1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn luật kinh tế nâng cao Nhận xét nhận định Các thương nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam được tự do thực hiện các hoạt động thương mại

11 372 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 26,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thương nhân nước ngoài được đặt Văn phòng đại diện, Chi nhánh tại Việt Nam; thành lập tại Việt Nam doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam quy định

Trang 1

Thảo Luận Luật Kinh Tế Nâng Cao

Nhóm 1 - QLKT

Danh sách nhóm:

1 Trần Xuân Bách

2 Mai Thị Ngọc Bích

3 Hà Thế Dương

4 Lê Thị Hương Giang

5 Phạm Thúy Hà

6 Dương Thị Thanh Hải

7 Lại Thị Thúy Hằng

8 Lê Bích Hằng

9 Từ Hồng Hạnh

Trang 2

Đề Tài Thảo Luận:

Nhận xét nhận định sau: Các thương nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam được tự do thực hiện các hoạt động thương mại như các thương nhân Việt Nam

Trang 3

I Những vấn đề về mặt luật pháp có lien quan đến nhận

định.

Ngày nay, đời sống kinh tế ngày càng được đẩy mạnh theo xu thế chung của thế giới là quốc tế hóa toàn cầu về mọi mặt Các nước đều phải thực hiện các chính sách nhằm tranh thủ vốn, khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý tiên tiến của nước

ngoài để từ đó thúc đẩy nền kinh tế của nước mình để bắt nhịp với nền kinh tế thế giới Do đó các hoạt động của các thương nhân ở nước ngoài ở các nước diễn ra khá sôi động nói chung và ở Việt Nam nói riêng Chính vì vậy, việc tìm hiểu các cơ chế hoạt động cũng như các quy định của luật pháp đối với các thương nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam có được tự do thực hiện các hoạt động thương mại như các thương nhân Việt Nam hay không là rất cần thiết để từ đó xây dựng được quy chế pháp lý đầy đủ nhằm đẩy mạnh nền kinh tế Việt Nam

Theo Luật Thương Mại 2005, thương nhânlà các tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật và các cá nhân tiến hành hoạt động thương mại có tính thường xuyên, độc lập và có đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước Chính vì phải

‘đăng ký kinh doanh”, nên về nguyên tắc, thương nhân không thể kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật cấm Chẳng hạn, một doanh nghiệp mua bán chất ma túy chắc chắn là vi phạm pháp luật và cũng không có cơ quan nào cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực mua bán chất ma túy Pháp luật Việt Nam quy định (Điều 10 Luật Thương Mại 2005) mọi thương nhân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại, không phân biệt thành phần kinh tế

Tuy nhiên, “lý thuyết” là vậy, chứ trên thực tế thương nhân (doanh nghiệp) Nhà nước ( dù tại thời điểm này không còn nhiều) vẫn thường được “ưu ái” và có những

“đặc quyền đặc lợi” hơn các doanh nghiệp tư nhân nhiều Với nguyên tắc “bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng”, luật Thương mại qui định trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, thương nhân có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách

Trang 4

nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ

mà mình kinh doanh

Nhắc tới thương nhân theo luật nước Việt Nam thì chúng ta cũng không thể chỉ nhắc tới thương nhân Việt Nam mà còn phải đề cập đến thương nhân nước ngoài có hoạt động thương mại ở Việt Nam bởi chính các thương nhân này góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy quan hệ ngoại giao, giao dịch, buôn bán hàng hóa quốc tế với các quốc gia khác trong khu vực cũng như trên quốc tế thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là thương nhân nước ngoài có Văn phòng đại diện, Chi nhánh tại Việt Nam Nếu thương nhân nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam thì doanh nghiệp này vẫn được xem là thương nhân Việt Nam chứ không phải là thương nhân nước ngoài ( Điều 16 Luật Thương Mại 2005)

Một số điều khoản trong luật thương mại 2015 liên quan đến thương nhân nước ngoài

 Khái niệm thương nhân nước ngoài.

Theo Điều 16 Luật thương mại 2005 VN đã quy định Thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam

1 Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận

2 Thương nhân nước ngoài được đặt Văn phòng đại diện, Chi nhánh tại Việt Nam; thành lập tại Việt Nam doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam quy định

3 Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam Thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về toàn bộ hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của mình tại Việt Nam

4 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thương nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì được coi là thương nhân Việt Nam

 Quyền của văn phòng đại diện

Theo Điều 17 Luật thương mại 2005 quy định Quyền của văn phòng đại diện

1 Hoạt động đúng mục địch, phạm vi, thời hạn được quy định trong giấy phép

2 Thuê trụ sở, nhà ở, thuê mua các phương tiện, vận dụng cần thiết cho hoạt động của văn phòng đại diện

Trang 5

3 Tuyển dụng người lao động là người Việt Nam, người nước ngoài đẻ làm việc tại văn phong đại diện theo quy định của pháp luật VN

4 Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Vn có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại VN và chỉ được phép sử dụng tài khoản này vào họa động của văn phòng đại diện

5 Nhập khẩu các vật dụng cần thiết cho hoạt động của văn phòng đại diện và phải nộp thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam

6 Có con dấu mang tên văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam

7 Các quyền khác theo quy định của pháp luật

 Quyền và nghĩa vụ của chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam:

Tại điều 19 luật thương mại 2015, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có những quyền sau:

1 Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Chi nhánh

2 Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam

3 Giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động được quy định trong giấy phép thành lập Chi nhánh và theo quy định của Luật này

4 Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam

5 Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

6 Có con dấu mang tên Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam

7 Thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại khác phù hợp với giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

8 Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Điều 20 Nghĩa vụ của Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

1 Thực hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật Việt Nam; trường hợp cần áp dụng chế độ kế toán thông dụng khác thì phải được Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chấp thuận

2 Báo cáo hoạt động của Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam

3 Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Trang 6

Điều 21 luật thương mại 2015 quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ức quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Việt Nam được tự do thực hiện các hoạt động thương mại như các thương nhân Việt Nam.”

1 Nhận xét

Điều này không đúng khi Thương nhân nước ngoài đặt văn phòng đại diện, chi

nhánh tại Việt Nam Theo khoản 1 điều 18 luật Thương mại 2005 thì văn phòng đại diện không được hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam và chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi mà luật này cho phép Ngoài ra không được giao kết hợp đồng, sửa đổi bổ sung hợp đồng đã giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng văn phòng đại diện có giấy ủy quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài

Điều này chỉ đúng khi thương nhân này thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là nước thành viên thì sẽ được coi là thương nhân Việt Nam

Cụ thể như sau : Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư 2005 định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại ViệtNam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại

Ngoài ra tại khoản 3, 4 điều 11 nghị định số 102/2010/NĐ-CP của chính phủ có quy định như sau:

- Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác, doanh nghiệp đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu

tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước

- Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác, doanh nghiệp đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư nước ngoài

Trang 7

2 Phân tích

Thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam dưới ba hình thức một chi chánh, một văn phòng đại diện hoặc một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

a) Văn phòng đại diện và chi nhánh của thương nhân nước ngoài

Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ đại diện

theo ủy quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ cho các lợi ích đó Tổ chức và

hoạt động của văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Còn chi nhánh là đơn

vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng đại diện theo ủy quyền Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải phù hợp với ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp Chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là hình thức hoạt động đơn giản nhất của thương nhân nước ngoài

đích sinh lợi, văn phòng đại diện không được thực hiện hoạt động kinh doanh sinh

lợi trực tiếp trong khái niệm về chi nhánh, văn phòng đại diện mà luật thương mại

2005 có nêu “Thực hiện các hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động thương mại khác phù hợp với giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” “ Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép” Theo đó chi nhánh được tiến hành theo mục đích sinh lợi vì chi nhánh của thương nhân nước ngoài được thành thành lập và hoạt động thương mại; Văn phòng đại diện không được trực tiếp tiến hành các hoạt động sinh lợi vì văn phòng đại diện thương nhân nước ngoài để nghiên cứu thị trường xúc tiến thương mại

Chi nhánh của thương nhân nước ngoài là đơn vị phụ thuộc hoạch toán độc lập.

Căn cứ vào quy định của luật quản lý thuế số 78 ngày 29/11/2006 và thông tư hướng dẫn số 85/2007 ngày 18/7/2007 hướng dẫn thi hành luật quản lý thuế về việc đăng ký thuế thì chỉ có chi nhánh thương nhân nước ngoài là một đơn vị phụ thuộc được cấp

mã số thuế là 10 số là mã được cấp cho người nộp thuế độc lập và đơn vị chính, còn với chi nhánh của một đơn vị khác trong nước thì dù lựa chọn hình thức hoạch toán

vì cũng đều cấp mã số thuế là 13 số dành cho các đơn vị trực thuộc

Trang 8

Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài không có chức năng đại diện cho thương nhân Đại diện cho thương nhân, như theo luật thương mại 2005 là việc một thương nhân ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó

và được hưởng thù lao về việc đại diện Đại diện cho thương nhân trong luật thương mại có những đặc điểm của dạng đại diện theo ủy quyền trong luật dân sự quan hệ đại diện xác lập trên nguyên tắc thỏa thuận, theo ý chí của các bên Nguyên tắc thỏa thuận theo ý chí giữa các bên có khi giữa hai chủ thể (bên đại diện và bên được đại diện) độc lập với nhau Trong khi đó, văn phòng đại diện là chủ thể được tạo lập bởi thương nhân nước ngoài, hay văn phòng đại diện thuộc thương nhân nước ngoài (thương nhân tạo lập) thì đặc điểm thỏa thuận, theo ý chí các bên là không thể có Vậy nếu văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài thừa ủy nhiệm của thương nhân nước ngoài (thông qua trưởng văn phòng đại diện) ký hợp đồng thay thương nhân nước ngoài thì mối quan hệ giữa văn phòng đại diện và thương nhân nước ngoài này không được xem là mối quan hệ theo ủy quyền

Theo luật thương mại 2005 văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài được thành lập với mục đích tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động thương mại Mặc dù văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài chỉ có chức năng văn phòng liên lạc; Xúc tiến việc xây dựng các dự án hợp tác ; nghiên cứu thị trường; Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các hợp đồng đã ký kết với các đối tác Việt Nam hoặc liên quan đến thị trường Việt Nam của thương nhân nước ngoài mà mình đại diện là không được ký kết các hợp đồng mua bán, kinh doanh sinh lợi nhưng văn phòng đại diện vẫn phải thực hiện những hoạt động thiết yếu nhằm duy trì bộ máy hoạt động như ký kết hợp đồng thuê trụ sở, thuê mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của văn phòng đại diện, tiễn dụng lao động làm việc trong văn phòng Chính vì vậy pháp luật nước ta cho phép văn phòng đại diện tự tiến hành ký kết các hợp đồng này Bên cạnh việc ký hợp đồng không có tính chất kinh doanh sinh lợi này, trưởng văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài cũng được pháp luật cho phép ký hợp đồng hợp tác kinh doanh có mục đích sinh lợi theo sự ủy quyền bằng văn bản của thương nhân nước ngoài Như vậy pháp luật Việt nam không hạn chế số lần ký kết của văn phòng đại diện nếu như đáp ứng điều kiện mỗi lần ký kết phải có sự ủy quyền bằng văn bản của thương nhân nước ngoài Quy định này phù hợp với thực tiễn của thương mại và hạn chế được tình trạng thương nhân nước ngoài

ủy quyền toàn diện cho văn phòng đại diện, theo đó văn phòng đại diện có thể ký kết

Trang 9

bất cứ hợp đồng nào với các doanh nghiệp Việt Nam cụ thể được quy định tại điều 17 luật thương mại 2005 là: Hoạt động đúng mục đích, phạm vi và thời hạn được quy định trong giấy phép thành lập Văn phòng đại diện Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Văn phòng đại diện Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của Văn phòng đại diện Có con dấu mang tên Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Văn phòng đại diện không được sử dụng tài khoản mở tại ngân hàng dùng cho hoạt động khác hoạt động của văn phòng đại diện; Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam; Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi mà luật cho phép; Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết của thương nhân nước ngoài; nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác; Nghĩa vụ báo cáo hoạt động theo quy định; Không được thực hiện chức năng làm đại diện cho thương nhân khác không được cho thuê lại trụ sở chi nhánh, trụ sở văn phòng đại diện; Không được thành lập văn phòng đại diện chi nhánh trực thuộc

So với quy định cũ, luật thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 72/2006NĐ- CP có điểm mới trong quy định về quyền và nghĩa vụ cho chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, đặt biệt đã quy định thêm thời hạn hoạt động tối đa của chi nhánh văn phòng là 05 năm thay vì không quy định như trước Hoàn thiện nhiều quy định như quy định rõ chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài không được thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện thay vì quy định văn phòng đại diện không được thành lập chi nhánh, chi nhánh không được thành lập văn phòng đại diện

Về nghĩa vụ tài chính của văn phòng đại diện: Văn phòng đại diện không làm báo cáo thuế mà chỉ làm báo cáo các vấn đề thu, chi, nhập xuất hàng Nói chung là các báo cáo trừ báo cáo thuế cho phía thương nhân tạo lập, và việc này chỉ theo dõi nội

bộ Sổ sách hình thức sổ sách hoạch toán cũng phụ thuộc vào phía thương nhân tạo lập Cụ thể luật quy định như sau: Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi

mà Luật này cho phép Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã

Trang 10

giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng Văn phòng đại diện có giấy uỷ quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 17 của luật thương mại 2005 Nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam Báo cáo hoạt động của Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam Các nghĩa

vụ khác theo quy định của pháp luật

b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nếu thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài thì hoạt động của những doanh nghiệp này phải hoàn toàn tuân thủ theo pháp luật Việt Nam, thậm chí những doanh nghiệp này còn có những tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp Việt Nam Chính tư cách pháp nhân của doanh nghiệp này đã không cho phép thương nhân nước ngoài được tham gia vào hoạt động của loại hình mà mình đã tạo lập Điều này cũng có nghĩa là những doanh nghiệp này hoạt động độc lập với chủ thể tạo lập nó

Thương nhân có thể thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp liên doanh để hoạt động thương mại tại Việt Nam nhưng điều kiện và thủ tục thành lập sẽ khó khăn, phức tạp hơn so với hình thức chi nhánh hay văn phòng đại diện

Điều kiện để doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa tại Việt Nam là hình thức đầu tư phải phù hợp với lộ trình đã cam kết trong các điều ước quốc tế mà nước Việt Nam là thành viên và phù hợp với pháp luật Việt Nam; phù hợp với cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam và

có đầu tư vào hoạt động mua bán hàng hóa, các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa thì nộp hồ sơ để làm thủ tục đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư sẽ lấy ý kiến của Bộ thương mại và chỉ cấp giấy chứng nhận đầu tư vào hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa nếu được Bộ thương mại chấp nhận bằng văn bản

Ngày 1/10/2010 chính phủ đã ban hành nghị định số 102/2010/NĐ-CP đã thay đổi một số quy định về việc đối xử với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.hiện tại với những doanh nghiệp được thành lập mà có số vốn đầu tư nước ngoài không quá 49% thì vẫn sẽ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước Còn nếu doanh nghiệp đó có sở hữu số vốn đầu tư nước ngoài trên 49%

Ngày đăng: 28/04/2016, 19:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w