Xuất phát từ thực tế đó, một yêu cầu cấp bách cần đặt ra đối với VQG Ba Bể là cần phải tìm ra một nguồn sinh kế mới cho người dân, từ đó giảm áp lực của người dân vào tài nguyên rừng và
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Lý Văn Trọng
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lý Văn Trọng và Th.S
La Quang Độ - người hướng dẫn khoa học - đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong thời gian thực hiện luận văn
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Vườn quốc gia Ba Bể, UBND huyện Ba
Bể, UBND các xã Khang Ninh, Cao Thượng, Quảng Khê, những người đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình làm việc, học tập và hoàn thành luận văn
Cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện nhưng luận văn vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả
Trần Thị Linh
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2 Thống kê tỷ lệ hộ nghèo khu vực nghiên cứu 30Bảng 3.3 Thống kê các loại gia súc gia cầm ở 3 xã 32
Bảng 4.4 Xếp hạng ưu tiên cơ cấu cây trồng LSNG dùng làm thực phẩm ở xã Khang Ninh 42
Bảng 4.5 Xếp hạng ưu tiên cơ cấu cây trồng LSNG dùng làm thực phẩm ở xã Quảng Khê 43Bảng: 4.6 Xếp hạng ưu tiên cơ cấu cây trồng LSNG ở xã Cao Thượng 45
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
Chương 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ 3
1.2 Nghiên cứu trên thế giới 3
Chương 2 18
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18
2.1.1 Mục tiêu chung 18
Chương 3: 24
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 24 3.1 Điều kiện Kinh tế - Xã hội khu vực nghiên cứu 24
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.1.1 Vị trí địa lý 24
3.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 28
3.1.2.1 Dân số, lao động và việc làm 28
3.1.2.2 Đặc điểm kinh tế 29
3.2 Tình hình sản xuất kinh doanh 29
3.2.1 Sản xuất nông nghiệp 29
3.2.2 Sản xuất lâm nghiệp 30
3.2.3 Chăn nuôi 30
3.2.4 Cơ sở hạ tầng 31
3.3 Đánh giá chung về điều kiện cơ bản 33
3.3.1 Những thuận lợi 33
3.3.2 Khó khăn 34
Chương 4: 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Điều tra, đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển các loài cây LSNG ở khu vực nghiên cứu 35
4.1.1 Thực trạng gây trồng các loài cây LSNG tại khu vực nghiên cứu 35
Trang 54.1.2 Xác định cơ cấu cây trồng LSNG có giá trị và tiềm năng phát triển của các
xã nghiên cứu 40
4.1.3 Tình hình khai thác, sử dụng và thị trường tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ ở một số thôn trên địa bàn nghiên cứu 44
4.2 Kết quả điều tra kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng và gây trồng các loài LSNG có giá trị tại khu vực nghiên cứu 49
4.2.1 Kinh nghiệm khai thác và sử dụng các loài LSNG có giá trị 49
4.2.2 Tình hình về gây trồng các loài cây LSNG có giá trị 53
4.2.3 Kiến thức về phân bố sinh thái 56
4.2.4 Đánh giá chung về kiến thức bản địa 57
4.3 Đề xuất những giải pháp để phát triển loài cây LSNG có giá trị kinh tế cao có tiềm năng 58
4.3.1.Giải pháp về chính sách 58
4.3.2 Giải pháp về kỹ thuật 60
4.3.3 Giải pháp thực hiện và quản lý 64
Chương 5: 65
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận: 65
5.2 Tồn tại: 67
5.3 Khuyến nghị: 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 6MỞ ĐẦU
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái rừng
Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, dây leo, hệ động vật và vi sinh vật rừng)
và môi trường vật lý của chúng (đất đai, nguồn nước, khí hậu,…) Hệ sinh thái rừng như vậy có tính đa dạng sinh học rất cao Từ hệ sinh thái này, nếu giữ nguyên các loại cây gỗ đứng, người ta vẫn có thể thu hoạch các loại lâm sản khác có thể khái quát vào các nhóm sản phẩm như: Nấm ăn, dược liệu, cây cho hạt, cây có dầu, cây cho sợi, phấn
và mật hoa, cây có thể làm thức ăn gia súc, rau rừng, trái cây rừng ăn được, song, mây, tre, cây cho nhựa, hoá chất, động vật rừng (côn trùng và động vật khác), nguồn gen cho các sản phẩm trên, sinh thái rừng và môi trường du lịch, thủy điện, …
Ở Việt Nam, LSNG đã được khai thác, sử dụng nhiều từ thời cổ đại và nhiều loại LSNG được coi là những sản vật qu ý của đất nước như Linh chi, Tiền thảo; Ngũ gia bì; Thiên niên kiện, LNSG có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với rất nhiều cộng đồng, đặc biệt là đồng bào miền núi Giá trị LSNG của rừng được thể hiện như rừng cung cấp lương thực (củ Mài, củ Gạo,…), thực phẩm (Nấm, măng, rau rừng,…), Các loại cây cho hạt (Đào lộn hột; Các loại dẻ ), cung cấp dược thảo chữa bệnh (Nhân sâm, Hà thủ
ô, Linh chi,…), cung cấp nguyên vật liệu xây dựng, làm đồ gia dụng, đan lát (các loại tre nứa, song mây),
VQG Ba Bể là một di sản thiên nhiên quý giá và có cảnh đẹp lôi cuốn khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm ngày càng tăng Đó là một phức hệ gồm hồ, sông, núi đá vôi từ dốc vừa đến dốc đứng, xen giữa có nhiều núi đất tạo nên cảnh quan đa dạng và phong phú Nằm ở độ cao 150m so với mực nước biển nhưng Ba Bể bốn mùa đầy nước Hồ có cấu tạo khá đặc biệt, thắt ở giữa và phình ra ở hai đầu, gồm 3 hồ lớn thông nhau là: Pé Lèng, Pé Lù, Pé Lầm và từ đó mà thành tên Ba Bể Hồ nhận nước từ hai nguồn chính là sông Tà Han và sông Chợ Lèng Hồ còn có chức năng điều tiết, phân nước cho sông Năng vào mùa cạn và như một bế chứa cho sông vào mùa mưa lũ Chính
vì có sự lưu thông với các dòng sông mà nước hồ Ba Bể luôn vận động khiến cho nước
hồ sạch và trong xanh
Cộng đồng dân cư tại những khu phục hồi sinh thái, khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia, các khu bảo đã sống ở đây từ rất lâu đời và cuộc sống của họ chủ yếu
Trang 7dựa vào rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên quanh hồ Phần lớn các hộ gia đình đều thuộc diện đói nghèo (xã Nam Mẫu thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II) Trong những năm qua, những hành vi xâm phạm của cộng đồng vào tài nguyên rừng như đốt nương làm rẫy, săn bắn động vật hoang dã, khai thác gỗ trái phép thường xuyên xảy ra đe dọa tới công tác bảo tồn của VQG Với nhiều chương trình tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phát triển sản xuất từ chính quyền cũng như các tổ chức địa phương các cộng đồng đã ý thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật và làm tổn hại tới tài nguyên rừng, nhưng vì cuộc sống khó khăn và những đòi hỏi thực tế vẫn còn là những bất cập khiến họ không có nhiều lựa chọn
Đặc biệt trong thời gian hiện nay khi cơ cở hạ tầng đã được cải thiện đáng kể và các dự án có quan tâm hỗ trợ cho phát triển du lịch Bắc Kạn nói chung và du lịch sinh thái khu vực hồ Ba Bể nói riêng như dự án 3PAD, dự án có nguồn vốn GIZ, dự án có nguồn vốn từ ADB… khách du lịch tăng rõ rệt, nhu cầu về thực phẩm sạch, tại chỗ, nhất là đặc sản địa phương ngày càng tăng, đòi hỏi có những thay đổi về khả năng cung cấp gắn với cải thiện đời sống cho các cộng đồng địa phương
Xuất phát từ thực tế đó, một yêu cầu cấp bách cần đặt ra đối với VQG Ba Bể là cần phải tìm ra một nguồn sinh kế mới cho người dân, từ đó giảm áp lực của người dân vào tài nguyên rừng và đảm bảo quản lý rừng bền vững, trong đó nghiên cứu và phát triển gây trồng cây LSNG có giá trị kinh tế cao đang là một hướng đi đúng đắn và rất có triển vọng Tuy nhiên, cho tới nay, vấn đề phát triển trồng cây LSNG ở VQG Ba Bể vẫn chưa thực sự được chú trọng, phần lớn người dân vẫn vào rừng thu hái các loài LSNG tuy nhiên cũng có một số hộ đã gây trồng với quy mô rất nhỏ lẻ, tự phát và nguồn giống, kỹ thuật không phù hợp dẫn tới năng suất thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao
Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu thực trạng phát triển một số loài LSNG có giá trị sử dụng làm thực phẩm tại khu vực vùng đệm VQG Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn” được thực hiện là thực sự cần thiết, nhằm lựa chọn được loài cây, kỹ thuật
trồng cây LSNG có triển vọng nhất đối với khu vực
Trang 8Có nhiều tài liệu viết về lâm sản ngoài gỗ, nhưng chỉ ở những phạm vi hẹp của một loài hoặc một nhóm loài nhất định Nhưng chưa có một công trình nào đưa ra được một khái niệm chính xác về lâm sản ngoài gỗ này
+ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ được đề cập chính thức vào năm 1989 do
W.W.F Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học
khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi” (The Economic value of Non - timber Forest products in Southeast asia - W.W.F -
1989)
Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp
quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non - timber forest products -
NTFP, hoặc Non wood forest products - NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người, bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi,
1.2 Nghiên cứu trên thế giới
LSNG đã được người dân gây trồng, khai thác sử dụng cách đây hàng nghìn năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn
Trang 9Độ, Indonesia,… Theo Mendelsohn (1989) cho rằng hiện nay các nhà khoa học, các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và phát triển LSNG gắn với bảo tồn và phát triển rừng Đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi
là nguồn tạo thu nhập quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa góp phần vào quá trình bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình theo các vấn đề khác nhau
1.2.1 Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG
Công trình “Nghiên cứu về tre trúc” của Munro (1868) được coi là một trong
những nghiên cứu về tre trúc đầu tiên (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [3].Trong công tác này tác giả đã khái quát được một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới
Khi nghiên cứu về “Các loại tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi tiết
về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Malaysia và Indonesia
I T Haig, M.A Hubermen và U Aung Din de F.A.D (1963) với công trình
“Rừng tre nứa” đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của tre trúc nứa Ấn Độ, Pakistan liên quan đến thổ nhưỡng, khí hậu và một số biện pháp xử lý lâm học, tái sinh, khai thác
S Dransfield and E.A Widjaja (1995) [27] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á
Nhìn chung, các nghiên cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào các loài LSNG có diện tích phân bố với số lượng lớn là Tre trúc, các nghiên cứu về song, mây và một số cây thuốc, cay lấy dầu nhựa,… hầu như chưa được đề cập đến
1.2.2 Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng
Zhou Fangchun (2000) [28] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc
Trang 10Ở Malaysia bước đầu đã nghiên cứu tạo giống mây bằng phương pháp nuôi cây
mô, đã tiến hành thí nghiệm trồng song, mây dưới tán các loại rừng với các mật độ khác nhau Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng Mây giống phục vụ cho gieo trồng trên quy mô lớn (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7]
Xiao Jianghua (1996) đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng, sinh trường và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh (dẫn theo Nguyễn Quang Hưng, 2008) [14]
Zhou Fangchun (2000) [28] đã cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm có ảnh hưởng khá rõ đến quá trình phát sinh, phát triển măng,… của nhiều loài tre trúc khác nhau, đó là những cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm thúc đẩy sinh măng trái vụ ở Trung Quốc
Theo J Dransfield và N.Manokaran, 1998 việc trồng Mây nếp đã phát triển trên quy mô lớn ở Trung Quốc, phổ biến là trồng theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng xen trong các khu rừng phục hồi và rừng trồng, cây non được trồng 1 hoặc 2 cây/cụm Tại Quảng Đông, mây nếp được trồng thử nghiệm ở sườn đồi, thu hoạch vào năm thứ 7 cho năng suất khoảng 1,2 tấn/ha (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002)[7]
Những năm gần đây, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học,
kỹ thuật gây trồng, chế biến và tổng kết đánh giá kết quả trồng một số loài LSNG có giá trị
ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, Trung Quốc, Brazils,… (Peter Zuidema, 2001;… Marinus J.A Werger, 2000; FAO, 2000;…)
Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, công dụng, tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển LSNG trên thế giới đã có nhiều kết quả Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển, sử dụng hợp lý và bền vững thì LSNG sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập cho người dân miền núi, nhiều nơi còn làm nguồn thu nhập chính, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng
2.1.3 Nghiên cứu về vai trò của kiến thức bản địa trong việc phát triển LSNG
Trang 11Các chuyên gia như Facolner nghiên cứu kiến thức bản địa ở Ghana.1997; Roost nghiên cứu kiến thức bản địa ở Lào, 1997, các tác giả đã khẳng định: Kiến thức bản địa
là những kiến thức quý báu có giá trị trong quá trình sử dụng LSNG đòi hỏi cần có sự kết hợp giữa kết quả nghiên cứu khoa học thực sự với kiến thức bản địa
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kiến thức bản địa ở hầu khắp thế giới
và kiến thức bản địa ngày càng có vai trò quan trọng trong các dự án phát triển nông thôn
Một mạng lưới quốc tế nghiên cứu và sử dụng kiến thức bản địa đã được thành lập năm 1987 thông qua trung tâm nghiên cứu kiến thức bản địa phục vụ phát triển nông nghiệp (CI KARD) ở đại học Iowastate, Hoa Kỳ Rõ ràng kiến thức bản địa đang
được sự chú ý của nhiều nhà khoa học cũng như các dự án, và tổ chức quốc tế (Nguồn
1.2.4 Nghiên cứu về thị trường LSNG
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù LSNG có giá trị to lớn, nhưng nhiều người sản xuất LSNG lại thu được hiệu quả rất thấp là do sự hạn chế trong việc tiếp cận thông tin thị trường một cách có tổ chức hoặc thiếu những giải pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm theo nhu cầu của thị trường Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, vào năm 1992, chương trình rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển các bản hưỡng dẫn cho việc tạo ra các hệ thống thông tin thị trường LSNG ở mức địa phương và giới thiệu một số kinh nghiệm về kỹ thuật nuôi trồng, canh tác và phát triển thực vật ngoài gỗ, như phát triển rừng cung cấp dược thảo ở Nepan, rừng cung cấp cây
họ dầu, Tanin, cau rừa ở vùng Amazon - Brazil, rừng cung cấp Song Mây ở Malaixia (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7]
1.2.5 Các nghiên cứu về vai trò của LSNG
Trang 12Phần lớn LSNG đã trở thành sản phẩm hàng hóa nên đã mở ra triển vọng cho việc quản lý sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng Cùng với việc kinh doanh gỗ, nó đem lại nhiều lợi ích cho việc bảo vệ rừng (Wim Bergmans, 1989) Thấy rõ được vai trò của LSNG trong kinh tế và bảo vệ rừng, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhằm phát hiện các sản phẩm ngoài gỗ Phần lớn các công trình nghiên cứu được thực hiện ở các nước đang phát triển trong khu vực nhiệt đới, là những nơi có tiềm năng LSNG nhất trên thế giới, nhưng lại có áp lực phá rừng mạnh mẽ nhất
Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, đến tạo việc làm, phát triển ngành nghề thủ công nghiệp,… Tầm quan trọng của LSNG đối với các nước nhiệt đới đã được thừa nhận, như ở Thái Lan, trong năm 1987 đã xuất khẩu LSNG đạt giá trị 23 triệu USD và ở Indonesia cũng trong năm đó đạt tổng giá trị xuất khẩu LSNG lên tới 238 triệu USD (Tenne, 1987)
Các tổ chức quốc tế như FAO (1997) [26], IUCN (1999) [15] đã đưa ra bảng giá trị của LSNG so với các giá trị khác của rừng được thể hiện ở bảng 01
Bảng 1.1 Giá trị của rừng và LSNG ở một số quốc gia trên thế giới
Giá trị lâm sản (%) Quốc gia Giá trị sinh thái (%)
Nguồn: FAO (1997), IUCN (1999)
Như vậy, giá trị LSNG ở nhiều quốc gia được ước tính xấp xỉ bằng so với giá trị của gỗ Do đó, nếu chỉ coi gỗ là nguồn thu nhập duy nhất từ rừng thì chúng ta đã bỏ lỡ một nguồn lợi khác tương đương với nó Dưới đây là một số nghiên cứu chứng minh điều này:
Trang 13- Nghiên cứu của Mayer (1980) cho thấy, 60% tổng sản phẩm phi gỗ được tiêu thụ bởi người dân địa phương và không bao giờ được tính ra tiền mặt
- Ở Ấn Độ (1982) LSNG chiếm gần 40% giá trị lâm sản và 60% giá trị lâm sản xuất khẩu Ở Indonesia (1989) thu được 436 triệu USD từ LSNG
- Padoch (1988), Bele (1989) qua nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Rừng nhiệt đới có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân địa phương một phần là ở khả năng cung cấp LSNG Mayer (1988) đã tính toán rằng, một khu rừng nhiệt đới có diện tích 50.000 ha nếu được quản lý tốt sẽ cung cấp đều đặn 200 USD/ha/năm Peter và cộng sự (1989) đã tính toán thu nhập từ gỗ và LSNG trên một ha rừng nhiệt đới vùng Amazon đạt 6.820 USD/ha/năm [25]
1.2.6 Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của LSNG
Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một hệ sinh thái hoàn hảo và đầy đủ với khu hệ động vật và thực vật phong phú và đa dạng nhất hành tinh (Van Steenis, 1956) Vì vậy, việc tận dụng triệt để mọi tiềm năng của rừng nhiệt đới ẩm để kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp, trong đó có kinh doanh và lợi dụng LSNG là hết sức cần thiết
Rừng nhiệt đới tuy chỉ chiếm 7% bề mặt trái đất nhưng trong đó chứa đựng gần 90% tổng số loài thực vật của trái đất (Mc Nell et al, 1990)
Năm 1987, Wilson đã tìm thấy quanh một gốc cây họ đậu ở Peru có tới 43 loài kiến, thuộc 26 giống, bằng toàn bộ khu hệ kiến có mặt ở nước Anh
Tại Đông Nam Á, rừng nhiệt đới và đặc biệt là rừng mưa có mức độ đa dạng sinh học rất cao Tại Malaysia có ít nhất 40.000 loài thực vật, Indonesia có khoảng 20.000 loài, Thái Lan có 12.000 loài, số loài thực vật ở Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) là 15.000 loài
Nhằm nâng cao vai trò của LSNG một số tổ chức quốc tế tiêu biểu trong hoạt động nghiên cứu LSNG như: Tổ chức nông lương thế giới (FAO), Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), Trung tâm Nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF),… đã tập trung nghiên cứu vào nhóm các nghiên cứu sau:
- Khảo sát tình hình nhằm nắm được những hiểu biết chung về việc sử dụng LSNG và tầm quan trọng của LSNG ở các mức độ khác nhau (hộ gia đình, địa phương, quốc gia và quốc tế);
- Phát triển công nghệ để cải thiện quá trình chế biến và sử dụng LSNG;
Trang 14- Nghiên cứu về canh tác LSNG;
- Nghiên cứu về kinh tế, xã hội bao gồm cả nghiên cứu về thị trường LSNG Việc quan tâm tới công nghệ sau thu hoạch thường ít ỏi, vì vậy gây lãng phí cả
về số lượng và chất lượng trong quá trình thu hái, vận chuyển và cất trữ sản phẩm LSNG (FAO, 1995) [25] Một số vấn đề nổi cộm trong sản xuất, chế biến LSNG ở các nước đang phát triển là hạn chế kỹ thuật khai thác và xử lý sau thu hoạch; thiếu các nghiên cứu về phát triển giống các loài cây cao sản; kỹ thuật chế biến kém hiệu quả; thiếu các giải pháp điều chỉnh chất lượng; khó khăn về thị trường và thiếu cán bộ được đào tạo,…
Năm 1992 Chương trình Rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển các bản hướng dẫn cho việc tạo ra các hệ thống thôn tin thị trường LSNG ở mức địa phương Phương pháp này đã được kiểm nghiệm ở Bangladesh và Uganda năm 1993 và cho thấy tính hiệu quả thiết thực của nó trong việc nắm bắt thông tin về thị trường cây LSNG ở mức địa phương từ đó có kế hoạch lựa chọn, điều chỉnh loài cây LSNG gây trồng, khai thác và sử dụng cho phù hợp [23]
1.3 Nghiên cứu ở Việt Nam
Các tư liệu, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến LSNG hiện nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm, phân loại, vai trò, giá trị sử dụng và kỹ thuật gây trồng cho một số loài cây LSNG chủ yếu, điển hình là một số công trình nghiên cứu phân theo các vấn đề sau đây:
1.3.1 Nghiên cứu về phân loại, bảo tồn LSNG
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài LSNG có giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam
Đỗ Tất Lợi (1991) [17] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay từ những loài LSNG này
Vũ Văn Dũng và cộng sự (2002) [7], các tác giả đã đưa ra định nghĩa, phân loại LSNG, giới thiệu về một số nhóm LSNG có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý LSNG, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển LSNG,…
Trang 15Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) [18] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm trúc và Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc
Năm 2006, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển LSNG trong giai đoạn 2006 – 2020” [1] Năm 2007, Bộ NN&PTNT tiếp tục phê duyệt Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG ở Việt Nam [2]
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [11], đã mô tả hình thái, phân bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài LSNG Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); Nhóm cây thuốc (76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm (19 loài); Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng mát thân gỗ)
1.3.2 Nghiên cứu về vai trò của kiến thức bản địa trong việc khai thác, sử dụng và phát triển LSNG
Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thúy Bình (2000) [13] Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 113 loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị có ở Việt Nam và xác định rõ đặc điểm nơi sống, cách thu hái, chế biến, thành phần dinh dưỡng
Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai đã phối hợp với các nhà khoa học tại trung tâm nghiên cứu đặc sản tiến hành tổng hợp thu nhập các kinh nghiệm
gây trồng, thu hái chế biến thảo quả trong nhân dân, 1994 (Nguồn: Phan Văn Thắng,
Trang 16rừng, làm suy thoái đa dạng sinh học có nguồn gốc từ đời sống khó khăn của người dân, lâm sản ngoài gỗ bị sử dụng không hợp lý, cạn kiệt Một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát
triển rừng bền vững ở nước ta phát triển tài nguyên lâm sản ngoài gỗ (Nguồn: Phan
Văn Thắng, 2002) [21]
Năm 2000, Hà Chư Chử, Trần Quốc Túy và Jenne H De Beer đã đánh giá về lâm sản ngoài gỗ trong cuốn: “Phân tích phân ngành lâm sản ngoài fôc ở Việt Nam” Nội dung công trình đã đưa ra 76 loài cho nhựa thơm, 93 loài cho chất mầu, 160 loài
chỉ cho dầu, 260 loài cho tinh dầu (Nguồn: Phan Văn Thắng, 2002) [21]
Năm 2001, Vũ Văn Dũng, Hoàng Hữu Nguyên, Trịnh Vĩ đã đề xuất cách phân loại mới Theo các tác giả, lâm sản ngoài gôc được chia làm 6 nhóm: Sản phẩm để làm
thực phẩm, làm lá gói bánh (Nguồn: Phan Văn Thắng, 2002) [21]
Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thính đã có những nghiên cứu và thống kê được tập đoàn đông đảo thực vật có giá trị làm thuốc, gia vị ở địa phương,
1995 (Nguồn: Phan Văn Thắng, 2002) [21]
Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau của nhân dân các xóm Bản Cám, Nặm Cắm thuộc VQG Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn, Th.s La Quang Độ, 2001 [9] Tác giả đã xác định được số loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người dân tộc trong khai thác, sử dụng, chế biến các loài này
Tìm hiểu một số kiến thức bản địa và sử dụng bền vững tài nguyên rừng tại VQG Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn Th.s La Quang Độ, Th.s Nguyễn Thị Minh Châu, 2003 [10] Hai tác giả đã xác định được các loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm khai thác, sử dụng chúng của dân tộc Dao, H’Mông
Kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác sử dụng các lâm sản ngoài gốc làm thực phẩm, gia vị tại xã Thần Sa - Võ Nhai, Ths Nguyễn Thị Thoa, Ths
Nguyễn Văn Mạn (Nguồn PGS.TS Đặng Kim Vui và Cs)[22] Tác giả đã xác định được
kinh nghiệm của người dân trong việc sử dụng các loài làm thực phẩm, gia vị
Trang 17Dự án hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ do viện khoa học Lâm Nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN thực hiện đã được triển khai nhằm tìm lại giá trị của lâm sản ngoài gỗ, giúp
người dân có cách khai thác và phát triển hợp lý (Nguồn: Phan Văn Thắng, 2002) [21]
Điều tra nghiên cứu kiến thức bản địa về quản lý, phát triển tài nguyên rừng ở một số cộng đồng thôn bản thuộc miền núi phía bắc Việt Nam, Đỗ ĐÌnh Sâm, Đặng Kim Khánh, An Văn Bảy Các tác giả đã nghiên cứu về kinh nghiệm trồng tre lấy măng của đồng bào Thái Sơn La, phát triển rừng quế của đồng bào người Dao ở Quảng Ninh [20]
1.3.3 Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng
Nhân giống Hồi bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ là IBA (1%), hom lấy từ cây 2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66 – 69%; Phương pháp ghép nêm và ghép áp cho hồi cũng có tỷ lệ sống khá cao, sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau 5 tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có thể xuất vườn còn gần 46% Tỷ lệ sống của cây ghép hầu như không phụ thuộc vào tuổi cây mẹ cho cành ghép mà phục thuộc rất rõ rệt vào từng dòng cây mẹ cho cành ghép (Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Tuấn Hưng – 2003)
Xử lý bằng IBA (1%) trong thời kỳ đầu hè để giâm hom Quế đạt tỷ lệ ra rễ cao
và sử dụng phương pháp ghép nêm ngọn Quế cho tỷ lệ sống cao nhất so với ghép mắt
và ghép cành (70 – 77%) (Phạm Văn Tuấn, 2005)
Khi nghiên cứu chọn tạo giống Quế có năng suất tinh dầu cao Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) đã chọn được 122 cây trội theo các chỉ tiêu sinh trưởng, 79 cây theo sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu, 45 cây theo cả sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng tinh dầu ở Yên Bái, Quảng Nam và Quảng Ngãi Về nhân giống, đề tài cũng đã chỉ ra được tuổi cây lấy hom, giá thể và loại hom có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom, tốt nhất là lấy hom cành hay hom chồi vượt ở cây dưới 7 năm tuổi, giâm hom trong giá thể cát vào đầu vụ hè là tốt nhất Đối với ghép, đề tài cũng đưa ra 3 phương pháp nhưng đạt hiệu quả cao nhất vẫn là ghép nêm ngọn, cành ghép tốt nhất là lấy ở cây dưới 7 năm tuổi và nên ghép vào vụ thu Các tác giả đã dùng cây ghép để xây dựng vườn giống kết hợp khảo nghiệm hậu thế đối với loài cây này
Trang 18Nguyễn Ngọc Bình (1964) đã chỉ ra rằng Luồng sinh trưởng tốt nơi đất chua pH(KC1): 4,2 – 5,0 Cũng theo Nguyễn Ngọc Bình (2001) khi nghiên cứu đặc biệt đất trồng rừng Tre Luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng rừng tre Luồng đến đất cho rằng trồng Luồng theo phương thức hỗn giao, thích hợp nhất là hỗn giao với cây họ đậu như Keo để tránh cho đất bị suy thoái [5]
Ngô Quang Đê (1994) cũng đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng tre trúc cho 3 loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và sử dụng
Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2002) [12] đã giới thiệu điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến cho một số loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị
Nguyễn Tử Kim, Lê Thu Hiền, Lưu Quốc Thành (2004) đã trồng Song mật và Mây nếp dưới tán một số trạng thái rừng phục hồi ở Phú Thọ và Hoà Bình kết quả cho thấy: Mây nếp sau 42 tháng tuổi ở Cầu Hai (Phú Thọ), với phương pháp xử lý thực bì theo lỗ trống, trồng theo cụm (250 cụm/ha), mỗi cụm 3 hố, 1 cây/hố đã cho sinh trưởng
về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 136cm, 65,3% số cây đẻ từ 1 – 3 nhánh) Cũng với phương pháp xử lý như ở Cầu Hai (Phú Thọ), Mây nếp sau 30 tháng tuổi tại Hoà Bình đã cho sinh trường về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 201cm, 68,1% số cây đẻ từ 1 – 3 nhánh)
Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [4] đã tuyển chọn 3 loài tre nhập nội trồng để
lấy măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp
giao với 13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ và Thanh Hoá Đề tài đã đưa ra được một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: Mật độ trồng, phân bón, điều chỉnh cây mẹ, đồng thời đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, kỹ thuật khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảo quản măng
Trong một công trình nghiên cứu khác Đỗ Văn Bản (2005) [4] cũng đã thống kê được hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng gồm Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông Đề tài đã thống kê được diện tích trồng Điềm trúc tính đến năm 2003 là 2.700 ha Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin về đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây trồng của nhân dân
Trang 19Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) đã chỉ ra mật độ trồng rừng ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng của Quế, các tác giả cũng đưa ra mật độ từ 300 cây/ha đến
5000 cây/ha là mật độ thích hợp cho Quế 18 tháng tuổi
Ngoài một số công trình điển hình ở trên, còn rất nhiều công trình của các nhà khoa học khác thuộc các ngành Y tế, môi trường,… đã tham gia nghiên cứu và có kết quả đáng chú ý như công trình của Viện Dược liệu (2005), Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (2001); Trần Công Khánh (2000); Nguyễn Ngọc Lân (1999); Nguyễn Văn Tập (2001), Trần Văn Ơn (2002), các công trình của các địa phương;… Đặc biệt là các công trình nghiên cứu về kỹ thuật trồng Giổi xanh của Nguyễn Bá Chất (1984), kỹ thuật trồng Hồi của Nguyễn Thị Bích (1998), Kỹ thuật trồng Trám trắng của Phạm Đình Tam (1998),…
1.3.4 Nghiên cứu về thị trường LSNG
Dương Tín Đức (2009) trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu các giải pháp
phát triển trồng rừng sản xuất tại Công ty Lâm nghiệp Nam Nung, tỉnh Đăk Nông” đã
chỉ ra rằng thị trường nhựa mủ cao su của Công ty hiện nay là khá đơn giản, chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao, Công ty mới chỉ dừng lại ở việc bán nhựa mủ thô cho các nhà máy chế biến ở trong tỉnh và khu vực Tp Hồ Chí Minh Qua đó, tác giả đề xuất Công
ty cần đẩy mạnh việc xây dựng nhà máy chế biến nhựa mủ Cao su để từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh [8]
Phạm Văn Phong trong đề tài nghiên cứu “Đánh giá thực trạng gây trồng và
phát triển lâm sản ngoài gỗ tại vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” kết quả nghiên
cứu cho thấy, tại vườn Quốc gia Xuân Sơn các loài LSNG như Măng bát độ, Vầu đắng
do người dân gây trồng mới chỉ được bán tại địa phương với lượng tiêu thụ không lớn, một số ít được bán cho khách du lịch, riêng đối với thị trường nhựa mủ Sơn ta thì tư thương tới tận nhà để thu mua và sau đó bán cho thị trường tiêu thụ trong nước và bán sang Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, để đẩy mạnh việc gây trồng và phát triển cây LSNG tại khu vực thì công tác đẩy mạnh phát triển thị trường ra các tỉnh khác là hết sức cần thiết [19]
Nguyễn Thị Loan khi nghiên cứu về kiến thức bản địa trong gây trồng và phát triển cây LSNG tại VQG Tam Đảo đã cho thấy, tại vùng đệm VQG Tam Đảo, có 3 kênh thị trường tiêu thụ LSNG phổ biến là:
Trang 20+ Người dân vùng đệm khai thác bán trực tiếp cho người sản xuất và chế biến + Người dân vùng đệm khai thác bán cho người thu mua trung gian sau đó mới tới tay người sản xuất và chế biến
+ Người dân vùng đệm khai thác bán cho người trung gian, đại lý thu mua và cuối cùng là người sản xuất và chế biến
Qua kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng, việc không thông qua sơ chế, chế biến
mà bán trực tiếp cây LSNG thô làm giảm nhiều giá trị thu được của người dân Sự trải qua quá nhiều khâu trung gian dẫn tới giá cả LSNG người dân bán thường bị ép giá với giá bán ngoài thị trường Do vậy, cần đẩy mạnh các khâu chế biến và đưa trực tiếp sản phẩm tới tay nhà sản xuất và người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả cao [16]
1.3.5 Các nghiên cứu về vai trò của LSNG
Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá vai trò của LSNG ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng LSNG ở đây có vai trò rất quan trọng, chúng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 – 30% tổng thu nhập kinh tế của hộ/năm Đặc biệt một số nơi, người dân sống chủ yếu dựa vào LSNG như ở Nguyên Bình – Cao Bằng thu nhập chủ yếu từ cây trúc sào
Christian Rake và cộng sự (1993) khi nghiên cứu về LSNG tại ba tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu đã cho rằng LSNG có vai trò rất quan trọng trong đời sống người dân ở 3 tỉnh này Trong đó, tre nứa, sa nhân, trẩu và song mây là những loài có tiềm năng phát triển Tuy nhiên, hiện nay người dân chủ yếu là khai thác tự nhiên nên nguồn tài nguyên này ngày càng cạn kiệt
Gilman, Nguyễn Văn Sản (1999) trong công trình nghiên cứu của mình cho thấy, gần 200 tấn dược liệu được khai thác ở VQG Ba Vì vào năm 1997 - 1998, ước tính gần 60% người dân tộc Dao ở Ba Vì khai thác nguồn tài nguyên này và nguồn thu nhập đứng thứ 3 sau lúa và sắn
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lân (1999) cho thấy, 100% số hộ ở khu bảo tồn Pù Mát sống dựa vào việc khai thác gỗ và LSNG, 22% số hộ thường xuyên khai thác cây Met, Nứa, Song, Mây,…; 11,75% số hộ thường xuyên khai thác mọc nhĩ Thu nhập bình quân khoảng 20.000 đồng/ngày và 8,3% số hộ thường xuyên khai thác củi bán lấy tiền mua lương thực và trong những ngày giáp hạt trên 90% số hộ ở bản Châu Sơn vào rừng đào củ Mài, củ Chuối, củ Nâu và hái rau rừng để ăn
Trang 211.3.6 Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của LSNG
Theo kết quả nghiên cứu của Viện dược liệu thì đã phát hiện được 1863 loài cây dùng để làm thuốc ở Việt Nam thuộc 1033 chi, 236 họ và 101 Bộ, 17 lớp, 11 ngành thực vật Theo Võ Văn Chi, con số này lên tới 3000 loài Chúng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công việc chăm sóc sức khỏe nhân dân
Nghiên cứu của Christian Rate và cộng sự năm 1993 đã đề cập tới tiềm năng của LSNG tại Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu Các tác giả đã thống kê diện tích rừng Tre nứa
ở 3 tỉnh là 26.000 ha Bình quân một năm khai thác khoảng 13 tỷ cây, trong đó 90% được bán cho nhà máy giấy Bãi Bằng, đồng bằng sông Hồng và xuất khẩu [24]
Năm 1978 Trung tâm nghiên cứu đặc sản rừng được thành lập (thực chất là nghiên cứu về LSNG) với nhiệm vụ nghiên cứu phát triển LSNG, phương pháp chế biến, gây trồng lâm sản có giá trị
Phạm Văn Điển trong công trình nghiên cứu “Một số giải pháp kinh tế xã hội
phát triển thực vật cho LSNG tại vùng hồ thủy điện Hòa Bình” đã đưa ra một số giải
pháp chính bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất, phát triển rừng và LSNG; hoàn thiện chính sách giao đất lâm nghiệp; hỗ trợ gạo cho người dân vùng hồ; thu hút và xác định trách nhiệm của nhà máy thủy điện Hòa Bình trong việc xây dựng và tái tạo vốn rừng; thay đổi phương pháp khuyến lâm,…
1.4 Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu ở cả trên thế giới và ở Việt Nam đều có thể nhận thấy, giá trị LSNG từ rừng rất được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu đi sâu vào nhiều lĩnh vực, từ việc phân loại LSNG, chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng nhiều loài LSNG, thị trường tiêu thụ, xác định tiềm năng, vai trò của LSNG đối với cộng đồng đặc biệt là cộng đồng dân cư sống gần rừng Các kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để xác định được giá trị và là căn cứ để phát triển các loài cây LSNG Mặc dù ở Việt Nam, các nghiên cứu được thực hiện khá muộn so với thế giới, tuy nhiên các nghiên cứu cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể
Ở Việt Nam, tiềm năng cây LSNG là rất lớn, đa dạng cả về chủng loại, số lượng lẫn phân bố Tuy nhiên, do chỉ chú ý tới khâu khai thác tự nhiên nên tới nay hầu hết rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn rất ít cây LSNG có giá trị, người dân sinh sống gần rừng bắt đầu khai thác và xâm lấn trái phép tài nguyên LSNG ở các khu rừng quốc gia,
Trang 22khu bảo tồn thiên nhiên để phục vụ cho sử dụng tại chỗ và sử dụng làm hàng hóa buôn bán gây tác động nghiêm trọng tới công tác bảo tồn và phát triển rừng đặc biệt là hiện nay, nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước đối với nhiều loại LSNG quý, hiếm như Linh chi, Hà thủ ô, là rất lớn Như vậy, để có thể giảm áp lực vào tài nguyên rừng
tự nhiên của nước ta, đồng thời tạo sinh kế, phát triển kinh tế địa phương thì việc tìm kiếm loài cây, biện pháp kỹ thuật để xây dựng các mô hình LSNG có giá trị là hết sức cần thiết đặc biệt đối với cộng đồng dân cư sống quanh vùng đệm của các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên
Nhằm giải quyết sinh kế cho cộng đồng 3 xã vùng đệm là Khang Ninh, Cao Thượng và Quảng Khê thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Ba Bể - huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn từ đó giảm áp lực cuả người dân vào tài nguyên rừng và đảm bảo quản lý rừng bền vững, trong đó nghiên cứu phát triển các loài LSNG có giá trị kinh tế cao sử dụng làm thực phẩm đang là hướng đi đúng đắn và rất có triển vọng
Trang 23- Bước đầu đề xuất được các giải pháp để phát triển, nhân rộng một số loài LSNG có triển vọng tại VQG Ba Bể
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây Lâm sản ngoài gỗ được dùng làm thức ăn: Rau sắng, Bò khai (Dạ hiến), Giảo cổ lam, Trám ghép; Rau gai
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 24Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển cây LSNG sử dụng làm thực phẩm trên địa bàn thuộc 3 xã: Khang Ninh, Quảng Khê, Cao Thượng thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn
2.4 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài đặt ra những nội dung nghiên cứu những nội dung sau:
- Điều tra thực trạng phát triển các loài cây LSNG sử dụng làm thực phẩm ở vùng đệm VQG Ba Bể
- Tìm hiểu kiến thức bản địa về kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG sử dụng làm thực phẩm có giá trị kinh tế cao
- Đề xuất những giải pháp để phát triển loài cây LSNG sử dụng làm thực phẩm
có giá trị kinh tế cao có tiềm năng
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
2.5.1.1 Quan điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu phát triển LSNG trong vùng Vườn quốc gia Ba Bể cần được đặt
trong mối quan hệ chặt chẽ với đời sống thường ngày của người dân địa phương như các hoạt động khai thác, sử dụng, gây trồng và phát triển,
- Chú trọng nghiên cứu, tổng kết các biện pháp kỹ thuật đã có, các giống mới, chuyển giao công nghệ, kết hợp với nghiên cứu nhu cầu thị trường, khả năng tiếp nhận của người dân (chú trọng cả yếu tố kinh tế và kỹ thuật)
- LSNG cần được coi là một giải pháp quan trọng và có hiệu quả cao trong việc
cải thiện sinh kế người dân địa phương, hướng tới công tác quản l ý rừng bền vững của VQG Ba Bể
- Phát triển kỹ thuật có sự tham gia (PTD): Lấy người dân làm trung tâm
Trang 252.5.1.2 Cách tiếp cận của đề tài
- Nghiên cứu phát triển LSNG sử dụng làm thực phẩm nhằm góp phần cải thiện
đời sống của người dân sống trong và ngoài VQG Ba Bể cần có cách tiếp cận tổng hợp
- Cách tiếp cận có sự tham gia của các đối tượng khác nhau: người dân, cán bộ
thôn, xã, huyện, thị trường, vườn quốc gia, Các chương trình Dự án
- Do thời gian nghiên cứu ngắn nên cách tiếp cận có sự kế thừa các số liệu và
thông tin đã có
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu
2.5.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Từ các tài liệu đã có của VQG Ba Bể, UBND các xã, các loài cây đã triển khai
để thu thập các thông tin, số liệu có liên quan
Các tài liệu thu thập gồm:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu, trong đó chú trọng đến các số liệu về kinh tế - xã hội như dân số, lao động, thu nhập, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng,
- Đặc điểm tài nguyên rừng VQG Ba Bể, đặc biệt là các tài liệu điều tra về tài nguyên rừng, tài liệu về các loài LSNG trên địa bàn; phân bố, diện tích các loại rừng, công tác tổ chức quản lý bảo vệ rừng, tình hình giao khoán bảo vệ rừng,
- Định hướng quản lý rừng của VQG Ba Bể ở khu vực các xã vùng dự án gồm: Khang Ninh, Quảng Khê, Cao Thượng
- Các chương trình, dự án có liên quan đến LSNG và cải thiện sinh kế người dân
đã thực hiện tại 3 xã: Khang Ninh, Quảng Khê và Cao Thượng
Ngoài ra, còn thu thập các tài liệu nghiên cứu đã có về lâm sản ngoài gỗ: loài cây, phân bố, biện pháp kỹ thuật gây trồng, giá trị sử dụng, thị trường, tiềm năng phát triển, thu thập các thông tin, kết quả nghiên cứu khác về thị trường LSNG, kỹ thuật và
Trang 26kết quả gây trồng một số loài LSNG có giá trị ở những khu vực khác có điều kiện tương
tự
2.5.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
a Phương pháp đánh giá tiềm năng và triển vọng gây trồng cây lâm sản ngoài
gỗ tại vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể
Tiềm năng phát triển gây trồng cây lâm sản ngoài gỗ tại VQG Ba Bể được đề tài đưa ra đánh giá bao gồm: Tiềm năng về đất đai, tiềm năng về lao động, nguồn vốn, kỹ thuật, nguồn giống, thị trường, kinh nghiệm gây trồng và sử dụng, và đặc biệt là sự chấp thuận của cộng đồng Trên cơ sở đánh giá những tiềm năng cho từng loài, tiến hành tổng kết và xác định những loài cây LSNG có tiềm năng nhất cho khu vực thì đó chính là loài cây có triển vọng nhất cho khu vực
Để thực hiện được nội dung này thì ngoài nguồn thông tin, số liệu, tài liệu kế thừa đã có, cần khảo sát thực địa, kiểm chứng thông tin và bổ sung những thông tin còn thiếu phục vụ cho việc đánh giá Sử dụng bộ công cụ PRA để tiến hành điều tra phỏng vấn các đối tượng liên quan bằng bộ câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc với những câu hỏi
mở Đối tượng phỏng vấn trực tiếp được chia thành 3 nhóm sau:
+ Cán bộ xã, thôn: Đối tượng làm việc là chủ tịch, phó chủ tịch, chủ tịch hội nông dân, cán bộ phụ trách khuyến nông khuyến lâm, các trưởng thôn Nội dung phỏng vấn chủ yếu là đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã; tình hình phân bố, khai thác,
sử dụng, hoạt động mua bán và trữ lượng các loại LSNG trên địa bàn; các loài cây, mô hình, thị trường LSNG đã được đầu tư xây dựng trong thời gian qua, định hướng phát triển LSNG của các xã, Dự kiến mỗi xã sẽ phỏng vấn 10 người
+ Hộ gia đình: Các hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên ở mỗi xã theo nguyên tắc có đủ các thành phần dân tộc, nghề nghiệp, mức sống, Nội dung phỏng vấn tập trung vào hoạt động kinh tế, thu nhập và mức sống của các hộ gia đình, những hoạt động liên quan đến tài nguyên rừng tại địa phương đặc biệt là các hoạt động có liên quan đến LSNG như gây trồng, thu hái, mùa vụ, sử dụng, buôn bán, và nguyện vọng phát triển LSNG của người dân Dự kiến phỏng vấn 20 người/xã
Trang 27+ Các nhà hàng quanh vùng hồ Ba Bể, tư thương mua bán LSNG trên địa bàn các xã Khang Ninh, Quảng Khê và Cao Thượng Nội dung phỏng vấn chủ yếu là tên các loài LSNG sử dụng làm thực phẩm, cách chế biến, nhu cầu thị trường và giá cả một
số loại LSNG, Dự kiến phỏng vấn 5 người/xã
b Phương pháp so sánh cặp đôi
Để có thể gây trồng cây LSNG phù hợp cho VQG Ba Bể thì cần thiết phải tiến hành họp dân, thảo luận nhằm bổ sung những thông tin cần thiết cho việc gây trồng và nhân rộng loài cây LSNG Thành phần tham gia gồm: đại diện cho lãnh đạo xã, thôn, hội phụ nữ, hội nông dân, cán bộ khuyến nông - khuyến lâm, các hộ gia đình đại diện cho thu nhập, mức sống, thành phần dân tộc,
Sử dụng công cụ đánh giá xếp hạng bằng cách so sánh cặp đôi do những người tham gia điều tra để đánh giá xếp hạng, xác định các loài cây ưu tiên gây trồng Các bước tiến hành như sau:
+ Bước 1: Lập danh sách các loài có khả năng gây trồng ở địa phương
+ Bước 2: Nếu danh sách các loài quá lớn, tiến hành đánh giá sơ bộ và rút gọn
số loài còn khoảng 5 - 8 loài
+ Bước 3: Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp hạng của từng loài Tiêu chí gồm:
Hiệu quả kinh tế cao, năng suất cao, người dân có kinh nghiệm gây trồng, dễ trồng, giá trị cao, có tiềm năng thị trường lớn, thị trường ổn định, hoặc là những loài có tiềm năng thị trường lớn, thị trường ổn định, khi gây trồng phát triển, khai thác, chế biến và sử dụng ít ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và xã hội, được người dân và chính quyền địa phương chấp nhận
+ Bước 4: Lần lượt tiến hành lập ma trận để xác định các cặp so sánh và căn cứ
vào tiêu chí đã đề ra để tiến hành so sánh, đánh giá xếp hạng
+ Bước 5: Sau khi đã so sánh từng cặp, tiến hành tổng hợp kết quả so sánh và
xếp hạng ưu tiên Chỉ xếp hạng từ 3 – 5 loài cho mỗi xã, nếu loài cây nào có số lần lựa
Trang 28chọn nhiều nhất thì xếp hạng cao nhất tức là loài cây ưu tiên nhất và thứ tự loài cây ưu tiên được lấy từ cao xuống thấp theo số lần lựa chọn
c Phương pháp đánh giá các biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG có giá trị kinh tế
Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA) kết hợp với phương pháp điều tra, phỏng vấn tại thực địa
Kế thừa tài liệu sẵn có như các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật,…
Phỏng vấn và quan sát: Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn và quan sát thực tế tại hiện trường để thu thập các thông tin về kỹ thuật gây trồng đã và đang được áp dụng tại địa phương, đối tượng phỏng vấn là các cán bộ kỹ thuật, người dân đã và đang gây trồng cây LSNG
Điều tra tại thực địa để thu thập các thông tin về loài cây trồng, phương thức trồng, mật độ trồng, kích thước hố, phát dọn thực bì, và các thông tin về kỹ thuật khai thác, chế biến và bảo quản,…
Đánh giá kỹ thuật gây trồng, khai thác, chế biến và bảo quản sử dụng phương pháp so sánh thông qua năng suất, chất lượng sản phẩm và các tiến bộ kỹ thuật hiện có
Trang 29Chương 3:
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện Kinh tế - Xã hội khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn 3 xã Khang Ninh, Quảng khê, Cao Thượng thuộc VQG Ba Bể, cách Hà Nội 250km về phía bắc Việt Nam, thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, bao gồm diện tích đất xã Nam Mẫu, một phần xã Khang Ninh, một phần xã Cao Thượng, một phần xã Cao Trĩ
+ Phía Bắc giáp xã Cao Thượng
+ Phía Đông giáp xã
Khang Ninh, Cao Trĩ
+ Phía Nam giáp xã
Quảng Khê
+ Phía Tây giáp xã Nam
Cường, Xuân Lạc (huyện chợ
Trang 30Toàn bộ khu vực VQG Ba Bể là núi đá vôi hiểm trở, một phần nhỏ là các thung lũng núi đất xen kẽ nhỏ và hẹp
VQG Ba Bể nằm trên độ cao từ khoảng 150 đến 1089m so với mặt nước biển
Về cấu trúc địa chất, chiếm ưu thế là đá vôi với nhiều đỉnh cao lởm chởm, độ phân cắt lớn, nhiều sườn đồi dốc bao quanh các thung lũng, sông suối Địa hình núi đá vôi có nhiều hang động, lớn nhất là động Puông dài 300m, có sông Năng chảy qua, tạo nên cảnh quan thiên nhiên đầy vẻ ngoạn mục
VQG Ba Bể có diện tích là 7610ha,trong đó diện tích rừng chiếm 85%, gồm 3 phân khu chức năng, với các hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên rất đa dang Trung tâm vườn là Hồ Ba Bể, mặt hồ rộng gần 500ha, chiều dài 8km, nằm trên độ cao 150m
và có độ sâu 35m Nối với hồ là hệ thống sông suối bao quanh cùng các khu rừng thường xanh phủ kín hệ núi đá vôi trùng điệp, tạo nên nét đẹp kỳ vĩ cho khung cảnh thiên nhiên trong vùng
3.1.1.3 Điều kiện thổ nhưỡng
Đất trong khu vực nghiên cứu được hình thành chủ yếu trên 3 loại đá mẹ chính
là đá sét, đá phiến thạch sét và đá vôi Các loại đất chính trong khu vực bao gồm:
- Đất Fralit nâu vàng phát triển trên đá sét và phiến thạch sét, phân bố phần sườn
và đỉnh Loại đất này có tầng dày thích hợp với trồng cây lâm nghiệp
- Đất Feralit vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển trên đá Macma chua, phân bổ chủ yếu ở các thung lũng, chân núi đá vôi, thoát nước tốt và có hàm lượng mùn cao, tầng đất khá dầy thích hợp cho canh tác nông nghiệp và cây công nghiệp ngắn ngày
Trang 31- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi) - R: Đá vôi là loại đá
cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá
Nhìn chung, đất đai ở khu vực còn khá tốt tầng đất từ trung bình đến khá dầy thích hợp với nhiều loại cây trồng
3.1.1.4 Khí hậu
VQG Ba Bể nằm trong tiểu vùng khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, được che chắn bao bọc bởi các dãy núi cao Phja Bjoóc và Phja Dạ
Cùng với sự che chắn của các dãy núi cao và sự bốc hơi nước diễn ra quanh năm
đã khiến cho khí hậu của VQG Ba Bể luôn mát mẻ và ấm Đặc trưng khí hậu của vùng
là nhiệt đới ẩm gió mùa, nó có sự phân hóa khí hậu so với vùng khác là do có sự phân
dị mạnh mẽ về mặt địa hình hướng núi Một năm ở vùng có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 6 – tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 – tháng 1
Lượng mưa trung bình năm của khu vưc: 1378 mm
Độ ẩm trung bình năm: 83,3%
Nhiệt độ trung bình năm: 220C
Nhiệt độ cao nhất là 390C Nhưng vào các tháng mùa đông nhiệt độ ở đây rất thấp có thể xuống tới 60C, đặc biệt có thời điểm -0,60C
3.1.1.5 Thủy văn
VQG Ba Bể có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, với ảnh hưởng của 3 dòng chảy thường xuyên vào hồ Ba bể là sông chợ Leng ở phía Tây Nam, suối Pó Lù, Tả Han từ phía Tây, chảy ngầm trong núi đá vôi, đổ ra cửa động Nả Phòng và chảy vào hồ
Ba Bể Nước hồ chảy ra sông năng, con sông có nguồn gốc từ dãy Phia Bioc, chảy qua động Puông, thác Đầu Đẳng và đổ vào sông Gâm (ở Na Hang- Tuyên Quang)
Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên có diện tích 500ha, tốc độ dòng chảy là 0,5m/s nước hồ trong xanh quanh năm Hồ có chức năng phân lũ cho sông Năng, sông Gâm
Trang 32Về mùa lũ, mực nước có thể dao đọng lên xuống từ 2,5-3m so với mức bình thường hồ có độ sâu trung bình từ 20-25m, nơi sâu nhất là 35m, nơi nông nhất từ 5-10m Đáy hồ không bằng phẳng mà có nhiều núi ngầm hang động
3.1.1.6 Tài nguyên thực vật
VQG Ba Bể có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi, trong đó có nhiều loài thực vật quí hiếm có giá trị được ghi vào Sách Đỏ của Việt Nam và Thế giới Các loài cây gỗ quý, hiếm như: Nghiến, Đinh, Lim, Trúc dây…trong đó, Trúc dây là một loài tre đặc hữu của Ba Bể thường mọc tại các vách núi, thân của chúng thả mành mành xuống
hồ tạo nên những bức mành xung quanh hồ
Trong khu vực có tổ thành loài cây được sử dụng làm thực phẩm, làm thuốc phong phú, đặc biệt là sự có mặt của cây Giảo cổ lam, cây rau sắng Những loài cây này không chỉ có ý nghĩa đối với đời sống sức khỏe của người dân trong vùng mà còn
mở ra một triển vọng to lớn để phát triển nghề khai thác và chế biến dược thảo – một bộ phận quan trọng của sản phẩm ngoài gỗ của địa phương
Đây còn là khu vực được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài lan không chỉ của Việt Nam mà còn của
cả toàn vùng Đông Nam Á Ở đây có 182 loài lan, một số loài lan là đặc hữu, chỉ phát hiện thấy duy nhất ở vùng này
3.1.1.7 Tài nguyên động vật
Khu hệ động vật rất phong phú với 81 loài thú, 27 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư,
322 loài chim, 106 loài cá, 553 loài côn trùng và nhện Trong đó có nhiều loài có giá trị, quý hiếm đã được Việt Nam và Quốc tế ghi vào Sách Đỏ
Về khu hệ cá, Hồ Ba Bể và các sông suối phụ cận có đến 106 loài cá được xác định phong phú nhất ở Việt Nam, bởi các hồ khác như hồ Lắc cũng chỉ có 35 loài, hồ Tây - 36 loài, hồ Châu Trúc - 47 loài VQG Ba Bể còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với sự có mặt của một số loài đang bị đe dọa trên toàn cầu như Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) và Cầy vằn bắc (Hemigalus owstoni), mặc dù vậy số lượng Voọc đen má trắng hiện còn tồn tại trong khu vực rất ít
Trang 333.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
3.1.2.1 Dân số, lao động và việc làm
Hiện trạng dân số và lao động 3 xã Khang Ninh; Cao Thượng và Quảng Khê tại thời điểm điều tra được tổng hợp trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Dân số và lao động khu vực nghiên cứu
Các dân tộc chính sinh sống trên địa bàn gồm người Tày, người Nùng, người Dao; người Mông và người Kinh với những đặc điểm sinh sống và phong tục tập quán rất khác nhau
Người Tày chiếm số lượng trên 60%, là dân tộc bản địa có số lượng lớn, tổ chức làng xã người Tày khá chặt chẽ do trưởng thôn đứng đầu
Người Dao chiếm khoảng 25% tập trung ở xã Khang Ninh, Cao Thượng với nhiều phong tục sinh hoạt và sản xuất lạc hậu
Người Mông chiếm khoảng 15% Số còn lại là dân tộc Kinh và một số dân tộc khác
Lao động trong khu vực chủ yếu là lao động trẻ, trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo về kỹ thuật chuyên môn Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là ruộng một vụ nên thời gian nông nhàn nhiều Người dân địa phương tốn nhiều thời gian vào các hoạt
Trang 34động nương rẫy và khai thác củi, gỗ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình, đời sống của người dân hiện tại vẫn còn nhiều khó khăn
Đặc biệt là xã Quảng Khê có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất chiếm 62,25% trong toàn
xã
3.2 Tình hình sản xuất kinh doanh
3.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Mặc dù nông nghiệp là ngành sản xuất chính trên địa bàn 3 xã nghiên cứu, song diện tích canh tác nông nghiệp ở đây lại rất ít Trung bình mỗi xã có hơn 238 ha đất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp của 3 xã chủ yếu là tập trung vào các cây ngắn ngày, cây hàng năm như Lúa, Đậu, Lạc, Ngô… Phương thức canh tác chủ yếu là quảng canh nhưng lại phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nên năng suất thấp Trong sản xuất nông
Trang 35nghiệp cây ngô, lúa đóng vai trò chủ đạo và là nguồn thu nhập chính của các hộ dân trong khu vực
3.2.2 Sản xuất lâm nghiệp
Phần lớn rừng và đất rừng ở đây được quy hoạch là rừng đặc dụng và phòng hộ của vườn Quốc gia nên nguồn thu chủ yếu từ rừng là khai thác lâm sản ngoài gỗ Rừng
tự nhiên phòng hộ chưa được đầu tư để khai thác hưởng lợi từ rừng Hơn nữa, rừng ở đây chủ yếu là rừng núi đá khó có thể vạch định danh giới quản lý một cách rõ ràng Mặt khác, người dân chưa có cơ chế hưởng lợi thoả đáng nên chưa có ý thức đầy đủ trong bảo vệ rừng Qua phỏng vấn trong các hộ gia đình có tới 80% số hộ cho rằng rừng
là của Nhà nước nên họ ít quan tâm đến việc quản lý và bảo vệ rừng
3.2.3 Chăn nuôi
Hầu hết các hộ trong xã đều chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà… Phương thức chăn nuôi vẫn mang tính chát thả rông tự nhiên, thiếu đầu tư giống và phòng dịch nên gia súc phát triển chậm, hiệu quả đem lại chưa cao
Bảng 3.3 Thống kê các loại gia súc gia cầm ở 3 xã
Trong đó
TT Tên gia súc/gia
cầm
Đơn vị tính
Số Lượng Khang
Ning
Cao Thượng
Quảng Khê
Trang 363.2.4 Cơ sở hạ tầng
3.2.4.1 Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông của khu vực nghiên cứu còn rất khó khăn, hai tuyển đường giao thông chính là tỉnh lộ 258 và quốc lộ 279 để thông thương với các xã, huyện và tỉnh khác tuy đã được trải nhựa nhưng còn rất hẹp, nhiều cua gấp và đèo cao Hệ thống đường từ trung tâm xã đến thôn còn rất khó khăn, nhiều thôn chỉ có đường mòn đi bộ đến trung tâm xã mất từ 3 đến 5 giờ (như thôn Tọt Còn xã Cao Thượng)
3.2.4.2 Thuỷ lợi
Do đặc điểm địa hình chia cắt mạnh và đất canh tác nông nghiệp lại phân bố rải rác và manh mún nên trong khu vực chưa có hệ thống kênh mương kiên cố, nước dùng cho sản xuất chủ yếu là nước trời, nước tự nhiên từ các sông suối, ao đập nhỏ Đây là một khó khăn không nhỏ trong sản xuất nông nghiệp
Trang 37Các xã đều có trạm y tế nhưng đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu về số lượng và hạn chế về trình độ chuyên môn, trang thiết bị kỹ thuật còn rất nghèo nàn nên chỉ mới đáp ứng được yêu cầu khám, chữa các bệnh thông thường Tuy nhiên, vấn đề kế hoạch hoá gia đình đã được cán bộ xã và người dân hưởng ứng tham gia cho nên đã hạn chế được
tỷ lệ tăng dân số, các gia đình đã biết sử dụng muối Iốt trong các bữa ăn hàng ngày để phòng bệnh biếu cổ
Bảng 3.4 Mạng lưới nhân viên y tế
3 Quảng Khê 4 01 bác sỹ, 01 y sỹ y học cổ truyền; 01 y tế
điều dưỡng; 01 dược sỹ
3.2.4.6 Giáo dục
Cả hai xã đều có trường cấp 1 và cấp 2, các trường đều có cơ sở vật chất tương đối khang trang, hầu hết các trường đều được xây kiên cố bằng vốn hỗ trợ của Nhà nước, chất lượng đảm bảo Đội ngũ giáo viên về trình độ không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, do đời sống khó khăn nên trẻ em đến trường chỉ mới đạt 80 – 85%, hầu hết trẻ em mới học hết cấp một, bậc trung học cơ sở khoảng 60%, số theo học phổ thông trung học chỉ khoảng 10 -12% do hoàn cảnh gia đình khó khăn
Bảng 3.5 Hiện trạng giáo dục
Tên xã Tên trường và cấp học Số lớp học Số học sinh Số giáo viên