Ngoài những thuyết mình xưng quanh khái niệm vần và vần cái cùng chủ trường xác lập hệ thông vần cái tiếng Việt của tác giả Ám tiết và loại hinh ngôn ngữ 1994, cho đến nay, nếu như coi v
Trang 1eae ok ráp tức
NGUYEN THỊ PHƯƠNG TRANG
HỆ THỐNG VẤN CẢI TIẾNG VIỆT
Trang 2|
|
i
Công trình được hoàn thành tại bộ môn Việt ngữ học, Khoa Ngôn ngữ
học, Trường Đại học KHXH và NV - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.PTS Đoàn Thiện Thuật
Phan bién 1.48 ES
gid ngay $2 thang Z.nam 1999
Có thểtìm liểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và Thụ viện Trường
Dai hoc KHXH va NV - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 MUC DICH NGHIEN CUU VA TINH CAP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
1 1 Từ rước đến nay, trong các công tình nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt, hầu het
ä dễu nói dén sự chía tích cha am tet t thành phản âm lầu và phản
tuếu không kẻ đến một thành phần siêu đoạn khác là thanh diệu) Đây chính là một
ác điểm của ngữ âm tiếng Việt Mặc di vậy, vấn chưa bao giờ được làm thành dối
tượng của việc miều tả, với tư cách là một đơa vị nett din co ban
Nếu như ở các ngòn ngữ thuộc các loại hình khác (chẳng hạn như tiếng Nga
thuộc loại hình ngòn ngữ Ấn Âu, uguyen ain và phụ àm làm thành hai hệ thống song
hành thì St, tinh hinb điển ra khóng hân như vậy Đổi với một ngỏn nạữ loại hình đơn lập âm tiết tính như tiếng Việt thì sự tương phản siữa âm dầu và vần cái tô ru
hiển nhiên hơn nhiều Thế nhưns nếu như âm đầu đã thu hút được sự tập trung nghiên cúu miều tả trong nhiều công tầnh ngữ âm học tiếng Việt thì vấn hầu như chưa được đành cho một vị trí xứng dáng với tầm quan trọng của nó
Đặc điểm chữ viết theo hệ La-inh dồi hồi phải phân tích ầm tiết tiếng Việt thành những thành tố nhỏ nhất tương đương với âm tổ Tuy nhiên bên cạnh dó cũng tồn tại những thực tiễn khác như: việc đánh vản tập dọc, nghệ thuật sử dụng ngôn từ mà trong đó, vấn không thé khỏng được chú ý xem xét Rõ ràng, vần là một thực thể cần
được coi trọng và việc nghiên cứu thực thể đó thực sự đã trở thành mọt dồi hỏi cấp thiết
1.2 Một đễ tài tập trưng xem xét, nghiên cứu ngay chính bản thân hè thống vấn vái tiếng Việt, trên thực tế, là chưa từng có Miột để tài như thể-sẽ rất cần thiết và chắc hân sẽ chứa dựng những vấn đề phức tạp nhưng không kém phản lý thú Những diều đó
đã thôi thúc chúng tôi tìm đến đề tài này Đây có lẽ là lần đầu tiên, hệ thống văn cái
trếng Việt dược làm thành đổi tượng nghiẻn cứu riêng cho một luận án khoa học Chúng
tôi hy vọng rằng đề tài dược thực: I góp phần làm sáng rõ thêm những vấn đẻ
thuộc vẻ lý thuyết cũng như thực tiến có liên quan đến ngữ âm tiếng Việt
1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trên thực tế thì vần và một số văn để liên quanden van cũng đã được ít nhiều nhà
nghiên cứa quan tam va để cập trong những phạm vĩ nhất định, Các vấn dễ liên quan đến van thơ đã dược bàn bạc trong các bài viết của các nhà nghiên cứu Lê Anh Hiển, Võ Bình Tác giả Phí Tuyết Hình lạ có hứng thú âm hiểu giá trị biểu trưng của khuôn vẫn
trong từ láy tiếng Việt (1990) Nhà nghiên cứu Mai Ngọc Chữ đã dành nhiều công sức
khi lấy vấn thơ Eun dối tượng khảo sát xem xét dướt ánh sáng ngôn ngữ học (1991) Gan
day khi giới thiệu và chú giai cuốn Án ;Vam dịch ngữ (1995), nhà nghiền cứu Vương
Loe cũng đã đành một chương để nói vẻ hệ thống vẫn tiếng Việt thể ký XV-XVIL bên cạnh hệ thông phụ âm dầu Còn có thẻ kẻ đến 7 điển vần của tác giả Hoàng Phê (1996)
một tự liệu thong kẻ đắng quý vẻ ø Việt hiện dại Ngoài ra cũng có thể nhac đến
, i Van dé cat tién chữ quốc ngữ (1961) dựa ra trong
án đề cái tiền chữ quốc
Thứ diễn qua một số tức giả với các cóng trình nghiên cứu vẻ vấn tiếng Viet
chúng tôi thấy rang, vấn chủ vêu được Khai thác ở mọt vài khía cạnh chức rang (chẳng
Trang 4
hạn, giá trị biểu trưng của Khuôn vần wong tir lay tigng Việt, hay vần - với tư cách là vần
thơ trong nghệ thuật sử dụng ngón từ) Đây đó, vấn tiếng Việt mới chỉ được để cập ở một phạm vì giới hạn, khi nó nằm trong mối liên hệ với một đối tượng khác dang được quan tâm, bàn bạc Ngoài những thuyết mình xưng quanh khái niệm vần và vần cái cùng chủ trường xác lập hệ thông vần cái tiếng Việt của tác giả Ám tiết và loại hinh ngôn ngữ (1994), cho đến nay, nếu như coi vần cái là dơn vị cơ ban thì chưa có một công trình nào tiến hành xác lập và miều tả cụ thể hệ thống vần cái tiếng Việt Dựa vào những tiêu chí gì
để xác lập bệ thống vấn cái tiếng Việt? Hệ thống đó gồm bao nhiêu dơn vị ? Mỗi một
vấn cái có thể được mô tả theo những hướng nào, có thể tiến hành miêu tả cụ thể ra sao ?
Tất cả những vấn để này vẫn còu là chỗ trống trong sự hình dung lý thuyết về ngữ âm
tiếng Việt
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN:
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ (hống vần cái tếng Việt trong sự
phái triển và hoạt động chức năng của chúng
3.2 Nhiệm vụ của luận án
hư đã nói ở trên, đây là lần đầu tiên hệ thống vần cái tiếng Việt được làm thành
đốt tượng nghiên cứu riêng cho một luận án khoa học Ở luận án này, vấn cái được coi
là đơn vị ngữ âm cơ bản và được khảo sát, miêu tả với tư cách đó Do đó, chúng tôi cho
ràng, cần dua ra một cái nhìn bao quát đối với mọi bình diện của vần cái tiếng Việt,
trong cấu trúc hệ thống cũng như trong hoạt động chức nang Tuy nhiên, trong khuôn
khổ của một luận án, chúng tôi không thể nghiên cứu tất cả mọi vấn dé đạt ra đối với hệ
thống vấn cái, mà chỉ có ý định dược đi sâu vào một số khía cạnh nhất dịnh Điều này
sé tránh su dan trải và cũng phù hợp với tính chất của một luận án là: nghiên cứu sân đối
tượng ở những khía cạnh cân thiết nhất trong thời diểm nghiên cứu nó
Với ý tưởng như vậy, chúng tôi đạt ra cho luận án nhiệm vụ cố gắng giải quyết những vấn đề sau đây:
a) Để nghị một cách miêu tả mới về ngữ âm tiếng Việt và hệ thống vần cái tiếng
'Việi hiện đại Cung cấp một cái nhìn hệ thống đối với hệ thống vần cái tiếng Việt hiện
đại Làm sáng rõ một số vấn để lý luận xưng quanh vần cái tiếng Việt như xác định Cương vị của vần cái trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, thuyết mĩnh và thảo luận về khẩi
niệm vần cái và những khái niệm liên quan
b) Xác lập và mô tả hệ thống vần cái tiếng Việt trone sự phát triển lịch sử Để làm
được điều này, cân đựai vào kết quả thống kê cụ thể trên các tư liệu đã lựa chọn nhằm
thuyết mình vẻ hệ thống vần cái qua một số chặng đường lịch sử (thế kỷ XV-XVI, thế
kỹ XVIL cuối thế ký XVIi-đầu thế kỷ XS) Cơn đường biến chuyển ngữ Am của vẫn
cái tiếng Việt cũng sẽ được tầm hiểu và có những lý giải cần thiết
c) Làm sáng tỏ một số khía cạnh hoạt động chức nàng của vần cái tiếng Việt như
chức nang tạo lập, chức nang liên kết các tín hiệu ngôn ngữ và ngôn từ Những khía cạnh chức năng này sẽ dược trình bày dựa trên các cứ liệu thống kê cụ thể
4 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nguồn tư liệu:
a) ĐẺ xây dựng được cơ sở lý luận cho việc để nghị một cách miêu tả mới về ngữ Am
2
Trang 5- cha Nam địch ngữ (của Vương Lộc bản chép tay nam 1982: Nha xuat ban Đà
Nang, Trung tam từ diển học, 1995)
- Dictionaritan Anamiticun - Lusitanum - Latimam (Từ diễn Annam - Lusitan
- La tinh) (cha Alexandre de Rhodes, Nha xuat ban Khoa học xã hội, 1991)
- Sdch sé sang chép cdc viée (cha Philipphé Binh, 1822, ban chép tay)
#) Về hệ thống vấn cái tiếng Việt hiện đại, chú
- Từ diển tiếng Việt (của Hoàng Phè, Trung tâm từ diển Ngôn ngữ, Hà Nội 1992)
~ Từ điển rần (của Hoàng Phê, Nhà xuất bản Đà Nang, Trung tam từ điển học, 1296)
‹ Tư liệu cho việc m hiểu các khía cạnh chức nang của vấn cái tiếng Ví
- Từ diễn tiếng Việt ( của Hoàng Phê sdd, 19921
- Từ điền thành ngữ và tục ngữ Việt Nam tcủa Vũ Dung, Vũ Thúy Anh Vũ Quang Hào, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1995)
~ Từ điển vần ( của Hoang Phé.sdd.1996)
4.2 Phương pháp nghiên cứu
“Hệ thông vấn cái tiếng Việt trong sự phát triển và hoạt động chức nang của
chúng” là một đề tài có dối rượng hẹp nhưng dược xem xét ở nhiều khía cạnh khác
nhau Để thực hiện được để tài này, cần phải quán miệt các phương pháp và cách nhìn
ngón usữ học như sau: Vừa phải vận dụng phương pháp cấu trúc - hệ thống để xác lập
ic don vị ngữ âm tiếng Việt ở diện đồng đại, đồng thời phải có cách nhàn diễn biến lịch đại đối với các hiện nrong dang dién ra va dang tồn tại đa dạng Vừa phải nhìn nhận các đơn vị ngòn ngữ trong cấu trúc, lại vừa phải xem xét chúng trong các khía cạnh chức tang mà chứng thể hiện Ngoài ra, cách tiếp cả sánh - loại hình.và phương pháp thong ké dinh lượng cũng sẽ là cần thiết dối với để lài này
5 BO CUC CUA LUẬN ÁN
Toàn văn luận án gồm 195 trang, trong đó phần chính van 17§ trang Ngoài phần
Mo dau (10 trang), Kết luận (5 trang) và Danh mục ti liệu tham khảo (156 mục), luận
6 ĐÓNG GÓP CHUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
6.1 Vẫn đi tếng Việt dược mỏ tả như là một dơn vị ngữ âm tương
dau và thanh diệu trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, Với cách tiếp cận như thế lần dầu
tiền luận án đã xác lặp một cái nhìn dai quan về hệ thòng văn cái tiếng Việt [rong đó
Trang 6đã tực hiện sự mồ tà hệ thông vận cai theo các tiêu hệ thống mà luận án dé mì hướng
xá lắp, Luận án cũng lứm rõ quan hệ định vấn và kết vấn trong nội bộ các vấn ph 6.2 Duta vào nhữmc cử liệu chỉ chép 0ẻng Vi ở 3 thời điểm lịch sử khác nhau
luận ấn cổ gang phác họ hệ thông vấn cái 1 Việt tone qui Khir thea các thời kỳ tiêu biet thể kể XV -XVL thế Kệ XVH, cuới thể kỳ XVHI - đâu thể ky XIX Vico khao
sd nas chang những cung cấp mot dn tư cần thiết vẻ sự phái triển theo những xu
hướng nhất định của vấn cái tếng Việt mà còn cho thấy những cổ gáng trước đây trong
vier thể hiện vấn cái tiếng Việt trên chữ viết, ở ekð đoạn đâu hình thành chữ quốc ngũ
trong ngón từ thì ca Vai trò liên kết đó thực ra chỉ biểu hiện một khía cạnh chức năng
cha van cái tiếng Việt mà thôi
6.4 Những kết qua nghiên cứu của luận án có thẻ được tham khảo, sử dụng đề phụ: vụ cho việc giảng dạy ngữ âm và chữ viết nẻng Việt che công việc nghiên cứu và boại động sáng tạo ngón từ thi cả
ỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN ÁN
Chươngl: MỘT ĐỀ NGHI MIEU TA NGU AM TIENG V TET VA
HE THONG \ AN CAI TENG VIET HI ĐẠI
1.1 CƠ SỞ LÝ LU
Từ trước đến nay, đã có khóng ít những công tình nghiên cứu vẻ ngữ âm tiếng Việt wong dé thé hiện nhiều xu hướng khác nhau khi bạt tay mô tả hệ thông ngữ âm tiếng ViệU Những xu hướng đó rước hét phán ảnh những quan điểm cách nhìn nhân Khác nhau (hoặc có phản khá: nhau) giữa các tác giá về cá! đơn vị ngữ âm cơ bạn của
tiếng Việt chúng cũng đóng thời cho thây thái độ của họ về bộ phận vớn cái của ngữ
am tiếng Việt Đ là các xu hướng:
- Xác lập hủ hệ thông uguven aan vi pin ám trong tiếng Việt CHúu ảnh hưởng
manh mé cua phương pháp phân tích âm vị học vốn được áp dụng cho các ngôn ngữ châu
Âu một số tác giả đã hình dung vẻ hệ thông ngữ âm tiếng Việt nhự bất kỳ một hệ thông neữ âm nào thuộc các loại hình ngón ngữ Âu chân Đại diện tiêu biểu cho quan diém nav các tác giả Lẻ Văn L¥ va M.B Emeneau, cdc tae git Gide trình về Việt ngữ Đổi với họ gái nói bật lên trong hệ thông ngữ âm tiếng Việt là nguyên ám và phụ âm còn vn cái -
mới thực thể hiển nhiên đói với người bản ngữ, đã khong duce da dong đến
~ Xác lập hệ thống + thành tế trong cầu trúc ấm tiếi (eôm din ded, dane dem aint
Chính, đm cuốn théo quan điểm của Đóng phương học Xó việt nai cụ thể là của cáo nhấ
Han hoc Nea Hương nàv đã bài dau phi võ cách lình dụ của ngôn ngữ học cluui Au
4
Trang 7Các nhà ngữ ảm học Việt Nam mạc dù dã chí ra một đại lượng ngữ âm là vần
trong cầu trúc hai bậc của âm tiết tiếng Việt song phan van 6 dây chỉ dược hình dung
như một dơn vị phát sinh: hoạc thừa nhận mà không miều tả (do kết quả phân tích cầu
trúc 4m tiết tiếng Việt thành ting bậc), hoạc lình dưng nó như là tổ hợp các thành tớ
thuộc các đối hệ âm đệm, âm chính, am cuối lại mà thành
- Xu hướng xác lập hai hệ thống âm cầu và vấn cái (thanh mẫu và vận mẫu) của
am van hoc tuyén thong Trung Hoa ma dai điện tiêu biểu là Đồng Thiếu Văn (1964)
Phé Mau Tich (1956), H6 Duc Thu (1963) M V Gordina cfing thita uhan su song
ia hai hé théng này khi tìm hiểu ngữ âm phương ngòn Quảng Ngãi Tiếp nhận tư
tướng của 4m vận học truyền thống Trung Hoa ương sự hình dung vẻ ngữ àm của tnột
ngòn ngữ loại hinh don lập ám tiết tính như tiếng Việt, tác siá Nguyễn Quang Hồng
(1976, 1994) dã dựa trên những cứ liệu vẻ từ lấp lấy, vé hoạt động nói lái dễ đi đèn
khẳng định khả năng chia tách âm tiết tiếng Việt thành hai thành phần là âm đầu và vần cái (như cách mà ông bà Dragunov dã làm dối với âm tiết tiếng Hán)
vản cái dã tồn tại trong âm vận học truyền thống Trung Hoa và dã được nhiều nhà Đông
phương bọc di trước xác nhận Luận án thực hiện công việc xác lập và mô tả hệ thị vản cái tiếng Việt hiện dại dua theo mo hinh lý thuyết đã có chứ không phải là sự xác
lap lý luận từ đầu Sự xác lập và mô tả hệ thống vần cái trong luận án sẽ không nhằm
phan bác những cách mò tả khác mà cỉử là dé xác định cho nó một vị trí cần thiết bèn
cạnh những cách mô tả khác mà thôi
1.3 CÁCH MIÊU TẢ ĐỂ NGHỊ
Âm tiết tiếng Việt dã dược một số nhà Việt ngữ học phân tích thành 4 thanh tô
(nếu không kể đến thành phần siéu đoạn là thanh điệu) Cách làm đó, theo chứng tôi là
có phản thiết thực và hợp lý khi nó phục vụ việc dạt chữ và những mục dích thực tin
nhat dinh Song, xét vé mat ly thuyết cũng như những khía cạnh thực trển khác (nhự
học văn, gieo vần thơ, nót lát, tạo từ lấy v.v ), chúng ta không thể không nói dén dai
lượng vấn cái Vậy, câu hội đạt ra là mỗi vần cái phải được miéu tả thế nào ? Chúng tôi
g
để nghị miêu tả văn cái từ ai piớư: L) Từ phía đi cẩn và 2) Từ phía kết vấn Từ bai phía này, sự miêu tả sẽ hướng đến các dạc trưng ngữ âm của đu: vần và kết vấn cũng như mối quan hệ kết hợp giữa chúng trong noi bộ vấn cái Các vần cái sẽ được quy vào vác tiêu hệ thống, căn cứ vào các tiêu chí xác lập dược chúng tôi lần lượt trình bày rong luận án Nhưng trước hết, chúng ta cần giải dap mot cau hoi: thé nao 1a van cdi?
1.2.1 Van va van cai
Van duoc dling va duge hiểu khá ròng rấu, dôi khi rất xẻ dịch Nhưng nhìn chung
khi nói dến vẫn, người 1a muốn nói đến phần thứ hai của am tiết sau phần âm dau Cic
yeu tổ âm đệm và thanh diệu cũng có thể dược bao góm trong "phản thứ ha?” này
- Khái niém vấn cái dược phần biệt với Khái niềm van ndi chung (bao
khong bao gor thanh diệu, báo som hay không Bao eom ấm (êm) Treag
gom hav
ch liệu
5
Trang 8thuật ngữ thì rẩn cái là đơn vị ngữ ảm cơ bản nằm trong thành phan cau tric ar tiết tiếng Việt, không kể đến aan dem và được trữu tượng hóa khối thanh điệu, VẺ mặt dị
học mà nét vần cúi bao gầm những yếu tớ âm: sắc dược thể hiện từ đỉnh am tiết cho đến
Danh sách vần cái tiếng Việt biện đại được xây dựng dựa trên chữ quốc ngữ hiện
hành với tất cả những khả nâng ghi am cua nó
Những vần đạt được các tiêu chuẩn:
- Không chỉ có mật rong các từ ngữ địa phương hay ngoại lai
- Được sử đựng khá nhiều trong các âm tiết làm thành từ thực tế
là những vấn ¿ám của hệ thông vấn cái Những vần không dạt hai tiêu chuẩn đó lì những vấn biéz của hệ thong van cái
1.2.3 Các tiểu hệ thống
124 vấn cái tiếng Việt hiện đại bao gồm các tiểu hệ thống được phân biệt, xác lập
theo nhiều hướng khách nhau
a) Hướng xác lập từ đỉnh vần: Xác lập theo các đạc trưng của đỉnh vân như độ
nang, dong, trồn môi / khong tròn mÔI
bj Hướng xác lập từ cuối vần: Có thể thực hiện theo hai cách: hoặc căn cứ vào sự tương phản ám thanh giữa đính vần và kết vần, hoạc can cứ vào đặc trưng nguyên âm tính bay phụ âm tính của kết vẫn,
Theo cách thứ nhất, xác lập được vớu đơn (có cấu âm đơn giản, không có sự tương phán giữa đỉnh vần và kél van, vi mang toàn bộ đạc trưng âm thanh của chính nguyên
am tạo đỉnh Vẻ: ä e, nã và ) và vẩn phức (có cầu âm phức tạp hơn, có sự tương phân
âm thanh giữa đỉnh vần và kết vấn Vd: ai,om up, v.v )
Trong vần phức có hai hệ thống con là vấn ma mở (Vd: ôi, lêu) và xẩn khép (Vd
am ), phân loại dựa vào sự tương phản giữa đỉnh vần có tính nguyên ãm với kết vân có tính phụ âm hay không có tính phụ âm Hệ thống vần khép lại bao gồm hệ thống các văn kÍiép-tắc-mửỡ (Vd: an, ong) và hệ thống các van khép-tac-miéng (Vd đới uóc) dựa theo tiêu chí mưa bay khóng nưii (niệng) của kết âm
Theo cách thứ hai, xác lập được hệ thống ván mở (kết vấn nguyên âm lính)
và vấn khép (kết vân phụ âm tính) Trong vẩn mở bao gồm vần ¿#c mở (kết vẫn
thực sự nguyên am tinh Vd: i ø, na) và vẫn nửa mở (kết vẫn bán nguyên âm
tính Vd: a,, øi Trong vần khép bao gồm vấn nửa khép hay khép-tắc-mũi (đặc trưng kết vần mang tính mũi Vẻ: am ôn ong) và van thực khép hay khép-tắc- miệng (đạc trưng kết vần mane tính miệng của phụ âm Vd: ép, đi uC)-
Hệ thống vấn dơn chỉ bao gồm những vần mở (thực mở) còn hệ thống vấn phức bao gồm 3 tiểu loại còn lại (nửa mở, nửa khép, khép)
6
Trang 91.3 MIEU TA HỆ THONG VAN CALTIENG VIET HIE
ĐẠI 1.3.1 Hé thong van don (van mo):
Sau khi đẫn ra danh sách các vần mở (sồm 12 vần) và trình bày những
thuyết minh về những dặc trưng ngữ âm cơ bản của vần dơn, chúng tôi xác lập
Dong Trude Sau
Độ Môi Không tròn Không tròn Tròn môi
~ Hệ thống vẩn phức nửa mo bao gém vấn có đặc trưng kết âm bán
nguyên ảm tính Cùng với việc dẫn ra danh sách các vần nửa mở (gồm 20vản)
chúng tôi hướng sự thuyết minh và miều tả vào các vần nửa mở từ phía dỉnh vẫn
và từ phía cuối vần, theo đó cũng chỉ ra các nhóm đặc trưng được phân biệt theo các cách miệu tả
- Một vấn dể quan trọng dược để cập đến là văn dề độ chạm (hay độ tiếp hợp) giữa dỉnh vần và kết vần, liên quan đến khái niệm chzr-Jỏng diễn ra trong cấu âm của các vần phức (gồm vần nữa mở và các loại vần khép) Sự đối lập chát lỏng xuất hiện đo cố sự tương phản âm thanh siữa đỉnh vần và cuối vần (khác với vần dơn, do không có sự tương phản đó mà sự đối lập này không bao giờ có thể
xuât hiện) Bảng vần nửa mở dược xác lập như sau: Bảng2
bs Dong, mỗi Sau ôn Môi Trước, không tròn môi Cuối ván
thuần DẦN bie * wt * ug" chat
Vừa vue ” z+” chật
Dinh —~— (không Không tròn — mỏi Tròn môi 3s
Trang 10theo do ndng cue (NG: cao (huan-chuyen sac), via Hhdp va theo dang, theo hinh
ddny crus mdi
- Từ phía cuối vấn các vấn nữa khep và khép dược phân biết theéo nhóm đạc trưng vẻ vị trị câu âm hay phương thức cấu âm để từ đó phản ra các teu he thóng Phương thức kết âm chạt-lône, một lần nữa dược thuyết mình thêm đối với
ác văn nữa khép, vấn khép Phương thức chạt-lỏng này có giá trị khu biệt triệt de
đối với cdc van dong sau khong tron moj (Vds wn up ftom Wop ani dp / am op:
/ am ap) déng thời cũng liên quan đến pham chat âm thanh của các am
được hệ thống hoá qua bang sau: đảng 8
Tâm al Mũi miệng mũi nuệng mũi Hiện van
Thuểm | Gm” | @` | kem" | uip* | usm” | tp * | chat
oi cyan | deo | dep | wes | sexe | wpm | søz | lone
<2 | xứ ym > om op lòng Thầy ant ap" chat
| enyycn Leen | et | ae | «vÉ | uen | wot | long | g,
a? | an” az” chat i
Tha len | et an | az on 4 at |
Cas ryan | én * cot | went | wk | ce | sz£” | chat IF °
2E" lý | ee | mer | werk | xe? | wok [iene [EE
Vi ent! ect X27” | &* ont o7 + | chặt =, =
#9) | C#k) | t2 rkK_|ceq) [cow ) |iêm |g &
Binh | CKhongtrow me)| Khdng tron mdi Trồn mối > độ
vấn Trưeế Sau déne
14, TIEU KET
Trong trếng Việt hiện đại, số lượng các vần cái phong phú hơn nhiều so với
âm đầu (12+ vấn cái, so với âm đầu kể cả âm dau zero) Cac van cai đối lập
với nhau một cách phúc tạp và đa dạng, thể hiện tính tầng bậc rõ rệt trong hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại
Trang 11Trone khi làm việc với hệ thống vần cái chúng tôi sử dụng triệt dé hau het
các đặc trưng khu biết (ca vẻ phan dink van lan cuối văn như các đạc trưng vẻ dọ nâng đồng mỏi vị trí vị phương pháp cấu âm, độ chạm .) nham dựng lén môi
"quang cảnh” chung cho toàn bộ hệ thông văn cái cũng như từng tiêu hệ thong ©
đó các vấn cái với các đạc trưng cua mình được "nhận diện” trong những thé
doi lap déu dan
Mỗi một vấn cái tiếng Việt hiện đại có thể được miéu tả theo các chùm đạc
trưng như sau:
a) Trước hết là sự phân biệt các vần theo cách kết váu Theo đó có 4 loại van sau:
- Kết vấn nguyện dm tính Nói cách khác, đó là cách kế: văn bảng chính nguyên âm tạo đỉnh vần Kết quả là chúng ta có các vần mở (vần dơn)
- Kết vấn bán nguyên ám tính Đây là lối kết vân đành cho các vận phức nữa
mở
- Kết vấn phụ am tính, vang -1dc - mũi Đó là các vân phúc nữa khép
- Kã vân phụ ám tính, không vang - tắc - miéng D6 là các vân phúc thuộc
loại thực khép
b) Trons cùng một loại vần, sẽ phân biệt theo nhóm các đặc trưng khu biệt
đỉnh vấn (đỉnh âm tiếU theo đó, các vần cái cùng loại kết vấn khu biệt nhau theo
các đặc trưng nguyên âm tính: đó nảng của lưỡi (cao / vừa / thấp) và đơn thuần / chuyến sắc: đông (trước / giữa / sau), và hình dang cha mdi (khong tròn mới / tròn mới)
Đối với các vân phức khu biệt theo hệ thống ngữ âm còn tiếp tục thực biện
theo hai nhóm tiêu chí sau :
c) Các văn cùng loại phân biệt nhau theo các đạc trưng bán nguyen am tinh hoạc phụ âm tính ở cuối ván Chẳng hạn : các vần nữa mở tiếp tục phan biệt théo bai nhóm đạc trưng : (bán nguyên âm tính, cao, đồng ước) khóng tròn môi | -í ] / (bán nguyén am tinh, cao, dong sau) iron mor [-u }
đ) Một nhóm đạc trưng thể hiện sự chuyển tiếp giữa đỉnh vấn và cuối văn
Đó là “độ chạm chế / idng của vần cái đang xét Sự đối lập chỉi / long nav chi
có thể thực hiện được là nhờ ở kết vần tương phản với đỉnh vân Do đó, quv đặc
trưng này cho cuối vần (như Nguyễn Bạt Tụv đã làm) sẽ có phần thoa đáng hơn
là quy nó cho dinh vần Tuy nhiên, cũng không loại trừ kha nang xem đạc trưng chặt - lòng như là phẩm chất chưng cho toàn bộ những vần cái (vấn phức), mà không phân lập đỉnh van hav cuối van Theo đó, có thể thử lần lượt miễu tả mội
số vấn cái tiếng Việt như sau:
Vân ø [a}: Văn mở, có đỉnh là nguyên âm ở độ nâng thấp, dòng sau khong tròn môi; kết thúc vần bàng chính nguyên âm tạo đỉnh
Van iu [ iu ]: Vần nửa mở, có đỉnh là nguyên âm ở độ nâng cao, đồng trước
(khône tròn mới); kết thúc vầu bàng một kết ván bán nguyên âm tính đồng sau
tròn môi; là vần chặi (đối lập với đéi [ leu ])
9
Trang 12Van wont (stam: Van’ khep - tác - mũi, có đỉnh là nguyên âm chuVển sac
dong sau không trồn môi: kết thúc vấn bang kết vấn có cầu ám môi, tác - mũi: là
van Jone (dod lap voi un: jan” |)
Van óc | ok!: Ván khép - tac - miệng, có đỉnh Ja neuvén am ở độ nâng vừa, dòng sau tròn mỏi: kết thúc vần bang kết vần có cấu âm cuối lưỡi tác - miệng: lỉ
van char doi lập với đóc [ ok })
Chương 2: SỰ ĐIỆN BIẾN LỊCH SỬ CỦA HỆ THỐNG VAN CAI
TIENG VIET QUA MOT SO CU LIEU CHU VIET
21 THEU DAN
- Neit am tiếng Việt trong lịch sử từ lâu đã lä mối quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu Cás vấn để vẻ ám đầu và thanh điệu tiếng Việt đã được nghiền cửu
khảo sát trong các công trình của H Maspéro, A G Haudricourt, Nguyễn Tài Cẩn Nguyễn Khác Xuyén Vương Lộc Nguyễn Văn Lợi, Vũ Bá Hùng Trần Trí
Dõi Hoàng Dũng v.v Song bén cạnh đó bệ thống vần cái trone lịch sử chưa
được chý é đúng mức
- Các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Bạch Nhạn (199),
Vuong Lộc (1995) là những bước đi đầu tiên trên con đường ủm hiểu ngữ âm lich
sử qua chữ viết
- Dựa trên ba cứ liệu chữ viết quan trọng là An Nam dịch ngữ (thế kỷ XV-
XVI) Tit điển An Nam-Lusilan -Latinh (Ti điển ViệI-Bỏ-Lai (thế ky XVI) cia
Alexandre de Rbodes và Sách số sang chép các việc (cuối thể kỷ XVHI-đầu thế
ky XIX) cua Philipphe Binh, chúng tối đã tiến hành thống ké, phân tích, so sánh
đối chiếu với mons muốn cung cấp được một sự hình dung có thể có vẻ các vần cái tiếng Việt ở những thời kỳ nhất định trong lịch sử phát triển của ngữ âm tiếng Việt,
2.2 VE CAC VAN CAI TIENG VIET THE KY XV - xvi Qua ct LIEU AN NAA DICH NGC
2.2.1, Vai nét về 14c pham An Nam dich ngit (ANDN)
- An Nam dịch ngữ là bàn từ vựng đối dich Han - Viél, nam trong cuốn #fod
dị dịch ngữ do người Trung Họa soạn vào thời nhà Minh (khoảng thế kv XV -
XVI Tác phẩm này đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
- Nam 1982, Vuong Loc da biên soạn cuốn Ai: Nam địch ngữ, mà nội dung của nó là tái lập âm dọc 1ừ ngữ Hếng Việt, đựa trên bản từ vung An Nam dich neit nói trên Đây là cứ liệu mà chúng tới sử dụng để tiến hành thống kê
Trang 132.2.2, Phương pháp thống kê và xử lý tư liệu
Bản tái lập gôm 716 mục từ của Vương luộc có thể dược thống kẻ theo các
vách khác nhau Tuy nhiên, để thuận trên cho việc tra cứu đổi với người Việt, chúng tôi tiến hành thống kê theo các bước sau:
a) Lập phiếu cho từng trường hợp một trên phiếu có đủ 5 nội dung của mục
tử Tất cả có 716 phiếu, tương ứng với 716 từ Việt dược tái lập
b) Lần lượt xem xét, tiến hành thống kê các vần cái tiếng Việt được phan ánh qua các phiếu shi Qua thống kê, có thể giải đáp mấy câu hỏi:
- Một vần cái tiếng Việt đã được phi bàng bao nhiêu cách khác nhau 7
~ Mỗi cách như thế đã xuất hiện ở bao nhiêu từ ?
ỗi từ như thế đã xuất hiện bao nhiêu lần ?
- Số thứ tự dược ghi trong văn bản đối với từng trường hợp
2.3.3 Cứ liệu thống kê và nhận xét
- Qua 716 mục từ được tái lập theo cách ghỉ của chữ quốc ngữ hiện nay,
chúng tôi thây có 90 vẫn cái phân biệt trên chữ viết, bao gồm 12 vấn mở, 18 van nửa mở, 3$ vần khép-tấc-mũi, 26 vần khép-tắc-miệng
- Con số 90 vần cái được tái lập này chưa hản đã là sự phản ánh đẩy đủ toàn
bộ bệ thống vần tiếng Việt thời kỳ biên soạn 4VDN bởi những hạn chế của việc
ghi âm cũng như số lượng ít ôi các mục từ
- Chúng tôi lần lượt trình bày các bảng thống kẻ về các vần mở, nửa mở,
khép-tác-mũi, khép-tác-miệng với sự phản ánh của các âm Hán (ở các trang 47,
32 54-55, 57) từ đó dưa ra những nhận xét về sự phán biệt siữa các vần cái Hàng Việt mà ANDN đã cố gắng phản ánh
- Lần lượt tìm hiểu từng bộ phận dink van và cuối vần (nguyên âm, phụ âm cuối) trong các vân cái tiếng Việt dược phản ánh qua cách ghi của An Nam dich agit, chúng tôi thây nguyễn âm dinh van ít biến đổi hơn so với phụ âm kết van
Hệ nguyên âm ở thế ký XV-X VI, theo kết quả tái lập, so với thời kỳ Việt-Mường chung và thời kỳ Việt Trung cổ, dường như không có sự khác biệt lớn Hiện
tượng rụng một số âm cuối để chuyển hóa thành một số âm cuối khác xảy ra
trước thời điểm biên soạn cuốn từ vựng dối dịch Hán-Việt này Số lượng vần Việt thống kê được từ An Nam dịch nẹữ (89 vần) là ít hơn so vớt hệ thống vần Việt hiện nay (124 vần) có khả năng để lý siải 1) Do hệ thống ngữ âm của tiếng Hán
vốn ít hơn hệ thống ngữ âm của tiếng Việt nén có nhiều âm Việt được ghi bảng
cùng một âm Hán Và vì thế, hiệu quả phản ánh sẽ bị hạn chế rất lớn 2) Do bản thân số lượng vần cái tiếng Việt lúc đó quả là ít hơn so với vần tiếng Việt biện đại Hai kha nang nay déu có cơ sở của nó và chúng ta có thể giải thích được, dựa vào những cứ liệu cụ thể và trị thức ngữ âm lịch sử
So với các phụ âm đầu thì hiệu quả ghí âm phản vần cải rong ANDN tô ra rất hạn chế Tuy nhiên, cứ liệu thống kê đa dạng vẻ các mới tương Ứng ngữ âm Việt-Hán cũng có thể cung cấp ít nhiều cơ sở để nhận xét về các vần cái (được tái
lập) của tiếng Việt thời bấy giờ, mà cụ thể là về các nguyên ảm (các vấn dơn) và
hệ các âm cuối Qua cứ liệu của ANDN, có thể nhận thấy các nguyên âm tiếng
11