Biện pháp 1: Hướng dẫn và rèn luyện cho HS đổi đơn vị đo thời gian Biện pháp 2: Hướng dẫn HS nắm vững chắc kiến thức cơ bản, biết được mối quan hệ giữa ba đại lượng vận tốc, quãng đường
Trang 1MỤC LỤC
A: Đặt vấn đề
I Lý do chọn đề tài
II Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
III Phạm vi nghiên cứu
IV Phương pháp nghiên cứu
2 3
3 3
B Giải quyết vấn đề
I Cơ sở lý luận
II Cơ sở thực tiễn
III Nội dung và chương trình các bài toán dạng chuyển
động đều ở lớp 5
IV Biện pháp hướng dẫn HS học các bài toán dạng
chuyển động đều
Biện pháp 1: Hướng dẫn và rèn luyện cho HS đổi đơn vị
đo thời gian
Biện pháp 2: Hướng dẫn HS nắm vững chắc kiến thức cơ
bản, biết được mối quan hệ giữa ba đại lượng vận tốc, quãng
đường, thời gian
Biện pháp 3: Hướng dẫn HS giải các bài toán theo dạng
bài
Biện pháp 4: Hướng dẫn HS nắm chắc bước giải
C Kết luận và kiến nghị
I Kết quả, ý nghĩa và bài học
II Kiến nghị
3
3 5 6
6
7 9
9 15
16 17 18 19
Trang 2Sáng kiến kinh nghiệm:
PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5
HỌC TỐT CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài
Trong chương trình giáo dục tiểu học, các môn học có vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên những con người phát triển toàn diện Môn Toán là một môn khoa học tự nhiên có tính lôgic và tính chính xác cao Dạy toán học không chỉ là cung cấp kiến thức toán học mà còn giúp các em phát triển tư duy, suy luận lôgic, chính xác Môn Toán ở cấp Tiểu học cung cấp cho HS những kiến thức ban đầu về số học, đại lượng, yếu tố hình học, số thập phân, giải bài toán có lời văn để áp dụng vào thực tế cuộc sống
Trong chương trình môn Toán ở lớp 5, dạng bài toán về chuyển động đều
là nột dạng khó, phức tạp, có nhiều kiến thức vận dụng vào cuộc sống thực tiễn Khi học dạng toán này, HS được củng cố các kiến thức và các kỹ năng như kĩ năng tính toán, đại lượng liên quan đến tỉ lệ, các kĩ năng vẽ sơ đồ đoạn thẳng,kĩ năng giải toán có lời văn, kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian, đo độ dài, Để giúp
HS đạt được mục tiêu môn toán lớp 5 về mạch kiến thức dạng toán chuyển động đều thì cần làm cho các em không hiểu được bản chất của toán chuyển động đều Vì vậy, tôi thấy mình phải làm thế nào để HS yêu thích môn Toán và làm cho HS thấy bài toán về chuyển động đều rất đơn giản, thấy thích thú khi làm
những bài toán liên quan đến nó Đây là lí do tôi chọn đề tài “Phương pháp
hướng dẫn học sinh lớp 5 học tốt các bài toán về chuyển động đều ”
II Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Chỉ ra và phân tích những sai lầm khi thực hiện các bài toán về chuyển động đều ở HS
Trang 3- Tìm ra biện pháp thực hiện có hiệu quả nhất, tích cực nhất trong việc rèn kĩ năng học toán cho HS tiểu học nhất là mạch kiến thức về bài toán chuyển động đều
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục những sai lầm khi dạy về chuyển động đều nhằm nâng cao hiệu quả dạy học toán ở lớp 5
III Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng HS lớp 5C
- Các bài dạy liên quan đến chuyển động đều trong chương trình sách giáo khoa môn Toán tiểu học lớp 5
IV Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (SGK, SGV, các loại sách khác tham khảo)
- Phương pháp quan sát thông qua dự giờ
- Phương pháp tổng hợp rút kinh nghiệm (dạy học và trao đổi ý kiến với đồng nghiệp)
- Phương pháp thông kê toán học, phương pháp đàm thoại, phương pháp điều tra, phương pháp phân tích
- Phương pháp thực nghiệm (kiểm tra nhanh và tham khảo chất lượng HS)
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận:
Môn Toán có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệ thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động của con người Môn toán là ''chìa khoá'' mở của cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là công cụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới Vì vậy, môn toán là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường, nó giúp con người phát triển toàn diện, nó góp phần giáo dục tình cảm, trách nhiệm, niềm tin và sự phồn vinh của quê hương đất nước
Là một bộ phận trong chương trình Toán tiểu học, dạng toán chuyển động đều còn rất mới mẻ đối với các em HS lớp 5 Thời lượng chương trình dành cho dạng này rất ít, chỉ 9 tiết trong chương trình học kì II Do đó, việc rèn luyện, hình thành, củng cố kĩ năng kĩ xảo để giải toán dạng này chưa có Cho nên trong
Trang 4quá trình làm bài HS không tránh khỏi những vướng mắc, lúng túng, sai sót trong quá trình làm bài
II Cơ sở thực tiễn:
1 Thực trạng:
Trong quá trình dạy học dạng bài toán chuyển động đều cho HS lớp 5, tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn như sau:
Thuận lợi:
- Ban giám hiệu luôn luôn quan tâm đến chất lượng dạy và học
- Nhà trường thực hiện cho HS học 2 buổi/ngày nên có thời gian ôn tập, củng cố
và khắc sâu kiến thức cho HS
- Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện và quan tâm chỉ đạo chuyên môn và trang thiết, đồ dùng dạy học
- Phụ huynh và nhà trường luôn phối hợp, tạo mọi điệu kiện quan tâm nhằm giúp HS nâng cao chất lượng học tập
Khó khăn:
- Còn một vài em chưa nắm được kiến thức cơ bản, suy nghĩ máy móc, chỉ dựa theo mẫu chứ không tìm cách giải
- HS còn chưa có ý thức tự học, chưa biết cách tự học
- Một số HS không cẩn thận trong tính toán, không chú ý đến đơn vị đo của thời gian nên khi đưa vào công thức sai
- Hầu hết hoàn cảnh gia đình HS toàn là con nông dân Một vài em còn hoàn cảnh khó khăn: con hộ nghèo, cha mẹ đi làm xa ở với ông bà nên việc quan tâm đến việc học hành của các em còn nhiều hạn chế
- Một số GV còn truyền thụ (GV giảng – HS lắng nghe hay thầy hỏi – trò trả lời) làm cho HS ỉ lại, không phát huy tính tư duy sáng tạo
- GV còn chưa nghiên cứu để khai thác hết kiến thức, dạy máy móc, chưa chú trọng làm rõ bản thân toán học nên HS chỉ nhớ công thức và vận dụng công thức làm bài, chứ chưa có sự sáng tạo trong từng bài toán chuyển động đều cụ thể trong cuộc sống
Trang 5- GV chưa thực sự tìm tòi, sáng tạo trong việc vận dụng các phương pháp dạy học để tìm ra cách thích hợp nhất trong dạy học nói chung và dạy toán nói riêng
2 Số liệu điều tra
Căn cứ vào thực tế HS và những yêu cầu về kiến thức mà HS có thể đạt được, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng HS về khả năng giải bài toán dạng chuyển động đều của lớp 5 có kết quả như sau:
Lớp Sĩ số
Số bài làm Đạt Chưa đạt Số bài không làm
5C 32
65,6% 18,8%
5 15,6%
Từ kết quả trên tôi thấy khoảng 15,6% HS không làm được bài , khoảng 18,8% HS thực hiện được nhưng còn chậm (làm không hết bài) còn lại thì thực hiện được nhưng cũng chưa được thành thạo trong quá trình giải bài toán dạng chuyển động đều Qua đây ta thấy việc hướng dẫn HS thực hiện thành thạo các bài toán dạng chuyển động đều rất là quan trọng
III Nội dung và chương trình các bài toán dạng chuyển động đều ở lớp 5
Dạng bài toán chuyển động đều trong chương trình Toán lớp 5 được phân loại theo các dạng sau:
- Các bài toán giải bằng công thức đơn giản (Những bài toán áp dụng công thức các yếu tố đề cho đã tường minh, các bài toán áp dụng công thức có yếu tố đề cho chưa tường minh, bài toán dựa vào mối quan hệ quãng đường, vận tốc và thời gian)
Khoảng 70% các bài toán chuyển động đều trong SGK Toán lớp 5 thuộc dạng này Dạng này đề ra nhằm cho HS củng cố kiến thức đã học
- Các bài toán giải bằng công thức suy luận Đây là dạng toán nâng cao hơn, chuyển động của 2 động tử:
Trang 6+ Bài toán về 2 động tử chuyển động cùng chiều cùng thời điểm xuất phát + Bài toán về 2 động tử chuyển động cùng chiều không cùng thời điểm xuất phát
+ Bài toán về 2 động tử chuyển động ngược chiều cùng thời điểm xuất phát
+ Bài toán về 2 động tử chuyển động ngược chiều không cùng thời điểm xuất phát
+ Bài toán vật chuyển động trên dòng nước
+ Bài toán vật chuyển động có chiều dài đáng kể
Dạy học toán chuyển động đều trong chương trình Toán lớp 5 nhằm mục đích giúp HS:
+ Rèn luyện kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian
+ Nắm chắc kiến thức cơ bản, làm rõ bản chất mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường và thời gian
+ Nhận dạng các bài tập và phương pháp giải các bài tập của từng dạng + Nắm chắc các bước giải toán
IV Biện pháp hướng dẫn HS học các bài toán dạng chuyển động đều.
Biện pháp 1: Hướng dẫn và rèn luyện cho HS đổi đơn vị đo thời gian
Trong các bài toán chuyển động đều đều có sử dụng đến đơn vị đo thời gian Trước khi học về toán chuyển động, HS được biết về bảng đơn vị đo thời gian và cách đổi từ đơn vị bé đến đơn vị lớn, từ đơn vị lớn về đơn vị bé Ở phần này, HS cần nắm được mối quan hệ giữa các đơn vị đo cơ bản, các em phải tìm
tỉ số giữa 2 đơn vị cần đổi
VD 1: 2 giờ = phút
Hướng dẫn HS tìm tỉ số giữa giờ và phút, tỉ số đó là 1 giờ : 1 phút = 60
2 giờ = 2 x 60 = 120 phút
VD 2: 45 phút = giờ
HS cũng tìm tỉ số giữa giờ với phút là 60
45 phút = 45 : 60 = 0,75 giờ
Bên cạnh đó, HS cần nắm được cách đổi các đơn vị vận tốc
Trang 7- Cách đổi từ km/giờ sang km/phút, km/phút sang m/phút
VD: 150 km/giờ = km/phút = m/phút
+ Đổi từ km/ giờ sang km/phút
Ta biết tỉ số giữa giờ và phút là 60 Lấy 150 : 60 = 2,5
Vậy 150 km/giờ = 2,5 km/phút
Kết luận: Muốn đổi đơn vị từ km/giờ sang km/phút ta chỉ cần lấy số phải đổi
chia cho 60
+ Đổi từ km/giờ sang m/phút
VD: 2,5km/phút = m/phút
Tỉ số giữa 2 đơn vị km và m là 1000 Nên 2,5 x 1000 = 2500
Vậy 2,5 km/phút = 2500 m/phút
Kết luận: Khi muốn đổi đơn vị từ km/phút sang m/phút ta chí cần lấy số cần đổi
nhân với 1000
Vậy: 150 km/giờ = 2,5 km/phút =2500 m/phút
- Cách đổi đơn vị đo từ m/phút sang km/phút, sang km/giờ
VD: 2500 m/phút = km/phút = km/giờ
+ Tỉ số giữa km và m là 1000 nên ta có 2500 : 1000 =2,5
Vậy 2500 m/phút = 2,5 km/phút + Tỉ số giữa giờ và phút là 60 nên ta có 2,5 x 60 = 150
Vậy 2,5 km/phút = 150 km/giờ
Biện pháp 2: Hướng dẫn HS nắm vững chắc kiến thức cơ bản, biết được mối quan hệ giữa ba đại lượng vận tốc, quãng đường, thời gian
Để thực hiện được điều này thì trong quá trình dạy tôi chú trọng vào bản chất nội dung sau đó hướng dẫn HS tìm kiến thức và chốt kiến thức
Ngay từ đầu các bài toán chuyển động đều, HS được làm quen với khái niệm vận tốc Đây là một khái niệm khá mới mẻ và rất khó hiểu cho các em Do đó trong quá trình dạy, bằng các ví dụ trong SGK, tôi đã giúp HS hiểu được bản chất vận tốc chính là quãng đường đi được trong một thời gian tức là nếu đem chia quãng đường đi được cho số thời gian đi hết quãng đường đó thì được vận tốc trung bình của động tử
Trang 8Trong phần này tôi khắc sâu cho HS một số công thức và cách tính sau:
Vận tốc = Quãng đường : thời gian Quãng đường = Vận tốc x thời gian Thời gian = Quãng đường : vận tốc
Kí hiệu: v = s : t trong đó v là vận tốc, s là quãng đường, t là thời gian
Lưu ý:
- Đơn vị của vận tốc phụ thuộc vào đơn vị của quãng đường và thời gian
Chẳng hạn:
s → km s → m
v → km/giờ v → m/phút
t → giờ t → phút
- Đơn vị đo thời gian phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và vận tốc.
Chẳng hạn: s → km
t → giờ
v →km/giờ
- Đơn vị quãng đường phụ thuộc vào đơn vị vận tốc và thời gian.
Chẳng hạn: v→ km/giờ v → m/giờ
s → km s → m
t → giờ t → giờ
- Các đơn vị của đại lượng khi thay vào công thức phải tương ứng với nhau Số
đo thời gian khi thay vào công thức được viết dưới dạng số tự nhiên, số thập phân và phân số
Bên cạnh đó, tôi còn giúp HS nắm vững mối quan hệ giữa ba đại lượng vận tốc, quãng đường, thời gian
+ Khi đi cùng vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian (quãng đường càng dài thì thời gian càng nhiều)
VD: v = 40km/giờ, s = 80 km thì t = 80 : 40 = 2 giờ
v = 40km/giờ, s = 60km thì t = 60 : 40 = 1,5 giờ
Trang 9+ Khi đi cùng thời gian thì quảng đường tỉ lệ thuận với vận tốc (quãng đường càng dài thì vận tốc càng lớn)
+ Khi đi cùng quãng đường thì thời gian tỉ lệ nghịch với vận tốc (thời gian ngắn thì vận tốc nhanh và ngược lại)
Biện pháp 3: Hướng dẫn HS giải các bài toán theo dạng bài
Dạng 1: Chuyển động đều chỉ có một động tử
Đây là dạng bài toán đơn giản nhất HS chỉ việc áp dụng công thức vào làm bài Tuy là dạng bài đơn giản nhưng tôi cũng phải hướng dẫn HS như sau:
+ Đọc kĩ đề bài
+ Phân tích bài toán: Bài toán cho biết những gì? Bài toán yêu cầu gì? Làm thế nào để tìm đại lượng chưa biết và đại lượng đó tính theo đơn vị gì?
Qua trên HS có thể dễ dàng vận dụng công thức và tính
VD1: Một ô tô đi từ A đến B hết 5 giờ Biết quãng đường AB dài 120 km, tính
vận tốc ô tô đó đã đi?
Với bài này tôi yêu cầu HS được kĩ đề và trả lời các câu hỏi:
+ Bài toán cho biết gì? (Cho biết quãng đường là 150 km, thời gian đi hết
là 5 giờ)
+ Bài toán yêu cầu gì? (Yêu cầu tìm vận tốc ô tô đã đi)
Sau đó, GV tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thắng
s: 150km t : 5 giờ
A B
v = ?
+ Dựa vào công thức nào để tính vận tốc? (v = s : t)
+ Chúng ta đã biết quãng đường là 150 km, thời gian là 5 giờ, vậy làm thế nào để tính vận tốc? (lấy 150 : 5 = 30)
Bài giải:
Vận tốc của ô tô đó là:
150 : 5 = 30 (km/giờ) Đáp số: 30 km/giờ
Trang 10VD2: Một xe máy đi từ 6 giờ 30phút đến 7giờ 30phút đợc quãng đờng 40km.
Tính vận tốc của xe máy
Với bài nỏy ta cần hướng dẫn HS tỡm thời gian xe mỏy đi hết Hướng dẫn
HS lần lượt trả lời cỏc cõu hỏi sau:
+ Đề bài cho biết gỡ? Yờu cầu gỡ ?
+ Để tớnh vận tốc xe mỏy chỳng ta cần biết gỡ? (quóng đường, thời gian xe mỏy đi hết quóng đường đú)
+ Để tớnh thời gian xe mỏy đi ta phải làm thế nào? (Ta lấy thời gian đến trừ cho thời gian bắt đầu đi)
Túm tắt bài toỏn:
150km
A B
6 giờ 30 phỳt 7 giờ 30 phỳt
v = ?
* Trình bày bài giải
Giải Thời gian xe máy đi trên đờng là:
7 giờ 45 phút - 6 giờ 30 phút = 1 giờ 15 phút = 1
4
1 giờ =
4
5 giờ
Vận tốc xe máy đi đợc là:
40 : 4
5 = 32 km/giờ
Đáp số : 32 km/giờ.
Cỏch giải dạng toỏn đơn giản: Đọc kĩ đề bài, nắm vững cỏc yếu tố đó cho và
yờu tố cần tỡm, xỏc định cụng thức ỏp dụng Đặc biệt phải lưu ý đến đơn vị đo của cỏc đại lượng
Dạng 2: Dạng bài toỏn chuyển động đều cú hai động tử
Sau khi được làm quen với 3 đại lượng: vận tốc, quóng đường, thời gian,
HS biết cỏch tớnh một trong 3 đại lượng khi biết 2 đại lượng cũn lại dựa vào cụng thức Bờn cạnh đú, HS được làm quen với dạng bài toỏn về 2 động tử chuyển động cựng chiều đuổi nhau, chuyển động ngược chiều gặp nhau ở 2 tiết
Trang 11luyện tập chung Khi học giải 2 dạng bài toán này,tôi đã giúp HS rút ra các nhận xét quan trọng:
- Hai động tử chuyển động cùng chiều cùng xuất phát một lúc, ở cách nhau một quãng đường s thì thời gian để 2 chuyển động đuổi kịp nhau là:
tgn = s : (v1 - v2) ( tgn : thời gian 2 động tử đuổi kịp nhau)
A B
v1→ s v2→
VD1: Một người đi xe đạp từ B đến C với vận tốc 12km/giờ, cùng lúc đó một
người đi xe máy từ A cách B là 48km với vận tốc 36km/giờ và đuổi theo xe đạp Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ xe máy đuổi kịp xe đạp? (Bài 1/ trang 145 SGK)
Xe máy xe đạp
A B C
48km
Với dạng toán này, tôi hướng dẫn HS nhận dạng bài toán qua hệ thống câu hỏi:
+ Xác định xem bài toán có mấy động tử? (2 động tử đó là xe máy và xe đạp)
+ Hai động tử này chuyển động như thế nào với nhau? (chuyển động cùng chiều nhau)
+ Sau mỗi giờ thì mỗi xe đi được bao nhiêu km? (xe máy đi được 36km,
xe đạp đi được 12km)
+ Sau mỗi giờ, xe máy lại đi gần xe đạp bao nhiêu km? (36 – 12 = 24 km) + Mà quãng đường ban đầu hai xe cách nhau là bao nhiêu? (48km)
+ Vậy, muốn tính thời gian xe máy đuổi kịp xe đạp ta làm thế nào? (lấy
48 : 24)
Bài giải:
Sau mỗi giờ, xe máy gần xe đạp số km là:
36 – 12 = 24 (km)