được
sự ổn định về diện tích, sự bền vững về tính đa dạng sinh học, về năng suất
kinh tế và hiệu quả sinh thái môi trường của rừng
Mục tiêu cơ bản của QLRBV là đồng thời đạt được bền vững về kinh
tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Nội dung cơ bản của những thuật ngữ này như sau:
- Bền vững về kinh tế: Lợi ích mang lại lớn hơn chi phí đầu tư và được
truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
- Bền vững về xã hội: Phản ánh sự liên hệ giữa sự phát triển tài nguyên
rừng và tiêu chuẩn xã hội, không diễn ra ngoài sự chấp thuận của cộng đồng
- Bền vững về môi trường: Đảm bảo hệ sinh thái ổn định, giữ gìn bảo toàn
sản phẩm của rừng, đáp ứng khả năng phục hồi rừng trên quá trình tự nhiên
Các khái niệm trên cũng chỉ rõ sự cần thiết phải áp dụng một cách linh hoạt của các biện pháp quản lý rừng phù hợp với từng địa phương và quản lý rừng bền vững phải được thực hiện ở các quy mô từ địa phương, quốc gia đến quy mô toàn thế giới
Trên quan điểm kinh tế sinh thái thì, về mặt nguyên tắc, hiệu quả sinh thái môi trường của rừng hoàn toàn có thể quy đổi được thành những giá trị kinh tế Vì thực chất, việc nâng cao giá trị sinh thái môi trường của rừng sẽ góp phần làm giảm bớt những chi phí cần thiết để cải tạo và ổn định môi trường vật lý cho sự tồn tại của con người và thiên nhiên, duy trì và cải thiện năng suất của các hệ sinh thái cũng như nhiều hoạt động phát triển kinh tế xã hội khác Như vậy, quản lý rừng bền vững thực chất là một hoạt động nhằm góp phần vào sử dụng bền vững, sử dụng tối ưu không gian sống của mỗi địa phương, mỗi quốc gia và toàn thế giới
1.2 Trên thế giới
Đối với các quốc gia trên thế giới, tài nguyên rừng luôn luôn đóng vai trò hết sức quan trọng Cuộc sống của đại đa số người dân đều phụ thuộc vào
Trang 14tài nguyên rừng Đặc biệt là những người dân sống ở miền núi, có đời sống phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu từ các loại lâm sản Môi trường sống của đại bộ phận dân cư ở cả miền xuôi cũng như miền ngược đều dựa vào sự tồn tại của tài nguyên rừng Thế nhưng, những cố gắng tăng cường kiểm soát hành chính đối với các khu rừng quốc gia thường chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các bên và chỉ gây thêm tổn hại đến hệ sinh thái, hơn là bảo tồn và
sử dụng bền vững các hệ sinh thái đó
Nhân dân một số nước trên thế giới đã lên tiếng đòi hỏi các ngành công nghiệp chấm dứt tình trạng khai thác tài nguyên rừng Từ Surinam đến các đảo Solomo, ở ấn Độ, Nêpan, Inđônêxia, Philippin, Ghana, Zimbabuwe, Panama, Mỹ, Canađa và nhiều dân tộc khác, mối quan tâm đối với nạn phá rừng đã thúc đẩy các cộng đồng tổ chức các cuộc biểu tình quần chúng, chặn các con đường chở gỗ, kêu gọi những đại biểu chính trị và các hệ thống pháp luật ngăn chặn nạn phá rừng và làm suy thái tài nguyên rừng [17]
Quản lý rừng bền vững đề cập đến hai khía cạnh quan trọng là xây dựng, bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng phục vụ cho các nhu cầu của con người phải được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và ổn định qua các thế hệ hiện tại và mai sau
Quản lý và sử dụng rừng bền vững bao gồm các quy trình công nghệ, chính sách và hoạt động, nhằm hội nhập những nguyên lý kinh tế-xã hội với các mối quan tâm về môi trường sao cho có thể đồng thời :
- Giảm mức độ nguy cơ cho sản xuất (ổn định)
- Duy trì và nâng cao sự phục vụ sản xuất (sản xuất)
- Có thể đứng vững được kinh tế (kinh tế)
- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội
- Không gây ô nhiễm môi trường
- Nói cách khác, loại hình sử dụng tài nguyên rừng có thể được coi là bền vững nếu như cách sử dụng có tính cân đối về mặt xã hội, có cơ sở về mặt
Trang 15môi trường, được chấp nhận về mặt chính trị, có tính khả thi về mặt kỹ thuật
và phù hợp về mặt kinh tế [36]
Trên thế giới lịch sử quản lý rừng được phát triển từ rất sớm Đầu thế kỷ
18, các nhà lâm học Đức G.L Hartig [40], Heyer [41] hay Hundeshagen [42]
đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi Cũng vào thời điểm đó các nhà lâm nghiệp Pháp (Gournad, 1922) và Thụy Sĩ (H Boiolley) [38] cũng đã đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng đối với rừng khác tuổi khai thác chọn Trong thời kỳ này, hệ thống quản lý rừng phần lớn vẫn dựa trên các mô hình kiểm soát quốc gia từ Trung ương Các khu đất rừng công cộng chiếm từ 25-75% tổng diện tích đất đai của nhiều quốc gia Hiện nay, nhiều Chính phủ vẫn giữ nguyên pháp lý độc nhất kiểm soát toàn bộ các khu rừng tự nhiên các cơ quan Lâm nghiệp được giao bảo vệ những khu đất này thường phải đương đầu với các vấn đề về vốn và nhân sự do ngân sách khu vực công cộng bị giảm xuống trong qúa trình cải tổ kinh tế
Trong giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, hệ thống quản lý rừng thường mang tính tập trung cao ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển [17] Trong thời kỳ này, vai trò tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng không được chú ý Mặc dù trong các quy định pháp luật thì rừng
là tài sản của toàn dân Song, trên thực tế người dân không hề được hưởng lợi
từ rừng và vì vậy người dân cũng không hề quan tâm đến vấn đề xây dựng và bảo vệ vốn rừng Họ chỉ biết khai thác rừng để lấy lâm sản và lấy đất canh tác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của chính họ Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng lên nên tình trạng khai thác qúa mức đối với tài nguyên rừng trong giai đoạn này cũng trở thành nguyên nhân quan trọng của tình trạng suy thái tài nguyên rừng
Bước sang giai đoạn từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị giảm sút một cách nghiêm trọng, môi trường
Trang 16sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền núi bị đe doạ thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích hợp nữa Người ta đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua việc ban bố một số chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên rừng Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở ấn Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp, trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nepan, Thái Lan, Philippin, ) Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi sản xuất nông lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn miền núi, thì quản lý rừng theo phương thức phát triển lâm nghiệp xã hội sẽ là một hình thức mang tính bền vững nhất về cả phương diện kinh tế, xã hội lẫn môi trường sinh thái [43]
Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước về bảo vệ
và phát triển rừng trong đó có Chiến lược bảo tồn (năm 1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt đới (TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường
và phát triển (UNCED tại Rio de Janeiro năm 1992), Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITES), Công ước về Đa dạng sinh học (CBD, 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước về chống sa mạc hoá (CCD, 1996), Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) Những năm gần đây, nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và quốc gia về QLRBV đã liên tục được tổ chức [13] Phân tích khái niệm về quản rừng bền vững của Tổ chức gỗ quốc tế thì QLRBV là cách thức quản lý vừa đảm bảo được các mục tiêu sản xuất, vừa đảm bảo giữ được các giá trị kinh tế, môi trường và xã hội của tài nguyên rừng
Trang 17Là tổ chức đầu tiên áp dụng vấn đề quản lý rừng bền vững ở nhiệt đới,
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế đã biên soạn một số tài liệu quan trọng như
“Hướng dẫn quản lý rừng tự nhiên nhiệt đới” (ITTO, 1990), “Tiêu chí đánh giá quản lý bền vững rừng tự nhiên nhiệt đới” (ITTO, 1992), “Hướng dẫn thiết lập hệ thống quản lý bền vững các khu rừng trồng trong rừng nhiệt đới” (ITTO, 1993) và “Hướng dẫn bảo tồn ĐDSH của rừng sản xuất trong vùng nhiệt đới” (ITTO, 1993 b) Tổ chức ITTO đã xây dựng chiến lược quản lý bền vững rừng nhiệt đới, buôn bán lâm sản nhiệt đới cho năm 2000
Hai động lực thúc đẩy sự hình thành hệ thống QLRBV là xuất phát từ các nước sản xuất các sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn tái lập một lâm phận sản xuất ổn định và khách hàng tiêu thụ sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn điều tiết việc khai thác rừng để đáp ứng các chức năng sinh thái toàn cầu Vấn
đề đặt ra là phải xây dựng những tổ chức đánh giá QLRBV Trên quy mô quốc tế, hội đồng quản trị rừng đã được thành lập để xét công nhận tư cách của các tổ chức xét và cấp chứng chỉ rừng Với sự phát triển của QLRBV, Canada đã đề nghị đặt vấn đề QLRBV trong hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001
Hiện nay, trên thế giới đã có bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia như: Canada, Thuỵ Điển, Malaysia, Indonesia,vv và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng (P&C)”
đã được công nhận và được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình trạng quản lý rừng và xét cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng [27]
Tháng 8/1998, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã họp hội nghị lần thứ 18 tại Hà Nội để thoả thuận về đề nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số về QLRBV ở vùng ASEAN (Viết tắt là C&I ASEAN) Thực
Trang 18chất C&I của ASEAN cũng giống như C&I của ITTO, bao gồm 7 tiêu chí và cũng chia làm 2 cấp quản lý là cấp quốc gia và cấp đơn vị quản lý [14] Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi sản xuất nông lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn, miền núi, thì quản lý rừng theo hình thức phát triển lâm nghiệp xã hội đang là một trong những mô hình được đánh giá cao trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái
Với mục đích quản lý bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc quản lý bền vững các khu bảo vệ Nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra
để áp dụng quản lý rừng bền vững Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và Mgahinga Gorilla thuộc Uganda, Wild và Mutebi đã nghiên cứu giải pháp quản lý, khai thác bền vững một số lâm sản và quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giữa Ban quản lý vườn và cộng đồng dân cư
Trong báo cáo "Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi - Phạm vi vận động" của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed (2000) đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững tại Vườn quốc gia Richtersveld chủ yếu dựa trên hương ước (Contractual Agreement) quản lý bảo vệ tài nguyên, trong đó người dân cam kết bảo vệ ĐDSH trên địa phận của mình còn chính quyền và Ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng hạ tầng
và cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội khác
Tại Vườn Quốc gia Kruger của Nam Phi (2000), nhằm bảo vệ tài nguyên bền vững, Chính phủ đã trao quyền sử dụng đất đai, chia sẽ lợi ích từ
du lịch cho người dân, ngược lại người dân phải tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên tại Vườn quốc gia
Theo Shuchenmann (1999), tại Vườn quốc gia Andringitra của Madagascar, để thực hiện quản lý rừng bền vững, Chính phủ đảm bảo cho người dân được quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi
Trang 19để sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như
có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng Ngược lại, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực
Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999), tại Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hằng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng [37]
Các mô hình quản lý bền vững các khu bảo vệ được nêu trên đã góp phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên Chúng đã đưa ra được một số chính sách như chia sẻ lợi ích, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội vv và một số giải pháp như đồng quản lý, quản lý có sự tham gia của người dân, v.v Tuy nhiên, các mô hình trên chỉ phù hợp với một số quốc gia và một số khu bảo vệ có tiềm năng về du lịch, tài nguyên, đất đai phù hợp
1.3 Ở Việt Nam
Trong những năm qua do dân số tăng nhanh, nhu cầu của xã hội ngày càng cao Nạn khai thác gỗ ồ ạt của lâm tặc, khai thác không đúng quy trình, chỉ chú trọng khai thác mà không chú ý đến tái tạo và nuôi dưỡng rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm cho diện tích và chất lượng rừng ngày càng bị giảm sút, làm suy giảm tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Bên cạnh đó rừng Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi sự huỷ diệt trầm trọng của
2 cuộc chiến tranh kéo dài đã làm cho tài nguyên rừng bị giảm sút vì bom đạn, chất độc hoá học tàn phá nặng nề Nếu như tỷ lệ che phủ của rừng nước
ta năm 1945 là 43% thì đến năm 1976 chỉ còn 33,8% [17] Tỷ lệ che phủ thấp nhất là vào năm 1995 với 28,2% Trong những năm gần đây, sự nỗ lực của nhà nước với những chính sách đổi mới, những chương trình trọng điểm quốc
Trang 20gia như Dự án 327, 661, 147 đã làm cho diện tích rừng tăng lên một cách rõ rệt Đến năm 2000, tỷ lệ che phủ rừng của cả nước đã nâng lên 33,2% [2] và đến cuối năm 2004 là 36,7% [4]
Trước những biến đổi mạnh mẽ của môi trường và hiểm họa sinh thái
có thể xảy ra thì việc quản lý rừng bền vững ngày càng trở nên quan trọng Phần lớn các chương trình, dự án quốc tế hỗ trợ ngành lâm nghiệp hiện nay đều hướng vào QLRBV Những chương trình phát triển lâm nghiệp lớn của Nhà nước như chương trình 327, 661, vv đều xem QLRBV là một trong những mục tiêu quan trọng Lâm nghiệp đang trở thành ngành kinh tế phát triển không chỉ nhờ vào khả năng cung cấp hàng hoá lâm sản mà còn nhờ vào khả năng các hàng hoá và dịch vụ về môi trường đáp ứng yêu cầu trong nước
và quốc tế
Theo tài liệu trong Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp [2], trước năm 1945 quản lý lâm nghiệp được tổ chức theo hạt Ranh giới hạt lâm nghiệp không phụ thuộc nhiều vào ranh giới hành chính tỉnh, huyện mà là đơn
vị quản lý nhà nước trong một lãnh thổ có rừng, có chức năng thừa hành pháp luật Trong thời kỳ này, toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các chức năng để quản lý, sử dụng như sau:
+ Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, người dân được tự do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy Việc khai thác sử dụng lâm sản đang ở mức tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hoá
+ Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở những vùng có dân cư và đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản Những diện tích rừng này được chia thành các đơn vị như khu, từ khu được chia thành các lô khai thác và theo chu kỳ, sản lượng do hạt trưởng lâm nghiệp quản lý, đấu thầu khai thác
Trang 21+ Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ
để tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế, cũng có thể là khu rừng
có tác dụng đặc biệt cần được bảo vệ [17]
Nhìn chung, trong thời kỳ trước năm 1945 tài nguyên rừng Việt Nam khá phong phú, nhu cầu lâm sản của con người còn thấp, mức độ tác động của con người vào tài nguyên rừng chưa cao, vấn đề QLRBV chưa được đặt ra Theo số liệu thống kê tài nguyên rừng khu vực Đông Dương, diện tích rừng nước ta vào năm 1943 còn khoảng 14,3 triệu hécta, tương đương độ che phủ 43% [17]
Từ sau hoà bình lập lại rừng được chia thành 3 chức năng để quản lý sử dụng đó là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Tổ chức quản lý
sử dụng 3 loại rừng được hình thành và phát triển từ năm 1986 [17]
Trong thời kỳ này, hoạt động của ngành lâm nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Ngay sau khi hoà bình lập lại, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trường quốc doanh Nhiệm
vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế và của nhân dân, việc xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt ra nhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức Cùng với mức độ tăng nhanh về dân số, tình trạng chặt phá rừng tự nhiên lấy đất sử dụng canh tác nông nghiệp, lấy các sản phẩm gỗ, củi và các lâm sản khác càng diễn ra nghiêm trọng hơn Những hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên rừng như trên đã làm cho tài nguyên rừng nước ta bị tàn phá một cách nặng nề Diện tích rừng đã bị thu hẹp từ 14,3 triệu ha năm 1943 xuống còn khoảng 10 triệu ha năm 1985 Giai đoạn từ năm 1946 - 1960, công tác bảo vệ rừng chủ yếu là khoanh nuôi bảo vệ, hướng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nương rẫy, ổn định công tác định canh, định cư, khôi phục kinh
tế sau chiến tranh Giai đoạn 1961 - 1975 QLBVR được đẩy mạnh, khoanh nuôi tái sinh rừng gắn chặt với định canh, định cư Công tác khai thác rừng đã
Trang 22chú ý đến thực hiện theo các quy trình, quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh tự nhiên Nhìn chung, công tác QLBVR được thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Sau ngày thống nhất đất nước, Nhà nước quản lý toàn bộ tài nguyên rừng thông qua các lâm trường quốc doanh, người dân và cộng đồng
đã bị tách rời khỏi các hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên rừng Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên rừng một cách nhanh chóng ở nước ta
Do yêu cầu về chức năng bảo tồn và phòng hộ của rừng ngày càng trở nên quan trọng, để đảm bảo môi trường bền vững phục vụ cho phát triển kinh
tế, xã hội nên các hoạt động lâm nghiệp đặc biệt quan tâm đến 2 loại rừng đặc dụng và phòng hộ Tháng 11/1997 Quốc hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010, trong đó gồm 2 triệu ha rừng đặc dụng, phòng hộ và 3 triệu ha rừng sản xuất Hiện nay, Nhà nước ta đã có hệ thống luật pháp và những chính sách quan trọng để quản lý, bảo vệ phát triển rừng, đó là:
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi 2004;
- Luật Bảo vệ Môi trường;
- Luật Đất đai;
- Nghị định 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính Phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
- Chỉ thị 12/2003/CT-Ttg ngày 16/5/2003 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng;
- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Thông tư số 56/1999/TT/BNN-KL ngày 30/3/1999 của Bộ NN&PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, ấp
Trang 23- Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/1/2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy chữa cháy rừng
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
- Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng
- Quyết định 245/1998/QĐ - TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất Lâm nghiệp
- Quyết định số 186/1006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng
- Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của Bộ NN&PTNT
về việc ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản khác
- Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010
- Chiến lược phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2010 và
Dự thảo chiến lược Lâm nghiệp quốc gia 2006 - 2020
Ngoài ra, còn nhiều các văn bản pháp quy khác được ban hành từ Bộ NN
& PTNT, liên bộ và cả từ chính quyền địa phương về những vấn đề liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng Những văn bản quy phạm đó đã góp phần giúp các địa phương và ngành Lâm nghiệp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả hơn
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều quan tâm đến công tác QLBVR và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng bằng các giải pháp chính sách, tổ chức quản lý và xã hội hoá nghề rừng Cụ thể đã thực hiện cắt giảm sản lượng khai thác tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên, đẩy mạnh và phát triển rừng trồng sản xuất, phát triển kinh tế trang trại, phát triển lâm nghiệp
Trang 24theo hướng xã hội hóa nghề rừng, Bên cạnh đó, việc thiết lập các khu rừng đặc dụng, xây dựng các dự án trồng và bảo vệ rừng phòng hộ cũng rất được quan tâm thực hiện
Thấy được tầm quan trọng và giá trị to lớn của tài nguyên rừng và ĐDSH, từ năm 1962 Nhà nước ta đã thành lập rừng cấm Cúc Phương, đây là rừng đặc dụng đầu tiên của nước ta Đến nay năm 2003, trên toàn quốc đã có
26 vườn Quốc gia và 99 khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan và khu bảo tồn loài, sinh cảnh với tổng diện tích rừng đặc dụng là 2.541.675 ha [3]
Công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng đã có nhiều tiến bộ, Nhà nước có nhiều điều kiện thuận lợi để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng Cụ thể năm 1992, Chính phủ đã phê duyệt chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (chương trình 327) giai đoạn 1993-1998; tiếp đó là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được thực hiện từ năm 1998-2010 với mục tiêu là xây dựng, bảo vệ rừng để đảm bảo an toàn môi trường sinh thái, đồng thời thoả mãn nhu cầu lâm sản phục vụ cho nền kinh tế quốc dân
Hưởng ứng phong trào Quốc tế "Rừng và con người", tháng 6/1997 Bộ
NN & PTNT thay mặt Chính phủ nước ta đã ký cam kết bảo tồn ít nhất 10% diện tích rừng gồm các hệ sinh thái rừng hiện có và cùng với cộng đồng Quốc
tế, Việt Nam sẽ tham gia thị trường lâm sản bằng các sản phẩm được dán nhãn là khai thác hợp pháp từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ trong khối AFTA và WTO [12]
Hiện nay ở Việt Nam, tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV được tổ công tác FSC Việt Nam biên soạn trên cơ sở điều chỉnh bổ sung những tiêu chuẩn và tiêu chí quản lý rừng của FSC quốc tế, có sử dụng những ý kiến đóng góp của các nhà quản lý và sản xuất lâm nghiệp trong nước và trên thế giới, để vừa đảm bảo những tiêu chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và đã được Ban giám đốc FSC quốc tế phê duyệt năm 1999 Do những tiêu chuẩn và những tiêu chí áp dụng chung cho toàn quốc, đồng thời phải
Trang 25phù hợp với tiêu chuẩn chung của quốc tế nên việc áp dụng không thể phù hợp hoàn toàn trong mọi trường hợp và mọi điều kiện ở từng địa phương Vì vậy, khi áp dụng những tiêu chuẩn và những tiêu chí cần có sự mềm dẻo trong một phạm vi nhất định, được các tổ chức chứng chỉ rừng quốc tế và FSC quốc gia chấp nhận [35], [23]
Về cơ sở lý luận, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững Một số đề tài nghiên cứu đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể áp dụng cho một số vùng như:
- Quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê San của
Phạm Đức Lâm và Lê Huy Cường 1998 [14], các tác giả đã đưa ra các giải pháp về quản lý và sử dụng tài nguyên rừng bền vững tại lưu vực sông Sê San;
- Quản lý bền vững rừng khộp ở EaSúp - Đắc Lắc của Hồ Viết Sắc
1998 [19], tác giả đã đề xuất một số giải pháp về xã hội và quản lý nhằm quản
lý bền vững rừng khộp ở Ea Súp - Đắc Lắc;
- Du canh với vấn đề QLBVR ở Việt Nam của Đỗ Đình Sâm 1998 [20],
tác giả đã phản ánh thực trạng du canh, đánh giá sự ảnh hưởng của nó đồng thời nêu lên một số giải pháp chính sách về định canh và biện pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc nhằm quản lý rừng bền vững ở Việt Nam;
- Sử dụng đất tổng hợp bền vững của Nguyễn Xuân Quát năm 1996
[18], tác giả đã nêu lên những điều cần biết về đất đai, phân tích tình hình sử dụng đất, các mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam, đồng thời đã đề xuất tập đoàn cây trồng nhằm sử dụng bền vững và ổn định đất rừng;
- Cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng của Trần Văn Con năm 1999 [9], tác giả đã đánh giá lại các
nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên ở vùng Tây Nguyên để xem xét thực trạng sự hiểu biết, khả năng ứng dụng sự hiểu biết về cấu trúc rừng tự nhiên trong kinh doanh rừng tự nhiên;
Trang 26- Nghiên cứu phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia của Trần Ngọc Lân và cộng sự (1999) thực hiện tại Vườn
Quốc gia Pù Mát [15], các tác giả đã đề xuất một số giải pháp về mặt xã hội
và kinh tế để phát triển bền vững vùng đệm của Vườn Quốc gia Pù Mát;
- Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống của Suree và Đào Thị Minh Châu (2004) [30], các tác giả đã đánh giá
thực trạng và ảnh hưởng của việc khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ đồng thời đã nêu ra được một số giải pháp về xã hội và kỹ thuật nhằm quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống;
- Dự án kết hợp bảo tồn và phát triển (Integrated Conservation and Development - ICD) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên do Quỹ Quốc tế về Bảo tồn
thiên nhiên (WWF) tài trợ (1997), trong dự án này chỉ đưa ra giải pháp đồng quản lý tài nguyên trong đó đề cập đến sự tham gia quản lý tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương và các bên liên quan mà chưa đề cập đến các giải pháp khác nhằm QLRBV
QLRBV đang được đặt ra như một vấn đề bức xúc cả về quan điểm, phương pháp luận đến những giải pháp cụ thể Các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm trong nước và quốc tế về QLRBV thực sự là những bài học quý cho quản lý rừng ở mỗi địa phương Vấn đề đặt ra là quản lý rừng như thế nào được coi là quản lý bền vững? Để quản lý tài nguyên rừng bền vững cần phải thoả mãn những điều kiện gì? Trong các giải pháp quản lý, giải pháp nào sẽ tác động tích cực đến quản lý tài nguyên rừng bền vững trên địa bàn nghiên cứu? Đây chính là những câu hỏi mà nghiên cứu này cần giải quyết tại các khu rừng núi đá vôi ở huyện Tràng Định, nơi mà công tác quản lý tài nguyên rừng còn gặp nhiều khó khăn do chưa có những nghiên cứu cụ thể về các giải pháp Vì lý do đó, đề tài luận văn đặt ra là cần thiết
Trang 27CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc quản lý bền vững tài nguyên rừng núi đá vôi tại huyện Tràng Định
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được hiện trạng tài nguyên rừng và làm rõ thực trạng quản
lý tài nguyên rừng ở khu vực rừng núi đá huyện Tràng Định, Lạng Sơn
- Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với quản lý tài nguyên rừng ở khu vực rừng núi đá huyện Tràng Định, Lạng Sơn
Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng núi đá ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
2.3 Giới hạn nghiên cứu
- Về địa điểm: Giới hạn ở các khu rừng núi đá vôi thuộc 3 xã Tri Phương, Quốc Khánh, Chí Minh của huyện Tràng Định, Lạng Sơn
- Về nội dung nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến tài nguyên rừng, những giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng núi đá vôi tại huyện Tràng Định- tỉnh Lạng Sơn
2.4 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đặt ra các nội dung nghiên cứu sau đây:
Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng khu vực rừng núi đá huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Đánh giá thực trạng quản lý tài nguyên rừng tại khu vực rừng núi đá huyện Tràng Định, Lạng Sơn
Đánh giá được các yếu tố thuận lợi khó khăn đối với quản lý tài nguyên rừng ở khu vực rừng núi đá huyện Tràng Định, Lạng Sơn
Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại khu vực rừng núi đá huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Trang 282.5 Phương pháp nghiên cứu
Hình 3.1 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu 2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Trong đề tài này chúng tôi kế thừa những tài liệu như: Thể chế, chính sách trong nông lâm nghiệp ở Việt Nam như Luật đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Chính sách giao đất lâm nghiệp, Chính sách khoán bảo vệ rừng; quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; trách nhiệm quản lý Nhà nước các cấp về rừng và đất lâm nghiệp,vv
- Những tài liệu đã có về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và nhân văn của khu vực rừng núi đá huyện Tràng Định, Lạng Sơn
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu thực địa
2.5.2.1 Thu thập số liệu về hiện trạng tài nguyên rừng
Xác định tuyến và OTC cần điều tra:
Chọn và lập tuyến điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu Tuyến điều tra phải đi qua tất cả các trạng thái rừng có trong khu vực nghiên cứu
Điều tra sơ bộ
xã hội liên quan đến quản lý rừng
Các thông tin
về thực trạng quản lý rừng trong vùng nghiên cứu
Các thông tin
về thể chế, chính sách trong quản lý rừng
Phân tích, xử lý, đánh giá
thông tin
Đề xuất các giải pháp quản lý rừng
bền vững
Trang 29Trên tuyến điều tra cứ khoảng cách 500m chiều dài lập về 2 phía theo hình xương cá các tuyến phụ Trên các tuyến phụ tiến hành điều tra các loài thực vật ở trong phạm vi 10m2
5 tuyến điều tra được xác định đại diện tại 3 xã Quốc Khánh, Chí Minh
và Tri Phương Trong đó 2 tuyến lập tại xã Quốc Khánh với 12 tuyến phụ; xã Chí Minh lập 2 tuyến điều tra với 13 tuyến phụ; xã Tri Phương lập 1 tuyến điều tra với 6 tuyến phụ
Điều tra tuyến kết hợp điều tra phỏng vấn người dân về hiện trạng tài nguyên động vật tại khu vực nghiên cứu
Thu thập số liệu:
- Thực vật rừng
Thu thập danh lục các loài thực vật chủ yếu, thường gặp trên tuyến điều tra và trong mỗi ô điều tra của tuyến phụ, thống kê các chỉ tiêu tầng cây gỗ, tầng tái sinh, cây bụi và thảm tươi như sau:
+ Đo đường kính với những cây gỗ có D1.3 ≥ 6cm bằng thước kẹp kính hoặc thước đo chu vi sau đó quy đổi ra đường kính
+ Đo chiều cao Hvn và Hdc bằng thước sào đo cao chia vạch đến 0,1m + Đo đường kính tán Dt theo hướng ĐT - NB sau đó lấy giá trị trung bình
Số liệu được ghi chép vào các phiếu điều tra sau:
Trang 30BIỂU 01: ĐIỀU TRA THỐNG KÊ TẦNG CÂY GỖ
Thôn: Xã:
Huyện: Ngày
Trạng thái rừng: núi đá Tuyến:
Người đo đếm: Khoảng cách
BIỂU 02: ĐIỀU TRA THỐNG KÊ TẦNG CÂY TÁI SINH
VÀ CÂY BỤI THẢM TƯƠI
Trạng thái rừng: núi đá Tuyến:
Người đo đếm: Khoảng cách
Diện tích:10m2
Cấp chiều cao (m)
≤ 0,5 0,6 - 1,0 1,1-1,5 1,6-2,0 2,1-3 3,1-5,0 ≥5,0 TTÔĐV
NCST
Loài cây
TS Chất lượng Tổng
H Ch H Ch H Ch H Ch H Ch H Ch H Ch
Cây bụi thảm tươi
Phân ÔĐĐ
loài Đ1.3 (cm) H(m) Loài H(m) Độ nhiều Tầng Độ dày(cm) Ghi chú
Trang 31Thu hái và sử lý mẫu: Việc thu mẫu là nhiệm vụ quan trọng làm cơ sở để xác định tên loài và xây dựng sơ bộ bảng danh lục thực vật của khu vực nghiên cứu Mẫu thu thập được chọn điển hình (gồm hoa, quả nếu có) đưa vào kẹp tiêu bản và đưa về phòng thí nghiệm sử lý sau đó đem đi xác định tên loài
Dấu phân
Khoảng cách (m)
Ghi chú
PHỎNG VẤN NGƯỜI DÂN
TT Tên và địa chỉ người được phỏng vấn
Loài và số lượng săn được trong 2 năm qua
Người dân: 21 người
Cán bộ địa phương: 3 người
Trang 32Các đối tượng được phỏng vấn điều tra là những người có uy tín trong cộng đồng, có ý thực xây dựng với những nội dung đưa ra, đại diện các thành phần khác nhau trong cộng đồng thôn bản Quá trình phỏng vấn đều có sự hợp tác của trưởng xóm, cán bộ kiểm lâm địa bàn
Nội dung phỏng vấn về các chủ đề:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và nhân văn
- Thực trạng về quản lý và sử dụng tài nguyên rừng
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, nhân văn đến hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên rừng
- Những giải pháp nhằm góp phần quản lý rừng bền vững ở địa phương Công cụ điều tra chủ yếu là bảng các câu hỏi phỏng vấn với những câu hỏi định hướng và bán định hướng
2.5.3 Phương pháp sử lý số liệu
- Các loài cây sau khi được định tên, xắp xếp theo thứ tự phân loại theo các ngành, họ Sau khi đã xác định được loài, tiến hành kiểm tra lại tên khoa học để hạn chế mức độ nhầm lẫn Xây dựng bảng danh lục thực vật được phân loại theo căn cứ và tiêu chuẩn của IUCN, sách đỏ Việt Nam (2007) và nghị định số 32 NĐ/CP ngày 30-3-2006 của Chính phủ để lập danh lục các loài quý hiếm Đánh giá xắp xếp thống kê các loài thực vật trong khu vực theo giá trị về công dụng theo các nhóm chính
Các số liệu, thông tin sẽ được sắp xếp, chỉnh lý theo thư tự ưu tiên, mức độ quan trọng của vấn đề và được tổng hợp, phân tích và đánh giá theo phương pháp SWOT, khung logic và bằng các phần mềm thông dụng Excel
Trang 33CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực tài nguyên rừng núi đá của 3 xã Quốc Khánh, Tri Phương, Chí Minh thuộc địa giới hành chính huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn cách thị trấn Thất Khê khoảng 15km về phía Bắc và Đông Bắc:
Về ranh giới:
- Xã Chí Minh
Phía Bắc giáp huyện Thạch An, Tỉnh Cao Bằng
Phía Đông giáp xã Tri phương
Phía Tây giáp xã Vĩnh Tiến, Tân Tiến
Phía Nam giáp xã Kim Đồng và xã Chi Lăng
- Xã Tri Phương
Phía Bắc giáp xã Quốc Khánh
Phía Đông giáp xã Đội Cấn
Phía Tây giáp xã Chí Minh, Chi Lăng
Phía Nam giáp xã Đại Đồng
- Xã Quốc Khánh
Phía Đông giáp huyện Long Châu, Tỉnh Quảng Tây-Trung Quốc
Phía Bắc, Tây Bắc giáp huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng
Phía Nam giáp với các xã Tri Phương, Đội Cấn
Phạm vi nghiên cứu nằm trong địa giới hành chính của huyện Tràng Định bao gồm một phần diện tích của 3 xã thuộc huyện Tràng Định gồm: xã Quốc Khánh, diện tích tự nhiên 6.225,21ha Tổng diện tích đất quy hoạch vùng núi đá là 1.414,75ha; xã Tri Phương, diện tích tự nhiên 4.317,85ha
Trang 34Tổng diện tích quy hoạch vùng núi đá là 495,4 ha; xã Chí Minh, diện tích tự nhiên 5.245,15ha Tổng diện tích quy hoạch vùng núi đá là 555ha Tổng diện tích rừng núi đá toàn huyện là 2.465,15ha
3.1.2 Địa hình địa mạo
Nhìn chung, địa hình Khu vực rừng núi đá huyện Tràng Định bị chia cắt khá mạnh, do lịch sử kiến tạo địa chất và tạo sơn hình thành Chúng có đặc điểm chung là: núi đá có dốc lớn, bị chia cắt sâu Có 3 kiểu địa hình chính như sau:
+ Nhóm kiểu địa hình đồi núi thấp: Nhóm này chiếm điện tích khá lớn,
có độ cao dưới 600m, là nơi hoạt động sản xuất lâm nghiệp của khu vực
+ Núi kiểu địa hình núi đá vôi: Nhóm này chiếm hầu hết diện tích, chúng có kiểu kiến trúc dễ nhận biết, độ cao trung bình trên 600m
+ Nhóm kiểu địa hình trũng nằm xen kẽ giữa núi đá vôi và núi đồi đất: Nhóm này có địa hình thấp, bằng phằng, ở giữa những dãy núi thường xuất hiện những con sông, suối và những cánh đồng lúa hoặc hoa màu của dân chúng
3.1.3 Khí hậu
Khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, khá lạnh về mùa đông, mặt khác do ảnh hưởng bởi hoàn cảnh địa lý tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn so với các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và thường có sương muối vào mùa đông
Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ không khí trung bình năm 210C; nhiệt độ không khí tối thấp trung bình năm 19,30C, nhiệt độ không khí tối cao trung bình năm 26,90C
Lượng mưa trung bình năm từ 1400mm đến 1600 mm
Tốc độ gió trung bình năm 0,9m/s
Trang 353.1.4 Thuỷ văn
Đặc điểm nổi bật của hệ thống thuỷ văn trong khu rùng núi đá là mật
độ dòng chảy bề mặt thấp do điều kiện địa hình núi đá vôi, nhiều hang động Các-xtơ và suối ngầm
Dòng chảy tương đối hẹp, độ dốc dòng chảy tương đối lớn Có suối ngầm, có sự xuất hiện đột ngột dòng chảy trên bề mặt tạo nên cảnh quan đẹp trong khu bảo tồn thiên nhiên
Lượng nước chảy thường xuyên quanh năm Tuy mưa mùa, tập trung song hầu như chưa xảy ra lũ ống, lũ quét, gây hậu quả lớn cho sản xuất và đời sống cho nhân dân
Điều kiện khí hậu cùng với đặc điểm địa hình địa mạo tạo nên những vùng có tài nguyên động, thực vật rừng phong phú, đặc hữu và quý hiếm
3.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng
Qua điều tra, đất đai tại khu bảo tồn gồm 2 loại chính:
- Nhóm đất màu nâu đỏ (feranit) trên núi đá vôi và những nơi dốc tụ chân núi đá:
Loại đất này thường nằm kẹp giữa những dãy núi đá vôi, trên đất thường xuyên xuất hiện nhiều đá lộ đầu, nhưng đất có độ phì cao nên thường
bị đồng bào phát nương làm rẫy Đất có thành phần cơ giới nặng, hơi chua (pH=5,5-6,5), tầng B phát triển mạnh và có mầu đỏ tươi rất dễ nhận biết
Xen kẽ loại đất đỏ có loại đất xám trên đá vôi với diện tích không lớn, nhưng độ phì cao hơn, hàm lượng mùn và tầng mùn lớn hơn, kết cấu đất đa phần là hạt, trên loại đất này đồng bào thường trồng ngô, khoai sọ, cây trồng sinh trưởng rất tốt
- Loại đất đỏ vàng hoặc vàng xám trên phiến thạch sét và đá biến chất: Đây là loại đất chiếm diện tích khá lớn, nó được phân bố ở các thôn: Pắc Bó, (xã Chí Minh), thôn Lũng Sàng (xã Tri Phương) Tầng đất của nó từ
Trang 36mỏng đến trung bình và dày Phân bố chủ yếu ở các vùng đồi núi đất có độ cao dưới 300-600 m, loại đất này có thành phần cơ giới biến động khá mạnh nằm trong giới hạn từ cát pha đến thịt nặng nói chung, trên các loại đá biến chất có thành phần cơ giới nhẹ hơn so với trên đá phiến thạch sét
Trong khu vực điều tra có độ cao trên 600-700 m vùng núi đất cũng xuất hiện loại đất này, nhưng loại đất này ở vùng cao, còn rừng già nên có lượng mùn nhiều hơn, tầng A1 phát triển hơn và mầu sẫm hơn, tầng B có hàm lượng mùn khá lớn, có nơi có cả tầng AB Độ dày tầng đất thuộc loại trung bình, nhiều nơi có đá lẫn với hàm lượng khá lớn, đất thuộc loại chua
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, lao động và dân tộc
3.2.1.1 Dân số và Lao động
Theo thống kê dân số tính đến hết tháng 6 năm 2011, dân số trong vùng
là 5.607 nhân khẩu, sinh sống tại 1.503 hộ gia đình, trên địa bàn 26 thôn bản, thuộc 3 xã Mật độ dân số trong vùng bình quân là: người/km2 Phân bố dân
cư không đều, đa số các thôn bản tập trung ở thung lũng, gần sông suối, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trục đường giao thông
Tổng số lao động trong vùng là 5.125 lao động chiếm 82,07% dân số, trong đó lao động nông nghiệp là chủ yếu: chiếm 96,89 %; còn lại là lao động thuộc các ngành nghề khác bao gồm cán bộ chủ chốt xã, cán bộ y tế, giáo dục
3.2.1.2 Dân tộc và phong tục tập quán canh tác, sử dụng rừng
Trong khu vực có 5 dân tộc chủ yếu sinh sống là Tày, Hoa, Nùng, Kinh Dân tộc Tày có số dân đông nhất với 3.215 người, chiếm 57% Tiếp đến là dân tộc Nùng với 1.216 người, tỷ lệ 33% Dân tộc Kinh có 806 người, chiếm 6% Dân tộc Dao và Hoa có 370 người, chiếm 4% Cùng chung sống trong một cộng đồng, đã có nhiều hoạt động học tập, trao đổi, giao lưu lẫn nhau nhưng giữa các dân tộc vẫn có những phong tục tập quán canh tác khác nhau
Trang 373.2.2 Tình hình kinh tế trong khu vực
Theo kết quả điều tra dân sinh kinh tế xã hội, cuộc sống của nhân dân trong khu vực còn ở mức thấp Tổng sản lượng lương thực bình quân năm đạt: 4.198 tấn, trung bình đạt 650kg thóc/người/năm Thu nhập bình quân đạt 3,5-4 triệu đồng/người/năm Số hộ nghèo trong khu vực là 442 hộ, chiếm 29,4% tổng số hộ Do cuộc sống khó khăn, người dân thường xuyên vào rừng kiếm củi, khai thác gỗ, để kiếm sống đã tác động xấu đến rừng Đây là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm giá trị của rừng cả về diện tích
và chất lượng
3.2.3 Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Giao thông trong vùng chưa phát triển Toàn bộ hệ thống
giao thông chỉ có gần 150 km đường ô tô Trong đó đường ô tô đi qua địa bàn
3 xã là 23 km đường nhựa, đường ô tô đi lại trong khu vực nghiên cứu chỉ được cứng hóa 2km, còn lại là đường cấp phối và đường đất 3 xã Tri Phương, Quốc Khánh, Chí Minh đều đã có đường ô tô đến được trung tâm xã Tuy nhiên riêng xã Chí Minh chất lượng đường rất xấu nên việc đi lại rất khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa lũ
- Thủy lợi: Hệ thống kênh mương đã xây dựng được 60km, trong đó có
31km kênh mương cứng còn lại là mương đất Hiện nay, một số đoạn kênh mương đã xuống cấp và hiệu suất sử dụng các công trình này chưa cao, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất
- Điện: Tất cả các xã trong khu vực đã có hệ thống điện lưới quốc gia
Tuy nhiên, đường điện mới chỉ được kéo đến các trung tâm xã và một số thôn bản nằm ven đường giao thông chính của xã Các bản nằm xa trục đường chính vẫn chưa được sử dụng điện Hiện tại, một số hộ sử dụng máy thủy điện nhỏ, ách quy kích điện và máy nổ để phát điện sử dụng trong gia đình
- Y tế, giáo dục: Các xã trong khu vực đều đã xây dựng trạm y tế đặt ở trung tâm xã Tại các trạm y tế các xã có 3 bác sỹ, 4 y sỹ, 2 y tá, 4 điều
Trang 38dưỡng, 3 hộ sinh và 3 cán bộ dân số hoạt động khám chữa bệnh cho nhân dân trong vùng Ngoài ra còn có 9 cộng tác viên tham gia y tế cộng đồng, 9 y sỹ hoạt động y tế học đường Về giáo dục: Toàn bộ khu vực có 7 trường, 95 lớp với 3 cấp học: mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở Các trường ở trung tâm các xã được xây dựng khá khang trang nên điều kiện học tập đã cơ bản đảm bảo việc dạy và học của giáo viên và học sinh Còn lại một số trường ở các thôn bản, nhất là các lớp tiểu học chưa được xây dựng kiên cố Cơ sở vật chất rất thiếu thốn
3.3 Nhận xét và đánh giá chung
3.3.1 Thuận lợi
- Khu rừng núi đá huyện Tràng Định có giá trị cao về đa dạng sinh học,
có hệ động thực vật đa dạng và phong phú Đặc biệt có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm, nhiều loài có trong sách đỏ Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng cho việc bảo tồn tài nguyên động thực vật tại địa phương
- Thảm thực vật rừng ở Khu núi đá có tỷ lệ che phủ cao, mang một ý nghĩa lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất, đặc biệt là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài sinh vật trong khu vực
- Tiềm năng du lịch: Trong khu vực nghiên cứu có rất nhiều di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh có thể khai thác tiềm năng du lịch như Hang Cốc Mười, Hang Bản Bó, Suối Bông Lau,… và với một diện tích lớn rừng kín thường xanh trên núi đá vôi có tiềm năng du lịch sinh thái rất lớn
- Trong khu vực có Hạt kiểm lâm Tràng Định hoạt động tích cực đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác bảo vệ và quản lý rừng núi đá
3.3.2 Khó khăn
- Dân cư sống trong vùng chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu
Trang 39dựa vào rừng, vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo tồn tài nguyên
trong vùng như canh tác nương rẫy, săn bắn, khai thác gỗ củi,…
- Ban phát triển rừng của xã và thôn đã được thành lập, hoạt động tích cực, song chưa thực sự phát huy được vai trò nòng cốt thúc đẩy nền kinh tế lâm nghiệp khu vực phát triển và bảo vệ rừng Công tác chuyển giao kỹ thuật lâm nghiệp tiến hành vẫn còn chậm
- Người dân trong vùng có trình độ dân trí thấp, thiếu kiến thức hiểu biết về bảo tồn thiên nhiên Đồng bào ở đây chưa được giáo dục tuyên truyền
về bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên
- Cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn Địa bàn rộng, địa hình phức tạp, các cụm dân cư sống rải rác, nhiều thôn bản sống ở nơi cao xa Đó là những điều kiện bất lợi cho việc đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng xã hội của khu vực
- Công tác định canh định cư đã được Đảng và Chính phủ quan tâm nhưng nguồn vốn quá ít và nhỏ giọt, hoặc còn mang tính chất rải đều nên hiệu quả chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý tài nguyên rừng
Trang 40Tỷ lệ 1/10.000
Hình 2.1 Khu vực nghiên cứu