Đối tượng nghiên cứu: Luận án chọn quá trình tổ chức dạy học các bài ngữ pháp sẽ được tố chức theo hướng phát huy tính tích cực độc lập của HS bằng cách tạo ra các THCVĐ và giải quyết c
Trang 1
BO GIAO DUC VA RAO TAO ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NOI
TRUONG DAI HOC 80 PHAM
TRAN THI NAM
SU DUNG TINH HUONG CO VAN DE
TRONG DAY HOC NGU PHAP TIENG VIET
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
CHUYEN NGANH: PHUONG PHAP GIANG DAY TIENG VIET
MA SO : 5.07.02
TOM TAT LUAN AN TIEN SI GIAO DUC
Ha Noi - 1909
Trang 2Công trình được hoàn thành tại bộ môn phương pháp dạy học Ngữ văn, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư Phạm - Đại
học Quốc Gia - Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: Phó giáo sư, Phó tiến st: Lé A
Phan bién 1:PGS PTS Nguyén Anh Qué - Trường Đại
học KHXH & NV Đại học Quốc gia Hà Nội
Phan bién 2: PGS PTS Nguyén Quang Ninh - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội
Phản biện 3: PTS Nguyễn Trí - Bộ giáo dục và Đào tạo
Luan án sẽ được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại trường học Sư phạm - Đại học Quốc Gia - Hà
Nội
vào hồi ĐIỜ ngày tháng nam.199
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc Gia - Hà Nội; Thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Quốc Gia - Hà Nội:
Thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây.
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của để lài:
1.1 Trong xu thế đối mới dạy học ở nhà trường hiện nay, dạy học nêu
vấn đề (DHNVĐ) là một kiểu dạy học đấp ứng yêu cầu đổi - mới phương
pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hành động của học sinh (HS ) Dé tai
TS dụng tình luống có vấn để trong dạy học ngữ pháp Tiếng Việt ở (Tường
Trung học cơ sở,” nhằm để cập đến một khâu quan trọng của DHNVĐ, đó
là việc làm thế nào để tạo ra tình huống có vấn đề (THCVĐ) và cách hướng din hoe sinh giai quyết các THCVĐ trong một môn học cụ thể Đây là một nghiên cứu ứng dụng rất cần thiết để triển khai việc ứng dụng ĐHNVĐ vào
đạy học ngữ phấp tiếng Việt (NPTV) ở nhà trường phổ thông
1.2 Kết quả nghiên cứu của để tài sẽ góp phần giải quyết những khó
khăn, lúng túng của giáo viên (GV) trong việc vận dụng các phương pháp tích cực vào dạy học TV hiện nay, nhất là việc dạy học ngữ pháp, đấp ứng đôi hỏi cấp thiết hiện nay là không ngừng nâng cao chất lượng đạy học ngữ
pháp ở trường Trung học cơ sở (THCS)
LA Dé tai “Si? dung tinh huống có vấn để trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở "' phù hợp với tư tưởng đạy học hiện đại, đồng
thời cũng rất phù hợp với yêu cầu đổi mới của thực tiễn nước ta là xây đựng
những con người giải quyết vấn để trong cuộc sống
¿ 14 Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc nâng cao chất
lượng môn học TY trong trường học, đồng thời góp phần giáo dục lòng tự
hào dân tộc, ý thức giữ gìn sự trong sáng của TV Qua đó khẳng định
công cuộc cải tiến phương pháp dạy học là vấn để căn bản để góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học trong nhà trường cũng như góp phần giải quyết
vấn đề chiến lược con người trong thời đại mới của đất nước theo tỉnh thần nghị
quyết Đại hội Đẳng toàn quốc lần thứ VI: ''Coi trọng hơn nữa các khoa
Trang 4học xã hội và ahdn vein? Pdéi mdi manh mé phitong phép gido dục và đào tạo, khắc phục, lối truyển thụ một chiều, rèn luyén thanh nép uc duy sang tao của người bọc { ) Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khấp”
2 Lịch sử vấn đề:
Luan ấn được xây dựng tiên những tiền đẻ lí thuyết của DDHNVĐ đã được
các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu và thẩm dinh trong thời gian gần một nữa thế kỷ đã qua Phần lịch sử vấn để cửa luận án đã mô
tả bức tranh toàn cảnh của quá trình phát triển và ứng dụng DHNVĐ trên
phạm vị thế giới và Việt Nam, qua 2 luận điểm (1) Những thành tựa nghiên
cứu vẻ DHNVPĐ trên thế giới (2) Tĩnh hình nghiên cứu DHNVĐ ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của để tài:
Để tài nhằm nghiên cứu khả nãng ứng dụng DHNVĐ vào giờ dạy TV
thông qua việc sử dụng THƠVĐ với tư cách như một thủ pháp được thực hiện trong day học NPTV ở trường THCS
Đề tài hướng tới giải quyết các nhiệm vụ sau:
(1) Xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng THCVĐ vào dạy học
NPTV THCS
(2) Nghiên cứu khả năng và tác dụng của việc sử dụng THCVĐ vào dạy NDTV (3) Đề xuất cách thức tố chức THCVĐ và mô hình các tiết học, các kiểu bài NPTV trong chương trình TV THCS
(4) Kiểm tra tính hiệu quả và khả năng thực thị của việc sử dụng THCVĐ
bằng đạy học thực nghiệm
4 Đối tượng nghiên cứu:
Luận án chọn quá trình tổ chức dạy học các bài ngữ pháp sẽ được tố chức
theo hướng phát huy tính tích cực độc lập của HS bằng cách tạo ra các THCVĐ
và giải quyết các THCVĐ để hoàn thành nhiệm vụ nhận thức của bài
Trang 5học Luận án đã khai thác và sử dụng các nguồn tài liệu trong và ngoài nước
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp trong nghiên cứu cơ bản sau: Phương
pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn, phương pháp điểu tra khảo sát thu thập tư
liệu, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp thống kẻ phương,
pháp hệ thống
6 Giả thuyết khoa học:
Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học NPTV sẽ phát huy được tính
chủ động sáng tạo của cả thầy và trò trong giờ học, chất lượng dạy học
NPTV sẽ không ngừng được nâng cao, sẽ làm chuyển đổi phương thức dạy
học ngữ pháp theo hướng tích cực hoá hoại động của người học Đây là việc
lầm hợp lí có cơ sở khoa học và thực tiễn, hoàn toàn phù hợp với yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay
7, Cái mới của luận án:
luận ấn Iầ công trình đầu tiên, nghiên cứu một cách toàn diện ứng dụng
tình huống có vấn đề vào dạy học NPTV, trên cơ sở những tiền dé của lí luận
dạy học và thực tiễn nhà trường Luận án đã để xuất được các tình huống có
vấn để trong dạy học ngữ pháp và cách thức tổ chức các tình huống đó Đồng
thời hoạch định được quy trình đưa tình huống có vấn đề vào bài ngữ pháp
trên cơ sở lí thuyết đáng tin cậy
8 BO cục luận án gồm:
Luận ấn gồm 200 trang (chính văn 173 trang, phụ lục 37 trang) có 5
biểu, 17 bằng, 14 sơ đồ Ngoài phần mở đầu, kết luận luận án có 3 chương:
Chương 1: Những tiền để của việc sử dụng tình huống có vấn đề trong quá
trình dạy học NPTV ở Trung học cơ sở Chương 2: Tổ chức tình huống có vấn dé
tong, dạy học ngữ phấp ở Trung học cơ sở, Chương 3: Thực nghiệm và đánh giá
kết quả thực nghiệm với 141 tài liệu tham khảo
Trang 6CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỂ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG CÓ
VẤN ĐỂ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT Ở
'TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Dạy học nêu vấn để - một kiểu dạy học đáp ứng yêu câu đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay trong nhà trường theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học
Day học nêu vấn đề là một kiểu dạy học hiện đại, phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường, một kiểu dạy học sáng tạo khác với dạy học truyền thống về bản chất, mục đích cũng như phương tiện
thực hiện Nét nổi bật của nó là:
(1) Giáo viên đặt trước học sinh THCVĐ học tập chứa đựng mâu thuẫn
giữa cái đã biết và cái phải tìm
(2) Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn của THCVĐ và nảy sinh nhu cau bên trong bức thiết cần thiết giải quyết bằng được mâu thuẫn đó
() Học sinh tìm tồi giải quyết vấn đề dưới sự hỗ trợ của GV, HS lĩnh hội một cách lich cực cả ữi thức lẫn phương thức hành động và do đó có niềm
vui sướng của nhận thức sáng tạo
1.2 Tình huống có vấn đề, diểm xuất phát của quá trình tổ chức cho học sinh khám phá tri thức mới của bài học
1.2.1 Tình huống có vấn đề và các khái niệm liên quan
Tình huống có vấn dé chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong DHNVĐ
- Nó được các nhà nghiên cứu, đánh giá là hạt nhân của DHNVĐ:
“Không có THCVĐ, không có DHNVĐ” Học ngữ pháp thông qua THCVĐ,
HS sẽ được tham gia vào hoạt động tầm kiếm trì thức sáng tạo, tích cực Luận ẩn tắn thành quan niệm của V.Ô-Kôn về THCVĐ như sau, THCVĐ
là tình huống gây ra cho chủ thể (HS) những khó khăn khi học sinh hiểu nhiệm vụ nhận thức (NVNT) và chấp nhận như một vấn để học tập mà họ thử
giải quyết nhưng cảm thấy kiến thức, kĩ năng cũ không đủ, song bằng một sự
nỗ lực cao của bản thân thì có thể giải quyết được
Trang 7THCVD d6 gay ra 6 học sinh lòng mong muốn (nhu cầu) giải quyết vấn
đề, kích thích học sinh tích cực tư duy hướng vào việc lĩnh hội những kiến
thức kỹ năng mới phù hợp với khả năng của chủ thể Trước khi trình bày những nét bản chất của THCVĐ, chúng ta hãy thống nhất cách hiểu một số
khái niệm có liên quan
- Vấn để: Luận án tôi tần thành quan niệm của I-Ia-Lee-nhe vẻ vấn đề:
“Vấn để là một câu hỏi nẫy ra lay đặt ra cho chủ thể, mà chủ thể chưa biết lời giải từ trước và phải tùm tòi sẵng tạo lời giải, nhưng chủ thể đã có sẵn một
số phương tiện ban dâu sử dụng thích hợp vào việc tìm tôi dé”
- Vấn đề học tập: là sự phần ánh (hình thức thể hiện) mâu thuẫn logic, tâm lý của quá trình lĩnh hội, mà mâu thuẫn này quyết định phương hướng
tìm tồi về mặt trí tuệ làm gợi dậy hứng thú nghiên cứu (giải thích) bản chất điển chưa biết và dẫn tới sự lĩnh hội khái niệm mới hoặc cách thức hành
động mới Vấn để học tập là vấn để cơ bản của tình huống học tập (tình
huống nhận thức) Vấn đề học tập thường có ba đặc điểm (1) phải có cái gì
chưa biết, (2) phải có cái biết hoặc đã cho, (3) phải có điều kiện quy định mối liên hệ giữa cái đã biết với cái chưa biết và chủ thể nhận thức (học sinh)
- Bái toán nêu vấn đề: là bài toán tìm tồi (về mặt khách quan) và đồng
thời là bài toán Ốrixtic (đối với chủ quan người giải), nó thường có ba điểm cơ
ban sau:
(1) Xuất phát từ cái quen thuộc, cái đã biết, vừa sức người học không dễ
quá không khó quá
(2) Không có đáp số được chuẩn bị sẵn, tức là nó phải chứa đựng một
chướng ngại nhận thức mà người giải không thể dùng sự tái hiện hay sự chấp hành đơn thuần tìm ra lời giải, anh ta phải tìm tồi phát hiện
(3) Mâu thuẫn nhận thức trong bài toán tìm tồi phải được cấu trúc lại một
cách sư phạm để thực hiện đồng thời cả hai tính cách trái ngược nhau (vừa
sức, xuất phát từ cái quen biết và không có lời giải dược chuẩn bị sẵn); cấu trúc
Trang 8đặc biệt này còn có tác dụng kích thích học sinh tìm tòi phát hiện
1.2.2 Các nhân tố của tình huống có vấn đề
1.2.2.1 Nhiệm vụ nhận thức - nhân tố cơ bản của lình huống có vấn đề, đích của quá (trình nhận thức
Nhiệm vụ nhận thức chỉ xuất hiện trong chủ thể HS khi có một vấn để
đặt HS vào một hoàn cảnh đặc biệt làm xuất hiện mâu thuần gay gắt trong
nhận thức, đó là mâu thuẫn giữa cái biết và cái chưa biết Nhiệm vụ nhận
thức được truyền đạt đến HS thông qua bài toán vấn để
Học NPTV HS phải nắm được hệ thống trí thức và kí năng ngữ pháp
biết sử dụng trì thức ngữ pháp đã học trong hoạt động học tập, trong đời
sống và giao tiếp xã hội Về tri thức: HS phải nắm vững bản chất của từ loại, hệ thống các khái niệm và quy tắc của NPTV, nắm chắc các quy tắc
sẵn sinh ra từ, câu, văn bản biết vận dụng tiếng mẹ đẻ một cách tự giác có
ý thức vượt lên khỏi trình độ tự phát Về kĩ năng: HS phải biết vận dụng và
vận dụng sáng tạo những trï thức về từ loại, cú pháp, ngữ pháp văn ban mot cách chủ động, hứng thú vào việc nói viết chuẩn mực, mạch lạc
chặt chẽ, có kĩ năng sử dụng tiếng mẹ để ngay trên ghế nhà trường
để tiếp thu các trì thức khoa học bằng tiếng mẹ đề và giao tiếp bằng
tiếng mẹ đẻ thật thành thạo Nhiệm vụ nhận thức của bài ngữ pháp
được chuyển tải đến HS thông qua BTCVĐ
1.2.2.2 Nhu cầu nhận thức - nhân tổ quan trọng tình huống có
vấn đề, điểm xuất phát của quy trình nhận thức sáng (ạo
Quá trình lĩnh hội của chủ thể bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu, không có nhu cầu thì không có quá trình nhận thức Khi tổ chức một quá trình học tập cho HS, muốn cho họ chiếm lĩnh nhanh chóng trí thức mới
cần phải tạo điều kiện kích thích nhu cầu hoạt động ở họ
6
Trang 9Nhu cầu nhận thức được thể hiện bằng trạng thái con người, cảm thấy cần phải đạt được một số trì thức và phương thức hành động nào đó hiện mình chưa biết hoặc đang thiếu Quá trình lĩnh hội tri thức mới là quá trình hành động có mục đích Nhu cầu chính là nhân tố kích thích chủ thể hành
động tim tồi con đường tới đích nhanh hơn Nhà cầu nhận thức là thành phần cần thiết THCVĐ, như cầu nhận thức tạo ra động cơ hành động, hướng tư duy của con người vào hành động tìm tồi tích cực, kích thích quá trình học tập
Ngữ pháp tiếng Việt là môn khoa học có đẩy đủ tiểm năng thoả mãn
các điều kiện của THCVĐ Học NPTV HS được tiếp xúc với hệ thống khái
niệm, quy tắc phong phú đa đạng và các hiện tượng ngôn ngữ mới lạ hấp dẫn Hệ thống trỉ thức này thôa mãn một phần nhu cầu nhận thức của HS Để
tao ra nhu cầu nhận thức cho HS khi học ngữ pháp, GV cần giúp HS vượt qua được vật cân vô hình trong nhận thức của các em, giúp các em thấy yêu môn học, yêu tiếng mẹ đẻ của mình, học một cách mê say, hào hứng tự giác và không ngại khó Giáo viên khắc phục những bất cập do chương trình học cồn
nặng nề chưa thật phù hợp với nhu câu hoc tap của HS bằng cách đưa HS vào 'THCVĐ để kích thích nhu cầu nhận thức của các em, hướng tư duy của HS
vào hành động tim tồi tích cực trong quá trình học tập
1,2.2.3 Chủ thể nhận thức - nhân tố quyết định sự tồn tại của tình huống có vấn để, điểm hội tụ của quá trình fìm tòi, khám phá tri thức
mới một cách sáng Lạo
Khả năng của chủ thể nhận thức được thể hiện ở sự phát triển tâm lí và
trình độ nhận thức của HS Khả năng này phát triển không đồng đều giữa các
đối tượng HS, khả năng của chủ thể nhận thức được đo bằng khối lượng kinh
nghiệm và tri thức HS đã tiếp nhận bằng nhiều con đường trong nhà trường
và ngoài xã hội Muốn xây dựng THCVĐ phải nắm chắc được trình độ của
Trang 10HS Nhiệm vụ nhận thức, nhu cầu nhận thức đêu phải xây dựng trên cỡ sở khả năng chủ thể nhận thức
Học sinh THCS cổ đủ khả năng và điều kiện học NPTV, hết cấp tiểu
học các em đã tích luỹ được một lượng trít hức khã phong phú, đủ để giao
đề nhận thức ( hoàn thành nhiệm vụ nhận thức ), biến HS từ thụ động thành
chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo, tham gia vào quá trình tim tdi, phát hiện tri thức mới của bài học
1.3.Tiểm năng của ngữ pháp tiếng Việt - những tiền để và điều kiện cần thiết cho việc tạo tình huống có van dé (rong dạy học ngữ pháp
NPTV có tiểm năng to lớn và điều kiện cần thiết thoả mãn yêu cầu 16
chức THCVĐ trong dạy học (hệ thống khái niệm ngữ pháp mang tính khái quất, trừu tượng cao, hệ thống quy tắc ngữ pháp chặt chẽ, linh hoại, hiện tượng ngôn ngữ lệch chuẩn, bất quy tắc, những hiện tượng không tương đồng giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, sự phong phú của phong cách diễn đạt khác nhau, các phép tu từ cú pháp ).Những tiểm năng ấy đều được cài đặt
trong chương trình NPLV THCS thông qua 3 bộ phận cơ bản: Từ loại - Cú
pháp - Ngữ pháp văn bản Một trong những điều kiện cơ bản để tổ chức THCVĐ trong dạy học là phải tạo ra được mâu thuẫn trong nhận thức của
HS, phân môn NPTV là một phân môn có sẵn tiểm năng ấy Khi tiếp xúc với các hiện tượng ngữ pháp để tìm hiểu bản chất của khái niệm, quy tắc HS sẽ gấp hàng loạt mâu thuẫn được hình thành từ chính những đặc điểm của NPIV (Mâu thuẫn giữa vốn trị thức ngữ pháp HS đã biết với những trí thức
Trang 11ngữ pháp mới HS chưa biết, mâu (huẫn giữa hiện tượng bất quy tắc trong giao tiếp và hệ thống quy tắc ngữ pháp, mâu thuẫn giữa năng lực tư duy va
trình độ ngữ pháp của HS với yêu cầu sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực)
1.4 Thực trạng sử dụng fình huống có vấn đề trong quá trình dạy
ngữ pháp ở THƠS
1.4.1 Đặc điểm và khả năng nhận thức của HS THẮCS trong qua
trình đạy học TV theoTHCVD
Trong thời đại “bùng nổ thong tin” hign nay, hàng ngày, hang gid HS
được tiếp xúc với những thông tin mới, hiện đại, nhờ vậy tri thức và vốn sống của HS được nâng lên không ngừng năng lực tư duy, khả năng tiếp cận và giải quyết các vấn dé của cuộc sống ở các em ngày càng linh hoại, nhanh
nhậy HS THCS có đủ điều kiện và khả năng để tiếp cận THCVĐ Khả năng
tiếp nhận tri thức ngữ pháp của HS THCS được thể hiện ở cơ chế hai mặt của
hoạt đông ngôn ngữ, đó là sự hoạt động đồng bộ, hệ thống bao gồm nang luc
cấu trúc và khả năng hiện thực hoá năng lực ấy Năng lực cấu trúc bao gồm
ý nghĩa tiểm tàng của lời nói, giải thích ý nghĩa tiêm tầng của lời nói chỉ có thể dựa vào sự mô tả nghĩa cú pháp của câu, năng lực ngôn ngữ thuộc VỀ Sự hiểu biết của người nói về nghe và nói tiếng mẹ đẻ của mình Còn khả năng
hiện thực ngôn ngữ là sự sử dụng thực sự năng lực này trong các tình huống
giao tiếp cụ thể
Các công trình nghiên cứu về tâm lí học ngôn ngữ học đã chứng tỏ, con người có khả năng nấm cơ chế tiếng mẹ đẻ một cách tiểm thức, còn sự vận
hành cơ chế đó thay đổi khá lớn từ người này qua người khác từ thế hệ nay
qua thế hệ khác dưới nhiều tác động của trình độ văn hoá, sự phát triển tư duy logic, sự phát triển của tâm sinh lý và môi trường xã hội ngôn ngữ
Học sinh THCS đã biết sử dụng các mô hình câu, biết cải tiến các mô
hình câu theo trật tự tuyến tính hoặc mối quan hệ nhân quả, biết sử dụng câu
9
Trang 12theo mục đích nói Tuy vậy, việc tạo lập lời nói và ứng dụng các mô hình câu trong giao tiếp còn lúng túng
1.4.2.Những khuynh hướng sử dụng tình huống có vấn đề trong quá
trình đạy học ngữ pháp tiếng Việt
Luận án đã phác thảo bức tranh toàn cảnh của thực tiễn day học ngữ pháp ở
các trường THCS hiện nay theo phương hướng ứng dụng THCVĐ, thực tiễn
đó được phân tích kỹ trong hai khuynh tích cực và tiêu cực Mặc dù DHNVĐ
chưa được ứng dụng rộng rãi trong dạy học NPTV nhưng thực tế đã cho thấy
ở một phương diện nào đó, DHNVĐ đã trở thành một vấn để thời sự được nhiều người quan tâm Những vấn dể mà luận án nghiên cứu đã đấp ứng được yêu cầu về mặt lý luận cũng như thực tiễn đạy học ở trường THCS hiện nay
Tóm lại: DHNVĐ là một kiểu dạy học hiện đại đáp ứng nhu cầu đổi mới phương phấp dạy học hiện nay trong nhà trường theo hướng tích cực
nhằm hình thành trị thức và kỹ năng sử dụng quy tắc ngữ pháp trong hoạt động giao tiếp cho HS
CHUONG 2: TO CHUC VA SU DUNG TINA HUONG CÓ VẤN ĐỂ TRONG
DẠY HỌC NGỮ PHÁP Ở THCS
2.1 Quy trình tổ chức tình huống có vấn dé trong day học ngữ pháp
Đây là giai đoạn vô cùng quan trọng có tính chất quyết định sự thành
công bay thất bại của giờ học Quy trình hoá cách tổ chức THCVĐ được thực hiện theo 3 bước:
Bước Ì: Chuẩn bị ngữ liệu tạo bài toán ngữ pháp Bước I được triển khai như sau:
(1) Nghiên cứu chương trình, yêu cầu, và logic triển khai quy trình giờ học
(2) Định hướng m chọn ngữ liệu (xác định yêu cầu, nội dung, lượng
ngữ liệu cần lựa chọn, xác định nguồn ngữ liệu, chọn ngữ liệu bước đầu) Phải chọn được những ngữ liệu thoả mãn yêu cầu của bài học và yêu cầu của THCVĐ, ngữ liệu phải chứa dung những đữ kiện, những mâu thuẫn của BTCVĐ Bước 2: Tổ chức bài toán ngữ pháp Bước 2 được thực hiện qua hai giat doan:
Trang 13Giai đoạn 1: X4c lap nhiing mau thuén cơ bản trong nhận thức của HS:
(1) Mau thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới trong nhận thức của HS
(2) Mâu thuẫn giữa trình độ của HS với yêu cầu sử dụng ngôn ngữ (3) Mâu thuẫn do bản thân hệ thống ngôn ngữ pây ra khi HS tiếp nhận nó Giai đoạn 2: Thiết lập bài toán ngữ pháp (gôm các thao tic sau):
(1) Xác định yêu cầu, nhiệm vụ nhận thức của bài học và yêu cầu cụ thể
của bài toán ngữ pháp
(2) Cài đặt thông tin của bài toán trong các dữ kiện (ngữ liệu)
(3) Lam néi bat mâu thuẫn cơ bản của bài toán ngữ pháp qua các đữ kiện (4Ð Điều chỉnh yêu cầu của bài toán ngữ pháp (dự kiến)
Bước 3: Hoàn thiện bài toán ngữ phấp - tạo THCVĐ cho HS
Đây là bước cuối cùng của giai đoạn tạo THCVĐ cho bài ngữ pháp; GV diễn đạt bài toán ngữ pháp đã hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ (lời nói hoặc chữ viết) rồi nêu bài toán bằng cách trực tiếp hay gián tiếp để HS trị giác và
tiếp cận HS có nhiều cách tiếp cận bài toán ngĩt pháp Quá trình HS tiếp cận
nhiệm vụ của bài toán ngữ pháp được sự giúp đỡ kịp thời của GV
Mục đích cần đạt được trong khâu tổ chức THCVĐ ở giờ dạy ngữ pháp
là chỉ ra con dường tìm kiếm trí thức và cách thức hành động cho HS nhằm
đạt được mục đích học tập của mình Đây chính là chỗ khác nhau cơ bản giữa cách dạy ngữ pháp có ứng dụng THCVĐ với cách dạy ngữ phấp thông
thường theo truyền thống
2.2 Các loại tình huống có vấn đề thường được tổ chức dạy học ngữ pháp tiếng Việt
Tiếp thu các kiểu THCVĐ trong lí luận dạy học, dựa trên những nét đặc thù của NPTV, luận án đã đề xuất một số THCVĐ cơ bản sau
(1) Tình huống lựa chọn Trong bài toán có vấn để có nhiều phương án cho HS
lựa chọn, HS phải chọn được phương án đúng (phương ấn mang nhiệm vụ học tập)
1l