Hoàng Như LanBÁO CÁO KHOA HỌC ĐHSP HN Mô hình này được xác lập từ tiến trình phân tích, tổng hợp và đánh giá các tài liệu đào tạo giáo viên GV tiểu học hiện hành trong nước cũng như mô h
Trang 1Hoàng Như Lan
BÁO CÁO KHOA HỌC ĐHSP HN
Mô hình này được xác lập từ tiến trình phân tích, tổng hợp và đánh giá các tài liệu đào tạo giáo viên (GV) tiểu học hiện hành trong nước cũng như mô hình đào tạo năng lực của các chương trình TTSP quốc tế.
1 Cơ sở lí thuyết và thực tiễn
của việc đánh giá giáo sinh tiểu học
trong thực tập sư phạm theo cách
tiếp cận năng lực
Cách tiếp cận năng lực trong
đánh
giá giáo sinh thực tập sư phạm
Khi bối cảnh toàn cầu hóa đòi
hỏi GV phải có khả năng hướng dẫn
người học trong một thế giới kiến
thức mở rộng vô cùng, giúp trẻ học
cách học xử lí thông tin, giao tiếp
và giải quyết vấn đề hiệu quả và có
trách nhiệm trong nhiều tình huống
phức hợp của cuộc sống, thì TTSP
như một nguồn thực tiễn quan trọng
giúp phát triển chuyên môn cho
giáo sinh không thể dừng ở quanniệm truyền thống Nhiều tài liệu đãchỉ ra rằng cách tiếp cận truyền thốngđối với TTSP nhấn mạnh nhiều vào
kiến thức kĩ thuật (technical
knowledge) vốn là một phần nhỏtrong kiến thức chuyên môn sư phạm
và không đủ chuẩn bị cho GV thựchiện những vai trò chuyên môn củamình trong dạy học (Shulz, 2005)[19] TTSP hiện nay có xu hướng tậptrung vào phát triển kiến thức chuyênmôn, ít chú trọng đến kiến thức và kĩnăng sống thiết yếu khác có tính ứngdụng cao Sinh viên (SV) được tạođiều kiện tập trung rèn luyện nănglực dạy học, ít quan tâm đến
*TS, Trường Đại học Sư phạm TPHCM
Trang 2việc rèn luyện các năng lực giáo dục,
năng lực tổ chức các hoạt động sư
phạm khác, đến kiến thức nội dung
môn học, và năng lực giao tiếp sư
phạm (Phạm Văn Luân, 2008) [8]
Kiểu kinh nghiệm đạt được từ TTSP
này, theo Darling- Harmmond, có thể
“xã hội hóa” giáo sinh vào tiến trình
duy trì địa vị, thân thế hiện tại hơn là
giúp phát triển cách tiếp cận truy tìm
khám phá và phân tích phê phán
trong đó dạy học được xem như là
một nghề nghiệp được củng cố bởi
việc học tập suốt đời [7]
Trên thực tế, các nghiên cứu về
đề tài TTSP đã có xu hướng tập
trung vào tìm hiểu đánh giá thực
trạng TTSP và thể hiện năng lực của
giáo sinh thông qua các đợt thực tập
Chẳng hạn, báo cáo khoa học của
Nguyễn Thị Thu Hằng và các tác giả
khác (2009) đã đi sâu khảo sát, phân
tích khá toàn diện thực trạng TTSP
của SV sư phạm Trường Đại học
Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội,
từ thực trạng về năng lực giảng dạy
và chủ nhiệm đến những thuận lợi,
khó khăn và những thay đổi về thái
độ mà SV đã trải qua trong quá trình
TTSP Với nghiên cứu Xác định tiêu
chí đánh giá năng lực giáo dục cho
SV sư phạm TTSP (tốt nghiệp)”,
Nguyễn Thanh Bình, thuộc Viện
Nghiên cứu Đại học Sư phạm Hà Nội
(2012) đã xác định các tiêu chí đánh
giá năng lực giáo dục của SV sư
phạm trong quá trình TTSP, trên cơ
sở đó đề xuất cách sử dụng để cải tiếnđào tạo và đánh giá những năng lựcgiáo dục cần có của GV trong tươnglai [1]
Trên bình diện quốc tế, tiếp cậnnăng lực trong đánh giá giáo sinhthực
Trang 3tập đã trở thành chiến lược tư tưởng
được áp dụng phổ biến Conway,
Murphy, Rath; & Hall [12] và
Malloch, Cairns & Evans [16] đã
giới thiệu hai tài liệu nghiên cứu
mang tính chất tổng quan, đa diện về
công tác TTSP của nhiều nước trên
thế giới hiện nay Nội dung nổi bật
liên quan đến đề tài nghiên cứu được
tìm thấy từ hai công trình nghiên cứu
đồ sộ mang tầm quốc tế này đó là
tính chuẩn hóa và chuyên biệt hóa
của nội dung, quy trình TTSP và
chuẩn đánh giá kết quả TTSP của 22
trường đại học có khoa sư phạm đào
tạo giáo viên Diện mạo của nội
dung và biểu mẫu đánh giá TTSP
mang tính chuẩn hóa và chuyên biệt
hóa này phản ánh lí thuyết về cách
tiếp cận năng lực trong đào tạo giáo
viên nói riêng và trong giáo dục đại
học nói chung Bên cạnh đó, quá
trình phát triển các chương trình giáo
dục và đào tạo giáo viên theo cách
tiếp cận năng lực/dựa vào năng lực
cũng được nhận ra trong nhiều bài
viết, bài báo và sách chuyên khảo
quốc tế
Vì vậy, các chương trình đào
tạo GV nói chung và TTSP nói riêng
đã và đang được đòi hỏi như một
quy luật tất yếu, là tập trung vào việc
phát triển các năng lực cho giáo sinh
ta có vẻ vẫn còn đang dậm chân tạichỗ với cách nghĩ cũ Hội thảo khoahọc về công tác thực
Trang 4tập tại các trường sư phạm của Viện
Nghiên cứu Giáo dục Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
(ĐHSP TPHCM) năm 2008 đã cung
cấp nhiều nhận định khái quát cùng
với các phân tích lí giải cụ thể liên
quan đến thực tế triển khai mảng
hoạt động quan trọng này trong các
trường có khoa đào tạo GV
Theo hội thảo, quy trình tổ chức
tập luyện trong TTSP nhìn chung “đa
dạng”, song cũng có một điểm khá
thống nhất giữa các trường, đó là chủ
nghĩa kinh nghiệm và sự cắt xén tùy
tiện về nội dung, quy trình thao tác,
về tiêu chí đánh giá (Trần Anh Tuấn,
2008) [8] Việc đánh giá không dựa
trên những tiêu chí rõ ràng, thống
nhất mà chủ yếu dựa vào cảm tính
của mỗi GV hướng dẫn (Võ Văn
Chương, 2008) [8] Lâu nay, các
trường sư phạm đào tạo nghiệp vụ sư
phạm nhưng chưa có được những quy
chuẩn thống nhất (Đoàn Trọng Thiều,
2008) [8] Các Quy chế TTSP theo
tín chỉ hiện nay của các trường chủ
yếu vẫn chỉ thêm một số điều chỉnh
cụ thể nội dung, quy trình thời kì
trước đây (Trần Anh Tuấn, 2008) [8]
Việc vận dụng Quy chế 36 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo vào công tác
thực hành, TTSP còn đang lúng túng
trong việc xác định mục tiêu cụ thể
cho từng hệ Nhiều nội dung TTSP
chưa thể cụ thể hóa được, có nội
dung phù hợp cho hệ này lại chưađáp ứng được với hệ đào tạo khác (LêNguyên Hùng, 2008) [8] Vì vậy,đánh giá TTSP nhìn chung thiếu sựcông bằng (Võ Văn Chương, 2008)[8], khác nhau trong đánh giá điểmTTSP đối với SV của GV hướng dẫnthực tập ở trường phổ thông và mầmnon
Trang 5(Đoàn Trọng Thiều, 2008) [8] Tỉ lệ
SV xếp loại TTSP “Giỏi” đến
70-80%… theo hướng tỉ lệ nghịch với
chất lượng tay nghề thực của họ
tài liệu chuyên môn, khoa học mà
chỉ mới dừng ở chỗ là tài liệu hướng
dẫn, quy chế và tổ chức quản lí
TTSP về mặt hành chính [8] So
sánh nhanh các tài liệu TTSP của
khoảng mười trường đại học có khoa
sư phạm trên thế giới với các bộ tài
liệu hướng dẫn/hoặc quy chế TTSP
của các trường đại học sư phạm ở
Việt Nam hiện nay, chúng ta có thể
thấy nhận định của Kiều Thế Hưng
đáng phải xem xét, nghiên cứu kĩ
lưỡng để có thể đi đến việc tạo nên
diện mạo thật sự khoa học cho các
tài liệu về đánh giá TTSP của các
trường sư phạm nước ta
Trong nghiên cứu này, chúng
tôi đã sử dụng 5 bảng hỏi ý kiến về
5 phiếu đánh giá TTSP hiện hành
Khoa Giáo dục Tiểu học (GVKTH)
thuộc ĐHSP HN với 16 chuyên gia
(CG), những người đang làm việc
trong lĩnh vực đánh giá giáo dục ở trường đại học và các viện nghiên cứu) Kết quả khảo sát đã cho thấy
một tình huống khá phức tạp trongnhận thức về
Trang 6các phiếu đánh giá trên từ góc nhìn
tiếp cận năng lực Xét trung bình
chung của tổng các tỉ lệ của các ý
kiến chi tiết, chúng tôi nhận thấy:
trong lúc hơn 95% GVHD, hơn 80%
hơn, nhận định của đa số CG trong
khảo sát là hầu hết các phiếu đánh giá
TTSP hiện hành trong Quy chế
hướng dẫn TTSP (Tìm hiểu thực tế
giáo dục; Thực tập giáo dục - Đánh
giá tiết dạy; Thực tập giảng dạy và
Kết quả TTSP) đều liệt kê những tiêu
chí đánh giá dựa trên quan điểm dạy
học tập trung vào nội dung hoạt động
mà không phải là dạy học tập trung
vào phát triển năng lực
Điều đáng lưu ý là ý kiến của
các đối tượng tham gia khảo sát trái
chiều nhau ở một nội dung có thể
nhìn thấy trực tiếp trên các biểu mẫu
đánh giá TTSP hiện nay và được đặt
ra xuyên suốt ở 5 bảng hỏi Nội dung
đó là “Anh chị thấy rằng có thang
đo gồm 4 hay 5 mức độ cùng với
phần mô tả các biểu hiện của mỗi
mức độ trên thang đo ấy trong mỗi
Phiếu đánh giá.” Rõ ràng, trong 5
phiếu đánh giá TTSP hiện hành
không hề có thang đo và mô tả biểu
hiện của các mức độ trên thang đo
Thế nhưng có đến hơn 95 % GVHD
và hơn 60% GVKTH đồng ý và rấtđồng ý là có thang đo ấy Trong lúc
đó, chỉ khoảng 30% GSTH đồng ý, vàđặc biệt, đại đa số (hơn 95%) CGtham gia khảo sát rất không đồng ýtình trạng có thang đo này trong cácPhiếu đánh giá TTSP hiện hành Kếtquả này chỉ ra một
Trang 7thực tế rằng có vẻ như những người
trực tiếp đánh giá kết quả TTSP của
GSTH có nhận thức và hiểu biết khá
mơ hồ về đánh giá giáo dục Trong
lúc đó, người được đánh giá là
GSTH dường như thể hiện hiểu biết
rõ hơn, chính xác hơn về đánh giá
Nói cách khác, kết quả này cho thấy
việc xem xét và xác định chất lượng
của các nội dung và biểu mẫu đánh
giá cần phải được thực hiện thận
trọng và khoa học bởi những người
am hiểu về khoa học đánh giá và
giáo dục
Tóm lại, nội dung đánh giá kết
quả TTSP đã được nhiều bài viết, bài
tham luận hội thảo quốc gia đưa ra
bàn bạc như một vấn đề cấp bách
cần quan tâm giải quyết để có được
những tài liệu hướng dẫn TTSP
mang tính khoa học nhiều hơn, tính
chuyên môn cao hơn Tuy nhiên,
chưa có nhiều nghiên cứu sâu và
phát triển tài liệu cho vấn đề này
Đặc biệt, hướng nghiên cứu nội
dung TTSP và biểu mẫu đánh giá
dành riêng cho các khoa đào tạo đặc
thù (Nguyễn Thị Hải Phượng 2011)
[7] trong đó có khoa sư phạm tiểu
học lại càng chưa được quan tâm,
mặc dù ai cũng nhận ra rằng Đào
tạo GV tiểu học cần chú trọng những
kĩ năng nghề nghiệp dạy học đặc thù
ở tiểu học (Hà Văn Khải 2011) [6].
2 Xây dựng nội dung và biểu
mẫu đánh giá giáo sinh thực tập
sư phạm tiểu học
Tiến trình lược khảo lịch sử vấn
đề nghiên cứu từ lí thuyết và thựctiễn vừa trình bày trên cho phépchúng tôi đi đến khẳng định sự hiệnhữu có tính cấp thiết về nhu cầu xâydựng văn bản mô tả nội dung đánhgiá TTSP cùng các biểu mẫu
Trang 8đánh giá đi kèm theo cách tiếp cận
năng lực, phù hợp với đặc thù của
khoa đào tạo GV tiểu học Nội dung
và biểu mẫu đánh giá này hướng đến
việc góp phần nâng cao chất lượng
của quá trình đào tạo GV tiểu học
theo hướng thực hiện 1 trong 14
Chương trình mục tiêu quốc gia của
chiến lược phát triển giáo dục Việt
Nam 2009-2020 là “Tăng cường
năng lực giáo dục nghề nghiệp”, từ
đó, nâng cao hiệu quả giáo dục đào
tạo GV tiểu học, làm cho chương
trình này có thể bước đầu tiếp cận
được với chất lượng đào tạo GV của
khu vực và quốc tế [3]
Nội dung và biểu mẫu đánh giá
năng lực giáo sinh TTSP tiểu học
được xác lập từ tiến trình phân tích,
tổng hợp và đánh giá các tài liệu
quan trọng về công tác đào tạo GV
tiểu học hiện hành trong nước như
Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học,
Chuẩn đầu ra trình độ đại học khối
ngành sư phạm đào tạo GV tiểu học,
Quy chế TTSP của trường ĐHSP ban
hành năm 2011 kết hợp với việc tìm
hiểu, vận dụng các khái niệm chủ
chốt như quan niệm về năng lực GV
và mô hình đào tạo năng lực của các
Trang 9thuộc tính độc đáo của cá nhân phù
hợp với những yêu cầu đặc trưng
của một hoạt động nhất định, nhằm
đảm bảo việc hoàn thành có kết quả
tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy Ba
loại thuộc tính của năng lực: thuộc
tính cơ sở, thuộc tính chủ đạo, thuộc
tính hỗ trợ Hai kiểu năng lực là
năng lực chung và năng lực riêng
(Bùi Văn Huệ, 1996) [5]
Trên bình diện giáo dục phổ
thông, năng lực được hiểu là tiến
trình tích hợp các kĩ năng tác động
một cách tự nhiên lên các nội dung
trong một loại tình huống cho trước
để giải quyết những vấn đề do những
tình huống này đặt ra Năng lực có
tính tổng hợp, tích hợp Có các loại
năng lực: năng lực bộ môn, năng lực
liên môn, năng lực xuyên môn Năng
lực xét trên phạm vi giáo dục nghề
nghiệp là tập hợp những kĩ năng, thái
độ - phẩm chất hay giá trị và kiến
Trên cơ sở các định nghĩa trên
về năng lực, chúng tôi xác định năng
lực nghề nghiệp của GV là tổ hợp
những kĩ năng, kiến thức và phẩm
chất cá nhân tương ứng với những
đòi hỏi của một lĩnh vực hoạt động
nào đó của công việc dạy học Năng
lực này bao hàm “tài – đức”, có tính
tổng hợp và tích hợp, tính thích dụng
và dễ chuyển di trong những tìnhhuống cụ thể Các thành tố kiến thức,
kĩ năng và phẩm chất quan hệ biệnchứng (có thể chuyển hóa lẫn nhau).Năng lực nghề nghiệp này được địnhhình theo hướng phân biệt xuhướng giáo dục hàn
Trang 10Chuyên biệt Chung
lâm và xu hướng thực tiễn nghề
nghiệp kết hợp với cách tiếp cận
nhấn mạnh phát triển năng lực nhận
thức chung (Barnett,
1992) [11] được phản ánh trong bảng dưới đây:
Mỗi năng lực thành phần trong năng lực giáo sinh TTSP được phân tích
dựa trên tháp phân loại 4 cấp độ thể hiện năng lực của Miller (1990) [17] như
sau:
Cấu trúc nội dung đánh giá giáo sinh thực tập sư phạm tiểu học
Theo Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học - Mục tiêu của Chương trình đào
tạo giáo
viên tiểu học và Quy chế hướng dẫn thực tập sư phạm
Xem xét các văn bản pháp quy hiện hành liên quan trực tiếp đến việc đào
tạo và đánh giá GV, chúng tôi nhận thấy cấu trúc nội dung đánh giá trong
Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học và Mục tiêu của Chương trình đào tạo GV
tiểu học đồng nhất với nhau Cụ thể cả hai văn bản này đều đề cập ba lĩnh vực:
(1) Phẩm chất; (2) Kiến thức; và (3) Kĩ năng sư phạm
Trang 113 Kĩ năng sư phạm
Trang 12Trong khi đó, không theo cấu
trúc của hai văn bản trên, hầu hết nội
dung của các phiếu đánh giá trong
Quy chế hướng dẫn TTSP hiện hành
của các trường sư phạm đều liệt kê
những tiêu chí đánh giá dựa trên quan
điểm tập trung vào nội dung hoạt
động trong đợt TTSP (Tìm hiểu thực
tế giáo dục; Chủ nhiệm; và Dạy
học) mà chưa phải là tập trung vào
đánh giá kiến thức, kĩ năng sư phạm,
phẩm chất đạo đức, càng không tập
trung vào đánh giá năng lực [2], [9]
Theo mô hình năng lực giáo
viên trong các văn bản chương
trình đào tạo sư phạm quốc tế
Trong phạm vi xem xét tư liệu
của nghiên cứu này, hầu hết các
chương trình đào tạo GV trên thế giới
đều phản ánh cách tiếp cận năng lực
Có thể điểm qua bốn mô hình năng
lực GV nổi bật Một là mô hình cấu
trúc năng lực GV của chương trình
đào tạo GV tại 9 quốc gia thuộc châu
Âu, châu Mĩ và Úc đã được Conway;
Murphy; Rath; & Hall (2009) khái
quát Mô hình này bao gồm ba lĩnh
vực:
- Kiến thức/ Hiểu biết
chuyên môn;
- Năng lực thực hành chuyên môn
bao gồm Năng lực chuyên ngành (cơ
bản); Năng lực chung (cơ sở) như kĩ
năng tư duy, độc lập giải quyết vấn
đề, làm việc hợp tác, giao tiếp; và
Năng lực hỗ trợ bao gồm năng lựccông nghệ, ngoại ngữ, mĩ thuật…;
- Phẩm chất - Giá trị - Các mốiquan hệ và Tinh thần tận tụy cá nhânđối với chuyên môn [12]
Theo mô hình này, năng lựcnghề nghiệp GV là một tổ hợp banăng lực