Các báo cáo tài chính đợc soạn thảo theo định kỳ phản ánh mộtcách tổng hợp và toàn diện về tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quảkinh doanh...bằng các chỉ tiêu giá trị, nhằm mục
Trang 1Chuơng IPhân tích tài chính - Một yếu tố quan trọng trong quản
lý tài chính của doanh.
I Phân tích tài chính trong doanh nghiệp
I.1 Khái niệm:
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất xuất kinhdoanh và có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cảcác hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hởng tới tình hình tài chính củadoanh nghiệp Ngợc lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩyhoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Do đó trớc khi lập kếhoạch tài chính doanh nghiệp cần phải nghiên cứu báo cáo tài chính của kỳthực hiện Các báo cáo tài chính đợc soạn thảo theo định kỳ phản ánh mộtcách tổng hợp và toàn diện về tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quảkinh doanh bằng các chỉ tiêu giá trị, nhằm mục đích thông tin về kết quả vàtình hình tài chính của doanh nghiệp cho ngời lãnh đạo và bộ phận tài chínhdoanh nghiệp thấy đợc thực trạng tài chính của đơn vị mình, chuẩn bị căn cứlập kế hoạch cho kỳ tơng lai
Tuy vậy, tất cả các số liệu của kỳ thực hiện là những tài liệu có tínhchất lịch sử và cha thể hiện hết những nội dung mà ngời quan tâm đòi hỏi Vìvậy ngời ta phải dùng kỹ thuật phân tích để thuyết minh các mối quan hệ chủyếu, giúp cho các nhà kế hoạch dự đoán và đa ra các quyết định tài chính chotơng lai, bằng cách so sánh, đánh giá xem xét xu hớng dựa trên các thông tin
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tíchcác báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trng tài chính thông qua một hệ thốngcác phơng pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích giúp ngời sử dụng thông tin từcác góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xemxét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp
I.2 Các bớc tiến hành phân tích tài chính trong doanh nghiệp
I.2.1.Thu thập thông tin:
Trang 2Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải vàthuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quátrình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến nhữngthông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, nhữngthông tin về số lợng và giá trị trong đó các thông tin kế toán phản ánh tậptrung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặcbiệt quan trọng Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báocáo tài chính doanh nghiệp.
I.2.2.Xử lý thông tin:
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin
đã thu thập đợc Trong giai đoạn này, ngời sử dụng thông tin ở các góc độnghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phơng pháp xử lý thông tin khác nhauphục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra: xử lý thông tin là quá trình xắp xếp cácthông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích,
đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt đợc phục vụ cho quátrình dự đoán và quyết định
I.2.3.Dự đoán và quyết định:
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề cần thiết đểngời sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đa ra các quyết định tài chính
Thông tin có giá trị nhất đối với các nhà sử dụng báo cáo tài chính lànhững gì sẽ xảy ra trong tơng lai Do đó, các tỷ số có đợc do phân tích tàichính sẽ giúp những nhà sử dụng báo cáo dự đoán tơng lai bằng cách so sánh,
đánh giá và phân tích xu thế Các quyết định tài chính đợc đặt trên cơ sở nềntảng của công tác hoạch định Công tác này thờng có hai mức: cấp chiến lợc
và cấp chiến thuật Hoạch định chiến lợc xác định tuyến kinh doanh, các hoạt
động dài hạn và các chính sách tài chính của doanh nghiệp Các kế hoạchchiến thuật có hiệu lực trong thời gian ngắn hơn và thờng ảnh hởng trong lĩnhvực nhỏ hơn của doanh nghiệp so với các quyết định chiến lợc Phân tích tàichính doanh nghiệp là trọng tâm của cả hoạch định chiến lợc và chiến thuật
II Tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp chính là để đạt mục đích cao nhất là
đánh giá thực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp từ đó giúp nhữngngời ra quyết định dự đoán và lựa chọn phơng án kinh doanh tối u
Trang 3Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trờng có sự quản lý củaNhà nớc, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bình
đẳng trớc pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Dovậy sẽ có nhiều đối tợng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệpnh: Chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơquan Nhà nớc và những ngời làm công, mỗi đối tợng quan tâm đến tình hìnhtài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau:
II.1 Đối với bản thân doanh nghiệp:
Đối với các chủ Chủ doanh nghiệp và những ngời quản lý doanh nghiệp:
Đối với các chủ doanh nghiệp và những ngời quản lý doanh nghiệp thìmục tiêu hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng tài trợ Mộtdoanh nghiệp nếu làm ăn thua lỗ liên tục thì các nguồn lực sẽ cạn kiệt và sẽbuộc phải đóng cửa, một doanh nghiệp không có khả năng thanh toán cáckhoản nợ cũng sẽ dẫn đến chỗ phải phá sản Bên cạnh đó, Chủ doanh nghiệp
và những ngời quản lý doanh nghiệp còn quan tâm đến các mục tiêu khác nh:Nâng cao chất lợng sản phẩm, tạo công ăn việc làm, phúc lợi xã hội, bảo vệmôi trờng Do ở trong doanh nghiệp nên các chủ doanh nghiệp và các nhàquản lý có thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp, họ có lợi thế để phântích tài chính tốt nhất Việc phân tích tài chính giúp cho họ trong nhiều vấn
đề nh: Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả không,
có đạt lợi nhuận không, tơng lai sẽ có nhiều triển vọng hay khó khăn; Khảnăng thanh toán các khoản nợ đến hạn ra sao; vốn đợc huy động từ nhữngnguồn nào và đầu t vào đâu để thu lợi nhuận cao nhất
Đối với những ngời hởng lơng trong doanh nghiệp:
Nh chúng ta đã biết lơng là khoản thu nhập chính của những ngời làmcông Ngoài ra, theo quy định doanh nghiệp luôn luôn giữ một phần đợc gọi làcá nhân ngời hởng lơng góp cho doanh nghiệp.Nh vậy, ngời hởng lơng buộcphải quan tâm tới tình hình tài chính công ty vì đó cũng chính là tình hình tàichính của họ Cách quan tâm của ngời hởng lơng tới tình hình tài chính củadoanh nghiệp cũng chính là phân tích tài chính
II.2 Đối với các chủ nợ:
Các chủ nợ bao gồm các Ngân hàng, các doanh nghiệp cho vay, ứng
tr-ớc hay bán chịu Họ phân tích tài chính chủ yếu là để quan tâm đến khả năngthanh toán nợ của doanh nghiệp đi vay Đối với các khoản vay ngắn hạn thì
Trang 4ngời cho vay đặc biệt quan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanhnghiệp Tức là khả năng ứng phó của các doanh nghiệp đôí với món nợ nàykhi đến hạn Còn đối với các khoản nợ dài hạn thì ngời cho vay phải tin chắckhả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn
và lãi lại phụ thuộc vào chính khả năng sinh lời đó Việc phân tích tài chínhthay đổi theo bản chất và thời hạn của khoản vay nhng dù cho đó là vay dàihạn hay ngắn hạn thì ngời cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểuhiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay Nh vậy, trớc khi chấp nhậncho vay, ngời cho vay phải phân tích tài chính của doanh nghiệp vì việc phântích đó sẽ giúp họ trong các vấn đề nh: Doanh nghiệp có khả năng thanh toáncác khoản nợ đến hạn hay không, tổng nợ của doanh nghiệp so với tổng tàisản của doanh nghiệp là cao hay thấp, nguồn vốn chủ sở hữu so với tổngnguồn vốn của doanh nghiệp nh thế nào, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
Từ những nghiên cứu đó xem xét có nên cho vay hay không, và nếu chovay thì hạn mức là bao nhiêu, thời hạn thanh toán khoản vay trong bao lâu.Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy doanh nghiệpkhông đảm bảo chắc chắn khoản vay đó có thể và sẽ đợc thanh toán ngay khi
đến hạn
II.3 Đối với nhà đầu t :
Đây là các doanh nghiệp và các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tínhtoán các giá trị của doanh nghiệp và họ đã giao vốn cho doanh nghiệp và cóthể phải chịu rủi ro Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêmcủa vốn đầu t Hai yếu tố này chịu ảnh hởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanhnghiệp Các nhà đầu t lớn thờng dựa vào các nhà chuyên môn - những ngờichuyên phân tích tài chính, chuyên nghiên cứu về kinh tế, tài chính - để phântích và làm rõ triển vọng của doanh nghiệp cũng nh đánh giá cổ phiếu củadoanh nghiệp Đối với các nhà đầu t hiện tại cũng nh nhà đầu t tiềm năng, thìmối quan tâm trớc hết của họ là việc đánh giá những đặc điểm đầu t củadoanh nghiệp Các đặc điểm đầu t của một doanh vụ có tính đến các yếu tố rủi
ro, sự hoàn lại, lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn, khả năng thanh toánvốn, sự tăng trởng và các yếu tố khác Mối quan hệ giữa giá trị hiện hành củamột tờ chứng khoán (cổ phiếu hay trái phiếu) đối với giá trị chờ đợi trong tơnglai của nó, về cơ bản, có liên quan đến sự đánh giá các cơ hội đầu t của doanhnghiệp Các nhà đầu t quan tâm tới sự an toàn về đầu t của họ thông qua tìnhhình đợc phản ánh trong điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình
Trang 5hoạt động của nó, đặc biệt chính sách lãi cổ phần của doanh nghiệp thờng làmối quan tâm chủ yếu của các nhà đầu t.
Mặt khác, các nhà đầu t cũng quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp
Để đánh giá thu nhập bình thờng của nó, họ quan tâm tới tiềm năng tăng ởng, các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành đợc những nguồntiềm năng gì và nh thế nào, đã sử dụng chúng ra sao, cơ cấu vốn của doanhnghiệp là gì, những rủi ro và may mắn nào doanh nghiệp cần đảm bảo cho cácnhà đầu t cổ phần, doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính nào không Các đánhgiá đầu t cũng liên quan tới việc dự đoán thời gian, độ lớn và những điềukhông chắc chắn của những quyết toán tơng lai thuộc doanh nghiệp Ngoài ra,các nhà đầu t cũng quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả củacông tác quản lý trong doanh nghiệp Những thông tin về công tác quản lý đòihỏi những nguồn nào và sử dụng những nguồn ấy dới sự giám sát của công tácquản lý nh thế nào cũng có thể tác động, ảnh hởng tới các quyết định đầu t
tr-II.4 Đối với các cơ quan chức năng:
Các cơ quan chức năng bao gồm các cơ quan cấp cao trực thuộc Bộ, cơquan thuế, thanh tra tài chính
Các cơ quan này sử dụng báo cáo tài chính do các doanh nghiệp gửi lên
để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đó với mục tiêu kiểm tra, giámsát tình hình hoạt động kinh doanh, xem họ có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ vớiNhà nớc hay không, xem họ có kinh doanh đúng luật không Đồng thời sựgiám sát này còn giúp cho các cơ quan có thẩm quyền có thể hoạch định chínhsách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động sảnxuất có hiệu quả
Trên đây đã nêu lên các vấn đề chứng tỏ tầm quan trọng của phân tíchtài chính đối với các thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp Tr-
ớc đây việc phân tích tài chính trong các doanh nghiệp ở Nớc ta còn ít đợcquan tâm, chú ý do các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, nềnkinh tế kém phát triển Gần đây, cùng với việc hoàn thiện luật doanh nghiệp
đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển cả về số lợng lẫn qui mô nênviệc phân tích tài chính đã đợc các doanh nghiệp quan tâm hơn Mặt khác quátrình mở cửa hội nhập kinh tế giữa Nớc ta với khu vực và thế giới cũng sẽ dẫntới việc cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nớc với nhau và giữacác doanh nghiệp trong nớc với các doanh nghiệp nớc ngoài Do vậy muốn tồntại và đứng vững đợc trên thơng trờng các doanh nghiệp bắt buộc phải chú
Trang 6trọng vào việc phân tích tài chính để xác định rõ những u điểm, lợi thế cũng
nh những hạn chế của doanh nghiệp mình và các đối thủ cạnh tranh để từ đó
có chiến lợc sản xuất kinh doanh phù hợp
III Những yếu tố ảnh hởng đến phân tích tài chính trong doanh nghiệp.
III.1 Nguồn thông tin:
Phân tích tài chính giúp cho những ngời quản lý tài chính đánh giámột cách chính xác thực trạng tài chính của doanh nghiệp, nắm rõ những thếmạnh cũng nh những hạn chế của doanh nghiệp và từ đó có những chiến lợc,
kế hoạch về tài chính cho tơng lai Muốn thực hiện phân tích tài chính cầnphải có những thông tin hay nói cách khác thông tin là yếu tố không thể thiếu
đợc trong phân tích tài chính của một doanh nghiệp Để cho việc phân tích tàichính của một doanh nghiệp có kết quả, giúp cho việc dự đoán, hoạch địnhchính xác thì đòi hỏi các thông tin sử dụng để phân tích phải chính xác, phùhợp với quá trình phân tích Nếu những thông tin sử dụng trong phân tích tàichính của một doanh nghiệp không chính xác sẽ dẫn đến những kết quả phântích sai lệch ảnh hởng đến những quyết định của nhà quản lý và do vậy ảnhhuởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Chính vì vậy khi phân tích tàichính của một doanh nghiệp cần phải quan tâm tới nguồn thông tin, tính chínhxác của những thông tin và phải chọn những nguồn thông tin phù hợp với quátrình phân tích
Nói đến thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp ngời
ta thờng nhắc tới 2 nguồn thông tin là: Nguồn thông tin nội bộ doanh nghiệp
và nguồn thông tin bên ngoài
III.1.1 Các nguồn thông tin nội bộ doanh nghiệp:
Những thông tin nội bộ doanh nghiệp thờng đợc sử dụng để phân tíchtài chính là : Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,Báo cáo lu chuyển tiền tệ
Trang 7Bảng cân đối kế toán phản ánh hai nội dung cơ bản là tài sản và nguồnvốn Phần tài sản phản ánh qui mô và cơ cấu các loại tài sản hiện có đến thời
điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp Về mặtpháp lý, phần tài sản thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền pháp lý , sửdung lâu dài, gắn với mục đích thu đợc các khoản lợi nhuận Phần nguồn vốnphản ánh nguồn vốn đợc huy động vào sản xuất kinh doanh Về pháp lý,nguồn vốn cho thấy trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kíkinh doanh với nhà nớc, số tài sản đã hình thành bằng nguồn vốn vay ngânhàng, vốn vay đối tợng khác, cũng nh trách nhiệm phải thanh toán với ngời lao
động, cổ đông, nhà cung cấp, trái chủ, Ngân sách
Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng bậc nhất giúp cho nhà phântích nghiên cứu, đánh giá một cách khái quát tình hình và kết quả kinh doanh,khả năng cân bằng tài chính, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh
tế, tài chính của doanh nghiệp
* Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết tìnhhình tài chính của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định, phản ánh tóm l -
ợc các khoản doanh thu, chi phí , kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củatoàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh ( sản xuất kinh doanh , đầu
t tài chính, hoạt động bất thờng) Bên cạnh đó, báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh còn cho biết tình hình thực hiện đối với nhà nớc của doanh nghiệptrong thời kì đó
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, ngời sử dụng thông tin
có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp trong kì, so sánh với kì trớc và doanh nghiệp khác để nhận biếtkhái quát hoạt động trong kì và xu hớng vận động
* Báo cáo lu chuyển tiền tệ :
Báo cáo lu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính đợc lập ra để trả lờinhững câu hỏi liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hìnhtrả nợ hay đầu t bằng tiền của doanh nghiệp
Báo cáo lu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về những luồng vào
ra của tiền và coi nh tiền, những khoản đầu t ngắn hạn có tính chất lu độngcao có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền biết tr-
ớc, ít chịu rủi ro về giá trị do những sự thay đổi về lãi suất Những luồng vào,
Trang 8ra của tiền và những khoản coi nh tiền đợc tổng hợp thành ba nhóm: Luchuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh, lu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu t, l-
u chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính Nó có thể đợc lập ra theo một tronghai phơng pháp: trực tiếp hoặc gián tiếp
III.1.2 Các nguồn thông tin bên ngoài doanh nghiệp:
Để đánh giá một cách chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệpthì ngoài các nguồn thông tin nội bộ của doanh nghiệp, các nhà quản trị doanhnghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin liên quan đến môi trờng xungquanh của doanh nghiệp
Đó là những thông tin có liên quan đến các chính sách của các cơ quanquản lý cấp trên chẳng hạn nh Tổng công ty đối với doanh nghiệp Một doanhnghiệp trực thuộc Tổng công ty có thể chỉ là phụ thuộc về mặt hành chínhhoặc phụ thuộc cả về mặt hành chính lẫn tài chính Đối với những doanhnghiệp hạch toán độc lập chỉ phải chịu sự quản lý của Tổng công ty về mặt tàichính, họ tự hạch toán kinh doanh, tự gánh chịu mọi thua lỗ cũng nh hởng lãinhng nhiệm vụ chủ yếu là để phục vụ cho Tổng công ty do vậy họ cần phảiquan tâm đến các chính sách, cơ chế của Tổng công ty Đối với những doanhnghiệp hạch toán phụ thuộc, Tổng công ty thực hiện chế độ quản lý trực tiếpcả về mặt hành chính lẫn tài chính nên việc phân tích tài chính ở các doanhnghiệp này thực tế là phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp trongmối liên hệ với hoạt động tài chính của Tổng công ty, xem xét mức độ và khảnăng đóng góp của những doanh nghiệp này vào kết quả hoạt động kinhdoanh của Tổng công ty.Bên cạnh đó là những thông tin về các chính sáchkinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nớc đối với các ngành nghề kinh doanh củadoanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nói riêng, các thông tin về thị trờng
và đối thủ cạnh tranh, những biến động của nền kinh tế, các thông tin có liênquan đến ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
III.2 Phơng pháp phân tích:
Phơng pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ vàbiện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tợng, các mối liên hệbên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉtiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính củadoanh nghiệp
Có rất nhiều phơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, dới đây là
Trang 9- Phơng pháp so sánh
- Phơng pháp tỷ
- Phơng pháp phân tích tài chính Dupont
III.2.1 Phơng pháp so sánh:
*Điều kiện áp dụng: Các chỉ tiêu cần phải thống nhất về thời gian,
không gian, nội dung, tính chất, đơn vị tính toán và theo mục đích phân tích
mà xác định gốc so sánh
*Nội dung:
So sánh giữa số hiện thực kỳ nàyvới số hiện thực kỳ trớc để thấy rõ xuhớng thay đổi về tài chính doanh nghiệp để đánh giá sự tăng trởng hay tụt lùitrong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
So sánh giữa số hiện thực và số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp
So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình nghành ,của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệptốt hay xấu, đợc hay cha đợc
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỉ trọng của từng chỉ tiêu so với tổngthể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kì để thấy đợc sự thay đổi cả về số l-ợng tơng đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các mức độ kế toán liêntiếp
III.2.2 Phơng pháp phân tích tỉ lệ :
Là phơng pháp truyền thống, đợc sử dụng phổ biến trong phân tích tàichính Đây là phơng pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụngngày càng đợc bổ sung và hoàn thiện Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính đợc cải tiến và cung cấp
đầy đủ hơn Đó là cơ sở để hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc
đánh giá một tỉ lệ tài chính tin cậy của doanh nghiệp
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ kiện vàthúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỉ lệ
Thứ ba, phơng pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệuquả các số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỉ lệ theo chuỗithời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Trang 10Phơng pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỉ lệ của đại lợng tàichính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phơng pháp tỉ lệ yêu cầuphải xác định đợc các ngỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tàichính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các tỉ lệ của doanh nghiệp với giá trịcác tỉ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính, các tỉ lệ tài chính đợc phân thành các nhóm tỉ
lệ đặc trng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp Đó là nhóm các tỉ lệ về khả năng thanh toán, nhóm các tỉ lệ vềcơ cấu tài chính, nhóm các tỉ lệ về năng lực hoạt động, nhóm các tỉ lệ về khảnăng sinh lời
III.2.3 Phơng pháp phân tích tài chính Dupont:
Phơng pháp phân tích tài chính Dupont cho thấy mối quan hệ tơng hỗgiữa các tỉ lệ tài chính chủ yếu Công ty Dupont là công ty đàu tiên ở Mỹ sửdụng các mối quan hệ chủ yếu này để phân tich các tỉ số tài chính Vì vậy, nó
đợc gọi là phơng pháp Dupont Ngày nay, phơng pháp này đợc sử dụng rộngrãi ở nhiều quốc gia
* Nội dung: Hệ thống phân tích tài chính Dupont
Theo phơng pháp này ngời ta xem xét, phân tích các mối quan hệ tơngtác giữa hệ số sinh lợi doanh thu với hiệu xuất sử dụng tổng tài sản, giữa hiệusuất sử dụng tổng tài sản và hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu, giữa hệ số nợ tổngtài sản và hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu để nhằm đa ra các giải pháp nhằmtăng tiêu thụ và tiết kiệm chi phí, xác định tỉ lệ nợ phù hợp
III.3 Chất lợng cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một khâu quan trọng trong quản lý tài chínhdoanh nghiệp Vì phân tích tài chính giúp cho những ngời quản lý tài chínhdoanh nghiệp thấy tình hình tài chính hiện tại và tơng lai của công ty để cho
họ có đợc những quyết định, những phơng hớng đúng đắn đối với sự phát triểncủa doanh nghiệp Tầm quan trọng của phân tích tài chính đòi hỏi các cán bộtiến hành phân tích tài chính phải có trình dộ nghiệp vụ chuyên môn cao Họtiến hành phân tích tài chính đồng thời phải lựa chọn sử dụng những thông tin
có tính khách quan, những nội dung và phơng pháp phù hợp với tình hình thực
tế cũng nh tơng lai của doanh nghiệp Trình độ cán bộ là khâu quan trọng
đóng góp phần sức quan trọng trong công tác phân tích tài chính doanhnghiệp
Trang 11ở các nớc phát triển công tác phân tích tài chính trong các doanhnghiệp thờng đợc thực hiện bởi một bộ phận chuyên trách về phân tích vàkiểm tra tài chính trong nội bộ công ty Bộ phận này đợc lãnh đạo bởi Giám
đốc phụ trách tài chính hay trởng phòng tài chính (tuỳ quy mô công ty) và baogồm các nhân viên có trình độ chuyên môn tốt về tài chính và phân tích tàichính Rất ít trờng hợp các nhân viên này là kế toán viên bởi bộ phận tài chính
và bộ phận kế toán đợc phân tách rõ ràng, cho dù đều chịu sự quản lý điềuhành của một giám đốc tài chính phụ trách chung Đây là đặc điểm thể hiệntính chuyên môn hoá cũng nh sự phát triển về quản lý tài chính của các doanhnghiệp này Giám đốc tài chính hay trởng phòng tài chính là ngời rất giỏi vềchuyên môn, có vai trò rất quan trọng, quyết định trong việc tạo ra các quyết
định về tài chính
Bên cạnh đó trình độ hiểu biết, nhận thức của các thành viên khác trongdoanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công của quá trình phântích tài chính Hiệu quả của việc phân tích tài chính trong doanh nghiệp sẽ caohơn nếu các thành viên trong doanh nghiệp đều nhận thức đợc tầm quan trọngcủa phân tích tài chính, cố gắng giúp sức trong việc phân tích tài chính, kiếnnghị, cung cấp những thông tin bổ ích cho quá trình phân tích tài chính
IV Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp
IV.1 Phân tích khái quát Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành hệ thống tài chínhphục vụ yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chính vì vậy để đánhgiá đợc tình hình tài chính của doanh nghiệp trớc hết cần phải xem xét kháiquát Báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, nó bao gồm tập hợp cácchỉ tiêu và khoản mục biểu hiện thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh gồm 2 phần chính:
Phần I gồm có:
Thứ nhất là Thu nhập và Chi phí từ hoạt động kinh doanh.
Thứ hai là Thu nhập và chi phí từ hoạt động tài chính.
Thứ ba là Thu nhập và chi phí từ hoạt động bất thờng.
Trang 12Chênh lệch từ mỗi loại thu nhập và chi phí cho biết kết quả của mỗihoạt động tơng ứng trong doanh nghiệp Tổng hợp ba kết quả này sau khi trừ
đi phần thuế thu nhập doanh nghiệp chính là kết quả kinh doanh cuối cùng
Phần II gồm có:Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nớc nh các khoản
thuế, lệ phí doanh nghiệp phải nộp, đã nộp và còn nợ ngân sách trong kỳ Trong phần I Về chi phí, chi phí kinh doanh là chi phí chiếm tỷ trọng lớnnhất trong tổng chi phí của doanh nghiệp Chi phí kinh doanh bao gồm tất cảnhững chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bình thờng hàng ngày củadoanh nghiệp nh chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí thuê ngoài gia công,dịch vụ, các khoản luơng, thởng Cần lu ý rằng khấu hao tài sản là một khoảnmục nằm trong chi phí và đợc xác định trong BCKQKD nhng nó không phải
là một khoản chi bằng tiền nên không đợc tính trong phần thu chi ngân quĩ.Bên cạnh chi phí kinh doanh, chi phí hoạt động tài chính và hoạt động bất th-ờng cũng là những khoản chi phí đáng kể trong doanh nghiệp Các chi phí tàichính có thể kể đến là chi phí trả lãi vay, chi phí mua bán chứng khoán, liêndoanh, liên kết Các chi phí bất thờng gồm có: Chi phí về nhợng bán,thanh lýtài sản cố định, những giá trị tổn thất không thu hồi đợc
Về thu nhập, Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thờng là khoản thu lớnnhất đối với hoạt động của doanh nghiệp, nó bảo đảm trang trải các chi phí,thực hiện tái sản xuất và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nớc Trong thu nhập
từ hoạt động kinh doanh, doanh thu bán hàng là nguồn thu chủ yếu.Doanh thubán hàng là toàn bộ tiền về tiêu thụ sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho kháchhàng Đối với các doanh nghiệp khác nhau thì nội dung xác định thu nhậpcũng khác nhau Tơng tự, Doanh nghiệp cũng có các khoản thu nhập từ hoạt
động tài chính nh: Thu từ hoạt động đầu t, tài trợ, liên doanh, liên kết cáckhoản thu nhập bất thờng nh thu từ việc nhợng bán, thanh lý tài sản cố định
Tóm lại bằng việc xem xét cụ thể từng chỉ tiêu, khoản mục doanh thu,chi phí theo phơng pháp trừ lùi, ngời sử dụng thông tin dễ dàng nắm bắt đợcthực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện quadoanh thu và chi phí của từng hoạt động, phần lợi nhuận ròng thu đợc trong
kỳ, từ đó hình thành một cái nhìn tổng quát nhất về tình hình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
IV.2 Phân tích các nhóm chỉ tiêu:
Thông qua phân tích các tỷ số tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cóthể đánh giá khá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp Đồng thời
Trang 13các chỉ số tài chính không chỉ cho thấy các mối quan hệ giữa các khoản mụckhác nhau trong các báo cáo tài chính, mà chúng còn tạo điều kiện thuận lợicho việc so sánh các khoản mục đó của doanh nghiệp qua nhiều giai đoạn và
so sánh với các doanh nghiệp khác trong ngành
IV2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn cầntới các khoản tiền đi vay gọi là: nợ ngắn hạn, nợ trung hạn, nợ dài hạn Trớckhi thực hiện vay các khoản nợ này, vấn đề của doanh nghiệp cũng nh các chủ
nợ của doanh nghiệp quan tâm là khả năng thanh toán của doanh nghiệp Khảnăng này cho ta biết doanh nghiệp có thể thanh toán đợc các khoản vay haykhông Điều này giúp cho doanh nghiệp có quyết định vay tiền hay không vàngợc lại các chủ nợ có quyết định cho doanh nghiệp vay hay không Khả năngnày là yếu tố quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp có
đủ khả năng thanh toán các khoản vay của doanh nghiệp hay không tức là thểhiện khả năng tài chính của doanh nghiệp trong hiện tại và tơng lai Vì vậy, đểphán xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp chúng ta sử dụng các chỉ tiêusau:
Khả năng thanh toán hiện hành: là tỷ lệ đợc tính bằng cách chia
tài sản lu động cho nợ ngắn hạn Tài sản lu động thờng bao gồm tiền, cácchứng khoán dễ chuyển nhợng (tơng đơng tiền), các khoản phải thu và dự trữ(tồn kho), còn nợ ngắn hạn thờng bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng
và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trảkhác
Cả tài sản lu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định-tới mộtnăm.Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành là thớc đo khả năng thanh toán ngắnhạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắnhạn đợc trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai
đoạn tơng đơng với thời hạn của các khoản nợ đó
Trang 14 Khả năng thanh toán nhanh: là tỷ lệ đợc tính bằng cách chia các
tài sản quay vòng nhanh cho nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là nhữngtài sản có thể nhanh chóng biến đổi thành tiền bao gồm: tiền, chứng khoánngắn hạn, các khoản phải thu Tài sản dự trữ (tồn kho) là số tài sản khóchuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lu động và dễ bị lỗ nhất nếu bánkhông đợc Do đó, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trảcác khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho)
và xác định bằng cách lấy tài sản lu động ròng trừ đi phần dự trữ (tồn kho)chia cho nợ ngắn hạn
Tài sản lu động - Dự trữ
Tỷ lệ thanh toán nhanh =
( Hn ) Nợ ngắn hạnThông thờng nếu tỷ số này lớn hơn 1 thì tình hình thanh toán củadoanh nghiệp là khả quan và ngợc lại nếu nhỏ hơn 1 thì tình hình thanh toáncủa doanh nghiệp là khó khăn Tuy vậy, nếu tỷ lệ này quá cao sẽ dẫn đến tìnhtrạng ứ đọng vốn, giảm vòng qua của tiền
Hệ số thanh toán tức thời: Hệ số này đợc tính bằng tỷ số giữa các
khoản tiền mặt và coi nh tiền mặt (tiền gửi Ngân hàng, ngân phiếu ) với số
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với các bạn hàng mà hoạt động khan hiếm tiền mặt (quay vòng vốnnhanh) Các doanh nghiệp này cần phải đợc thanh toán một cách đúng hạn,nhanh chóng để hoạt động đợc bình thờng Doanh nghiệp rất quan tâm tớichỉ số này vì nó thể hiện toàn bộ số tiền mặt và coi nh tiền mặt của doanhnghiệp ( không kể đến các khoản phải thu vì trong tức thời không thể trôngchờ hoàn toàn vào các khoản này) có thể đảm bảo trả đợc bao nhiêu phầntoàn bộ số nợ ngắn hạn của doanh nghiệp ngay lập tức
Tiền và tiền tơng đơng
Tỷ lệ thanh toán tức thời =
( Htt ) Nợ ngắn hạnNếu Htt > 0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp là khả quan còn
Htt < 0,5 thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong thanh toán Nhng nếu tỷ lệ
Trang 15này quá cao thì không tốt vì các khoản tiền mặt và coi nh tiền mặt quá nhiềulàm vòng quay tiền chậm lại, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
IV.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn:
Khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp đợc thể hiện qua các tỷ lệ màcác tỷ lệ này đo lờng vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tàitrợ của các chủ nợ đối với các doanh nghiệp, nó có ý nghĩa quan trọng trongphân tích tài chính Bởi lẽ chủ nợ nhìn số vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp đểthể hiện mức độ tin tởng vào sự bảo đảm an toàn cho các món nợ Nếu chủ sởhữu doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi rotrong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là do các chủ nợ gánh chịu.Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thu đợc lợi nhuận nhiều hơn tiền lãi phải trả thì lợinhuận dành cho các chủ doanh nghiệp tăng lên đáng kể
Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản: là tỷ lệ đợc tính bằng cách chia tổng số
nợ cho tổng tài sản Tỷ lệ này đợc dùng để đo lờng sự góp vốn của chủ doanhnghiệp so với số nợ vay Chủ nợ rất a thích một tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợcàng thấp, hệ số an toàn càng cao, món nợ của họ càng đợc bảo đảm, và họ cócơ sở để tin tởng vào sự đáo nợ đúng hạn của con nợ Khi tỷ số nợ cao, tức làchủ doanh nghiệp chỉ góp một phần nhỏ trên tổng số vốn, thì sự rủi ro trongkinh doanh đợc chuyển sang chủ nợ gánh chịu một phần Đồng thời, khi tỷ số
nợ cao thì chủ doanh nghiệp càng có lợi rõ rệt, vì khi đó họ chỉ bỏ ra một lợngvốn nhỏ, nhng lại đợc sử dụng một lợng tài sản lớn, và khi doanh lợi vốn lớnhơn lãi suất tiền vay thì phần lợi nhuận của họ gia tăng rất nhanh Mặt khác,khi tỷ số nợ cao thì mức độ an toàn trong kinh doanh càng kém, vì chỉ cần mộtkhoản nợ tới hạn không trả đợc sẽ rất dễ làm cho cán cân thanh toán mấtthăng bằng, xuất hiện nguy cơ phá sản
Tổng nợ
Tỷ lệ nợ =
Tổng tài sản
Hệ số cơ cấu tài sản: là tỷ lệ đợc tính bằng cách chia tài sản lu động
hoặc tài sản cố định cho tổng tài sản Hệ số này đợc dùng để đánh giá trình
độ sử dụng vốn của doanh nghiệp Tuỳ theo từng loại hình sản xuất mà hệ
số này ở mức độ cao thấp khác nhau
Cơ cấu cho từng loại tài sản đợc tính nh sau:
Tài sản cố định
Tỷ trọng TSCĐ =
Trang 16 Hệ số cơ cấu nguồn vốn:là tỷ lệ đợc tính bằng cách chia tổng
nguồn vốn chủ sở hữu cho tổng nguồn vốn Hệ số này thể hiện mức độ tựchủ về tài chính của công ty Hệ số càng cao, khả năng tự chủ về mặt tàichính của Công ty càng lớn
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số cơ cấu nguồn vốn =
Tổng nguồn vốn
Trang 17IV.2.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động:
Khả năng này đợc thể hiện qua các tỷ lệ mà các tỷ lệ này đợc sử dụng
để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn củadoanh nghiệp đợc dùng để đầu t cho các loại tài sản khác nhau nh tài sản cố
định, tài sản lu động Do đó, mà các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc
đo lờng hiệu quả sử dụng từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanhnghiệp Chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ đợc sử dụng chủ yếu trong các tỷ lệ này đểxem xét khả năng hoạt động của doanh nghiệp
Vòng quay dự trữ (tồn kho): là chỉ tiêu khá quan trọng đánh giá
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đợc tính bằng cách chiadoanh thu tiêu thụ trong năm của doanh nghiệp cho giá trị d trữ ( tồn kho )bình quân
Doanh thu thuần Vòng quay dự trữ =
Dự trữ
Kỳ thu tiền bình quân: Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh
các khoản phải thu, phải trả là điều tất yếu Khi các khoản phải thu cànglớn, chứng tỏ vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều ( ứ đọngtrong khâu thanh toán ) Nhanh chóng giải phóng vốn bị ứ đọng trong khâuthanh toán là một bộ phận quan trọng của công tác tài chính Vì vậy, cácnhà phân tích tài chính rất quan tâm tới thời gian thu hồi các khoản phảithu và chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân ra đời với mục đích thông tin về khảnăng thu hồi vốn trong thanh toán
Phải thu x 360
Tỷ lệ kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: chỉ tiêu này cho biết một đồng
tài sản cố định tạo ra đợc bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm Tàisản cố định ở đây đợc xác định là giá trị còn lại đến thời điểm báo cáo Giátrị tài sản cố định là giá trị thuần của các loại tài sản cố định tính theo giátrị ghi trên sổ sách kế toán, tức là nguyên giá tài sản cố định khấu trừ phầnhao mòn phần tài sản cố định cộng dồn đến thời điểm tính
Trang 18Doanh thu thuần
Tỷ lệ hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Giá trị tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: đợc tính bằng tỷ số giữa doanh thu
tiêu thụ và tổng tài sản Tỷ số này cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu
đồng doanh thu Nó cũng thể hiện số vòng quay trung bình toàn bộ vốn củadoanh nghiệp trong thời kỳ báo cáo Hệ số này làm rõ khả năng tận dụng vốntriệt để vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng vòng quay ( tốc
độ ) kinh doanh này lên là yếu tố quan trọng làm tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp, đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh, uy tín của doanh nghiệp trênthị trờng
Doanh thu thuần
Tỷ lệ hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Tổng tài sản
IV.2.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi:
Đây là một trong những nội dung phân tích đợc các nhà đầu t, các nhàtín dụng quan tâm đặc biệt vì nó gắn liền với lợi ích của họ cả về hiện tại và t-
ơng lai Nếu nh các nhóm chỉ tiêu trên phản ánh hiệu quả từng hoạt độngriêng biệt của doanh nghiệp thì tỷ lệ khả năng sinh lợi phản ánh tổng hợp nhấthiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp, từ đó ranhững quyết định phù hợp cho lợi ích của riêng mình
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm: để đánh giá hoạt động sản xuất
-kinh doanh thịnh vợng hay suy thoái, ngoài việc xem xét chỉ tiêu doanh thu
đạt đợc trong kỳ, các nhà phân tích còn xác định số lợi nhuận sau thuế cótrong một trăm đồng doanh thu
Lợi nhuận sau thuế Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm =
Doanh thu thuầnChỉ tiêu này thay đổi có thể do chi phí hoặc giá bán sản phẩm thay đổi.Không phải lúc nào giá trị của nó cao cũng là tốt Nếu nó cao do chi phí (giáthành sản phẩm) giảm thì tốt nhng nếu nó cao do giá bán tăng lên trong trờnghợp cạnh tranh không thay đổi thì cha phải là tốt vì tính cạnh tranh của doanhnghiệp sẽ giảm (tiêu thụ sản phẩm giảm)
Trang 19 Doanh lợi vốn chủ sở hữu: so với ngời cho vay, thì việc bỏ vốn vào
hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu mang tính mạo hiểm hơn, nhng lại cónhiều cơ hội mang lại lợi nhuận cao hơn Họ thờng dùng chỉ tiêu doanh lợivốn chủ sở hữu làm thớc đo mức doanh lợi trên mức đầu t của chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Doanh lợi vốn: là chỉ tiêu tổng hợp nhất đợc dùng để đánh giá khả
năng sinh lợi của một đồng vốn đầu t Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể củadoanh nghiệp đợc phân tích và phạm vi so sánh mà ngời ta lựa chọn lợinhuận trớc thuế và lãi hoặc lợi nhuận sau thuế để so sánh với tổng tài sản
Đối với doanh nghiệp có sử dụng nợ trong kinh doanh, ngời ta dùng chỉtiêu doanh lợi vốn xác định bằng cách chia lợi nhuận trớc thuế và lãi chotổng tài sản, vì nếu không, lợi nhuận trớc thuế của các doanh nghiệp nàykhác so với lợi nhuận trớc thuế của các doanh nghiệp sử dụng toàn bộ vốn
tự có, và do đó lợi nhuận sau thuế là khác nhau
Lợi nhuận trớc thuế và lãi Doanh lợi vốn =
Tổng tài sảnMặc dù mỗi tỷ số tài chính trên đây phải đợc đánh giá dựa trên nhữnggiá trị riêng của nó, song việc phân tích tỷ số tài chính chỉ có hiệu lực cao nhấtkhi tất cả các tỷ số cùng đợc sử dụng để tạo ra một bức tranh rõ ràng nhất vềtình hình tài chính của doanh nghiệp
IV.3 Phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn:
Những ngời liên quan tới doanh nghiệp có thể cha hài lòng vì nhữngthông tin nêu trên cha chỉ rõ vốn đợc xuất phát từ đâu và đợc sử dụng vào việcgì theo thứ tự thời gian Vì thế, bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụngvốn đã trở thành một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chínhtrong việc xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và mục đích sử dụng cácnguồn vốn
Trong phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn, ngời ta thờng xem xét sựthay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệptrong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng tổng kết tài sản
Trang 20Để lập đợc bảng này, trớc hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mụctrên bảng cân đối tài sản từ đầu kỳ đến cuối kỳ Do vậy, mỗi sự thay đổi củacác tài khoản trên bảng cân đối kế toán có thể đợc xếp vào cột nguồn vốn hay
sử dụng vốn theo quy luật sau:
+ Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì đợc xếp vào cột sửdụng vốn
+ Nếu giảm phần tài sản và tăng phần nguồn vốn thì đợc xếp vào cộtnguồn vốn
Việc thiết lập biểu kê nguồn vốn và sử dụng vốn là cơ sở để tiến hànhphân tích nguồn vốn và sử dụng vốn nhằm chỉ ra những trọng điểm đầu t vốn
và những nguồn vốn chủ yếu đợc hình thành để tài trợ cho những đầu t đó
ảnh hởng tới sự tăng (giảm) nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp? Từ
đó các nhà quản lý sẽ có các giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng caohiệu quả sử dụng vốn
IV.3 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản baogồm tài sản lu động (TSLĐ) và đầu t ngắn hạn, tài sản cố định (TSCĐ) và đầu
t dài hạn Để hình thành 2 loại tài sản này phải có các nguồn tài trợ tơng ứngbao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
Trang 21 Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trongkhoảng thời gian dới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm
nợ ngắn hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác
Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài chohoạt động kinh doanh gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay nợ trung,dài hạn
Nguồn vốn dài hạn trớc hết đợc đầu t để hình thành TSCĐ, phần d củanguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn đợc đầu t hình thành TSLĐ Chênhlệch giữa nguồn vốn dài hạn với TSCĐ hay giữa TSLĐ với nguồn vốn ngắnhạn đợc gọi là vốn lu động thờng xuyên Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạnphụ thuộc vào độ lớn của vốn lu động thờng xuyên
Nguồnvốn ngắn hạn
A- Nợ phải trả
I Nợ ngắn hạnIII Nợ khác
IV Nợ dàihạn
B- Nguồnvốn
chủ sởhữu
Vốn lu
động thờng xuyên
Ngu
ồn vốn Dài hạn
VLĐ thờng = Nguồn vốn - TSCĐ = TSLĐ - Nguồn vốn
Trang 22ờng hợp 2: VLĐ thờng xuyên = 0, có nghĩa nguồn vốn dài hạn đủ tàitrợ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tìnhhình tài chính nh vậy là lành mạnh
Tr
ờng hợp 3: VLĐ thờng xuyên < 0, nguồn vốn dài hạn không đủ để tàitrợ cho TSCĐ Doanh nghiệp phải đầu t vào TSCĐ một phần nguồn vốn ngắnhạn, TSLĐ không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanhtoán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng một phầnTSCĐ để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả
Nh vậy, VLĐ thờng xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để
đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết hai điều cốtyếu: Một là, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạnkhông? Hai là, TSCĐ của doanh nghiệp có đợc tài trợ một cách vững chắcbằng nguồn vốn dài hạn không?
Ngoài khái niệm VLĐ thờng xuyên đợc đề cập trên đây, trong phân tíchtài chính ngời ta còn nghiên cứu chỉ tiêu nhu cầu VLĐ thờng xuyên và vốnbằng tiền
Nhu cầu VLĐ thờng xuyên là lợng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần đểtài trợ cho một phần TSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu (TSLĐkhông phải là tiền)
Nhu cầu VLĐ = Tồn kho và các - Nợ ngắn hạn
thờng xuyên khoản phải thu
Vốn bằng tiền = VLĐ thờng - Nhu cầu VLĐ
xuyên thờng xuyên
Chơng iiPhân tích tài chính tại công bu chính liên tỉnh và quốc tế
I Giới thiệu chung về Công ty
-Tên gọi: Công ty Bu chính liên tỉnh và Quốc tế
-Tên giao dịch quốc tế: Việt Nam Postal Services - VPS
Trang 23-Tel: 84.4.7330700-7330701-7330910
-Fax: 84.4.7330704-7330709
-Ngành nghề kinh doanh: Dịch vụ Bu chính viễn thông
1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty:
Công ty Bu chính liên tỉnh và quốc tế đợc thành lập năm 1991 - là mộtcông ty chuyên ngành Bu chính trực thuộc Tổng công ty Bu chính viễn thôngViệt Nam
Công ty không ngừng phát triển lớn mạnh, từ năm 1995 đến nay, trựcthuộc Công ty gồm có:
- Trung tâm Bu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực I
- Trung tâm Bu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực II
- Trung tâm Bu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực III
- Xí nghiệp sửa chữa ô tô Bu điện
- Trung tâm chuyển tiền
2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty:
-Tổ chức, quản lý và phát triển mạng khai thác bu gửi trong nớc và quốc
tế Là đầu mối duy nhất của Bu chính Việt nam trong quan hệ trao đổi cácdịch vụ Bu chính quốc tế với các nớc(Bu phẩm,bu kiện,EMS,chuyển tiền )
Là đầu mối xử lý các khiếu nại trong nớc và quốc tế
-Tổ chức cung cấp và phát triển các dịch vụ bu chính trong nớc và quốc
tế để kinh doanh và phục vụ theo qui hoạch,kế hoạch và phơng hớng phát triểncủa Tổng Công ty
-Tổ chức và khai thác mạng vận chuyển bu chính trong nớc và quốc tếbằng các phơng tiện máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ và xe ô tô trên mạng liên tỉnh
và quốc tế
-Thanh toán cớc các dịch vụ bu chính quốc tế của Việt nam với các nớc.-Điều phối, đối soát, cân đối và thanh toán chuyển tiền trong nớc vàquốc tế
-Đảm bảo thông tin bu chính trên mạng liên tỉnh và quốc tế đối với cácdịch vụ phục vụ sự chỉ đạo của các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, cácyêu cầu thông tin trong đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân theo qui địnhcủa Tổng công ty
-Sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu vật t thiết bị chuyên ngành
bu chính
Trang 24C¸c dÞch vô & s¶n phÈm chñ yÕu cña C«ng ty:
Trang 26II KÕt qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh cña c«ng ty trong thêi gian qua
1 KÕt qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh 1992- 2000:
2 Doanh thu cíc phÝ vµ dÞch vô 1996-2000:
2.1 DÞch vô EMS trong níc vµ quèc tÕ:
Trang 272.2 Chuyển tiền (th chuyển tiền, điện chuyển tiền, chuyển tiền nhanh)
1 Tổ chức bộ máy quản lý và phân tích tài chính của Công ty:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán phân tích của Công ty
Kế toán trởng: là ngời phụ trách đánh giá kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh, phát hiện kịp thời những bất hợp lý trong kinh doanh
đồng thời chịu trách nhiệm trớc Giám đốc và Nhà nớc về mặt quản lý tàichính, thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ của kế toán trởng, chấp hànhnghiêm túc các quyết định của nhà nớc và công ty
Kế toán tổng hợp: là ngời vào sổ cái, lập báo cáo quyết toán, theodõi, kiểm tra các kết quả kinh doanh của các đơn vị trực thuộc Có nhiệm
vụ tính thuế và công nợ nội bộ hàng tháng để nộp thanh toán và giúp kếtoán trởng lập báo cáo quyết toán
Trang 28 Kế toán các khoản vay, TGNH (kiêm thủ quỹ): phản ánh số hiện cótình hình tăng giảm các khoản tiền vay, TGNH của doanh nghiệp và làmnhiệm vụ quản lý quỹ Thực hiện đầy đủ nội quy và chịu trách nhiệm trớctrởng phòng về công việc của mình.
Kế toán TSCĐ kiêm thanh toán: có nhiệm vụ căn cứ vào chứng từgốc đã đợc giám đốc duyệt viết phiếu thu và phiếu chi phản ánh số hiện có
và tình hình tăng giảm vốn của công ty Theo dõi tài khoản tạm ứng vàquản lý quỹ của công ty, của liên hiệp, trích và lập quỹ khấu hao tài sảncủa công ty
Hiện nay công ty đã đa máy vi tính vào hỗ trợ một số hoạt động nh: lậpbảng biểu tổng hợp, lên báo cáo kế toán với bộ máy kế toán khoa học gọnnhẹ và hợp lý đảm bảo sự chỉ đạo tập trung của kế toán trởng với trang thiết bị
kỹ thuật hiện đại xử lý thông tin, công tác kế toán của công ty đã góp phầnkhông nhỏ vào việc quản lý và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty
2 Nội dung phân tích tài chính tại công ty trong thời gian qua:
Toàn bộ công việc phân tích tài chính đợc thực hiện bởi phòng Tàichính - kế toán- thống kê Với tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, cáccán bộ nhân viên của phòng luôn thu nhận, xử lý và tổng kết một cách kịpthời, trên cơ sở đó cung cấp những thông tin chính xác, cần thiết cho việc raquyết định các phơng án kinh doanh của Giám đốc
Tuy nhiên, công tác phân tích tài chính tại Công ty Bu chính liên tỉnh vàquốc tế vẫn ở dạng đơn giản, cha thành hệ thống, chỉ phân tích một số chỉ tiêutài chính chủ yếu đợc thể hiện thông qua bảng thuyết minh báo cáo tài chínhbao gồm bố trí cơ cấu vốn, tỷ suất lợi nhuận và tình hình tài chính của công ty.Trong bảng này có số liệu của công ty năm 1998, 1999 để so sánh số liệu 2năm, rút ra kết luận về tình hình sản xuất và kinh doanh của công ty
Bảng 1- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính năm 1999
1 Bố trí cơ cấu vốn:
- Tài sản cố định / Tổng số tài sản (%) 55 49
- Tài sản lu động / Tổng số tài sản (%) 45 51
2 Tỷ suất lợi nhuận:
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (%) 16 17
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (%) 23 25
3 Tình hình tài chính:
- Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản (%) 63 65
- Khả năng thanh toán (%)
Trang 29+ Tổng quát: Tài sản lu động / Nợ ngắn hạn 71 76+ Thanh toán nhanh: Tiền hiện có / Nợ ngắn hạn 55 68
( Nguồn: Trích trong báo cáo tài chính của Công ty Bu chính liên tỉnh và quốc tế năm 1999 )
Đánh giá tổng quát các chỉ tiêu:
- Tài sản lu động / Tổng số tài sản tăng hơn so với năm trớc thể hiệncông ty sử dụng vốn lu động có hiệu quả
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và trên vốn tăng hơn so với năm
tr-ớc thể hiện việc sản xuất kinh doanh của Công ty năm sau tốt hơnnăm trớc, việc sử dụng vốn của công ty cũng có hiệu quả hơn
- Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản tăng thể hiện Công ty sử dụngnhiều nợ hơn
- Các tỷ lệ Tài sản lu động trên nợ ngắn hạn, tỷ lệ tiền hiện có trên nợngắn hạn đều tăng chứng tỏ khả năng thanh toán của Công ty là tốt
Đó là những phân tích trong thuyết minh báo cáo tài chính của công ty.Tuy nhiên, những thuyết minh này còn sơ sài, không đầy đủ và không tạo cơ
sở để đánh giá toàn diện tình hình tài chính của công ty Vì vậy, trong thờigian tới để nâng cao chất lợng công tác phân tích tài chính, cán bộ phòng Tàichính - kế toán - thống kê cần đi sâu phân tích và chỉ ra đợc những nguyênnhân gây ra đợc những hiện tợng bất thờng xảy ra trong kinh doanh Đồngthời cần phân tích đồng bộ các chỉ tiêu cơ bản để hoạt động phân tích tài chínhcủa công ty đợc thực hiện một cách quy củ và có hệ thống
III Phân tích tài chính tại Công ty Bu chính liên tỉnh và quốc tế.
1 Nguồn thông tin sử dụng trong PTTC của Công ty.
Nói đến thông tin sử dụng trong Phân tích tài chính của một doanhnghiệp phải nói đến cả nguồn thông tin của nội bộ doanh nghiệp và nhữngthông tin bên ngoài doanh nghiệp Đối với Công ty Bu chính liên tỉnh và quốc
Trang 30tế, là một doanh nghiệp Nhà nớc trực thuộc tổng Công ty Bu chính viễn thôngViệt Nam những thông tin bên ngoài đợc Công ty hết sức quan tâm nh nhữngchính sách, đờng lối của Nhà nớc có liên quan đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty đợc thể hiện dới dạng các điều luật, các văn bản dới luật doNhà nớc ban hành Ngoài ra, do Công ty có quan hệ hợp tác với một mạng lớirộng khắp cả trong và ngoài nớc nên Công ty cũng rất chú trọng đến nhữngthông tin về khách hàng, các doanh nghiệp, các đối tác
Đối với những thông tin bên trong dùng cho việc phân tích tài chính,Công ty chủ yếu sử dụng các báo cáo tài chính nh: Báo cáo kết quả sản xuấtkinh doanh, Bảng cân đối kế toán, Báo cáo sản lợng doanh thu Đây là nhữngthông tin hết sức quan trọng quyết định đến tính chính xác trong Phân tích tàichính tại Công ty Dới đây là một số Báo cáo tài chính chủ yếu
2 Phân tích khái quát vể hoạt động về hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian qua.
2.1 Doanh thu:
Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong nhữngnăm vừa qua có mức tăng trởng đáng kể với tốc độ tăng năm sau lớn hơn nămtrớc( Năm 1999 so với năm 1998 là 3%, năm 2000 so với năm 1999 là14,45%) Doanh thu của Công ty đợc thực hiện trên 16 sản phẩm và là tổnghợp doanh thu của các đơn vị trực thuộc: Trung tâm Bu chính liên tỉnh và quốc
tế khu vực I, trung tâm Bu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực II, trung tâm Buchính liên tỉnh và quốc tế khu vực III, trung tâm chuyển tiền và văn phòngCông ty Trong đó phần lớn doanh thu đợc thực hiện ở trung tâm Bu chính liêntỉnh khu vực I và khu vực II với hầu hết các loại sản phẩm: Bu phẩm thờngtrong nớc, Bu phẩm ghi số trong nớc, Bu kiện trong nớc, Bu phẩm ghi số nớcngoài và đến năm 2000 có thêm Bu chính uỷ thác Đến năm 2000 Tổngdoanh thu của Trung tâm Bu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực I và II lần lợt
là 87.790.118.405 VNĐ và 75.015.245.051 VNĐ chiếm 47,28 và 40,40%Tổng doanh thu (185.681.299.630 VNĐ) Tiếp đến là doanh thu từ Trung tâm
Bu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực III với 6 sản phẩm chính Cuối cùng làdoanh thu từ trung tâm chuyển tiền và từ văn phòng Công ty Sở dĩ doanh thucủa Công ty năm sau cao hơn năm trớc vì sản lợng thực hiện năm sau hầu nh
đều lớn hơn năm trớc Trong năm 2000 đối với một số sản phẩm mặc dù sản
Trang 31l-sự giảm doanh thu này là do mức giá đối với các sản phẩm này của Công tynăm 2000 giảm so với mức giá năm 1999 Việc giảm đơn giá hầu hết các sảnphẩm của mình trong năm 2000 của Công ty là nhằm vào chiến lợc mở rộng
và phát triển thị trờng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Bêncạnh đó trong thời gian qua Công ty cũng đã trang bị hiện đại hoá máy móc,thiết bị, nhà xởng để nâng cao chất lợng phục vụ, tăng khả năng cạnh tranhtrên thị trờng Việc hạ thấp đơn giá khiến cho sản lợng của hầu hết các sảnphẩm đều tăng, thu hút đợc nhiều khách hàng hơn Thực tế cho thấy đến nayCông ty Bu chính liên tỉnh và quốc tế đã có hoạt động hợp tác thờng xuyên,liên tục với 61 Bu điện tỉnh thành và với các doanh nghiệp trong và ngoàingành Công ty cũng đã thiết lập quan hệ chuyển tiện với rất nhiều nớc trong
đó có những nớc lớn nh: Mỹ, Nhật, Pháp Mạng vận chuyển Bu chính củaCông ty cũng không ngừng phát triển cả về đờng không, đờng thuỷ bộ lẫn đ-ờng ô tô chuyên ngành
2.2 Chi phí:
Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố
Yếu tố chi phí
Số tiền Năm 1999 Năm 2000
Chi phí nguyên
vật liệu 12.728.539.153 16.712.942.740 3.984.403.587 31,303Chi phí nhân công 36.326.837.888 38.295.632.487 1.968.794.599 5,420
Chi phí khấu hao
TSCĐ 15.338.330.402 19.420.091.781 4.081.761.397 26,612Chi phí dịch vụ
Qua bảng chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố cho thấy so với năm
1999, trong năm 2000 hầu hết các yếu tố về chi phí đều tăng Điều này đã dẫntới tổng chi phí năm 2000 cao hơn năm 1999 ( 143.324.456.513VNĐ so với123.509.401.423 VNĐ ) Đồng thời tốc độ tăng về chi phí của năm 2000 sovới năm 1999 cũng lớn hơn tốc độ tăng về doanh thu ( 14,45% ) Điều này
Trang 32cũng góp phần làm giảm lợi nhuận của Công ty trong năm 2000 Chính vì vậy
mà Công ty cũng cần phải có những chiến lợc, kế hoạch để làm giảm chi phínhằm nâng cao lợi nhuận
Để phân tích rõ hơn, Công ty đã chia chi phí theo yếu tố ra làm 2 loại làchi phí sản xuất kinh doanh và chi phí quản lý doanh nghiệp Trong đó chi phísản xuất kinh doanh chiếm phần lớn trong Tổng chi phí ( 93,81% ) còn chi phíquản lý doanh nghiệp chỉ chiếm một phần rất nhỏ ( 6,19% ) Tốc độ tăng củachi phí sản xuất kinh doanh cũng lớn hơn tốc độ tăng của chi phí quản lýdoanh nghiệp ( 15,11% so với 12,159% )
Đối với chi phí sản xuất kinh doanh các chỉ tiêu năm sau đều tăng sovới năm trớc vì: Năm 2000 Tổng số công nhân viên của Công ty là 1728 ngờităng nhiều so với năm 1999 ( 1305 ngời ) nên chi phí về tiền lơng, Bảo hiểmxã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn tăng do vậy chi phí nhân công tăng.Bên cạnh đó để đáp ứng nhu cầu khách hàng, tăng sản lợng phục vụ cũng kéotheo sự gia tăng trong chi phí về nguyên vật liệu, dụng cụ sản xuất, khấu hao,sửa chữa tài sản Trong năm 2000 Công ty cũng chú trọng đến an toàn lao
động, chú trọng đến việc tuyên truyền quảng cáo Đối với chi phí quản lýdoanh nghiệp vì chiếm một phần rất nhỏ so với toàn bộ chi phí của Công tynên mặc dù năm 2000 so với năm 1999 có tăng nhng không đáng kể Đángchú ý là mặc dù nhân viên quản lý, nhân viên bán hàng tăng nhng chi phí tiềnlơng lại giảm
3 Phân tích các chỉ tiêu, tỷ lệ tài chính
3.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh chất lợng công tác tàichính, nếu doanh nghiệp có hoạt động tài chính tốt sẽ có ít công nợ, khả năngthanh toán dồi dào , ngợc lại nếu doanh nghiệp có hoạt động tài chính kém thìdẫn đến tình trạng bị chiếm dụng vốn, các khoản phải thu , phải trả dây da kéodài
Bảng 5: Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán (trang bên)
* Khả năng thanh toán hiện hành
Tỷ lệ thanh toán hiện hành càng cao thì khả năng thanh toán hộ ngắnhạn càng cao và ngợc lại
Khả năng thanh toán hiện hành của Công ty tăng từ 0,710 năm 1998 lên
Trang 33hành của Công ty đã tăng đều trong 3 năm Tuy nhiên trong 2 năm 1998 và
1999 tỷ lệ khả năng thanh toán hiên hành nhỏ hơn 1 chứng tỏ Công ty gặp khókhăn trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Lợng tài sản lu động màCông ty có không đủ thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, rất có thể Công ty sẽphải huy động các khoản vay bổ xung hoặc phải bán tài sản cố định để trả nợ
Đến năm 2000 tỷ lệ thanh toán hiện hành của Công ty đã lớn hơn 1 cho thấyCông ty đã có khả năng đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn phải trả.Tuy vậy tỷ lệ này của Công ty vẫn còn thấp, thông thờng tỷ lệ này bằng 2 mới
đợc coi là hợp lý và đợc các chủ nợ chấp nhận do nó vừa đảm bảo thanh toán
nợ, vừa bảo đảm vốn lu động cho sản xuất kinh doanh Đối với Công ty, năm
2000 tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành là 1,094 nh vậy để trả toàn bộ số nợngắn hạn Công ty phải dùng tới 91,408% giá trị tài sản lu động mới đủ đểthanh toán
Sở dĩ so với năm 1998, khả năng thanh toán hiện hành của Công ty năm
1999 tăng là vì: mặc dù nợ ngắn hạn tăng 25.637.384.766 tốc độ tăng là113,654% nhng vẫn nhỏ hơn tốc độ tăng của tài sản lu động 112,527% Năm
2000 khả năng thanh toán hiện hành của Công ty tăng nhanh ( 43,007% so vớinăm 1999 ) là do mặc dù tốc độ tăng tài sản lu động không bằng năm tr-ớc( 115,080% ) nhng nợ ngắn hạn lại giảm 41.623.457.425 VNĐ ( 19,505% )
Nh vậy khả năng thanh toán hiện hành của Công ty trong thời gian qua
đã có những biến chuyển theo chiều hớng tích cực tuy nhiên để đảm bảo antoàn trong thanh toán Công ty cũng cần phải có những biện pháp nhằm nângcao hơn nữa tỷ lệ này trong những năm tới
* Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng thanh toán các khoản nợngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tốn kho )
Khả năng thanh toán nhanh của Công ty tăng từ 0,706 năm 1998 lên0,759 năm 1999 và lên đến 1,071 năm 2000 Những con số về tỷ lệ khả năngthanh toán nhanh của Công ty rất gần với những con số về tỷ lệ khả năngthanh toán hiện hành chứng tỏ lợng hàng tồn kho ( dự trữ ) của Công ty là rấtnhỏ, nhỏ hơn nhiều so với toàn bộ Tài sản lu động
Năm 1999, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh của Công ty tăng so vớinăm 1998 chủ yếu do Tài sản lu động tăng nhanh, tốc độ tăng 122,527% lớnhơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn 113,654% Mặc dù dự trữ năm 1999 tăngmạnh so với năm 1998 (tăng 81,818% ) song nó chỉ chiêm một phần rất nhỏ