Vì vậy, việc tìm giải pháp giải quyết việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động vùng bị thu hồi đất sản xuất để phát triển các khu, cụm công nghiệp và đô thị là vấn đề cấp thiết
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHÙNG HOÀNG VIỆT
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở
HUYỆN ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số : 60.31.01.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS BÙI QUANG BÌNH
Phản biện 1: GS TS Võ Xuân Tiến
Phản biện 2: TS Lâm Minh Châu
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Kinh tế chuyên ngành Kinh tế phát triển họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 19 tháng 12 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng;
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang trong quá trình CNH- HĐH đất nước, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới Vì vậy, việc phát triển các khu, cụm công nghiệp và đô thị là tất yếu
Sự phát triển các khu, cụm công nghiệp và đô thị dẫn đến sự thay đổi về đất đai, lao động, việc làm, thu nhập và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Xét về lâu dài, sự thay đổi này mang tính chất tích cực, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH đất nước, tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, sự phát triển các khu, cụm công nghiệp và đô thị cũng tạo ra rất nhiều khó khăn cho người dân các vùng có đất sản xuất bị thu hồi, nhất là ở những địa phương có tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Trong đó vấn đề việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất được coi là vấn đề bức xúc nhất
Điện Bàn là huyện nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Nam, trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, tiếp giáp với thành phố Đà Nẵng ở phía Bắc và thành phố Hội An ở phía Đông Nam Điện Bàn nằm trong cụm đô thị động lực Chân Mây - Đà Nẵng - Điện Bàn - Hội An - Tam Kỳ - Vạn Tường, là vùng giao thoa của các hoạt động kinh tế, thương mại và du lịch tầm cỡ quốc gia, quốc tế thông qua hệ thống cảng biển Tiên Sa, sân bay quốc tế Đà Nẵng, hành lang giao thông đường bộ, đường sắt Bắc - Nam Hiện nay, toàn huyện có gần
40 khu dân cư đô thị được quy hoạch đầu tư xây dựng với tổng diện tích hơn 1.117 ha, KCN Điện Nam - Điện Ngọc đã cơ bản lấp đầy diện tích 390 ha với 49 dự án đầu tư, 11 cụm công nghiệp đã quy
Trang 4hoạch chi tiết do huyện quản lý chiếm diện tích là 92,525 ha, nhu cầu giải quyết cho khoảng 25.900 lao động
Tuy nhiên, việc giải quyết việc làm cho lao động sau khi Nhà nước thu hồi đất sản xuất ở huyện Điện Bàn vẫn còn nhiều bức xúc Thực tế cho thấy, người lao động trong vùng thu hồi đất không tìm được việc làm, hoặc tìm được việc làm không ổn định, tình trạng các doanh nghiệp sau khi tuyển dụng lao động nhưng trả lương quá thấp khiến người lao động tự bỏ việc không phải là ít Vì vậy, việc tìm giải pháp giải quyết việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động vùng bị thu hồi đất sản xuất để phát triển các khu, cụm công nghiệp và
đô thị là vấn đề cấp thiết có tính bức xúc trên địa bàn huyện Điện Bàn
Với những lý do nêu trên, đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” đã được chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về giải quyết việc làm cho lao động
- Đánh giá được thực trạng về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất ở huyện Điện Bàn trong thời gian qua, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở huyện Điện Bàn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất ở huyện Điện Bàn
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
về công tác giải quyết việc làm cho người lao động vùng có đất sản xuất bị thu hồi để phát triển các khu, cụm công nghiệp và đô thị Tình
Trang 5hình thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước với các hộ có đất sản xuất bị thu hồi, những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, các giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng bị thu hồi đất
Về không gian: trên địa bàn huyện Điện Bàn
Phạm vi thời gian: từ năm 2011 đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê mô tả, phân tích, so sánh được sử dụng trong nghiên cứu
Số liệu được thu thập từ niên giám thống kê của Chi cục thống kê huyện Điện Bàn, từ các báo cáo của các phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Điện Bàn, Ban quản lý phát triển Đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giải quyết việc làm cho lao động vùng bị thu hồi đất
Đánh giá tình hình giải quyết việc làm cho lao động vùng thu hồi đất ở huyện Điện Bàn, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế
Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm
cho người lao động có đất sản xuất bị thu hồi trong thời gian đến
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động
thuộc diện thu hồi đất ở huyện Điện Bàn
Chương 3: Giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động
thuộc diện thu hồi đất ở huyện Điện Bàn
7 Tổng quan nghiên cứu
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1.1 Những vấn đề chung về việc làm
a Khái niệm
Khái niệm việc làm là tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng một cách chính xác và thống nhất về mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nền kinh tế thị trường
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích con người
Theo các khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:
+ Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho
người lao động và cho các thành viên trong gia đình
+ Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật
cấm
Tóm lại, việc làm là trạng thái trong đó các điều kiện được đảm bảo để lao động có thể kết hợp với các yếu tố sản xuất khác để tạo ra sản phẩm, việc làm do các doanh nghiệp và tổ chức tạo ra theo tìn hiệu cầu hàng hóa của thị trường Việc làm phụ thuộc vào cả phía cầu và phía cung của nền kinh tế
b Việc làm và phân loại việc làm ở Việt Nam
Để phân loại việc làm cần phải dựa vào vào thực trạng của yếu tố lao động tác động toàn diện vào nền kinh tế quốc dân Từ thực trạng của các khu vực sản xuất kinh doanh, tình hình kinh tế, chính trị
Trang 7 Căn cứ vào nguồn gốc thu nhập: Việc làm có thể chia thành:
- Làm những công việc để nhận thu nhập bằng tiền công, tiền lương dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó
- Làm những công việc thu lợi nhuận cho bản thân người lao động
- Làm các công việc do chính hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới dạng hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó
Cách phân loại này giúp ta nhận thức đa dạng việc làm, mỗi người có một chỗ đứng trong xã hội và giải quyết việc làm mang tính xã hội hoá cao
Căn cứ vào phân bổ thời gian và thu nhập: Việc làm chính; Việc làm phụ
Căn cứ vào thời gian làm việc thường xuyên hay không thường xuyên: Việc làm ổn định; Việc làm tạm thời
Căn cứ vào số giờ làm việc trong ngày: việc làm đầy đủ, thiếu việc làm
c Đặc điểm của lao động nông nghiệp thuộc diện thu hồi đất
- Lao động có trình độ học vấn và chuyên môn thấp hay phần lớn không được đào tạo;
- Lao động chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và thu nhập chính từ nông nghiệp;
- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của họ;
- Thu nhập thấp nên khả năng tích lũy thấp;
Trang 8a Khái niệm
Giải quyết việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội
Giải quyết việc làm cần phải được xem xét cả từ ba phía: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Giải quyết việc làm cho người lao động theo nghĩa chung nhất
là các cơ chế chính sách việc làm được đưa ra để tạo môi trường thuận lợi để kết hợp yếu tố lao động với các nhân tố sản xuất khác như: vốn sản xuất, tài nguyên và công nghệ nhằm tạo ra hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường đồng thời bảo đảm lợi ích của người sử dụng lao động
b Tầm quan trọng của giải quyết việc làm
Đối với từng cá nhân thì việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn
bộ đời sống của cá nhân
Đối với nền kinh tế, lao động là nguồn lực quan trọng, tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, duy trì mối quan hệ hài hòa
giữa việc làm và phát triển bền vững
Đối với xã hội, khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội được ổn định và phát triển, hạn chế được tiêu cực và tệ nạn xã hội, con người dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ
1.2 NỘI DUNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
1.2.1 Thực hiện hỗ trợ vốn để giải quyết việc làm
Đối tượng lao động nông nghiệp trong diện đền bù giải tỏa với những đặc điểm như đã nêu ở phần trên không có việc làm khi giải tỏa chính là đã tách họ ra khỏi tư liệu sản xuất chính của họ là đất đai Nghĩa là tách lao động khỏi các yếu tố sản xuất khác khiến quá trình kết hợp giữa chúng không thực hiện được hay lao động không có việc làm
Trang 9Các nguồn vốn để tài trợ cho chính sách này có thể từ ngân hàng chính sách và quỹ hỗ trợ việc làm Nhưng trước hết cần thiết phải hướng dẫn những đối tượng này sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ tiền đền bù đất nông nghiệp mà họ nhận được trước đó Đồng thời, qua việc thực hiện chương trình đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, của người dân và của xã hội về giải quyết việc làm, người lao động ngày càng chủ động, năng động tự tạo việc làm cho mình và cho người khác, không thụ động, trông chờ ỷ lại vào sự
hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước
Để bảo đảm việc sử dụng vốn đúng mục đích cần phải có những khóa đào tạo kỹ thuật và kiến thức sản xuất hay giới thiệu trình diễn những mô hình sản xuất thích hợp với đối tượng này
Tiêu chí:
- Tổng số vốn hỗ trợ để giải quyết việc làm cho lao động
- Số hộ nhận được vốn hỗ trợ để giải quyết việc làm
1.2.2 Thực hiện chính sách xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động chính là một hình thức tạo việc làm từ nước ngoài hay là quá trình đưa lao động ra nước ngoài kết hợp với các nhân tố và điều kiện sản xuất ở nước ngoài từ đó tạo ra thu nhập cho lao động
Tuy nhiên chính sách này cũng chỉ tập trung vào một số đối tượng chứ không phải dành cho toàn bộ lao động
Do thị trường lao động nước ngoài thường yêu cầu lao động
có tay nghề và sức khỏe do đó để đáp ứng được yêu cầu này để ra nước ngoài làm việc thì lao động cần trải qua quá trình đào tạo nghề Nghĩa là phải có chi phí đào tạo nghề cho lao động mà những đối tượng này thường nghèo và khó khăn
Có thể có nguồn tài trợ từ vốn vay tạo việc làm hay ngân hàng chính sách xã hội Đã có nhiều mô hình mà cơ quan xuất khẩu lao
Trang 10động có thể ứng vốn cho vay và người lao động sẽ trả lại bằng cách trích từ lương sau này
Việc xuất khẩu lao động nông nghiệp không thể do địa phương đơn phương làm được mà cần có sự phối hợp giữa ngành lao động địa phương và cục xuất khẩu lao động của Bộ Lao động thương binh và xã hội cũng như các công ty chuyên xuất khẩu lao động
Tiêu chí:
- Số lao động nhận được hỗ trợ để tham gia XKLĐ
- Số lao động được XKLĐ trong thời kỳ
1.2.3 Tổ chức dạy và đào tạo nghề
Từ đặc điểm của lao động nông nghiệp mất đất thường không được đào tạo nghề hay chỉ biết nghề gắn với sản xuất nông nghiệp Do
đó việc đào tạo nghề sẽ cung cấp những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp nào đó cũng như chuẩn bọ cho họ tầm lý để có thể tham gia vào công việc nào đó Nhưng chính sách này phải chú ý tới đối tượng đào tạo nghề nếu là thanh niên thì dễ hơn nhưng đối tượng trung niên
và nhiều tuổi thì khó khăn nhiều
Đào tạo nghề đòi hỏi phải có nguồn lực và cơ sở đào tạo nghề
do vậy phải có sự phối hợp giữa các ban quản lý dự án, chính quyền địa phương, ngành Lao động thương binh và xã hội và cơ sở đào tạo thì mới có kết quả
Tiêu chí:
- Số lao động được đào tạo nghề
- Số lao động được giải quyết việc làm sau đào tạo nghề
1.2.4 Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp để giải quyết việc làm
Các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn sẽ tạo ra việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn nhất là lao động mất đất Việc phát triển ngành nghề phi nông nghiệp tạo ra việc làm cho lao động
Trang 11nông thôn chính là thực hiện “ly nông nhưng không ly hương”
Việc phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn có nhiều hình thức như phát triển các nghề thủ công ở nông thôn hay phát triển doanh nghiệp nông thôn, và phát triển các cụm công nghiệp nhỏ ở nông thôn để thu hút doanh nghiệp từ thành thị tới
Để thực hiện chính sách này chính quyền các địa phương cần phải có những cơ chế chính sách thông thoáng và ưu đãi cho doanh nghiệp khi đầu tư về nông thôn
Với điều kiện sản xuất có sẵn và nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng lao động thì công tác xúc tiến tạo việc làm có ý nghĩa lớn
Việc xúc tiến này rất quan trọng vì lao động cho dù có được đào tạo, có chuyên môn đi nữa nhưng nếu không làm tốt công tác này thì doanh nghiệp cũng không nắm bắt được, ngoài ra thông qua xúc tiến còn giúp doanh nghiệp hiểu và bỏ qua mặc cảm khi tuyển dụng lao động nông nghiệp mất đất này
Xúc tiến có thể được tiến hành thông qua nhiều hình thức như: (1) các hội chợ việc làm của địa phương tổ chức thường xuyên; (2)
Trang 12Khi ban hành các chính sách khuyến khích sử dung lao động nông nghiệp có kèm theo các thông tin về đối tượng lao động này; (3) Đăng trên web của sở Lao động và TBXH; (4) Qua các hội nghị về lao động việc làm của địa phương; (5) cung cấp thông tin cho các trung tâm tư
vấn việc làm
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.2 Trình độ phát triển kinh tế xã hội
1.3.3 Trình độ kỹ thuật và chính sách sử dụng lao động của doanh nghiệp
1.3.4 Hoạt động của hệ thống đào tạo và tư vấn nghề 1.3.5 Các yếu tố về tâm lý lao động
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN
ĐIỆN BÀN (NAY LÀ THỊ XÃ ĐIỆN BÀN)
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN ĐIỆN BÀN
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
b Diện tích tự nhiên
2.1.2 Điều kiện kinh tế
a Tình hình phát triển kinh tế
b Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
c Thu chi ngân sách
Trang 13d Vị thế kinh tế của huyện Điện Bàn trong nền kinh tế của tỉnh
e Hiện trạng phát triển các ngành kinh tế
f Điều kiện hạ tầng kỹ thuật
2.1.4 Tâm lý của người lao động bi thu hồi đất
Yếu tố tâm lý ảnh hưởng không nhỏ tới thành công của việc giải quyết việc làm cho đối tượng này
Tâm lý của người nông dân đã ăn sâu vào trong suy nghĩ, hành động của người lao động nông nghiệp thuộc diện thu hồi đất ở đây Cộng với những khó khăn về kinh tế nên thường quyết định lâu dài căn cơ thường không có thay vào đó là những quyết định ngắn hạn
Cũng số liệu điều tra cho thấy số lao động có nhu cầu làm việc tại địa phương sau khi tốt nghiệp khóa học nghề là 77,3%, làm việc tại các địa phương khác là 21,3%, có dự định đi xuất khẩu lao động chỉ chiếm 1,6%
Tâm lý ăn sổi ở thì của lao động thuộc diện thu hồi đất còn thể hiện ở việc sử dụng tiền đền bù cho sinh kế lâu dài Từ chỗ không có tiền khi nhận được một khoản đền bù kha khá họ không biết làm gì với
nó mà không hiểu đó là nguồn vốn cho sinh kế của họ, con cái họ sau này vì đã hết đất nông nghiệp
Tâm lý ỷ lại trồng chờ sự hỗ trợ của chính quyển cũng xuất hiện khá phổ biến khi số người chủ động tự tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp không nhiều hay tìm kiếm cơ sở dạy nghề và lựa chọn