1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Chính sách tài khóa của chính phủ việt nam năm 2009

18 405 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 93,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách tài khóa: Chính sách tài khoá là những quyết định của chính phủ đối với việc thay đổi chi tiêu G và thuế ròng T để điều tiết kinh tế vĩ mô nhằm mục tiêu điều tiết vĩ mô, ổn đị

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chính sách

tài khóa

của chính

phủ Việt

BÀI TẬP KINH TẾ VĨ MÔ

Tp Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2010

Giảng Viên: Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư Sinh viên:

Lớp 11 Khóa 35

Trang 2

I.CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA:

1 Năm tài khóa ( Fiscal Year )

Năm tài khóa là khoảng thời gian có độ dài tương đương một năm (tức là 12 tháng hoặc

52 đến 53 tuần) dùng cho công tác kế hoạch ngân sách của tổ chức hoặc quốc gia Năm tài khóa còn được gọi là năm tài chính Ở Việt Nam, năm tài chính được gọi là “Năm ngân sách”

Năm tài chính có độ dài tương đương với năm lịch, vì theo truyền thống, cứ ít nhất khoảng một năm các tổ chức phải lập báo cáo tài chính hoặc khai báo thuế một lần Năm tài chính có thể trùng hoặc lệch với năm dương lịch, tùy theo từng quốc gia Sở dĩ có thể lệch là vì để tránh cho công việc tổng kết tài chính đầy phức tạp và bận rộn trùng với thời điểm kinh doanh bận rộn dịp cuối năm dương lịch cũng như thời điểm kỳ nghỉ cuối năm của nhân viên Thậm chí, khoảng thời gian của năm tài chính đối với các công ty có thể không thống nhất Có công ty chọn năm tài chính kéo dài 52 tuần Lại có công ty chọn năm tài chính kéo dài 53 tuần Tuy nhiên, hầu hết các tổ chức đều chia năm tài chính thành từng quý giống như năm lịch

Bỉ , Đức , Hà Lan , Hàn Quốc , Nga , Pháp , Thái Lan , Thụy Sĩ , Trung Quốc , Việt Nam: năm tài chính trùng với năm dương lịch, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 31 tháng 12 của năm

Anh , Ấn Độ , Canada , Hong Kong , Nhật Bản: Năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 31 tháng 3 năm kế tiếp

Úc : Năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 30 tháng 6 năm kế tiếp

Mỹ : Năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 10 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 30 tháng 9 năm kế tiếp

Ở Việt nam Chính phủ quy định năm tài chính là năm dương lịch bắt đầu từ ngày 01/01

và kết thúc ngày 31/12 hàng năm hoặc năm 12 tháng khác với năm dương lịch mà Bộ tài chính cho phép doanh nghiệp được áp dụng

2 Chính sách tài khóa:

Chính sách tài khoá là những quyết định của chính phủ đối với việc thay đổi chi tiêu G và thuế ròng T để điều tiết kinh tế vĩ mô nhằm mục tiêu điều tiết vĩ mô, ổn định hoá nền kinh tế ở mức sản lượng mục tiêu là Yp

Hiện nay có 2 quan điểm về chính sách tài khóa, là chính sách tài khóa chủ quan và chính sách tài khóa tự động

a Chính sách tài khóa chủ quan:

Khi chính phủ thay đổi thâm hụt ngân sách bằng cách tác động vào chi tiêu chính phủ hoặc/và thuế ròng thì sẽ làm tổng cầu thay đổi, và do đó, sản lượng quốc gia cũng thay đổi

Theo J.M.Keynes, nếu muốn điều tiết nền kinh tế về mức sản lượng mục tiêu tức sản lượng tiềm năng, chính phủ có thể chủ động sử dụng chính sách tài khóa thông qua những công cụ của ngân sách là chi tiêu của chính phủ G và thuế ròng T Và để xác định

Trang 3

chính sách tài khoản cần thực hiện, phải dựa vào thực trạng của nền kinh tế quốc gia (được phản ảnh thông qua GDP/Yt và YE)

- Khi nền kinh tế suy thoái (YE hay Yt < Yp), để kích thích tổng cầu tăng lên, làm tăng sản lượng sản lượng quốc gia, chính phủ cần tăng thâm hụt ngân sách bằng cách tăng chi tiêu G, hoặc giảm thuế ròng T, hoặc vừa tăng chi tiêu G vừa giảm thuế ròng T Người ta gọi đây là chính sách tài khóa mở rộng

- Ngược lại, khi nền kinh tế có lạm phát (YE hay Yt > Yp) để giảm tổng cầu, điều tiết sản lượng quốc gia về mức sản lượng tiềm năng, chính phủ cần giảm thâm hụt ngân sách bằng cách giảm chi tiêu G, hoặc tăng thuế ròng T, hoặc vừa giảm chi tiêu G vừa tăng thuế ròng T => đây là chính sách tài khóa thu hẹp

• Nếu chỉ thay đổi chi tiêu G (không thay đổi thuế ròng T) thì lượng chi tiêu cần thay đổi là:

ΔG = ΔAD0 = ΔY/k = (Yp – YE)/k

• Nếu chỉ thay đổi thuế ròng T (không thay đổi chi tiêu G) thì lượng thuế ròng cần thay đổi là:

ΔT = ΔTX = ΔAD0 / -Cm

• Nếu tác động đồng thời vào G và T thì lượng chi tiêu G và lượng thuế ròng T cần thay đổi thỏa phương trình:

ΔAD0,G + ΔAD0,T = ΔAD0

b Chính sách tài khóa tự động:

Các nhà kinh tế học theo quan điểm này cho rằng, để điều tiết kinh tế vĩ mô chính phủ cần sử dụng các nhân tố ổn định tự động trong nền kinh tế, khi đó, chính sách tài khóa tự nó được thực hiện

Các nhân tố ổn định tự động : thuế thu nhập có lũy tiến và trợ cấp thất nghiệp Thật vậy, nếu nền kinh tế có các nhân tố này được áp dụng thì:

- Khi kinh tế suy thoái, thu nhập giảm, thuế thu nhập mà chính phủ thu được sẽ giảm đi, đồng thời, trợ cấp thất nghiệp phải chi sẽ tự động tăng do tỉ lệ thất nghiệp tăng Do đó thuế ròng tự động tăng

- Tương tự trường hợp ngược lại

II CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM NĂM 2009.

1 Tình hình Việt Nam trước năm 2009.

Năm 2008, chịu tác động của cuộc khùng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam cũng rơi vào khủng hoảng kinh tế Mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm hơn 2007, nhưng các nguồn thu có yếu tố nước ngoài như dầu thô, thu từ cân đối xuất, nhập khẩu tăng mạnh nên thu ngân sách Nhà nước năm 2008 vẫn tăng tương đối khá so với năm 2007 và vượt

kế hoạch cả năm

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 26,3% (với năm 2007 và bằng 123,8% dự toán năm), trong đó thu nội địa bằng 110,9%; thu từ dầu thô bằng 143,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 141,1% Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 101,5%;

Trang 4

thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 102,1%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 105,9%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao bằng 122,4%; thu phí xăng dầu bằng 99,3%; thu phí, lệ phí bằng 116,5%

Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm 2007 và bằng 118,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 118,3% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 114,7%); chi sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản

lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 113,3%; chi trả nợ và viện trợ bằng 100% Các khoản chi thường xuyên đều đạt hoặc vượt dự toán năm, trong đó chi sự nghiệp kinh tế bằng 145,3% dự toán năm; chi thể dục thể thao bằng 123%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 120,7%; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề bằng 104,6%; chi y tế bằng 104,1%

Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính bằng 13,7% tổng số chi và bằng 97,5% mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm, trong đó 77,3% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 22,7% được bù đắp từ nguồn vay nước ngoài

2 Chính sách tài khóa năm 2009:

a Tình hình kinh tế đầu năm 2009:

Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta

Ở trong nước, thiên tai dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước cũng đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư

Trong bối cảnh đó, trong báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Đông Á- Thái Bình Dương, các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB) đã nhận định,”Năm 2009, chính sách tài khoá đóng vai trò quan trọng trong điều hành của nền kinh tế Việt Nam"

Trang 5

b.Chính sách tài khóa 2009:

Trong bối cảnh không thuận lợi đó, Chính phủ đã ban hành :

 Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh

xã hội Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 09/01/2009 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009 Ngày 6/4/2009, Bộ Chính trị đã ra Kết luận

về tình hình kinh tế-xã hội quý I/2009 và các giải pháp chủ yếu đến cuối năm 2009

 Thông tư số 03/2009/TT-BTC, ngày 13 tháng 01 năm 2009 hướng dẫn thực hiện giảm, gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo Nghị quyết số 30/2008/NQQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ Thông tư số 04/2009/TT-BTC, ngày 13 tháng 01 năm 2009 Hướng dẫn thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ; Quyết định số 16/2009/QĐ-TTg, ngày 21 tháng 01 năm

2009 Ban hành một số giải pháp về thuế nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp

 Ngày 19/6/2009, kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khoá XII đã ra Nghị quyết số 32/2009/QH12 điều chỉnh mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009 là “Tập trung cao độ mọi nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững, giữ ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn

xã hội, trong đó, mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế

Năm 2009, Việt Nam đẩy mạnh những giải pháp trọng tâm cần thực hiện, trong đó

có việc tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm và nâng cao hiệu quả chi, giảm bội chi ngân sách Phối hợp đồng bộ chính sách tài khóa với các chính sách kinh tế khác để tiếp tục thực hiện có hiệu quả mục tiêu kiềm chế lạm phát, chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Tổ chức thực hiện tốt các Luật thuế được sửa đổi có hiệu lực từ năm 2009 như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quyết định theo thầm quyền

Trang 6

hoặc trình cơ quan có thẩm quyền quyết định chính sách thuế khác cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong tình hình mới, phù hợp với cam kết hội nhập quốc tế

 Thuế:

Giao chính phủ quy định điều kiện và thực hiện miễn, giảm, dãn tiến độ nộp thuế

có thời hạn đối với một số doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh

Những sửa đổi bổ sung về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng Theo đó sẽ thu hẹp diện không chịu thuế giá trị gia tăng từ 28 xuống còn 25 nhóm hàng hóa Ngoài

ra trong luật thuế giá trị gia tăng mới cũng bổ sung thêm một hoạt động là dịch vụ tài chính phái sinh (nghiệp vụ mua bán trong tương lai) của cá tổ chức tài chính

Thay đổi về thuế giá trị gia tăng: thu hẹp nhóm hàng hóa dịch vụ có thuế suất 5% Đây là bước chuyển tiếp để tiến đến duy trì hai mức thuế suất là 0% và phổ thông 10%

Thay đổi về điều kiện để khấu trừ giá trị gia tăng đầu vào: từ 1-1-2009, hàng hóa dịch vụ muốn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào phải có hóa đơn hợp pháp hoặc

có chứng từ giá trị gia tăng nhập khẩu phục vụ cho sản xuất kinh doanh cuẩ nhóm hàng hóa dịch vụ chịu thuế Đối với hàng hóa dịch vụ mua có giá từ 20 triệu đồng trở lên muốn được khấu trừ phải thanh toán qua ngân hàng Đây là điều kiện nhằm khuyên khúc thanh toán thông qua ngân hàng

Thay đổi về hoàn thế: luật sửa đổi tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp tục tái đầu tư, hoàn thuế theo tháng từ 200 triệu đồng trở lên, các khoản đầu tư dưới 200 triệu đồng sẽ hoàn thuế theo quý

Những thay đổi bổ sung của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp:

Đối tượng nộp thuế: luật thuế doanh nghiệp chỉ điều tiết với tổ chức có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh Các cá nhân có thu nhập từ doanh nghiệp chuyển qua nộp thuế thu nhập cá nhân

Cách xác định thu nhập chịu thuế: thay đổi cơ bản là đưa các khoản miễn giảm thuế vào trừ xong rồi mới tính thuế

Theo đó: thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế x thuế xuất

Với thu nhập tính thuế = thu nhập chịu thuế - các khoản được miễn giảm thuế

Trang 7

Trong luật thuế sửa đổi này, thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và chuyển quyền thuê đất không phải nộp theo biểu thuế lũy tiến từng phần và nộp thuế bổ sung mà áp dụng theo biểu thuế như hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường

Các thu nhập của doanh nghiệp được tách riêng Với các doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi miễn giảm thuế, chỉ có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doánh chính mới được hưởng ưu đãi, còn thu nhập khác (tiền gửi, thu nhập từ chuyển nhượng thanh lý tài sản…) không được miễn giảm

Xác định chi phí chịu thuế: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp bỏ cách gọi “chi phí hợp lý” trong xác định chi phí chịu thuế Thay vào đó là xác định chi phí theo nguyên tắc

“xác định các khoản chi được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp” Các khoản chi được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải thỏa điều kiện: phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có đủ hóa đơn chứng từ theo quy định Luật cũng quy định 1 số khoản chhi không được trừ như chi lãi tiền vay vốn liên quan tới góp vốn điều lệ, chi liên quan quảng cáo tiếp thị, khuyến mãi không vượt quá mức khống chế 10% hoặc 15%,…

Hạ mức thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thôg xuống còn 25%: từ 1-1-2009 thuế suất thu hep lại chỉ còn 10% và 20%, bỏ thuế suất ưu đãi 15% Các ưu đãi miễn giảm thuế thu hẹp chỉ áp dụng với các dự án đầu tư vào lĩnh vực mang tính chất nhà nước đặc biệt khuyến khích Khống chế cách xác định thời gian bắt đầu tính thuế ưu đãi

 Chi tiêu của chính phủ:

Quản lý, sử dụng tài sản công đúng mục đích, tiết kiệm, khai thác có hiệu quả nguồn lực từ tài sản nhà nước phuc vụ phát triền kinh tế - xã hội; hướng đẫn, chỉ đạo các

bộ, ngành, địa phương tạm dừng mua sắm 134 ô tô, điều chuyển 79 xe ô tô của cá Bản quản lý dự án đã kết thúc cho cá cơ quan, đơn vị hành chính còn thiếu và 8.114 m2 trụ sở làm việc của nơi thừa cho nới thiếu, thanh lý 13.304 m2 nhà…

Tiếp tuc cắt giảm những khoản chi mua sắm chưa thật cần thiết (tiếp khacsm đi công tác nước ngoài, tiết kiệm năng lượng,…) sắp xếp lại danh mục các công trình dự án kế hoach của năm 2009 và 2010 để tập trung các công trình có khả năng hoàn tất sớm để đưa vào sửa dụng

Tiếp tục điều hành các chính xách thuế hợp ký, phù hợp với các cam kết quốc tế nhằm hạn chế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng không cần thiết, các mặt hàng trong nước sản xuất đủ Xây dựng và áp dụng các hàng rào kĩ thuật để giảm nhập siêu

Trang 8

Vay vốn nước ngoài: để bù đắp khoản bội chi về ngân sách, Việt Nam tranh thủ những nguồn vốn viện trợ nước ngoài như ODA và FDI

Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách vĩ mô

và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khẩu của nền kinh tế

Tăng cường quản lý thu trên cơ sở khuyến khích từng địa phương phấn đấu tăng thu, tăng nguồn ngân sách để phát triển đầu tư phát triển kinh tế trên địa bản cuẩ mình Bộ tài chính sẽ phối hợp chặt chẽ thương xuyên hơn nữa với các bộ, ngành, địa phương thực hiện các biện pháo chống buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế; đồng thời đẩy mạnh

xử lý các khoản nợ đọng thuê, chấn chỉnh công tác hoàn thuế đi đôi với công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn phát hiện các đơn vị, cá nhân trốn thuế, làm giàu bất chính, trái với quy định của luật hiện hành làm thất thu ngân sách

Phát hành tría phiếu chính phủ không quá 36.000 tỷ đồng để tập trung đầu tư các

dự án, công trình giao thông, thủy lợi, kiên cố hóa trường lớp học, xây dựng nhà công vụ cho giáo viên vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nâng cấp các bệnh viện huyện

Đẩy mạnh cải cách hành chính, năng cao hiệu quả, hiệu lức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước, tăng cường thanh tra, kiểm tra chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí tài sản, công quý Thực hiện cơ chế “một cửa, một dấu” trong xử lý công việc liên quan đến doanh nghiệp và người dân Công khai hóa dự toán, quyết toán ngân sách của từng cấp, đơn vụ, cơ quan,… Phối hợp chtawj chẽ với các bộ ngành, tăng cường kiểm tra xử lý kịp thời, đúng luật để thu hồi bốn và tài sản công vị tham nhũng

Chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên chi cho an sinh xã hội; tăng có trọng điểm cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và những vùng khó khăn

Mục tiêu chống ô nhiễm môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ đươc ưu tiên trong chi tiêu ngân sách

1 Kết quả thực hiện dự toán thu NSNN:

a) Thu NSNN năm 2009 ước đạt 442.340 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán; mức động viên thuế và phí đạt 23%GDP[1] Cụ thể:

- Thu nội địa: Ước thực hiện đạt 269.656 tỷ đồng, vượt 15,7% so với dự toán, riêng thu tiền sử dụng đất đạt 36.274 tỷ đồng Không kể thu tiền sử dụng đất, thu nội địa đạt 233.382 tỷ đồng, vượt 10,1% so với dự toán

- Thu ngân sách từ dầu thô: Ước đạt 60.500 tỷ đồng, bằng 95% so với dự toán, trên cơ sở sản lượng dầu thanh toán đạt 15,4 triệu tấn, giá bán bình quân đạt 58 USD/thùng (dự toán sản lượng là 15,86 triệu tấn, giá bán là 70 USD/thùng)

Trang 9

- Thu cân đối NSNN từ hoạt động xuất nhập khẩu: Tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 143.664 tỷ đồng, tăng 18,5% so với dự toán; sau khi trừ số chi hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ là 38.000 tỷ đồng, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 105.664 tỷ đồng, vượt 19,8% so với dự toán

- Thu viện trợ không hoàn lại: Ước thực hiện đạt 6.520 tỷ đồng

b) Thu NSNN năm 2009 đạt kết quả tích cực là nhờ các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Một là: Do tình hình kinh tế đất nước và hoạt động sản xuất - kinh doanh của các

doanh nghiệp từ quý II/2009 đã có chuyển biến tích cực Nếu như GDP quý I tăng 3,14%, hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, số thu nội địa sụt giảm mạnh; thì từ quý II/2009 đà hồi phục của nền kinh tế đã rõ nét hơn (GDP quý II tăng 4,41%, quý III tăng 5,98%, quý IV tăng 6,99%) Nhờ vậy, số thu nội địa hàng tháng cũng từng bước đạt khá hơn Riêng trong quý IV/2009, số thu bình quân mỗi tháng tăng gần 18% so với mức thu bình quân trong 9 tháng đầu năm

Bên cạnh đó, nhờ biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng thông qua giảm thuế và

lệ phí trước bạ, các hoạt động mua bán ô tô, xe máy, giao dịch bất động sản trong những tháng cuối năm 2009 gia tăng (chỉ tính riêng xe ô tô, mức tiêu thụ bình quân tháng trong quý IV/2009 bằng 1,5 lần mức tiêu thụ bình quân 9 tháng đầu năm), cũng tạo điều kiện cho thu NSNN tăng thêm

- Hai là: Các địa phương đã chỉ đạo khai thác các nguồn thu có khả năng; tập

trung đẩy nhanh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án trong những tháng cuối năm 2009, khi thị trường bất động sản phục hồi, qua đó góp phần đưa số thu tiền

sử dụng đất năm 2009 đạt mức cao nhất trong những năm gần đây Đồng thời, các địa phương cũng đã tăng cường công tác quản lý thu, đôn đốc xử lý nợ đọng thuế

- Ba là: Số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu những tháng cuối năm 2009 được cải

thiện đáng kể do kim ngạch xuất nhập khẩu gia tăng mạnh (do cả yếu tố tăng sản lượng

và giá) Cụ thể: Kim ngạch xuất, nhập khẩu quý IV/2009 tăng mạnh, với tổng giá trị đạt gần 37 tỷ USD, bằng 30,7% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm và tăng gần 23,1%

so với tổng kim ngạch nhập khẩu bình quân 3 quý đầu năm Bên cạnh đó, công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại đã được thực hiện quyết liệt, góp phần tăng thu cho NSNN

2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ chi NSNN:

a) Chi NSNN năm 2009 ước thực hiện 584.695 tỷ đồng, tăng 19,0% so với dự toán đầu năm

Trong tổ chức thực hiện, để hạn chế tác động không thuận của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đối với nền kinh tế, tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội (tháng 5/2009), Chính phủ đã báo cáo Quốc hội nguyên tắc điều hành NSNN năm 2009

là không thực hiện cắt giảm tổng mức chi NSNN, nhưng có yêu cầu sắp xếp điều chỉnh các nhiệm vụ chi, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, giảm những khoản chi chưa thực sự cấp thiết; đồng thời sử dụng gói kích thích kinh tế nhằm mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế,

Trang 10

duy trì tăng trưởng hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội Trên cơ sở kết quả thực hiện thu, đánh giá kết quả thực hiện chi NSNN theo từng lĩnh vực như sau:

- Chi đầu tư phát triển: Ước đạt 179.961 tỷ đồng, tăng 59,5% so dự toán do được

bổ sung nguồn từ gói kích thích kinh tế, nguồn dự phòng NSNN, nguồn được sử dụng theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn

Trong quá trình thực hiện, quy trình kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư đã được sửa đổi từ thẩm tra trước sang kiểm tra sau để tạo điều kiện cho các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến

độ giải ngân vốn Bên cạnh đó, qua chính sách kích cầu đầu tư, nhất là giải pháp hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng ngân hàng, đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng đảm bảo được vốn trong quá trình thực hiện các dự án, do đó việc triển khai các dự án nhìn chung có tiến bộ hơn so với các năm trước

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn những yếu kém như phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư bổ sung ở một số Bộ, cơ quan trung ương và địa phương còn chậm hoặc chưa đúng đối tượng; vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư thấp, năng lực chủ đầu tư và nhà thầu yếu

- Chi trả nợ và viện trợ: kết quả thực hiện 64.800 tỷ đồng, tăng 6.000 tỷ đồng so với dự toán, đảm bảo trả các khoản nợ tăng thêm do tăng huy động vay trong nước để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát và ngăn chặn suy giảm kinh tế; việc thanh toán nợ được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo đúng cam kết

- Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: kết quả thực hiện 320.501 tỷ đồng, tăng 4,8% so với dự toán (đã bao gồm cả chi cải cách tiền lương thực hiện trong năm); đảm bảo các nhu cầu chi theo dự toán đã được Quốc hội quyết định, đồng thời đã tập trung nguồn lực thực hiện các chính sách về an sinh xã hội để giảm bớt khó khăn về đời sống cho nhân dân, tập trung trước hết cho người nghèo, đồng bào dân tộc, người lao động có thu nhập thấp và các đối tượng chính sách khác, góp phần duy trì sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội Nhìn chung các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đã nghiêm túc thực hành tiết kiệm, chi trong phạm vi dự toán được giao, hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán

- Chi chuyển nguồn đảm bảo cân đối ngân sách và để tạo nguồn thực hiện điều chỉnh tiền lương năm 2010: theo Nghị quyết của Quốc hội về dự toán NSNN năm 2010,

đã dành 1.000 tỷ đồng từ nguồn vượt thu NSTW năm 2009 chuyển nguồn sang năm 2010

để đảm bảo cân đối NSNN Bên cạnh đó, theo quy định, các địa phương đã dành 50% nguồn vượt thu so với dự toán của NSĐP năm 2009 (không kể số vượt thu tiền sử dụng đất), cùng với nguồn chi cải cách tiền lương còn dư đến cuối năm 2009, chuyển nguồn sang năm 2010 để tiếp tục thực hiện cải cách tiền lương Tổng cộng số chuyển nguồn NSNN từ năm 2009 sang năm 2010 là 17.233 tỷ đồng

3 Về cân đối ngân sách nhà nước:

Dự toán bội chi NSNN năm 2009 là 4,82% GDP Bước vào năm 2009, căn cứ tình hình kinh tế thế giới và trong nước đang gặp rất nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu lan rộng, diễn biến phức tạp, khó lường và theo chiều hướng xấu, nguồn thu NSNN gặp khó khăn, yêu cầu tăng chi là rất lớn để thực hiện các giải pháp kích thích

Ngày đăng: 29/04/2016, 09:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w