1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận thực trạng lạm phát ở việt nam và nguyên nhân

13 537 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 236,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó không có nghĩa là giá cả của mọi hàng hoá và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên, hay nền kinh tế có thể trải qua lạm phát mặc d

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1

1.1 Khái niệm về lạm phát 1

1.2 Nguyên nhân gây lạm phát 1

1.2.1 Lạm phát do cầu kéo 1

1.2.2 Lạm phát do cầu thay đổi 1

1.2.3 Lạm phát do chi phí đẩy 2

1.2.4 Lạm phát do cơ cấu 2

1.2.5 Lạm phát do xuất khẩu 2

1.2.6 Lạm phát do nhập khẩu 2

1.2.7 Lạm phát tiền tệ 2

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VÀ NGUYÊN NHÂN 3

2.1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay 3

2.1.1 Giai đoạn 2000-2004 3

2.1.2 Giai đoạn 2005-2010 4

2.1.3 Giai đoạn 2011-2014 7

2.2 Các nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam 9

2.2.1 Về phương pháp tính 9

2.2.2 Điều tiết vĩ mô kém 10

2.2.3 Cung ứng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước 10

2.2.4 Do cầu kéo 11

2.2.5 Do chi phí đẩy 11

2.2.6 Do tâm lý dân chúng 12

Trang 2

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT

1.1 Khái niệm về lạm phát

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Nó không có nghĩa là giá cả của mọi hàng hoá và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên, hay nền kinh tế có thể trải qua lạm phát mặc dù giá cả của một số hàng hoá và dịch vụ giảm nhưng giá cả hàng hoá và dịch vụ khác tăng đủ mạnh

Trong một nền kinh tế lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền nội tệ.Tức là khi có lạm phát thì chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều đồng nội

tệ hơn để mua một giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định Khi so sánh với nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với cá loại tiền tệ khác đây chính là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu

Cần chú ý rằng lạm phát không chỉ đơn thuần là sự tăng của mức giá mà đó phải là

sự gia tăng liên tục trong mức giá Trường hợp chỉ có một cú sốc xuất hiện làm cho mức giá tăng lên đột ngột rồi giảm trở lại mức ban đầu không lâu ngay sau đó, hiện tượng tăng mức giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát Nhưng trong thực tế thì một

cú sốc có thể ảnh hưởng kéo dài đối với một nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát

1.2 Nguyên nhân gây lạm phát

1.2.1 Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt là khi sản lượng đã đạt vượt qua mức tự nhiên Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột ngột trong nhu cầu về tiêu dùng và đầu tư Hoặc trong nhiều trường hợp lạm phát lại thường bắt nguồn từ sự gia tăng quá mức trong chương trình chi tiêu của Chính phủ, ngoài ra nhu cầu xuất khẩu và lượng vốn chảy vào cũng có thể gây ra lạm phát

1.2.2 Lạm phát do cầu thay đổi

Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới( chỉ có thể tăng mà không giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm

Trang 3

vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát

1.2.3 Lạm phát do chi phí đẩy

Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng Các

xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm , mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng

1.2.4 Lạm phát do cơ cấu

Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả vì thế không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh vì điều đó

1.2.5 Lạm phát do xuất khẩu

Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng

1.2.6 Lạm phát do nhập khẩu

Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng ( do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đổi lên

1.2.7 Lạm phát tiền tệ

Cung tiền tăng vì một lý do nào đó khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VÀ NGUYÊN NHÂN

2.1Thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay

2.1.1 Giai đoạn 2000-2004

Bắt đầu từ năm 1999, nước ta phải đối mặt với thách thức: do lạm phát quá thấp nên nền kinh tế tăng trưởng chậm Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương kích cầu để kích thích tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế Đến năm 2002 thì nền kinh tế nước ta đã khởi sắc và tốc độ tăng trưởng ngày càng cao

Sang năm 2004, lạm phát lại đột ngột quay trở lại Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 9,5%,

là mức tăng giá cao nhất trong 9 năm qua, và cũng là năm đầu tiên kể từ năm 1999 tỷ lện lạm phát đã vượt khỏi cái ngưỡng 5%/năm do Quốc hội đề ra Tình hình biến động giá được phản ánh qua số liệu sau:

Bảng 1: Biến động giá tiêu dùng qua các tháng của giai đoạn 2000-2004 (ĐVT: %)

Tháng

Năm

tháng đầu năm

năm

2000 0,4 1,6 -1,1 -0,7 -0,6 -0,5 -0,9 -0,6 -0,1 -0,1 0,1 0,9 0,1 -0,6

2001 0,3 0,4 -0,7 -0,5 -0,2 0,0 -0,7 -0,2 0,0 0,5 0,0 0,2 1,0 -0,8

2002 1,1 2,2 -0,8 0,0 0,3 0,1 2,9 -0,1 0,1 0,2 0,1 0,3 0,3 4,2

2003 0,9 2,2 -0,6 0,0 0,1 -0,3 2,1 -0,3 -0,1 0,1 -0,2 0,6 0,8 3,0

2004 1,1 3,0 0,8 0,5 0,9 -0,8 7,2 0,5 0,6 0,3 0,2 0,3 0,4 9,5

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, từ năm 2000, sau đợt tăng giá vào dịp tết thì giá thường giảm từ tháng 3 đến tháng 7 và bắt đầu tăng từ tháng 9 Riêng năm 2004 thì giá lại tăng mạnh liên tục vào 7 tháng đầu năm Tình trạng đột biến của sự leo thang của giá

cả đã không theo quy luật như những năm trước và đã nằm ngoài dự kiến của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế và người dân

Trang 5

Tuy nhiên, với chỉ số CPI năm 2004 là 9,5% thì sự đột biến này phần lớn là do giá lương thực - thực phẩm Riêng 9 tháng đầu năm 2004, giá lương thực tăng 12,5% và giá thực phẩm tăng 16,8% đã tác động rất mạnh làm cho chỉ số CPI tăng cao

Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế mở và nhỏ nên nó phụ thuộc rất lớn diễn biến của lạm phát trên thị trường thế giới Nhất là hiện nay chúng ta đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, tiềm lực kinh tế chưa vững mạnh nên sự biến động của giá cả trên thị trường thế giới đều tác động tức thì đến thị trường trong nước

Lạm phát ở nước ngoài lan truyền vào Việt Nam thông qua việc xuất khẩu - nhập khẩu của Việt Nam Theo thông tin của Bộ thương mại thì giá hàng xuất khẩu của Việt Nam năm 2004 đã tăng trung bình 8% so với năm 2003 Dù gia tăng giá xuất khẩu làm gia tăng giá thu mua hàng hoá trong nước và góp phần làm tăng mức giá chung trên thị trường nội địa Đặc trưng nhất là mặt hàng lương thực, việc xuất khẩu gạo năm 2004 tăng tới 590.000 tấn, trong khi gạo sản xuất chỉ tăng khoảng 47.000 tấn, tạo nên sự khan hiếm về lương thực, gây ra áp lực tăng giá Về phía nhập khẩu, giá của một số vật tư quan trọng mà Việt Nam phải nhập khẩu từ nước ngoài: xăng dầu, phôi thép…dùng làm phụ liệu cho các ngành công nghiệp đã tăng lên đáng kể, chi phí sản xuất cao hơn nên buộc các doanh nghiệp phải tính vào giá bán và do đó đẩy mặt bằng giá nội địa tăng lên trên mức bình thường Mặc dù Nhà nước ta đã có những chính sách bù lỗ cho các doanh nghiệp nhập khẩu nhưng khoảng bù này quá lớn Nên ngày 30/3/2005, Chính phủ quyết định tăng giá xăng dầu trên thị trường nội địa Xu hướng này còn sẽ đẩy giá cả của hàng hoá trong nước tiếp tục gia tăng

Thực tế giai đoạn đó ở Việt Nam mà bất cứ người dân nào cũng hiểu được rằng: khi giá cả lương thưc - thực phẩm và các loại hàng hoá tiêu dùng thiết do yếu khác liên tục tăng lên thì thu nhập thực tế của họ bị giảm xuống Thu nhập thực tế giảm xuống có nghĩa là sức mua của đồng nội tệ giảm xuống

2.1.2 Giai đoạn 2005-2010

Lạm phát năm 2005 tiếp tục tăng cao ở mức 8,4% Năm 2006 là 6,6% cũng là mức khả quan nhất trong ba năm trở lại đấy Lạm phát năm 2007 lên tới 12,6% Tình hình biến động CPI trong ba năm 2005-2007 như sau:

Trang 6

Bảng 2: Biến động giá tiêu dùng qua các tháng của giai đoạn 2005-2007 (ĐVT: %)

Theo bảng trên ta thấy chỉ số CPI của cả ba năm đều tăng dần và tăng mạnh ở các tháng cuối năm

Tình hình lạm phát ở Viêt Nam trong giai đoạn 2008-2010 diễn biến khá phức tạp Để tìm hiểu rõ hơn diễn biến lạm phát trong giai đoạn này, ta tiến hành phân tích từng năm 2008, 2009, 2010

-1.00%

0.00%

1.00%

2.00%

3.00%

4.00%

5.00%

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Biểu đồ 1: Diễn biến CPI trong giai đoạn 2008-2010

(tự minh họa dựa trên số liệu thu thập được từ website vneconomy.vn)

Năm 2008, tỷ lệ lạm phát trung bình của năm là 22,97% Trong hơn nửa đầu năm

2008, lạm phát là vấn đề số một của nền kinh tế Viêt nam Tốc độ tăng giá tiêu dùng liên tục tăng ở mức 2%/tháng với đỉnh điểm vào tháng 2 và tháng 5 (tăng 3,91 %)

Trang 7

Vào tháng 6/2008, giá hàng hóa trên thế giới bắt đầu giảm khiến tốc độ tăng lạm phát đã giảm xuống mức dưới 2%/tháng (tháng 7-8/2008) và xấp xỉ 0%/tháng trong tháng 9/2008

Tháng 12/2008, chỉ số giá của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã tăng 31,86%, trong đó lương thực tăng 43,25%, thực phẩm tăng 26,53%, ăn uống ngoài gia đình tăng 33,62% So với tháng 12/2007, chỉ số giá vàng tháng cuối năm nay đã tăng 6,83%, chỉ

số giá USD tăng 6,31% Còn so với tháng 11/2008, đóng góp vào mức tăng âm của tháng 12/2008 là do các nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng giảm tới 2,36%; nhóm phương tiện đi lại, bưu điện giảm 6,77%

Lạm phát năm 2009 là 6,52% Không có những đột biến lớn, không bất thường về quy luật, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 cho cảm giác khá trầm lắng Nhưng trong một năm nền kinh tế trầm, thăng phức tạp, CPI vẫn có sự đảo chiều tương ứng

Tốc độ tăng CPI theo tháng đạt đỉnh 4 lần trong năm qua, ở các tháng 2, 6, 9 và

12, với các mức tăng 1,17%; 0,55%; 0,62% và 1,38% Trong 8 tháng đầu tiên, diễn biến chỉ số giá là biểu hiện của kìm nén, ít nhiều theo tính quy luật và cho cảm nhận an toàn Tuy nhiên trong 4 tháng còn lại, đường biểu diễn xóc nhẹ, báo hiệu những đột biến, để rồi tăng dần và dựng ngược lên trong tháng tận cùng của năm, hiện thực hóa phần cảm nhận lơ lửng đâu đó về nguy cơ tái lạm phát

Trong tháng 1/2009 CPI lên nhẹ 0,32% Nhưng sang tháng 2 CPI tăng, ở đỉnh cao thứ nhất, CPI tăng 1,17%, trước khi đảo chiều giảm âm 0,17% trong tháng 3 ngay sau đó

Từ tháng 4 đến tháng 8 chỉ số giá hạ nhiệt chỉ còn tăng 0,24% trong tháng 8 Mức chênh lệch trong giai đoạn này chỉ 0,31 điểm phần trăm và gần như không có đột biến lớn Bước sang tháng 9, đã xuất hiện những diễn biến “ngược dòng” CPI đạt đỉnh ở mức tăng 0,62% rồi tạm “nghỉ” ở mức tăng 0,37% của tháng 10 sau đó Về tác động của tăng giá trên thị trường thế giới, đến tháng 11/2009, giá gạo tăng 5% tấn xuất khẩu tăng lên mức 451,31 USD/tấn Năm 2009 khép lại với chỉ số giá chấp nhận được trong tất cả các mức so sánh

Trang 8

Lạm phát năm 2010 là 11,75% Mức chênh lệch giữa tháng tăng đỉnh và đáy lên đến hơn 1,5% Hai điểm cao nhất đều được tạo thành từ mức tăng xấp xỉ 2% của tháng 2

và tháng 12, trong khi đáy kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ biến động quanh mức 0%, xác định kỷ lục ngược với xu thể kể trên

Các mức tăng CPI hai tháng đầu năm đều trên 1% và tiến gần 2%, nhưng khác biệt trong năm này lại rơi vào tháng 3, khi chỉ số giá tiêu dùng không chịu xuống mạnh như các năm trước

Từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng rất thấp, về gần sát mức 0% (tháng 7 chỉ tăng 0,06% so với tháng 6)

Bốn tháng cuối năm, chỉ số CPI liên tục duy trì ở mức cao Có tới 3 tháng đạt kỷ lục về cao độ, cho thấy sức nóng của lạm phát đã ở gần

Nhìn trong cả năm 2010, diễn biến CPI gần như song hành cùng những thay đổi chính sách vĩ mô và can thiệp thì trường từ cơ quan chức năng Những ngày năm mới đang đến cũng đóng lại một năm lạm phát không đạt chỉ tiêu, nhưng còn neo lại những đoán định về hướng điều chỉnh chính sách có thể xuất hiện trong đầu năm tới

2.1.2 Giai đoạn 2011-2014

Giai đoạn 2011-2013 diễn biến của lạm phát theo xu hướng giảm dần Lạm phát năm 2011 trên 18% - lạm phát hàng quán quân thế giới Theo Tổng cục Thống kê, CPI tháng 12/2011 so với tháng trước tăng 0,53%, so với tháng 12/2010 tăng 18,13% Năm

2011 so với năm 2010 tăng 18,58% Đây là mức thuộc hạng cao nhất châu Á Nguyên nhân của lạm phát được cho là bắt nguồn từ những bất ổn của chính sách tiền tệ Đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới bất ổn kinh tế vĩ mô Vì thế, Chính phủ đã có Nghị quyết

11 để kiềm chế, trong đó đặc biệt tập trung vào việc thắt chặt tín dụng và tài khoá Năm

2010, Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu CPI năm 2011 không quá 7% Đến tháng 6/2011, Chính phủ đề nghị nới lỏng chỉ tiêu CPI cả năm lên không quá 17% Nhưng cuối cùng CPI cả năm 2011 tăng 18,13% Năm 2012, Chính phủ đặt mục tiêu đưa lạm phát về 9%

Lạm phát năm 2012 tăng 6,81% Chia sẻ rằng, Việt Nam đã hoàn thành tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm 2012 thấp hơn mức chỉ tiêu kế hoạch 7% mà Quốc hội đề

Trang 9

ra, TS Đỗ Thức, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, cho biết chỉ tiêu CPI cả năm nay chỉ tăng 6,81% và tăng 9,21% so với bình quân 12 tháng năm 2011

Tuy nhiên năm 2012 là năm ghi nhận nhiều biến động bất thường CPI tăng không quá cao vào hai tháng đầu năm (tăng 1,0% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong những tháng cuối năm.Chính vì thế, CPI bình quân của nhiều nhóm hàng năm nay

có mức biến động nhiều và khác xu hướng so với năm trước Nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng thấp hơn mức tăng chung (lương thực tăng3,26%, thực phẩm tăng 8,14%, CPI bình quân chung tăng 9,21%), trong khi năm 2011 đây là nhóm hàng có chỉ

số giá tăng cao nhất và cao hơn nhiều so với mức tăng chung (lương thực tăng 22,82%, thực phẩm tăng 29,34%, CPI bình quân chung tăng 18,58%) Riêng nhóm dịch vụ y tế

có sự thay đổi lớn với chỉ số giá tăng mạnh ở mức 20,37%, cao hơn nhiều lần mức tăng 4,36% của năm 2011 Trong hai năm qua, chỉ số giá nhóm giáo dục vẫn duy trì mức tăng cao (năm 2011 tăng 23,18%; năm 2012 tăng 17,07%) và chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông vẫn duy trì mức giảm (năm 2011 giảm 5,06%; năm 2012 giảm 1,11%) Một điểm bất thường nữa của thị trường giá cả trong nước năm 2012, theo Tổng cục Thống

kê, là năm 2012, CPI không giảm vào sau Tết nguyên đán, mà lại giảm vào hai tháng giữa năm (tháng 6 và tháng 7)

Lạm phát năm 2013 tăng thấp nhất 10 năm qua Lạm phát cả năm là 6,3% Năm

2013, CPI tương đối ổn định và tăng ở mức thấp với mức tăng bình quân tháng là 0,4% Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có chỉ số giá tháng 12/2013 so với tháng trước tăng cao nhất với mức tăng 2,31%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,57%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,49%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; giáo dục tăng 0,02% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm gồm: Giao thông giảm 0,23%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%

Trang 10

Năm 2014, CPI tháng một tăng 0,69% so với tháng trước, mức tăng khá thấp so với mức tăng cùng kỳ của một số năm trước, nguyên nhân một mặt do nhiều địa phương triển khai các chương trình bình ổn giá những mặt hàng thiết yếu phục vụ Tết Nguyên Đán, mặt khác do sức mua của thị trường vẫn ở mức thấp Như vậy, nếu so với tháng

1-2013, CPI tháng 1-2014 cả nước đã tăng hơn 6,77% Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 năm 2014 vừa được Tổng cục Thống kê công bố tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 4,65% so với cùng tháng năm trước

2.2 Các nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam

Trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát do yếu tố tiền tệ, theo tổng kết của IMF thường xuất phát từ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ (CSTT): Sự thâm hụt ngân sách kéo dài được bù đắp bằng việc in tiền, và/hoặc sự chi tiêu quá mức và thất thoát lớn trong xây dựng cơ bản của chính phủ sẽ là nguyên nhân gây ra lạm phát, hoặc CSTT quá nới lỏng, dẫn tới tăng cung tiền, tăng đầu tư tín dụng quá mức v.v… cũng là nguyên nhân gây lạm phát Do vậy, để kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu luôn đòi hỏi sự phối hợp rất chặt chẽ trong điều hành CSTT và chính sách tài khóa Xét trong giác độ điều hành CSTT để kiểm soát lạm phát (lạm phát được coi là mục tiêu cuối cùng của CSTT), tùy điều kiện kinh tế, mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, khả năng điều tiết tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (NHTW) mà NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau để kiểm soát lạm phát Thực tế hiện nay cho thấy, đối với những nước phát triển, là những nước có thị trường tiền tệ, thị trường vốn phát triển, đặc biệt là những nước theo đuổi khuôn khổ CSTT hướng tới mục tiêu lạm phát

Trên cơ sở nghiên cứu về biến động của giá cả và lạm phát ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua là do những nguyên nhân sau:

2.2.1 Về phương pháp tính

Phương pháp tính chỉ số CPI của các nước khác với Việt Nam Một là, các nước thường loại trừ giá lương thực, dầu mỏ ra khi tính toán ; Hai là, giá đó là giá giao dịch mua buôn, bán buôn trên thị trường hàng hóa của các nhà kinh doanh, còn giá bán lẻ cho

Ngày đăng: 28/04/2016, 23:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Biến động giá tiêu dùng qua các tháng của giai đoạn 2000-2004    (ĐVT: %) - Tiểu luận thực trạng lạm phát ở việt nam và nguyên nhân
Bảng 1 Biến động giá tiêu dùng qua các tháng của giai đoạn 2000-2004 (ĐVT: %) (Trang 4)
Bảng 2: Biến động giá tiêu dùng qua các tháng của giai đoạn 2005-2007   (ĐVT: %) - Tiểu luận thực trạng lạm phát ở việt nam và nguyên nhân
Bảng 2 Biến động giá tiêu dùng qua các tháng của giai đoạn 2005-2007 (ĐVT: %) (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w