Những năm vừa qua vùng ven biển Việt Nam đặc biệt là Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa… chịu sự tác động dôn dập của các cơn bão to. Sức tàn phá của những cơn bão không những gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội, con người mà còn gây nỗi bang hoàng không chỉ những hộ dân ven biển mà nhân dân trong cả nước. Tuy nhiên tại nhiều vùng (như Giao Thủy) mặc dù hệ thống đê điều chỉ có thể chịu được những cơn bão gió cấp 6, cấp 7. Trong khi sức gió của những cơn bão giật trên cấp 12 thì hệ thống đê Trung ương không bị vỡ, hệ thống đê biển chỉ sạt lở và vỡ một số đoạn. Điều kì diệu này xảy ra là do những cánh rừng ngập mặn tươi tốt đã tạo thành “bức tường xanh” ngăn chặn bàn tay hung dữ của biển cả. Sự tồn tại im lặng bao nhiêu năm của rừng ngập mặn đến bây giờ mới được mọi người quan tâm. Ngoài ra trong những năm vừa qua, ngoài tác động của gió bão thì nhều vùng nuôi trồng thủy sản bị thất thu trên diện rộng. Môi trường ao nuôi bị ô nhiễm, tôm chết hàng loạt. Nuôi trồng hải sản không còn là “xóa đói giảm nghèo” cho người dân mà đã biến người dân có nguy cơ trở thành con nợ. Cùng với điều kiện nuôi như vậy thì nhiều đầm nuôi sinh thái (nuôi tôm kết hợp với trồng rừng ngập mặn) thì nuôi trồng hải vẫn mang lại hệu quả kinh tế ổn định và có xu hướng ngày càng tăng. Đây là bài học lớn cho các hộ nuôi hải sản. Mặt khác theo dữ liệu thống kê từ Indonesia ước tính 20% trại nuôi tôm ở những địa điểm vốn là rừng ngập mặn tại Vịnh Thái Lan bị phế bỏ chỉ sau từ 2 đến 4 năm, và việc nuôi tôm ở đó cũng đang chuyển dịch sang cây trồng khác nhưng không hiệu quả, các trang trại dịch quá về phía nam, để lại những vùng đất hoang phế không được sử dụng. Một tình hình tương tự tiềm tàng ở Việt Nam, mà mới đây là ở Tiền Hải (Thái Bình). Đây là một vấn đề nan giải đối với kế hoạch phát triển thủy sản của Nhà Nước Với những sự thiệt hại ở nhiều vùng ven biển có điều kiện khác nhau như vậy mà đông đảo mọi người mới nhìn nhận lại tầm quan trọng của Rừng ngập mặn là bảo vệ đê, bảo vệ mùa màng và tạo sự ổn định trong cộng đồng dân cư sống đằng sau những cánh rừng đó. Nhìn một cách toàn diện thì những dải cây ngập mặn đó không đơn thuần tồn tại như một cánh rừng mà mang tính chất là một hệ sinh thái với những tầm quan trọng trong nhiều mặt. Hệ sinh thái- rừng ngập mặn (HST- RNM) không những có giá trị về điều tiết sinh thái mà nhiều trong số đó gián tiếp hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế có ích cho các cộng đồng ven biển như: cung cấp gỗ, lương thực, thuốc chữa bệnh và nguồn hải sản dồi dào. Những sản phẩm đó của rừng ngập mặn có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế tự cung tự cấp, đồng thời cũng cung cấp 1 nền tảng thương mại cho nền kinh tế địa phương và quốc gia. Việc nghiên cứu ”Đánh giá hiệu quả của hệ sinh thái rừng ngập mặn” góp phần giúp chúng ta đánh giá tốt hơn tầm quan trọng của hệ sinh thái đa dạng nhất hành tinh này, đồng thời giúp chính quyền địa phương, các cấp các nghành có những giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của HST- RNM về mặt kinh tế- xã hội- môi trường Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ”Đánh giá hiệu quả của hệ sinh thái- rừng ngập mặn tại xã Giao An, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định”
Trang 1PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm vừa qua vùng ven biển Việt Nam đặc biệt là Nam Định, TháiBình, Thanh Hóa… chịu sự tác động dôn dập của các cơn bão to Sức tàn phácủa những cơn bão không những gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội, conngười mà còn gây nỗi bang hoàng không chỉ những hộ dân ven biển mà nhândân trong cả nước Tuy nhiên tại nhiều vùng (như Giao Thủy) mặc dù hệ thống
đê điều chỉ có thể chịu được những cơn bão gió cấp 6, cấp 7 Trong khi sức giócủa những cơn bão giật trên cấp 12 thì hệ thống đê Trung ương không bị vỡ, hệthống đê biển chỉ sạt lở và vỡ một số đoạn Điều kì diệu này xảy ra là do nhữngcánh rừng ngập mặn tươi tốt đã tạo thành “bức tường xanh” ngăn chặn bàn tayhung dữ của biển cả Sự tồn tại im lặng bao nhiêu năm của rừng ngập mặn đếnbây giờ mới được mọi người quan tâm
Ngoài ra trong những năm vừa qua, ngoài tác động của gió bão thì nhềuvùng nuôi trồng thủy sản bị thất thu trên diện rộng Môi trường ao nuôi bị ônhiễm, tôm chết hàng loạt Nuôi trồng hải sản không còn là “xóa đói giảmnghèo” cho người dân mà đã biến người dân có nguy cơ trở thành con nợ Cùngvới điều kiện nuôi như vậy thì nhiều đầm nuôi sinh thái (nuôi tôm kết hợp vớitrồng rừng ngập mặn) thì nuôi trồng hải vẫn mang lại hệu quả kinh tế ổn định và
có xu hướng ngày càng tăng Đây là bài học lớn cho các hộ nuôi hải sản Mặtkhác theo dữ liệu thống kê từ Indonesia ước tính 20% trại nuôi tôm ở những địađiểm vốn là rừng ngập mặn tại Vịnh Thái Lan bị phế bỏ chỉ sau từ 2 đến 4 năm,
và việc nuôi tôm ở đó cũng đang chuyển dịch sang cây trồng khác nhưng khônghiệu quả, các trang trại dịch quá về phía nam, để lại những vùng đất hoang phếkhông được sử dụng Một tình hình tương tự tiềm tàng ở Việt Nam, mà mới đây
là ở Tiền Hải (Thái Bình) Đây là một vấn đề nan giải đối với kế hoạch pháttriển thủy sản của Nhà Nước
Trang 2Với những sự thiệt hại ở nhiều vùng ven biển có điều kiện khác nhau nhưvậy mà đông đảo mọi người mới nhìn nhận lại tầm quan trọng của Rừng ngậpmặn là bảo vệ đê, bảo vệ mùa màng và tạo sự ổn định trong cộng đồng dân cưsống đằng sau những cánh rừng đó.
Nhìn một cách toàn diện thì những dải cây ngập mặn đó không đơn thuầntồn tại như một cánh rừng mà mang tính chất là một hệ sinh thái với những tầmquan trọng trong nhiều mặt
Hệ sinh thái- rừng ngập mặn (HST- RNM) không những có giá trị về điềutiết sinh thái mà nhiều trong số đó gián tiếp hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế cóích cho các cộng đồng ven biển như: cung cấp gỗ, lương thực, thuốc chữa bệnh
và nguồn hải sản dồi dào Những sản phẩm đó của rừng ngập mặn có ý nghĩasống còn đối với nền kinh tế tự cung tự cấp, đồng thời cũng cung cấp 1 nền tảngthương mại cho nền kinh tế địa phương và quốc gia
Việc nghiên cứu ”Đánh giá hiệu quả của hệ sinh thái rừng ngập mặn” gópphần giúp chúng ta đánh giá tốt hơn tầm quan trọng của hệ sinh thái đa dạngnhất hành tinh này, đồng thời giúp chính quyền địa phương, các cấp các nghành
có những giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của HST- RNM về mặt kinh
tế-xã hội- môi trường
Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ”Đánh giá hiệu quả của hệ sinh thái- rừng ngập mặn tại xã Giao An, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 3- Đánh giá hiệu quả của HST- RNM về mặt KT- XH- MT trong địa bàn xãGiao An.
- Đề xuất một số định hướng giải pháp nhằm phát huy hơn nữa hiệu quảcủa HST- RNM của xã trong thời gian tới
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Là hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường của HST- RNM mà chủ yếu
là hiệu quả về mặt kinh tế tại địa bàn xã Giao An- Giao Thuỷ- Nam Định
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp thu thập qua 3 năm từ 2007- 2009
- Số liệu sơ cấp thu thập qua điều tra phỏng vấn người dân trong xã năm2010
Trang 4PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Hệ sinh thái- rừng ngập mặn (HST- RNM) là một hệ sinh thái mà trong đó
có mối quan hệ tương tác giữa các cây ngập mặn, quần xã sinh vật, loài lưỡngcư… với môi trường ngập mặn
2.1.1.2 Đặc điểm của HST- RNM
Nằm giữa đất liền và biển, rừng ngập mặn là một hiện tượng tự nhiên, lànguồn tài nguyên quý báu vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới.Rừng ngập mặn là nơi cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ, củi, thực phẩm,tamin
HST- RNM có ưu thái sinh thế đặc biệt” rừng giao hoà với biển” tạo nênsinh cảnh độc đáo Nơi đây quần tụ nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm tạonên khu hệ sinh vật đậm nét và sinh cảnh độc đáo Cùng với sinh cảnh rừngngập mặn là các sinh cảnh bãi cát, bãi lầy, phù sa, mặt nước sông, nước biển lànơi cư chú và kiếm ăn quan trọng của loài chim di cư
Rừng ngập mặn thuộc hệ thống sinh thái tăng trưởng nhanh và đa dạngsinh học nhất hành tinh, làm nền tảng cho các hệ thống sinh thái phức tạp vàphong phú trong sự giao diện quân cư đất, nước và biển
Với những đặc điểm như trên HST- RNM có giá trị rất to lớn trong nhiềumặt: đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế- xã hội tuy nhiên lại là hệ sinh tháirất nhạy cảm, và nằm trong số những hệ sinh thái bị đe doạ nhất trên trái đất vàđang suy giảm theo một tốc độ báo động Chỉ cần chuyển sang các mục đích
Trang 5kinh tế khác thì HST- RNM bị tàn phá nặng nề gây những tổn thất to lớn về môitrường, nguồn lợi, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống người dân chịu ảnh hưởng củaHST- RNM
2.1.1.3 Vai trò của HST- RNM
* Một là HST- RNM có vai trò quan trọng trong hình thành và phát triển
nguồn lợi hải sản
Một khi rừng ngập mặn hình thành, mùn bã do lá và các bộ phận khác của
lá rụng xuống được vi sinh vật phân huỷ là nguồn thức ăn quan trọng cho nhiềuđộng vật ở dưới nước Mặt khác, rừng với hệ thống rễ chằng chịt đã giữ phù sa,tạo nên môi trường sống thích hợp cho nhiều loài động vật đáy
Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng trong chu trình dinh dưỡng, lànguồn cung cấp chất hữu cơ, là nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng hoặc nơi sống lâu dàicho nhiều hải sản có giá trị như tôm, cá, cua, ngao, sò, ốc, hến…Rừng ngập mặnvừa cung cấp thức ăn trực tiếp (mùn, bã, quả rụng) vừa gián tiếp qua các độngvật ăn mùn bã làm mồi cho các loìa cá lớn và một số động vật ăn thịt khác Do
đó thành phần hệ động vật trong rừng ngập mặn phong phú và đa dạng
Điều đáng quan tâm là nguồn giống tôm, cua, cá trong vùng rừng ngập mặnrất phong phú So sánh thành phần loài các loài các và tôm trong một số vùng córừng ngập mặn vào các mùa vụ trong năm đều thấy số lượng ấu trùng của chúngcao hơn hẳn so với các vùng đất, cát ở ngoài biển
HST- RNM đã duy trì nguồn dinh dưỡng giàu có đảm bảo cho sự phát triểncác loài sinh vật ngay trong rừng ngập mặn Vì thế mà tại đó những dải ven biểnhình thnàh những ngư trường lớn trong đất liền
* Hai là HST- RNM là môi trường sinh sống, cư chú của nhiều loài động
thực vật và bảo vệ nguồn gen quý hiếm
HST- RNM còn là nơi cư chú quan trọng của vô số những loài bò sát, độngvật có vú và chim, nhiều loài trong số đó bị đe doạ hoặc gần ngưỡng bị đe doạtrên toàn cầu, và luôn đứng trước nguy cơ mất nơi ẩn náu Những loài bò sáttrong rừng ngập mặn thuộc diện cần bảo tồn bao gồm: kỳ đà, cá sấu cửa sông…
Trang 6Những vùng sình lầy dọc bờ biển này rất quan trọng đối với nhiều loàichim đặc biệt là chim nước di trú Những khu rừng ngập mặn vẫn còn mang nétnguyên thuỷ chưa bị khai phá nhiều đã thành nơi và đã thu hút nhiều loài chim
mà đã từ lâu không còn xuất hiện
Nếu HST- RNM còn duy trì và giữ được cân bằng thì sẽ trở thành nơi bảotồn nguồn gen quý hiếm góp phần làm tăng đa dạng sinh học cho hệ sinh tháiđầy sức sống này
* Ba là hệ sinh thái này giúp điều hoà khí hậu, mở rộng diện tích bãi bồi,
* Bốn là HST- RNM có vai trò bảo vệ hệ thống đê
Dải rừng càng rộng thì khả năng làm yếu lực và chiều cao của sóng cànglớn Kết quả nghiên cứu của Maida (1997) đối với rừng trang trồng theo các lứatuổi khác nhau với chiều rộng từ chân bờ đầm tôm đến bãi trống là 1,5 km chothấy ở chỗ bãi cát ngoài chưa trồng cây được, sóng cao 1m, khi vào đến chân bờđầm chỉ còn 0,05m nhờ sức cản của cây Nếu không có rừng ngập mặn trên đóthì chiều cao của sóng ở chân bờ đầm còn tới 0,75m và bị bờ đầm xói lở mạnh
* Năm là HST- RNM là nơi cung cấp nhiều nguồn tài nguyên, tạo công ăn
việc làm tăng thu nhập cho cộng đồng dân cư ven biển
Trang 7Cuộc sống của những người dân nghèo ven biển phụ thuộc vào các hải sảntrên bãi triều Ở những tuyến đê không có rừng ngập mặn, hàng ngày người lớn
và trẻ em ra các bãi cát đào don, vọp hoặc đào cỏ gấubiển ở bãi, thậm chí ở cảmái đê để bán hoặc làm thuốc Một số người đào hang ở mái đê để bắt rắn, ếch
Do đó thường sau khi triều xuống, đất bãi cát bị cuốn trôi ra biển làm cho chân
đê bị bào mòn
Ngược lại khi có dải rừng ngập mặn bảo vệ thì người dân có thể kiếm hảisản ở trong rừng (ốc, vạng, cá bớp…) mà không ảnh hưởng đến chân đê Các dảirừng ngập mặn còn cung cấp mùn bã cho các bãi lầy ở phía trước rừng tạo môitrường thuận lợi cho các hải sản sinh sống và người dân có thể có thu nhập cahơn và trẻ em có thể vừa kiếm ăn vừa đến trường Rừng ngập mặn càng ngàycàng phát triển thì nguồn lợi hải sản càng ngày càng tăng và cư dân vào rừngkhai thác cũng vì thế tăng cao Không cần tập trung nhiều lao động, vốn nhưđánh bắt ngoài khơi, khai thác hải sản trong rừng ngập mặn mở rộng cơ hộikiếm sống cho tất cả mọi người: phụ nữ, trẻ em, người trung tuổi, người ít vốnlẫn người nhiều vốn Ngoài ra người dân còn có thể kiếm củi gỗ, khai thácnguồn mật hoa, dược liệu, cũng nhưcác giá trị sử dụng khác từ những cây ngậpmặn trong rừng Một giá trị kinh tế quan trọng mà rừng ngập mặn đem lại là tạomôi trường thuận lợi cho phát triển nuôi trồng hải sản giúp nhiều hộ dân thoátnghèo, tăng thu nhập một cách nhanh chóng Địa phương nào có kế hoạch đầu
tư thì có thể phát triển du lịch sinh thái góp phần tăng thêm thu nhập cho các hộ
2.1.1.4 Một số chủ trương chính sách của Đảng, Chính Phủ về rừng ngập mặn
Việt Nam đã ban hành nhiều luật liên quan đến quyền sở hữu đất đai, tàinguyên rừng và việc bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên, trong đó có tàinguyên rừng Các luật chủ yếu là:
Luật đất đai ban hành năm 1988, sửa đổi bổ sung năm 1993, 1998, 2003Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, sửa đổi năm 2004 đề cập tớiquyền sở hữu rừng của công đồng
Luật bảo vệ môi trường năm 1993
Trang 8Dưới luật có các nghị định, quyết định quan trọng chủ yếu của Chính phủnhư:
Quyết định số 01/CP ban hành năm 1995 về việc giao khoán đất nông,lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước
Nghị định só 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ về giao đất và cho thuê đấtlâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng ổn định lâu dàivào mục tiêu lâm nghiệp
Quyết định số 611/QĐ- TTg của Thủ tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm
vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
Quyết định số 08/2001/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ về qui chế quản
lí các loại rừng là: rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sảnxuất
Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyềnhưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhận khoánrừng và đất lâm nghiệp
Các văn bản, quy định này chỉ áp dụng cho rừng nói chung còn với rừngngập mặn thì lại chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Do đó các địa phương córừng ngập mặn phải vận dụng cho phù hợp Chính sách lâm nghiệp này rất quantrọng đối với lợi ích người dân tham gia bảo vệ phát triển vốn rừng nói chung vàvốn rừng ngập mặn nói riêng
2.1.3 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả
2.1.3.1 Khái niệm về hiệu quả, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
a/ Khái niệm hiệu quả
Danh từ “hiệu quả” được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống, nói đếnhiệu quả người ta sẽ hiểu là công việc đạt kết quả tốt, tiết kiệm nguồn lực nóichung Hoạt động sản xuất của con người và quá trình khai thác tài nguyên đều
có mục đích là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duynhất đạt được về mặt kinh tế mà còn tạo ra nhiều kết quả liên quan tới đời sống
Trang 9xã hội của con người Những kết quả đó chính là cải thiện đời sống và giải quyếtcông ăn việc làm cho người lao động, góp phần ổn định tình hình chính trị và xãhội, trật tự trị an, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cải tạomôi trường sống… Mặt khác, một hoạt động kinh tế hay một biện pháp nào đó
có thể mang lại HQKT cho một cá nhân, một doanh nghiệp Nhưng xét trênphạm vi rộng lớn hơn nó có thể gây ra một hậu quả xấu Do đó, khi đánh giáhiệu quả cần phân định và làm rõ mối quan hệ giữa các loại hiệu quả để rút ranhững nhận xét chính xác HQKT là một phạm trù chung nhất, nó phản ánh mộtchất lượng của quá trình sản xuất đồng thời nó liên quan trực tiếp đến quá trìnhsản xuất với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác
b/ Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế
Quan điểm chung cho rằng hiệu quả kinh tế là 1 phạm trù kinh tế phảnánh mặt chất của các hoạt động sản xuất Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng nhucầu ngày càng cao về vật chất và tinh thàn của toàn xã hội, khi nguồn lực sảnxuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là 1đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội Mục tiêu lâu dài của người sảnxuất kinh doanh là không ngừng tìm mọi biện pháp để tối đa hoá lợi nhuận.Muốn đạt được mục tiêu trên các nhà sản xuất đặc biệt quan tâm tới hiệu quảkinh tế Vấn đề hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm riêng của các nhàsản xuất, mà là mối quan tâm chung của toàn xã hội Khi bàn về hiệu quả kinh tế
có nhiều quan điểm khác nhau nhưng có 1 số quan điểm chủ yếu sau:
*) Quan điểm 1: HQKT là chỉ tiêu tông hợp nhất về chất lượng ủa sản xuấtkinh doanh Nội dung của nó so sánh kết quả sản xuất đạt được với chi phí bỏ ra
Phương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ nét trình độ sử dụng cácnguồn lực, xem xét được 1 đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kếtquả, hoặc 1 đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực, giúp so sánhđược hiệu quả sản xuất ở các quy mô khác nhau
Trang 10*) Quan điểm 2: HQKT trên quan điểm thị trường
Hầu hết các nguồn lực sản xuất đều thuộc dạng khan hiếm, trong khi đónhu cầu của con người không ngừng tăng nhanh về cả số lượng và chất lượng
Do vậy vấn đề đặt ra là phải tiết kiệm nguồn lực, từng bước nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn lực nói chung, trước hết mỗi quá trình sản xuất phải lựa chọnđầu vào tối ưu Nâng cao HQKT có nghĩa là nâng cao trình độ sử dụng nguồnlực, nó quan hệ chặt chẽ với việc tổ chức sử dụng năng lực sản xuất hiện có.Một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khi mức sản xuất nằm trên đường congnăng lực sản xuất Điểm có hiệu quả nhất là điểm cho phép sản xuất tối đa cáchàng hoá theo yêu cầu của thị trường và sử dụng đầy đủ, hợp lí năng lực sảnxuất của doanh nghiệp
*) Quan điểm 3: Trên quan điểm của kinh tế học vi mô, các doanh nghiệptham gia thị trường đều đặt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Trong ngắn hạn,nguyên tắc chung lựa chọn sản lượng tối ưu (Q*) để đạt mục tiêu tối đa hoá lợinhuận là MR= MC (MR: doanh thu biên, MC: chi phí biên) Như vậy doanhnghiệp tăng sản lượng sản xuất đến chừng nào doanh thu biên còn lớn hơn chiphí biên chi phí biên (MR> MC) đến khi có MR= MC thì dừng lại Tại đây sảnlượng sản xuất là sản lượng tối ưu (Q*) để tối đa hoá lợi nhuận
Bên cạnh đó các tác giả có quan điểm này còn khẳng định rằng HQKTkhông chỉ xem xét đến nội dung tiết kiệm chi phí để sản xuất ra 1 đơn vị sảnphẩm, mà còn phải xét tới khía cạnh thoả mãm nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cho
xã hội (Vũ Thị Hằng,2006)
Như vậy HQKT theo quan điểm kinh tế học vi mô:
- Tất cả những quy định sản xuất nằm trên đường cong giới hạn năng lực
là có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực của doanh nghiệp
- Sự thoả mãn tối đa về mặt hàng, số lượng, chất lượng hàng hoá theo nhucầu thị trường, trên giới hạn của đường cong năng lực sản xuất, đạt được hiệuquả kinh tế cao nhất
Trang 11- Kết quả thu được trên 1 đơn vị chi phí càng lớn, hoặc chi phí trên 1 đơn
vị kết quả càng nhỏ thì HQKT càng cao
Trong nền kinh tế quốc dân gồm rất nhiều doanh nghiệp, mỗi doanhnghiệp lựa chọn sản xuất, có HQKT cao thì nền kinh tế quốc dân sẽ đạt đượchiệu quả cao, tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định
Tóm lại, HQKT là 1 phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của quátrình sản xuất và được thể hiện bằng việc so sánh giữa kết quả đạt được và chiphí bỏ ra, đồng thời nó liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất với tất cả cácphạm trù và các qui luật kinh tế khác
Để làm rõ hiệu quả kinh tế, ta có thể phân loại chúng theo những tiêu thứcnhất định như sau:
* Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân thành 3 loại: hiệu quảkinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường Chúng có mối quan hệ tác độngqua lại lẫn nhau:
+ Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữalượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một phương án hay, một giảipháp kĩ thuật quản lí có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tươngquan tương đối giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư Khi xác định HQKT phảixem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối vàđại lượng tuyệt đối HQKT ở đây được biểu hiện bằng tổng giá trị sản phẩm,tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào - đầu ra.+ Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh về mặt xã hội như: tạo công
ăn việc làm, tạo thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội trong cộng đồng, cảithiện đời sống ở nông thôn, xoá đói giảm nghèo v.v…
+ Hiệu quả môi trường: đánh giá sự tác động của phương án sản xuất đếntài nguyên và môi trường sinh thái Xem xét việc sử dụng taì nguyên và cácngoại ứng của hoạt động sản xuất trong mối quan hệ vừa đảm bảo nhu cầu trướcmắt mà không làm phương haị đến khả năng bảo đảm nhu cầu cho thế hệ tươnglai Hiệu quả môi trường được đánh giá bằng các chỉ tiêu định tính như: sự đa
Trang 12dạng về sinh học, sự cân bằng sinh thái, độ xói mòn của đất, lũ lụt, độ che phủmặt đất…
Trong các loại hiệu quả được xem xét thì hiệu quả kinh tế là trọng tâm vàquyết định nhất HQKT được nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện, đầy đủnhất khi có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
* Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và hướng tác động vào sảnxuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành các loại:
+ Hiệu quả sử dụng đất đai
+ Hiệu quả sử dụng vốn
+ Hiệu quả sử dụng lao động
+ Hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên khác
+ Hiệu quả của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật
* Theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu, có thể chia thành các loại sau:+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: là tính toán, xem xét hiệu quả kinh tế chungcho toàn bộ nền kinh tế Dựa vào chỉ tiêu này, chúng ta đánh giá một cách toàndiện tình hình sản xuất và phát triển sản xuất của nền kinh tế, hệ thống luậtpháp, chính sách của nhà nước tác động đến phát triển kinh tế nối chung Khiđánh giá chúng ta phải đứng trên quan điểm toàn diện, nhìn nhận nền kinh tếquốc dân là một chỉnh thể thống nhất
+ Hiệu quả kinh tế ngành: Trong nền kinh tế quốc dân gồm nhiều ngành,lĩnh vực sản xuất, mỗi ngành lại được phân thành nhiều ngành nhỏ Trong hiệuquả kinh tế ngành, người ta tính toán hiệu quả kinh tế riêng cho từng ngành sảnxuất
+ Hiệu quả kinh tế vùng là phản ánh hiệu quả kinh tế của 1 vùng, có thể làvùng kinh tế, vùng lãnh thổ
+ Hiệu quả kinh tế theo quy mô tổ chức sản xuất có nhiều loại quy mô, quy
mô lớn, vừa và nhỏ Mỗi quy mô sản xuất có ưu thế, thế mạnh riêng, ví dụ quy
mô lớn có nhiều ưu thế trong cạnh tranh, song quy mô nhỏ lại có ưu thế là gọnnhẹ, tổ chức chặt chẽ, thoả mãn những lỗ hổng” cơ cấu của thị trường”
Trang 13* Khi đề cập tới hiệu quả các nguồn lực, thông thường người ta nói tới hiệuquả kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực đó Hiệu quả sản xuất đã được nhiềunhà kinh tế bàn tới và đều thống nhất là phải phân biệt rõ 3 khái niệm cơ bản vềhiệu quả:
+ Hiệu quả kĩ thuật: Hiệu quả kĩ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt đượctrên 1 chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng trong sản xuất với những điều kiện
cụ thể về kĩ thuật hay công ngệ áp dụng vào sản xuất Hiệu quả kĩ thuật thườngđược phản ánh trong mối quan hệ về hàm sản xuất, nó liên quan tới phương tiệnvật chất của sản xuất, chỉ ra rằng 1 đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lạibao nhiêu đơn vị sản phẩm, hoặc tăng thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
+ Hiệu quả phân bổ: Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu
tố giá sản phẩm và giá đầu vào được đưa vào tính toán, để phản ánh giá trị sảnphẩm thu thêm trên 1 đơn vị chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chấtcủa hiệu quả phân bổ là hiệu quả kĩ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào
và giá đầu ra Việc xác định hiệu quả phân bổ giống như xác định các điều kiện
về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận, có nghĩa là giá trị biên của sản phẩmphải bằng giá trị biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
+ Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kĩ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả yếu tố hiện vật và yếu tô giátrị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng nguồn lực Chỉ khi nào việc sử dụngnguồn lực đạt cả hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mớiđạy hiệu quả kinh tế Sự khác nhau về hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp cóthể do sự khác nhau giữa hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ
Như vậy, qua phân tích và các cách phân loại như trên, chúng ta thấy rằngtuy có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ởbản chất của nó Người sản xuất muốn thu được lợi nhuận thì phải bỏ ra nhữngchi phí nhất định như nhân lực, nguyên vật liệu, vốn…, so sánh kết quả đạt được
và chi phí bỏ ra để đạt kết quả sẽ có kiệu quả kinh tế, chênh lệch càng cao thìhiệu quả kinh tế càng lớn ( Vũ Thị Hằng, 2006)
Trang 142.1.3.2 Bản chất của HQKT
HQKT được xem xét trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội, hiệu quả môitrường và phát triển bền vững, với hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ Trongmối quan hệ với hiệu quả xã hội thì HQKT chu yếu là phản ánh về mặt hiệu quảsản xuất còn hiệu quả xã hội phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả đạt được
về mặt xã hội với chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó Những hiệu quả đạtđược về mặt xã hội bao gồm các vấn đề như: Tạo việc làm cho người lao động,cải thiện đời sống, giải thích thỏa đáng các lợi ích trong xã hội cải thiện điềukiện môi trường HQKT xét trong mối quan hệ với hiệu quả môi trường và pháttriển bền vững được tạo ra với những tác động tích cực để tạo được tốc độ tăngtrưởng kinh tế thỏa mãn yêu cầu của xã hội, phải đảm bảo các lợi ích về mặt xãhội nhưng phải bảo vệ môi trường ở cả hiện tại và tương lai HQKT trong mốiquan hệ với hiệu quả về mặt kĩ thuật và hiệu quả về mặt phân bổ được tạo ra khi
đã thỏa mãn cả hai hiệu quả này Trong đó hiệu quả kĩ thuật là số lượng sảnphẩm có thể đạt được trên một đơn vị đầu vào hoặc các nguồn lực được sử dụngvào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kĩ thuật và công nghệ Hiệu quả kĩ thuậtphụ thuộc vào bản chất công nghệ được áp dụng, khả năng của người lao động
và môi trường kinh tế xã hội mà ở đó kĩ thuật được áp dụng Hiệu quả phân bổ
là các chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố đầu vào và giá đầu ra được xét đến
để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm khi tăng thêm một đồng chi phí về đầuvào Thực chất đây là hiệu quả kĩ thuật có thể xét đến tác động của yếu tố giá cả.Nói tóm lại là việc xác định các yếu tố này gần như là xác địnhu các điều kiệncàn và đủ để có lý thuyết biên về tối đa hóa lợi nhuận
2.1.3.4 Tiêu chuẩn đánh giá HQKT
HQKT được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu do đó tiêu chuẩn để đánh giáHQKT rất phức tạp và chưa được thống nhất ý kiến Tuy vậy các nhà kinh tếhọc đều cho rằng tính cơ bản và tổng quát để đánh giá HQKT là mức độ đáp ứngnhu cầu của xã hội và tiết kiệm lớn nhất về chi phí, tiêu hao các tài nguyên
Trang 15Tiêu chuẩn KT là các nguyên tắc đánh giá hiệu quả trong nđiều kiện cụ thể
ở một gia đoạn nhất định Do đó nâng cao HQKT là mục tiêu lựa chọn các chỉtiêu đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn đã chọn ở mỗi gia đoạn Từngthời kì phát triển kinh tế- xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá HQKT cũngkhác, mỗi nội dung của hiệu quả sẽ có tính chất đánh giá HQKT quốc dân,HQKT đơn vị Bên cạnh đó còn có nhiều loại: Nhu cầu tối thiểu, nhu cầu có khảnăng thanh toán và nhu cầu mong muốn chung Như vậy, có thể coi thu nhập tối
đa trên một đơn vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá HQKT hiện nay, tiêu chuẩnđánh giá HQKT của các tiến bộ kinh tế ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp nóichung là mức tăng them các kết quả sản xuất và mức tiết kiệm về chi phí laođộng xã hội
2.1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến HQKT HST- RNM
Với cách tính HQKT là H= Q/C dễ dàng nhận ra có hai nhóm yếu tố làmảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đó là: nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến tử
số (Q) và nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến mẫu số (C)
- Nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến tử số (Q)
Nhóm này thể hiện giá trị sản phẩm của 1 quá trình sản xuất, nó phụ thuộcvào giá bán và sản lượng hàng hóa sản xuất ra
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán như: Thị phần của sản phẩm, chấtlượng sản phẩm, thời điểm bán sản phẩm, kênh tiêu thụ sản phẩm, quy cách,tính chất của sản phẩm, chiến lược của nhà sản xuất, thị hiếu của người tiêudung, chính sách phát triển của đất nước cũng như các đối thủ cạnh tranh…
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm: Hình thức và rủi rotrong vận chuyển, điều kiện tự nhiên (đặc biệt là đối với sản phẩm ngành thủysản), thị trường tiêu thụ và hình thức bảo quản…
- Nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến mẫu số (C)
Trong quá trình sản xuất, đây là tập hợp tất cả các chi phí nguồn lực đầuvào và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực đó Các chi phí cơ bản phục vụ sảnxuất thường có: nguyên vật liệu, sức lao động, nhà xưởng và công nghệ… tuy
Trang 16nhiên chi phí cho mỗi nguồn lực lại chịu tác động của rất nhiều yếu tố khácnhau, cụ thể là:
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: Đặc điểm vùngsinh thái, tính hiện đại của công nghệ, giá thành lắp ráp, thời gian sử dụng, nhàcung cấp…
+ Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như:Sức lao động, trình độ lao động, thị trường lao động, chiến lược đào tạo laođộng của nhà sản xuất…
+ Chi phí thuế sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: Chính sách thuếcủa nhà nước, mặt hàng của doanh nghiệp sản xuất, thị trường bán sản phẩm củadoanh nghiệp…
Như vậy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Mức độ ảnhhưởng của nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, chính sách và cơ chế quản lí củaquốc gia, trình độ năng lực của nhà sản xuất và lực lượng lao động, mức độ pháttriển của khoa học công nghệ, tập quán tiêu dung… Vì vậy việc đnáh giá chínhxác các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, các yếu tố cấu thành và tác độngđến đầu vào đầu ra của quá trình sản xuất
Một số chú ý khi xét về hiệu quả kinh tế:
+ Hiệu quả kinh tế luôn biến động chỉ thể hiện tương đối chính xác mốiquan hệ giữa giá trị các yếu tố đầu vào và giá trị các sản phẩm đầu ra trong mộtgiai đoạn nhất định
+ Bất kì thời điểm nào HQKT cũng nằm trong một trong ba khả năng, đólà: H<1, H= 1, H> 1 Trong trường hợp H<1 hay H= 1, khi chi phí các yếu tốđầu vào lớn hơn hay bằng giá trị các sản phẩm sản xuất ra (lỗ hay hòa vốn),trường hợp này không đạt HQKT Như vậy, chỉ có trường hợp H> 1 mới đạtHQKT Do đó bất cứ nhà sản xuất nào cũng cố gắng áp dụng khoa học tiên tiến
để tiết kiệm nguyên liệu và hao phí lao động; áp dụng chiến lược tiếp thị, quan
hệ hợp tác để tiêu thụ và mua nguyên vật liệu được nhiều hơn, rẻ hơn và bán sảnphẩm với giá đắt nhất Tất cả các cố gắng đó chỉ nhằm đạt được HQKT cao hơn
Trang 172.1.3.6 Ý nghĩa của việc nâng cao HQKT
Nâng cao HQKT là cơ hội để tăng được lợi nhuận từ đó làm cơ sở để nhàsản xuất tích lũy vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng Nâng cao HQKT sẽlàm thu nhập của người lao động ngày càng được cải thiện Đây chính là cái gốc
để giải quyết mọi vấn đề
Đối với ngành nuôi trồng thủy sản thì nâng cao hiệu quả về mặt kinh tế- xãhội- môi trường có ý nghĩa rất quan trọng Muốn nâng cao HQKT thì một trongnhững vấn đề cốt lõi là phải tiết kiệm nguồn lực
Nâng cao HQKT là tất yếu của sự phát triển xã hội, tuy nhiên ở các địa vịkhác nhau thì có những quan tâm khác nhau Đối với người sản xuất thì nângcao hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận, đối với người tiêu dung thì tănghiệu quả chính là họ được sử dụng sản phẩm hang hóa với giá thành ngày càng
hạ và chất lượng ngày càng được tốt hơn Nâng cao hiệu quả sẽ làm cả xã hội cóthuận lợi hơn, lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng đượctăng lên
Tóm lại, nâng cao HQKT nói chung và HQKT của HST- RNM có ý nghĩarất quan trọng Đây là vấn đề trọng tâm của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả giúpcho cả xã hội có lợi hơn Người sản xuất và người tiêu dùng có lợi nên họ dềuquan tâm chú ý
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1 Tình hình phát triển của HST- RNM trên thế giới và Việt Nam
2.2.1.1 Tình hình phát triển của HST- RNM trên thế giới
Rừng ngập mặn có thể mọc tốt ở những vùng có khí hậu nóng và ẩm,không sống được ở vùng lạnh
Trên thế giới có khoảng 16.667.000 ha rừng ngập mặn với hơn 100 loàicây, trong đó ở châu Á nhiệt đới và châu Úc là 7.487.000 ha (Hồng, Sản, 1995).Hai nước có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất thế giới là Indonesia và Brazil,kích thước cây cũng rất lớn Ở Ecudor (Nam Mĩ) có cây cao đến 64m Ở cácnước Đông Nam Á như Malaysia, Philippin, Thái Lan, Việt Nam rừng ngập mặn
Trang 18phát triển vì nơi đây có nhiều điều kiệnn thuận lợi như nhiệt độ cao, ít biếnđộng, lượng mưa dồi dào, bãi lầy rộng, giàu chất mùn và phù sa.
Hiện nay dân số tăng quá nhanh nhất là ở những nước đang phát triển rừngngập mặn bị khai thác quá mức để sử dụng trong sinh hoạt hoặc dùng vào cácmục đích kinh tế khác Do vậy mà diện tích rừng trên thế giới đang bị thu hẹpdần Rừng ngập mặn tự nhiên chỉ còn ở một số nước như Mĩ, Brazil, NhậtBản… Một số nước cũng thành lập vườn quốc gia, khu bảo tồn tài nguyên thiênnhiên, khu bảo vệ các loài động vật, thực vật, nơi nghiên cứu, học tập, du lịchtròng vùng rừng ngập mặn
2.2.1.2 Tình hình phát triển của HST- RNM tại Việt Nam
Con người Việt Nam từ xa xưa đã có những hoạt động chinh phục thiênnhiên, quai đê lấn biển lấy đất sản xuất nông nghiệp và lập ra những làng xãmới Những người dân ở vùng ven biển đã trồng loài trang để bảo vệ đê biển, cóthể coi đây là những thực vật tiên phong có vai trò quan trọng trong việc cải tạođất, tạo điều kiện thuận lợi cho một số cây ngập mặn khác đến định cư như sú,ôro, bần chua… Bãi lầy có thảm thực vật ngập mặn không chỉ là nơi ở, kiếm ăncủa nhiều loài động vật, thực vật vùng triều mà còn là môi trường thích hợp chonhiều loài di cư
Mặc dù diện tích rừng ngập mặn trồng trong những năm gần đây được giatăng đáng kể, tuy nhiên tổng diện tích rừng ngập mặn trên toàn quốc bị suy giảmmột cách rõ rệt
Năm 1943 cả nước có 400.000 ha (100%) đến 1962 còn lại 290.000 ha(72,5%), năm 1982 có 252.000 ha (63%) đến năm 2000 là 155.290 ha (38,8%).Như vậy là, sau gần 60 năm rừng ngập mặn nước ta đã bị suy giảm mất gần 2/3diện tích
Sự biến động về diện tích rừng ngập mặn do nhiều nguyên nhân khác nhaunhư sự huỷ diệt của chất độc hoá học trong chiến tranh, sự khai thác lạm phát
gỗ, củi và các nguyên liệu khác cho cuộc sống hàng ngày của cư dân Đặc biệt là
sự phát triển tôm thiên về lợi ích kinh tế trước mắt không kiểm soát được đã làm
Trang 19cho rừng ngập mặn, hệ sinh thái quan trọng có năng suất sinh học cao nhưngcũng rất nhạy cảm vớí tác động của thiên nhiên và con người đã bị xáo trộn vàsuy thoái nghiêm trọng, cản trở việc gây trồng và phục hồi lại rừng
2.2.2 Vai trò của HST- RNM đối với hiệu quả KT- XH- MT ở Việt Nam
2.2.2.1 Đánh giá chung về giá trị kinh tế của HST – RNM
Do những vai trò quan trọng mà HST- RNM đem lại mà việc đánh giá giátrị kinh tế trực tiếp và gián tiếp sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn vềtầm quan trọng của HST- RNM Theo Phan Nguyên Hồng, Hoàng Thị Sản(1984- 1993) các loài cây ngập mặn ở Việt Nam đã được thống kê và sắp xếptheo các giá trị trực tiếp sau:
1 loài cây cho đường để sản xuất nước giải khát và cồn
30 loài cây cho than, gỗ, củi
14 loài cây cho Tamin
24 loài cây cho phân xanh, cải tạo hoặc giữ đất
21 loài cây làm cây dược liệu
9 loài cây làm chủ thả cánh kiến đỏ
21 loài cây cho mật nuôi ong
Hiện nay những giá trị trực tiếp của rừng ngập mặn đối với nền kinh tế cuaViệt Nam chủ yếu là: than, củi sau đó mới đến gỗ Tại miền Bắc Việt Nam, rừngngập mặn sinh trưởng xấu hơn ở miền Nam rõ rệt, cây ngập mặn ở trong rừngthường không cao quá 10m, nên giá trị trức tiếp của rừng ngập mặn chư yếu chỉ
là củi với năng suất không cao
Trong những năm 1936- 1940 trên diện tích là 150000 ha rừng ngập mặn ởbán đảo Cà Mau đã có 8 khu kinh doanh ổn định với tổng diện tích là 149982
ha, cung cấp hàng năm 1035000 stere củi, 72903 tấn than và 10040 m3 gỗ(Maurand, 1943)
Từ năm 1985 trở về trước, ở miền Nam đã sản xuất Tamin từ vỏ cây đước
và cây đâng, ở miền Bắc để cung cấp cho ngành thuộc da Từ năm 1985 trở lại
Trang 20đây, công việc sản xuất Tamin từ vỏ cây ngập mặn hầu như không còn hoạtđộng nữa.
Rừng ngập mặn cung cấp cho con người những ngư trường lớn trong đấtliền ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng Một mối quan hệ tươngtác diễn ra giữa qui mô rừng ngập mặn và hải sản, ước tính một hecta rừng ngậpmặn có thể đánh bắt được 450 kg hải sản ở đồng bằng sông Cửu Long Cây ngậpmặn gắn bó mật thiết với các điều kiện của các rạng san hô và các thảm thực vậtđáy biển, gần hai phần ba tổng số cá thu được hàng năm lệ thuộc vào tình trạngcác vùng đất ẩm ướt, lầy lội trong những giai đoạn phát triển của chúng Tại cáctỉnh phía bắc Nghĩa Hưng, Giao Thủy, Tiền Hải thu hoạch hàng năm trên mỗi ha
ở các vùng có con nước ròng được từ 330- 730 kg các động vật vỏ cứng thânmềm
Nghề nuôi ong lấy mật ở nhiều tỉnh ven biển miền Bắc lại phát triển, nhưkhu rừng ngập mặn huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định người ta đã di chuyển cácđàn ong đến lấy mật hoa của rừng trang và sú trên diện tích 7200 ha rừng từtháng 4 đến tháng 7 trong năm và mỗi năm thu được từ 20 đến 50 tấn mật ong.Ngoài những giá trị trực tiếp trên, rừng ngập mặn còn có những giá trị giántiếp quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân như: ảnh hưởng đến sản lượng củangành thủy sản ven biển, giảm thiệt hại do giá bão, bảo tồn đa dạng sinh học,phát triển ngành du lịch sinh thái Mỗi năm tình trung bình Việt Nam phải chịu
từ 5 đến 7 cơn bão Bảo vệ các khu vực ven biển vốn dễ bị tổn thương chống lạitác động của các cơn bão là hết sức quan trọng về phương diện kinh tế xã hội.Việt Nam có một hệ thống đê dọc sông và ven biển dài 8000 km rất quan trọngđối với việc bảo vệ cơ sở hạ tầng và đồng ruộng, hàng năm ngân sách của Chínhphủ phải chi trả hàng tỉ đồng vào việc gia cố bảo vệ các tuyến đê Năm 2001,các thảm họa thiên nhiên cướp mất 560 sinh mạng, thiệt hại vật chất lên tới
33000 tỷ đồng Cũng trong năm đó, cơn bão số 4 đổ bộ vào Hà Tĩnh- tại các khurừng ngập mặn, đê điều được an toàn, những nơi không có cây ngập mặn cànglớn thì càng giảm được chi phí bảo vệ đê biển
Trang 21Tác dụng gián tiếp về kinh tế của rừng ngập mặn ở Việt Nam đã chứng tỏrừng ngập mặn rất quan trọng và có giá trị rất lớn hơn rất nhiều lần so với cácgiá trị kinh tế trực tiếp Việc phân tích các giá trị kinh tế của rừng ngập mặn đểgiúp các hộ trong cộng đồng ven biển hiểu rõ quyền lợi của họ dù là trực tiếpkhai thác hay lợi ích gián tiếp dưới dạng phúc lợi xã hội đều gắn liền với việcphát triển bền vững nguồn lợi và họ sẽ thấy rõ trách nhiệm của mình hơn trongcác hoạt động này.
2.2.2.2 Vai trò cuả HST- RNM đối với hiệu quả KT- XH- MT ở Việt Nam.
Các vùng ven biển rừng ngập mặn thường là nơi xa đô thị, thị trấn, đất thấp,lầy lội, nhiều muỗi, đường xá giao thông trắc trở, dân cư phân bố thưa,trình độdân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém Tất cả các tính chất trên đã ảnh hưởng đếnnhận thức và sự hiểu biết nông cạn về giá trị tài nguyên và môi trường conngười dựa vào sức lao động của mình khai thác tự nhiên một cách tùy tiện vì lợiích trước mắt Không những thế tại các vùng này hình thức phát triển theo chiềurộng – tăng sản lượng nhờ khai thác ngày càng nhiều tài nguyên đã đưa các tàinguyên này đến giới hạn khai thác khác
Điển hình như trước đây hàng loạt rừng ngập mặn bị phá đi làm đầm muốinhưng sau một vài năm thu nhập từ muối rất thấp chỉ từ 80.000-100.000đ Vàngười dân đã bổ hàng loạt đồng muối đi Những đồng đó bị măn hóa quá trởthành đồng hoang khó có thể đưa vào chuyển đổi sang hướng khai thác khác.Khi có phong trào phá rừng nuôi tôm thì rừng ngập mặn càng bị thu hẹp.việc khai hoang nuôi tôm mỗi năm cướp đi hàng ngàn ha rừng ngập mặn ở CàMau Tôm sống được vài vụ thì cả một vùng sinh thái bị tàn phá Mâu thuẫn gaygắt giữa nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và nhu cầu khai thác ngày càngtăng
Các vùng ven biển trong đó có rừng ngập mặn đã đóng góp 1% trong tổngthu nhập quốc dân Điều này khiến chúng ta nhìn nhận vai trò của các hộ dân.Nhưng nếu trước đây nguồn lợi tử HST – RNM không đem lại nguồn thu nhậpchính cho các hộ thì tử năm 1997 sau hàng loạt dự án trồng rừng ngập mặn do
Trang 22Hội chữ thập đỏ Đan Mạch, Nhật Bản, Quỹ nhi đồng Anh… tài trợ thì vai tròcủa nó trong thu nhập của hộ ngày càng được khẳng định.
Phục hồi và trồng rừng ngập mặn đã góp phần xóa đói giản nghèo chongười dân ven biển Trong mấy năm, dự án trồng rừng ngập mặn đã giải quyếtcông ăn việc làm, cải thiện đời sống (từ trồng cây, chăm sóc, bảo vệ rừng) cho
1500 hộ nghèo ven biển tỉnh Nghệ An Những cánh rừng ngập mặn được phụchồi tạo điều kiện tăng thu nhập cho người dân ven biển đánh bắt tôm, cua giống.Chỉ tính việc bắt cua giống, người dân trong vùng mỗi ngày có thu nhập từ20.000-50.000đ và bình quân mỗi năm thu về từ hải sản trong rừng từ 4 đến 5triệu đồng
Dự án rừng ngập mặn được trồng lại nhiều nhất là ở tỉnh Nam Định vớidiện tích 2000 ha Dự án này của Đan Mạch đã thu hút 1958 hộ tham gia và có
265 hộ từ nghèo đói triền miên vươn lên cuộc sống ổn định Dự án đã bình chọnnhững gia đình nghèo, có lao động, có tinh thần trách nhiệm tham gia trong dự
án Tiền công trồng rừng ngập mặn 380.000đ/ha đối với cây trang, 330.000đ/hađối với cây bần, 208.000đ/ha cây đước Bình quân mỗi hộ tham gia dự án nhậ từ1-3 triệu đồng, cá biệt có hộ 6-7 triệu đồng Có tiền hộ đầu tư phát triển kinh tếgia đình Việc trồng rừng ngập mặn đã mang lại ý nghĩa to lớn đối với cuộc sốngnghèo ven biển Nó không chỉ mang lại kinh phí tạm thời cho người dân thamgia công tác trồng và bảo vệ rừng mà còn là nơi kiếm sống hàng ngày của ngườidân nghèo không có công ăn việc làm ổn định Sự tăng lên về thu nhập từ nhữngcánh rừng trồng và phục hồi này đã khiến người dân nhìn lại tầm quan trọng củaHST- RNM này và thốt lên “ tất cả là từ rừng ngập mặn mà ra”
Ngoài ra, hàng năm các địa phương có rừng ngập mặn giảm được 15% chiphí tu bổ đê điều Nhiều vùng nuôi trồng hải sản phía ngoài đê biển, phía trongrừng ngập mặn, những hộ sản xuất nông nghiệp cũng yên tâm sản xuất khôngcòn phải lo những tai họa bất ngờ ập xuống HST-RNM đã đảm bảo cho nguồnthu nhập cho tất cả người dân trong vùng ven biển Do đó việc nhận thức đúngđắn vai trò của HST- RNM tới hiệu quả KT- XH- MT là chìa khóa để nâng caomức sống cho người dân vùng ven biển có rừng ngập mặn ở nước ta
Trang 23PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP
- Phía Bắc giáp xã Giao Thanh
- Phía Tây giáp xã Giao Lạc
- Phía Đông giáp xã Giao Thiện
- Phía Nam giáp Vườn quốc gia Xuân Thuỷ
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Giao An nằm trong khu vực cửa sông Ba Lạt và được phù sa sông Hồng bồiđắp quanh năm Địa hình nơi đây gồm 2 phần: đồng bằng ven biển và bãi triều.Đồng bằng ven biển được cấu tạo bởi trầm tích sông biển Đồng bằng bên ngoàinhìn bằng phẳng đơn điệu nhưng lại có những điểm phức tạp có lịch sử pháttriển khác nhau nên bao gồm 3 loại đất: đất trung, đất cao, đất thấp do sự bồi đắpkhông đều Bãi triều được hình thành từ đê Trung ương, bao gồm: Cồn Ngạn,thềm biển, lạch sông, lạch triều
3.1.1.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu thuỷ văn
Vùng ven biển xã Giao An nằm trong miền nhiệt đới gió mùa, khí hậu phânthành 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ thánh 4 đến tháng 10 trùng với mùa mưa Mùalạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau trùng với mùa khô
- Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 24 độ C, nhiệt độ cao nhất trongmùa hè 40,3 độ C, nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông 6,8- 8 độ C, độ ẩm trungbình 84%
- Lượng mưa trung bình năm 1700- 1800mm; số ngày mưa trong năm là
133 ngày
Trang 24- Về chế độ gió: Về mùa đông thịnh hành là hướng Bắc, đầu mùa hè làhướng Đông sau chuyển hướng Đông Nam và Nam Tốc độ gió vào mùa đông là3,2-3,9m/s; vào mùa hè từ 4,0-4,5m/s; tốc độ gió lớn nhất trong khi có bão,giông tố lên tới 45-50m/s (trên cấp 12).
Vùng ven biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới, bãomạnh vào tháng 6 đến tháng 9, bình quân 2-3 cơn bão/ năm Như vậy nhiệt độ,gió và bão đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp cũng như nuôi trồngthuỷ sản nơi đây
- Về thuy văn: Ven bờ các bãi có độ mặn biến đổi rất lớn từ 11-33 phầnnghìn Sự biến thiên của độ mặn còn thuỳ thuộc vào các tháng trong năm vàkhông gian cụ thể của từng vùng bãi Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến mùa
vụ trong sản xuất nông nghiệp (hiếm có vụ đông) và mùa vụ nuôi trồng hải sản(chỉ có 1 vụ tôm 1 năm)
Thuỷ triều thộc chế độ nhiệt triều, chu kì trên dưới 23 giờ, biên độ triềutrung bình khoảng 150- 180cm; lớn nhất là 3,3m nhỏ nhất là 0,25m Với đặcđiểm như vậy mà Giao An có lợi thế là tưới tiêu trong nội đồng là hoàn toàn tựđộng bằng thuỷ triều nên rất thuận lợi và kinh tế
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của xã Giao An
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thểthay thế được Việc phân bổ và sử dụng đất vào các mục đích khác nhau có ảnhhưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh
Qua bảng ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã qua 3 năm không đổi là820,56 ha trong đó bao gồm 4 loại đất chính: đất nông nghiệp, đất chuyên dùng,đất ở và đất chưa sử dụng
Trong nông nghiệp đất chia làm 3 loại chính: đất trồng cây hàng năm, đấtvườn tạp, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản Đất nông nghiệp chiếm trên 70%
và đều biến đổi qua các năm Năm 2008 với diện tích đất là 632 ha tăng lên 19
ha hay tăng 3,9% Đây là sự biến đổi thích hợp so với sự gia tăng của dân cư vàdiện tích đất canh tác/ khẩu Sự tăng của đất nông nghiệp nguyên nhân là do sự
Trang 25khai thác đất chưa sử dụng đem vào làm đất nông nghiệp, cụ thể là đưa vào sửdụng trồng cây lâu năm, lúa Đất trồng cây hàng năm có diện tích rất lớn 443 hachiếm 72,7% và không thay đổi nhiều trong năm 2009, tốc độ tăng bình quânchung là 2,1%.
Đất trồng cây hàng năm bao gồm 2 loại đất chính là đất trồng lúa và đấttrồng cây hàng năm khác, trong đó diện tích đất lúa chiếm 100% năm 2007.Trước đây Giao An còn rất nhiều đất chưa sử dụng đến năm 2008 đã đưa vào cơcấu trồng lúa Đây là điều rất quan trọng khi mà diện tích đất nông nghiệp đangngày càng giảm dần Trong năm 2008 ngoài 7,2 ha tăng lên trong diện tích trồnglúa còn 10,1 ha đất chưa sử dụng vào trồng cây hàng năm Những diện tíchngoài lúa mới đưa thêm này chủ yếu sang trồng cây cảnh và cây hoa hòe đều lànhững cây có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên diện tích trồng lúa vẫn chiếm 97,8%tương ứng 450,3 ha năm 2008, diện tích trồng cây hàng năm khác (như 1 số diệntích nhỏ trồng rau vụ đông: bí xanh, súp lơ, cà chua) từ không có nay đã chiếm2,2% và qua năm 2009 không có sự biến động Đất có mặt nước nuôi trồng thủysản chiếm tỉ lệ tương đối lớn rất phù hợp với các vùng ven biển Qua 2 năm2007- 2008 không đổi vẫn giữ nguyên là 115 ha chiếm trên 18% Đến năm 2009thì 6,7 ha đất mặt nước chưa sử dụng được đưa vào nuôi trồng thủy sản Và đây
là loại đất có tốc độ tăng cao nhất qua các năm trung bình 2,8% và cao nhất năm
2009 tăng 5,8% Đây là kết quả tất yếu của công cuộc chuyển đổi cơ cấu đất đaisang mục đích sử dụng khác có giá trị kinh tế cao hơn
Trong tổng diện tích tự nhiên thì đất chuyên dùng và đất ở tăng nhẹ ở năm
2008 và ổn định ở năm 2009
Đất chưa sử dụng trước đây phần lớn là đồng cỏ và mặt nước, nếu như năm
2007 còn chiếm tương đối lớn 4,6% tương ứng 37 ha Nhưng đến năm 2008 nhờchuyển dịch cơ cấu sang trồng lúa và trồng cây hàng năm đã giảm mạnh 57,1%xuống 16 ha Đến năm 2009 thì lại giảm đi chỉ còn 9 ha chiếm 1,2%, bình quânmỗi năm giảm 49,9% Đây là sự chuyển hướng tích cực nhất trong khi diện tíchđất không đổi mà dân số tăng quá nhanh
Trang 26Bảng 3.1 : Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của xã Giao An
Trang 27Hiện nay Giao An không có diện tích đất lâm nghiệp cũng như diện tíchđất có rừng ngập mặn Tất cả diện tích nay thuộc về Vườn quốc gia XuânThủy Tuy nhiên Giao An lại có lợi thế là 1 xã vùng đệm trong khu bảo tồn nênđược quyền sử dụng hơn 1000 ha rừng ngập mặn, bãi bồi từ địa giới hành chính
xã hướng thẳng ra biển theo nội qui của Vườn quốc gia và của huyện Riêngđánh bắt hải sản tự nhiên thì được quyền khai thác trong phạm vi vườn, điềunày đã mở rộng cơ hội sản xuất cho hộ
3.1.2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của xã Giao An
Dân số và lao động là hai nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tếcũng như sự phát triển chung của toàn xã hội Lao động và cơ cấu lao động ảnhhưởng trực tiếp đến nguồn thu và cơ cấu thu nhập Dân số và sự biến đổi cóảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập bình quân Vì vậy, tìm hiểu về dân số và laođộng là công việc không thể thiếu khi nghiên cứu kinh tế của 1 vùng
Qua số liệu của ban thống kê xã Giao An ta thấy nhân khẩu của toàn xãnăm 2007 là 9847 người với mật độ dân số là 1200 người/km2 Năm 2008 là
9943 người tăng 1% đến năm 2009 tăng 1,1% tương ứng 10.053 người Bìnhquân tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,03% Đây là tốc độ tăng khá cao so vớivùng đồng bằng nhưng lại khá phù hợp với những vùng ven biển Một phầnnữa là Giao An là xã mà gần 40% dân số theo đạo nên việc sinh đẻ có kế hoạchkhó thực hiện được Nếu dân số ngày càng tăng với tốc độ như trên thì xã cũngcần có biện pháp điều chỉnh để làm cho người dân ý thức được vấn đề dân số
và đói nghèo mà chính sách của Đảng, Nhà nước đề ra
Tổng số lao động của xã năm 2009 là 4862 người tăng 1,3% tương ứng 61lao động so với năm 2008 Bình quân trong 3 năm tốc độ tăng lao động bìnhquan đạt 1,2%
Tổng số hộ của xã năm 2007 là 2522 hộ và qua các năm nhiều khẩu tách
ra thành lập hộ riêng, do vậy mà số hộ tăng dần Đến năm 2008 là 2592 hộ tăng2,8%; đến năm 2009 là 2655 hộ tăng 2,4% Bình quân mỗi năm
Trang 28Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã Giao An qua 3 năm 2007-2009
Trang 29số hộ tăng 2,6% Tốc độ tăng số hộ của xã khá cao cao hơn cả tốc độ tăng dân
số Giao An có thế mạnh về kinh tế biển nên rất nhiều hộ tham gia nuôi trồnghải sản Số hộ nuôi trồng hải sản không đổi qua 2 năm 2007-2008 là 78 hộ đếnnăm 2009 là 89 hộ chiếm 3,4% trong tổng số hộ của xã đạt tốc độ tăng bìnhquân 6,8%
Số hộ thu gom hải sản thì tăng nhẹ bình quân 4,6%/năm Như vậy bìnhquân 1 hộ đứng ra thu gom hải sản của 14,7 hộ Số hộ nuôi ong năm 2009 giảm
đi 3 hộ so với năm 2007, bình quân mỗi năm giảm 3,1% Trong khi tốc độ tăng
hộ là 2,6% nên các hộ khác tăng bình quân 3,1%/năm Điều này có thể hiểutrong những năm vừa qua thì số hộ hoạt động trong khai thác nguồn lợi từHST- RNM tương đối ổn định Nếu những tỷ lệ này có thể duy trì thì là mộtviệc tốt cho công tác bảo tồn hệ sinh thái
Chỉ tiêu bình quân quan trọng để đánh giá tiềm lực kinh tế hộ là lao độngbình quân Qua bảng 3.2 ta thấy số lao động bình quân trên hộ năm 2007 là 1,9;con số này cho thấy độ tuổi ngoài lao động của xã là rất lớn vì bình quân nhânkhẩu/hộ là 3,9 người Tuy nhiên chỉ tiêu này có xu hướng giảm qua các nămcho thấy lao động trên tuổi chiếm nhiều hơn lao động dưới tuổi Bình quânnhân khẩu/hộ còn ở mức thấp vì tỷ lệ tăng hộ rất lớn Số lao động tăng nhưngbình quân chỉ tăng 1,23%/năm thấp hơn tốc độ tăng của số hộ nên chỉ tiêu vềnhân khẩu, lao động giảm dần qua các năm Điều này thể hiện quy luật chung
của xã hội về các gia đình hạt nhân trẻ Như vậy số dân của xã trong tương lai gần sẽ là một nguồn lực lớn phục vụ đắc lực cho quá trình phát triển kinh tế của xã đặc biệt là với tiềm năng phát triển ngành kinh tế biển
3.1.2.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật của xã Giao An
Cơ sở vật chất kĩ thuật là một yếu tố không thể thiếu trong mọi quá trìnhsản xuất Nó là yếu tố quyết định đến năng suất lao động, quyết định tới hiệuquả của quá trình kinh doanh Xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật là tạo ra cácphương tiện và điều kiện tốt nhất cho sản xuất, giảm bớt ảnh hưởng xấu củađiều kiện thiên nhiên tới hiệu quả sản xuất Bên cạnh đó nó còn tạo ra cơ hội
Trang 30cho tái sản xuất mở rộng, áp dụng rộng rãi và có hiệu quả các biện pháp kĩthuật tiên tiến, cải thiện một phần điều kiện làm việc cho người lao động.
Về giao thông: xã có tuyến đường tỉnh lộ số 39 chạy qua địa bàn xã vớichiều dài 4,9 km Giao thông trong xã có 35 km đường liên thôn và liên xãtrong đó có 10 km đường nhựa và 25 km đường bê tông Việc xóa bỏ đườngcấp phối đã tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu, lưu thông hàng hóa giữa cácnơi, góp phần đảm bảo cho việc phát triển kinh tế- xã hội
Bên cạnh đó mạng lưới truyền tải điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt
đã được cải tạo và nâng cấp, từng bước đáp ứng kịp thời nguyện vọng của đôngđảo nhân dân Công tác quản lí và phân phối điện dần được củng cố và đi vào
nề nếp tránh được thất thoát trong tiêu dùng đặc biệt là đảm bảo an toàn choquá trình sản xuất Với 100% số dân trong xã dùng điện, toàn xã có 4 trạm biếnthế, 3 trạm có công suất 180 KWA và 1 trạm có công suất 380 KWA
Về mạng lưới thông tin liên lạc: Hiện nay xã đã xây dựng được 1 bưu điệntrung tâm được trang bị hiện đại Toàn xã có khoảng trên 2000 chiếc máy điệnthoại bàn và 97,6% số hộ có máy truyền hình Đây là tín hiệu đáng mừng choviệc tiếp cận những phương thức sản xuất những kinh nghiệm quý báu chongười dân
Về thủy lợi: Toàn xã có 9 km kênh mương tưới cấp nước trong đó kiên cốhóa được 5,5 km còn 3,5 km là bán kiên cố hóa Do đặc điểm vị trí địa lí và chế
độ thủy triều mà xã có lợi thế là thực hiện tưới tiêu hoàn toàn tự động Vì vậy
mà xã không hề có một trạm bơm nào Tuy nhiên mạng lưới kênh mương vẫnđảm bảo đủ lượng nước cho sản xuất trên diện tích canh tác của toàn xã
Về hệ thống nước phục vụ cho sinh hoạt: Có hai nguồn nước: Nước ăndùng nước mưa từ bể chứa với dung tích còn hơi hạn chế, còn nước sinh hoạtthì có nước máy lấy từ nhà máy nước được đồn biên phòng 84 hỗ trợ xây dựng.Tuy công suất còn nhỏ chỉ 150m3/ngày nhưng phần nào đã đảm bảo yêu cầu vềnước sạch cho người dân
Về giáo dục: Xã có 2 trường cấp I và một trường cấp II, tất cả đều là nhàcao tầng Trường được xây dựng phần lớn do quỹ đóng của nhân dân và một
Trang 31phần kinh phí của xã Điều đó đã chứng tỏ sự mong muốn của người dân cũngnhư các cấp lãnh đạo chăm lo cho đến giáo dục của thế hệ trẻ Bên cạnh đó xãcòn có 8 khu mầm non tạo điều kiện thuận tiện cho các hộ.
Về y tế: Xã có 2 trạm xá kiên cố và 1 trạm bán kiên cố với 8 phòng bệnh
và 12 giường bệnh Trong khi đó phải kể đến đội ngũ cán bộ trẻ gồm 3 bác sĩ, 4
y sĩ và các y tá có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm đảm bảo cho việc chữatrị và chăm sóc sức khỏe cho người dân
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Giao An qua 3 năm 2007- 2009
Qua số liệu bảng 3.3 ta thấy, tổng giá trị sản xuất năm 2007 là 37.123 triệuđồng đến năm 2008 là 41.978 triệu đồng tăng 13,1% (hay 4.855 triệu đồng)Nhưng đến năm 2009 thì tổng giá trị sản xuất chỉ đạt 32.797 triệu đồng giảm đi9.181 triệu đồng, điều này khiến tốc độ phát triển giảm 21,9% kéo theo đó làtốc độ bình quân giảm 6,02% Nguyên nhân của sự giảm đột biến là do trongnăm 2009 sản xuất nông nghiệp thiệt hại nặng nề vì lúa mắc bệnh vàng lùnkhiến năng suất lúa gần như mất trắng
Trong ngành trồng trọt thì cây lúa vẫn là cây trồng chính chiếm 88,2%GTSX năm 2007 Đây là một tỷ lệ lớn so với các vùng đồng bằng khác Sựkhác biệt này là do vào vụ đông ở Giao An trồng ít cây màu Năm 2008, có sựchuyển dịch cơ cấu đưa thêm diện tích đất chưa sử dụng vào trồng cây hàngnăm khác đặc biệt là cây hoa hòe và cây ăn quả khiến giá trị những loại cây nàychiếm từ 11,8% năm 2007 lên 14,7% năm 2008
Ngành chăn nuôi là ngành ít chịu ảnh hưởng của bão gió nhưng cũng biếnđộng nhẹ Nếu như năm 2008 GTSX tăng 72,3 triệu đồng thì năm 2009 giảm
278 triệu đồng, trung bình mỗi năm giảm 2,02%
Trong 3 năm chăn nuôi gia súc vẫn chiếm phần lớn giá trị của ngành,chiếm 69,2% năm 2009 tương ứng 3.642 triệu đồng Tuy nhiên chăn nuôi giacầm lại biến động liên tục năm 2008 thì giảm 5,5%, đến năm 2009 thì
Trang 32Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Giao An qua 3 năm 2007-2009
Trang 33lại tăng 26,3% Nguyên nhân là hàng năm dịch cúm gia cầm vẫn ảnh hưởngnặng nề đến chăn nuôi gia cầm của xã,
Ngành thủy sản của xã chiếm tỷ lệ khá lớn, trong 3 năm liên tục luônchiếm trên 30% GTSX của toàn xã Tuy nhiên lại là ngành biến động nhiềunhất trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh của xã Năm 2008 GTSX là15.913 triệu đồng tăng 24,8% so với năm 2007, đến năm 2009 thì giảm mạnh33,6% Có sự biến động nhiều như vậy là do hai nguyên nhân: vừa do ảnhhưởng của bão lại vừa do tình hình dịch bệnh lan tràn của những hộ nuôi trồnghải sản Trong năm 2010 thì địa phương cũng như các hộ cần có kế hoạchphòng trừ dịch bệnh để tăng nhanh GTSX của ngành
Khác với 2 ngành trên thì ngành CN- TTCN và TM- DV mặc dù chiếm tỷ
lệ khiêm tốn: CN- TTCN là 6,6% và TM- DV chiếm 9,1% năm 2009 nhưng lại
là 2 ngành duy trì tăng đều Điều này chứng tỏ sự chuyển dịch cơ cấu GTSXcủa ngành càng phát triển và phù hợp với quy luật
Cơ sở vật chất hạ tầng được trang bị khá thuận tiện tạo điều kiện để cácngành sản xuất trong xã phát huy được lợi thế của mình
Lực lượng lao động của xã tuy còn mỏng nhưng trong tương lai hứa hẹn 1lực lượng dồi dào
Kết quả sản xuất kinh doanh ngành thuỷ sản rất khả quan, trong thời giantới sẽ đem lại nguồn thu đáng kể cho xã
Trang 34* Về khó khăn :
Trồng cây vụ đông sẽ đem lại nguồn thu đáng kể nhưng hầu như các hộ lạikhông tham gia vào do 1 phần diện tích nơi đây đến vụ đông thường bị nhiễmmặn
Diện tích đất chưa sử dụng phần lớn là đất mặn nước bị nhiễm mặnthường bị bỏ không Xã nên có biện pháp kĩ thuật giúp các hộ khử mặn để các
hộ sử dụng được phần diện tích này
Ngành thuỷ sản luôn chịu sự rủi ro do thời tiết và dịch bệnh
Từ những điểm trên chúng ta nhận thấy chính quyền địa phương cần biếtphát huy những điểm thuận lợi của mình và tìm cách hạn chế phần nào mặt khókhăn Có như vậy thì kinh tế xã hội của xã mới thực sự khởi sắc
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
* Chọn điểm nghiên cứu
Giao An là 1 xã nằm trong vùng đệm của vườn quốc gia Xuân Thuỷthường xuyên gây áp lực và tác động lên HST- RNM Ngoài ra Giao An còn là
xã duy nhất trong 5 xã vùng đệm của dải ngập mặn có khu kinh tế mới đượcthành lập do việc quai đê lấn biển từ những thập niên 50 của thế kỉ XX Đây làkhu dân cư duy nhất sống ngoài đê trung ương Tại nơi đây thường diễn ra cáchoạt động khai thác nguồn lợi từ HST- RNM Đồng thời sự hình thành khu dân
cư là do mở rộng diện tích bãi bồi, quai đê lấn biển Nên trong cùng 1 xã tồn tạihai khu vực có những tập quán canh tác sản xuất khác nhau: khu ngoài đê trungương chủ yếu phát triển kinh tế biển, khu sản xuất phía trong đê chủ yếu pháttriển sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác vì vậy mà tôi quyết địnhchọn Giao An là địa bàn nghiên cứu cho đề tài
* Cách chọn hộ:
Nền tảng kinh tế của khu dân cư phía ngoài đê còn kém nên việc xác địnhhiệu quả của HST- RNM đối với đời sống của hộ dân cư là rất cần thiết Do đóchúng tôi chủ yếu điều tra ở khu vực dân cư này và một số hộ ở khu canh tácphía trong đê để lấy đối chứng
Trang 35* Hình thức chọn hộ:
Để có được số liệu phản ánh đúng tình hình thu nhập của hộ và cụ thể hơn
là chỉ rõ hiệu quả của HST- RNM đối với thu nhập của hộ chúng tôi tiến hànhđiều tra các hộ theo các hoạt động khai thác nguồn lợi từ HST- RNM Trongtổng số 66 hộ điều tra chúng tôi chia thành 2 nhóm hộ lớn: nhóm chịu ảnhhưởng là 48 hộ chiếm 72,7% và nhóm không chịu ảnh hưởng là 18 hộ chiếm27,3% từ HST- RNM Trong nhóm hộ chịu ảnh hưởng chúng tôi tiếp tục chia
ra thành 3 nhóm hộ, căn cứ theo tỷ lệ các hộ này trong tổng số hộ trong nhóm
có hoạt động khai thác nguồn lợi từ HST- RNM của xã chúng tôi tiến hành điềutra:
37 hộ đánh bắt hải sản tự nhiên (chiếm 70,08%)
8 hộ nuôi trồng hải sản (chiếm 16,67%)
3 hộ thu gom hải sản tự nhiên (chiếm 6,25%)
Việc phân chia các hộ ngoài căn cứ theo hoạt động khai thác từ nguồn lợiHST- RNM chúng tôi còn tiến hành phân chia theo mức thu nhập của mỗi hoạtđộng để có cái nhìn toàn diện hơn Phân loại hộ theo thu nhập được Sở laođộng- thương binh- xã hội tỉnh Nam Định, Ban quản lý xã và theo kết quả điềutra thu nhập của hộ gia đình (Theo chuẩn năm 2005)
Nhóm hộ nghèo là những hộ có thu nhập BQ/người/tháng thấp hơn 100nghìn đồng
Nhóm hộ trung bình là những hộ có thu nhập BQ/người/tháng từ 100- 300nghìn đồng
Nhóm hộ khá là những hộ có thu nhập BQ/người/tháng từ 300- 500 nghìnđồng
Nhóm hộ giàu là nhóm hộ có thu nhập BQ/người/tháng lớn hơn 500 nghìnđồng
3.2.2 Phương pháp điều tra nông thôn
- Sử dụng phương pháp RRA (trao đổi, phỏng vấn nhanh người dân sống
ở nông thôn) để tìm thêm thông tin về mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư vànguồn tài nguyên HST- RNM, tác động qua lại giữa hai nhân tố này, về nhận
Trang 36thức và thái độ của cộng đồng tới nguồn tài nguyên, về vấn đề thể chế, chínhsách liên quan đến việc khai thác, sử dụng và quản lí nguồn tài nguyên này.
- Sử dụng phương pháp PRA (điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia củangười dân) để mô tả các vùng sinh thái cùng với việc điều tra các số liệu sơcấp, thứ cấp để đi đến tổng hợp và phân tích số liệu Đây là cơ sở quan trọng để
đi đến đánh giá, phân tích vấn đề nghiên cứu Qua các ý kiến phản hồi củangười dân tôi ghi chép lại kết hợp với tìm hiểu tình hình thực tế để đưa ranhững nhận định cuối cùng của mình
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các tài liệu phục vụ cho cơ sở nghiên cứu khoa học của đề tài được lấy từcác nguồn sau:
- Các công trình nghiên cứu đã được công bố: báo cáo khoa học về RNM, các tạp chí bài báo có liên quan
HST Báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh của xã, nguồn số liệu của banthống kê xã Giao An
- Các báo cáo của Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Nam Định
* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu thu được thông qua điều tra, phỏng vấn hộ gia đình Đây là sốliệu hoàn toàn thô và là số liệu gốc Để có số liệu đáng tin cậy,tôi tiến hành xâydựng phiếu điều tra chi tiết cho phù hợp với hộ nông dân và đúng với mục tiêuyêu cầu của đề tài
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
Tổ chức thu thập tài liệu trên cơ sở điều tra chọn mẫu bao gồm các chỉtiêu về chi phí trung gian, diện tích của rùng ngập mặn
Số liệu điều tra tính theo số liệu thực tế, lấy đơn giá định gốc để tính cho
3 năm 2007- 2008- 2009
Tổng hợp số liệu theo phương pháp phân tổ, tiêu thức để phân tổ tuỳtheo mục đích phân tích và khảo sát
Trang 37- Phương pháp so sánh
Phương pháp phổ biến khi phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế làphương pháp so sánh So sánh theo thời gian để thấy mức độ hiệu quả khácnhau của các đơn vị, các vùng, các mức, các hộ…Tiêu chuẩn so sánh là so sánhvới các định mức, với mục tiêu hay kế hoạch để đánh giá mức độ đạt được caohay thấp so vơi yêu cầu
- Phương pháp dự báo
Công thức tính: yn+1 = yn (t )n
t: Tốc độ phát triển trung bìnhNhằm mục đích xácđịnh phương hướng phát triển HST- RNM trong thời gian tới của địa phương.Dựa vào tình hình thực tế của địa phương về điều kiện, khả năng phát triển củaRNM để đề ra phương hướng phát triển về quy mô, diện tích,…
3.3 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU
3.3.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ
- Diện tích đất đai bình quân (Đất nông nghiệp, đất canh tác/hộ, khẩu)
- Số lao động, số nhân khẩu/ hộ
- Mức trang bị tư liệu sản xuất bình quân/ hộ
3.3.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của HST- RNM
a) Chỉ tiêu phản ánh kết quả
- Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị của tất cả các sản phẩm (lúa,vạng, cua, tôm, cá, ốc, rong câu…) mà hộ sản xuất được trong một giai đoạnnhất định
Trang 38- Giá trị gia tăng (VA): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất (GO) và chi phítrung gian (IC)
+ T là tiền thuế phải nộp cho nhà nước
+ A là khấu hao tái sản cố định
+ W là tiền thuê lao động
b) Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả
- Năng suất (tấn/ha)
- Hiệu quả sử dụng đất canh tác gồm các chỉ tiêu
+ GTSX/đơn vị diện tích canh tác
+ GTGT/đơn vị diện tích canh tác
+ TNHH/đơn vị diện tích canh tác
- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
+ GTSX/vốn
+ GTGT/vốn
Trang 393.3.3 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả về xã hội, môi trường
* Chỉ tiêu hiệu quả xã hội
- Thu nhập bình quân/ năm, tháng của các hộ trong đánh bắt hải sản tựnhiên, nuôi trồng hải sản, thu gom hải sản tự nhiên
- Tỉ lệ % thu nhập của hộ từ hoạt động khai thác nguồn lợi từ HST- RNMtrong tổng thu nhập của hộ
- % hộ nghèo
* Chỉ tiêu hiệu quả môi trường
- Bảo vệ sự đa dạng sinh học
- Tạo ra sự cân bằng
- Hạn chế sự rửa trôi, xói mòn, xạt lở của đất
- Tăng độ che phủ của đất
Trang 40PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 TỔNG QUAN VỀ HST- RNM TẠI ĐỊA BÀN XÃ GIAO AN
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của HST- RNM
Rừng ngập mặn được hình thành bắt đầu từ việc phát tán cây rừng tựnhiên trên các bãi bồi mới được hình thành từ phù sa sông Hồng tại cửa Ba Lạt
và biển Đông Sauk hi diện tích đủ lớn dân địa phương tiến hành trồng trang.Trang bám rễ ở những mảnh phù sa màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho việcphát tán tự nhiên và các loại cây ngập mặn khác nhu sú, bần chua, mắm biển từ
đó tạo mẫu rừng ngập mặn hỗn giao Rừng nhập mặn hỗn giao có khả năngthích nghi rộng và tạo nguồn lợi thiên nhiên phong phú phát triển lên dạng cao
là hệ sinh thái
Trước những năm 90, việc trồng rừng ngập mặn chủ yếu dựa vào nguồnlực tại chỗ của địa phương nên diện tích trồng mới còn nhiều hạn chế, mật độcây trồng thưa và chất lượng rừng trồng thấp diện tích rừng ngập mặn chủ yếuhình thành với mục đích phòng hộ cho đê biển
Trong thập niên cuối thế kỉ XX sau khi tình hình kinh tế- xã hội của quốcgia nói chung được cải thiện khá hơn Chính phủ quan tâm hơn đến bảo tồnrừng ngập mặn chăm lo đến đời sống cộng động dân cư ven biển chương trình
327 (phủ xanh đất trống đồi trọc) song hành với việc thành lập khu bảo tồn đấtngập nước Xuân Thủy cũng là thời điểm bắt đầu cho sự nghiệp phục hồi vàphát triển nguồn tài nguyên rừng ngập mặn tại xã Chương trình trồng mới 5triệu ha rừngtiếp nối chương trình 327 đã tạo nên thảm rừng ngập mặn xanh tốtvùng ven biển trong giai đoạn này diện tích rừng trồng được là 600 ha chủ yếu
là trang
Từ năm 1997 xã lại nhận được sự hỗ trợ tích cực từ Dự án phục hồi rừngngập mặn do Hội chữ thập đỏ Đan Mạch tài trợ Sau 8 năm thực thi dự án phụchồi rừng ngập mặn đã trồng thêm được 1031 ha Lúc đầu dự án chỉ trồng thuần