1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam

247 326 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 247
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Trong chương này, tác giả trình bày những khía cạnh trọng tâm của đề tài bao gồm cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và cấu trúc của đề tài nghiên cứu. 1.1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Quản lý chất lượng đào tạo là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp quản trị nhằm quản lý hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội. Theo cách tiếp cận hệ thống, chất lượng đào tạo được hiểu là chất lượng của các yếu tố cấu thành nên hoạt động này và chất lượng của các yếu tố này phải được xem xét trong một hoàn cảnh cụ thể. Có thể nói, đây chính là quan điểm “Context – Input – Process – Output” (CIPO), tạm dịch là “Bối cảnh cụ thể – Đầu vào – Quá trình – Đầu ra” do Scheerens (1990) phát triển khi xem xét chất lượng đào tạo (CLĐT) của trường đại học nói chung và ở các trường đại học công lập (ĐHCL) nói riêng. Khi xem xét chất lượng đào tạo của các trường đại học nói chung và ở các trường ĐHCL nói riêng chính là xem xét chất lượng của các yếu tố cấu thành nên hệ thống đào tạo trong một bối cảnh cụ thể (Context – C) bao gồm: Đầu vào (Input – I), Quá trình (Process – P), Đầu ra (Output – O). Nghĩa là muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì chúng ta cần phải nâng cao chất lượng của của các yếu tố cấu thành nên hệ thống đào tạo. Mô hình CIPO cho thấy các hoạt động này có thể sắp xếp thành một khung gồm 3 thành phần: đầu vào (I), quá trình (P), đầu ra (O), và các yếu tố này được xem xét trong một bối cảnh cụ thể (C) như được mô tả trong Hình 1.1. Như vậy, có thể thấy rằng trong hệ thống đào tạo thì tài chính là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định chất lượng đào tạo. Việc đảm bảo yếu tố tài chính hợp lý sẽ góp phần đảm bảo đầy đủ cho công tác xây dựng cơ sở vật chất (phòng học, thư viện, nhà thi đấu…); mua sắm máy móc trang thiết bị, giáo trình cho đào tạo; thu hút và giữ chân đội ngũ giảng viên giỏi; xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học đối với giảng viên và sinh viên cũng như hoạt động chuyển giao công nghệ của nhà trường đối với xã hội; tăng cường liên kết với các trường đại học – cao đẳng có uy tín trên thế giới (Phạm Thị Thuý Hồng, 2013). Hình 1.1: Khung phân tích CIPO Nguồn: Phạm Thị Thuý Hồng (2013) Để yếu tố tài chính đáp ứng được các mục tiêu trên thì cần phải có một cơ chế tài chính phù hợp nhằm tạo điều kiện cho các trường ĐHCL được chủ động hơn, sáng tạo hơn trong việc huy động và sử dụng các nguồn tài chính đáp ứng yêu cầu đào tạo trong bối cảnh mới (Phạm Thị Thuý Hồng, 2013). Như vậy, với những luận cứ trên có thể nói rằng giữa cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo có mối quan hệ với nhau. Yếu tố tài chính dưới sự điều tiết của một cơ chế phù hợp sẽ đóng vai trò là yếu tố đầu vào và chất lượng đào tạo sẽ đóng vai trò đầu ra. Nếu đầu vào tốt thì sẽ góp phần tạo ra đầu ra có chất lượng. Nghĩa là muốn chất lượng đào tạo được đảm bảo, nâng cao (thể hiện qua yếu tố Output) thì yếu tố tài chính hoạt động dựa trên một cơ chế phù hợp phải được đảm bảo (thể hiện qua yếu tố Input). Do tầm quan trọng của cơ chế tài chính và ảnh hưởng của cơ chế tài chính đến chất lượng đào tạo, sự cần thiết phải cải cách cơ chế tài chính ở các trường ĐHCL đã trở thành một chủ đề trọng tâm gây tranh cải trong các cuộc thảo luận Bối cảnh cụ thể (Context) - Đào tạo phải gắn với và đáp ứng nhu cầu xã hội - Cạnh tranh ngày càng lớn giữa các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước - Yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo để rút ngắn khoảng cách đối với các trường đại học trong khu vực và thế giới Đầu vào (Input) - Tuyển sinh - Đội ngũ - Chương trình - Tài chính Quá trình (Process) - Mục tiêu đào tạo - Kế hoạch đào tạo - Hình thức đào tạo - Nội dung đào tạo - Phương pháp đào tạo Đầu ra (Output) - Người học khỏe mạnh - Có động cơ học tập - Chất lượng đào tạo tốt chính sách của Chính phủ ở các nước phát triển và đang phát triển trong những năm gần đây. Một số nhà khoa học (Jongbloed, 2000b; Zhao, 2001; Cleveland-Innes, 2010; Teixeira và Koryakina, 2011) cho rằng cuộc khủng hoảng trong cấu trúc và quản trị ở các trường đại học có liên quan đến chất lượng đào tạo và trách nhiệm của việc sử dụng kinh phí công. Ở các nước phát triển, kết quả cải cách cơ chế tài chính sâu rộng đã cho thấy nhiều cải thiện đáng kể trong việc thực hiện hệ thống tài chính của mình và kinh nghiệm đó được thừa hưởng bởi các nước đang phát triển. Các nhà quản lý ở các nước đang phát triển có thể tuân theo và bắt đầu theo dõi sự thành công hay thất bại của hệ thống giáo dục ĐHCL hiện có của họ về cơ chế tài chính cũng như kinh phí tài trợ của Nhà nước cho hệ thống ĐHCL. Thật vậy, với mong muốn nâng cao hiệu quả và hiệu suất tài trợ cho các trường ĐHCL nhằm thúc đẩy lợi ích lâu dài trong phát triển kinh tế dẫn đến việc xây dựng nhiều cải cách chính sách giáo dục ở các nước nói chung. Một ưu tiên quan trọng của chính sách công là để đảm bảo rằng các trường ĐHCL đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội nói chung, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa thị trường như hiện nay cũng như vai trò quan trọng của nền kinh tế tri thức (Macerinskiene và Vaiksnoraite, 2006). Theo Newman và các cộng sự (2004), điều này đóng vai trò rất quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào để có một hệ thống giáo dục ĐHCL tốt nhằm cải thiện kết quả học tập, sử dụng trang thiết bị và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Hơn nữa, một số tác giả khác (Moja, 2007; Choban và các cộng sự, 2008) cũng cho rằng quản lý GDĐH đã trở thành một vấn đề phức tạp và đầy thách thức do toàn cầu hóa thị trường giáo dục và nhu cầu ngày càng tăng của công chúng. Do đó, các trường ĐHCL phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc mở rộng và phát triển hoạt động của mình bởi nhiều chính phủ trên toàn thế giới đang trở nên nghiêm ngặt và thắt chặt chi tiêu hơn trong đầu tư công vì kinh phí cho phát triển và cạnh tranh toàn cầu ngày càng lớn hơn. Salmi và Hauptman (2009) khẳng định nguồn lực Chính phủ dành phân bổ cho các trường ĐHCL hiện nay là không đủ. Hơn nữa, nghiên cứu của Lebeau và các cộng sự (2011) cũng cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã góp phần làm tăng áp lực cho tài trợ các trường ĐHCL ở hầu hết các nước trên thế giới. Điển hình, Postiglione (2011) cho rằng việc phân bổ kinh phí cho các trường ĐHCL đã giảm trong thời gian suy giảm kinh tế ở Thái Lan, Philippines và Malaysia. Tại Nhật Bản, hai tác giả Ko và Osamu (2010) lập luận rằng, các trường ĐHCL ở Nhật đang bị áp lực bởi toàn cầu hóa thị trường, cắt giảm tài trợ của Chính phủ, nhu cầu xã hội và số lượng sinh viên bị cắt giảm. Do đó, các trường ĐHCL đã được chỉ thị phải tìm kiếm các nguồn tài chính thay thế để lấp đầy khoảng trống trong tài trợ kinh phí từ Chính phủ Nhật (Jongbloed, 2004; Lepori và các cộng sự, 2007; Teixeira và Koryakina, 2011). Chính phủ trợ cấp thấp, sự chênh lệch kinh phí ước tính trở thành một yếu tố quan trọng dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong các trường ĐHCL. Các trường ĐHCL phải đối mặt với các vấn đề như cắt giảm tài trợ của Chính phủ (Roger, 1995; Liefner, 2003; Altbach, 2007; Orr và các cộng sự, 2007), các bên liên quan đòi hỏi hiệu quả cao hơn (Massy, 2004), trách nhiệm hơn trong quản lý ngân sách (Alexander, 2000; Hines, 2000) và chi phí tăng liên tục trong các hoạt động giáo dục (Johnstone, 2004). Các thách thức trên đã mang lại phản ứng tích cực từ các trường ĐHCL, nơi được cam kết cải cách và tái cơ cấu hệ thống trở nên cạnh tranh hơn. Kết quả là, giáo dục ĐHCL đang đối mặt với những thách thức tài trợ trong việc duy trì chất lượng đào tạo.

Trang 1

PHAN HỒNG HẢI

TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ TÀI CHÍNH

ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MĂ SỐ: 62.34.02.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH

TP HỒ CHÍ MINH, 2016

Trang 2

TÓM TẮT LUẬN ÁN

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam Qua đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao sự đáp ứng kỳ vọng của người học về chất lượng đào tạo thông qua cơ chế tài chính và một số giải pháp khác Đề tài sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội với các biến độc lập là cơ chế tài chính và các biến kiểm soát là chất lượng đào tạo được chấp nhận bởi Parasuraman và các cộng sự (1985); dựa trên quan điểm hiện đại về chất lượng đào tạo được đề xuất bởi Patrinos và các cộng

sự (2013), Johnstone và các cộng sự (1998) Dữ liệu sử dụng nghiên cứu là 950 số quan sát được thu thập từ 33 trường đại học công lập ở Việt Nam trong năm 2013

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhân tố cơ chế tài chính của nhà trường tương quan thuận với mức độ đáp ứng kỳ vọng của người học về chất lượng đào tạo của đại học công lập có Beta bằng 0,270 với mức ý nghĩa 5% Cả 3 yếu tố trong thành phần cơ chế tài chính đều có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng kỳ vọng của người học về chất lượng đào tạo của đại học công lập bao gồm: (1) Đảm bảo sự phân bổ, sử dụng tài chính hợp lý, minh bạch và hiệu quả cho các bộ phận và các hoạt động của trường đại học; (2) Công tác lập kế hoạch tài chính và quản lý tài chính trong nhà trường được chuẩn hoá, công khai hoá, minh bạch và theo quy định; (3) Nhà trường có những giải pháp và kế hoạch tự chủ về tài chính, tạo được các nguồn tài chính hợp pháp, đáp ứng các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của trường đại học Trong đó, cần đặc biệt chú trọng đến khía cạnh đảm bảo sự phân bổ, sử dụng tài chính hợp lý, minh bạch và hiệu quả cho các bộ phận và các hoạt động của trường đại học Ngoài ra, 4 nhân tố khám phá khác bao gồm: Tài sản hữu hình; Tính cập nhật và dễ tiếp nhận;

Sự đáp ứng; và Sự đảm bảo đều có ảnh hưởng cùng chiều lên chất lượng đào tạo của các trường đại học công lập Việt Nam với các hệ số Beta lần lượt là: 0,152; 0,150; 0,173 và 0,332

Trang 3

Dựa trên kết quả nghiên cứu và đánh giá thực trạng cơ chế tài chính của đại học công lập ở Việt Nam, các giải pháp được luận án đề xuất bao gồm: Các giải pháp vĩ mô như tăng quyền tự chủ, hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý về cơ chế tài chính, đảm bảo sự phân bổ ngân sách Nhà nước hiệu quả cho các trường đại học công lập; Các giải pháp vi mô đó là các trường đại học công lập cần chủ động nhằm tìm ra những giải pháp và kế hoạch tự chủ tài chính phù hợp, nâng cao tính minh bạch, công khai và chuẩn hóa theo quy định và tăng cường sự phân bổ, sử dụng hiệu quả nguồn tài chính Bên cạnh đó, một số giải pháp khác có liên quan cũng được đề cập trong luận án đó là tài sản hữu hình; tính cập nhật và dễ tiếp nhận; sự đáp ứng;

và sự đảm bảo

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Luận án tiến sĩ này được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng thành phố

Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Định Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy về định hướng khoa học và luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành cuốn luận án

Nghiên cứu sinh xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, tác giả các công trình công bố đã trích dẫn trong luận án vì đã cung cấp nguồn tư liệu quý báu, những kiến thức liên quan trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận án

Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trường, Hội đồng Tiến sĩ của Trường, Phòng Đào tạo sau đại học và Khoa Kế toán – Kiểm toán vì đã tạo điều kiện để nghiên cứu sinh được thực hiện và hoàn thành chương trình nghiên cứu của mình

Cuối cùng là sự biết ơn của Nghiên cứu sinh tới Lãnh đạo Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, những đồng nghiệp, bạn thân thiết và gia đình đã liên tục động viên để duy trì nghị lực, sự cảm thông, chia sẻ về thời gian trong suốt quá trình hoàn thành luận án

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG x

DANH MỤC HÌNH xii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 6

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

1.6 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 7

1.7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 7

1.8 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 8

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

2.1 CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 11

2.2 CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 42

2.2.1 Các khái niệm 42

2.2.1.1 Khái niệm về chất lượng 42

2.2.1.2 Khái niệm về chất lượng trong giáo dục đại học 44

2.2.2 Thành phần chất lượng dịch vụ và chất lượng đào tạo 46

2.2.2.1 Thành phần chất lượng dịch vụ 46

2.2.2.2 Thành phần chất lượng đào tạo 49

2.2.3 Đo lường thành phần chất lượng đào tạo 54

2.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 67

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 67

3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ 69

Trang 6

3.1.1.1 Xây dựng thang đo 69

3.1.1.2 Xây dựng bảng câu hỏi điều tra 75

3.1.2 Nghiên cứu chính thức 75

3.1.2.1 Mẫu nghiên cứu 75

3.1.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 75

3.1.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 76

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 80

3.2.1 Khung phân tích 80

3.2.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

CHƯƠNG 4: TỔNG QUAN THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 90

4.1 HỆ THỐNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 90

4.1.1 Lịch sử hình thành trường đại học công lập tại Việt Nam 90

4.1.2 Phân loại trường đại học công lập tại Việt Nam 93

4.1.2.1 Phân loại trường đại học công lập theo vùng miền 93

4.1.2.2 Phân loại trường đại học công lập theo ngành nghề 95

4.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 97

i4.2.1 Mức độ tự chủ tài chính của trường đại học 98

4.2.2 Trách nhiệm giải trình và tính công bằng trong việc tạo lập và sử dụng nguồn tài chính của trường đại học 101

4.2.3 Hiệu quả tài chính của trường đại học 105

4.2.3.1 Khả năng đa dạng hóa nguồn tài chính của trường đại học 105

4.2.3.2 Suất chi phí đào tạo của trường đại học công lập 106

4.2.3.3 Chi phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học và xây dựng cơ bản còn ở mức thấp 108

4.2.3.4 Số sinh viên quy đổi trên một giảng viên 110

4.3 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ 111

Trang 7

4.3.1 Cơ chế quản lý của Nhà nước thiếu tính linh hoạt và hiệu quả 111

4.3.2 Năng lực hoạt động của các trường còn thấp 114

4.3.3 Các trường chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn 116

4.3.4 Quan hệ thị trường trong lĩnh vực đào tạo chưa phát triển 116

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 118

CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 119

5.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 119

5.1.1 Phân tích đặc điểm mẫu 119

5.1.1.1 Cơ cấu mẫu theo khu vực trường đại học 119

5.1.1.2 Cơ cấu mẫu theo giới tính 120

5.1.1.3 Cơ cấu mẫu theo độ tuổi 120

5.1.1.4 Cơ cấu mẫu theo đối tượng khảo sát 121

5.1.2 Phân tích các yếu tố đánh giá hiệu quả cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo 121

5.1.2.1 Mức độ hiệu quả của cơ chế tài chính 121

5.1.2.2 Mức độ đáp ứng kỳ vọng của người học về chất lượng đào tạo của người học 124

5.2 KẾT QUẢ HỒI QUY TUYẾN TÍNH BỘI 125

5.2.1 Phân tích phương sai 125

5.2.2 Kiểm định chất lượng của thang đo 129

5.2.3 Phân tích nhân tố khám phá 133

5.2.4 Ước lượng mô hình hồi quy bội 140

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 148

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 150

6.1 KẾT LUẬN 150

6.2 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM 151

6.2.1.Mục tiêu, định hướng phát triển các trường đại học công lập tại Việt Nam 151

Trang 8

6.2.1.1 Mục tiêu phát triển các trường đại học công lập 151

6.2.1.2 Định hướng phát triển các trường đại học công lập 152

6.2.2 Định hướng đổi mới cơ chế tài chính các trường đại học công lập 153

6.2.2.1 Đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tạo lập môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế 153

6.2.2.2 Giao quyền tự chủ tài chính ở mức độ cao cho các trường đại học công lập, gắn việc mở rộng quyền tự chủ tài chính với tự chịu trách nhiệm 154

6.2.2.3 Gắn đổi mới cơ chế tài chính với đổi mới các quy trình khác để tạo ra tính đồng bộ, tính hiệu quả, tính khả thi của cơ chế tài chính 155

6.2.2.4 Đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho người học 156

6.3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 156

6.3.1 Nhóm các giải pháp về cơ chế tài chính 156

6.3.1.1 Giải pháp vĩ mô 156

6.3.1.2 Nhóm giải pháp vi mô 164

6.3.2 Các giải pháp hỗ trợ 172

6.3.2.1 Tăng cường đầu tư cơ cở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy học 172 6.3.2.2 Tăng cường khả năng cập nhật và dễ tiếp nhận 175

6.3.2.3 Tăng cường khả năng đáp ứng cho người học 177

6.3.2.4 Tăng cường khả năng đảm bảo cho người học 178

6.4 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 184

KẾT LUẬN CHƯƠNG 6 186

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ 187

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 188

PHỤ LỤC 207

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cung cấp bằng chứng về cải cách quyền tự chủ của một số nước 63

Bảng 3.1: Số biến quan sát trong mô hình nghiên cứu 70

Bảng 3.2: Thang đo thành phần “Cơ chế tài chính” ĐHCL Việt Nam 70

Bảng 3.3: Thang đo thành phần “Chất lượng đào tạo” ĐHCL VN 71

Bảng 3.4: Thang đo thành phần “Phương tiện hữu hình” ĐHCL Việt Nam 71

Bảng 3.5: Thang đo thành phần “Độ tin cậy” ĐHCL Việt Nam 72

Bảng 3.6: Thang đo thành phần “Đáp ứng” ĐHCL Việt Nam 73

Bảng 3.7: Thang đo thành phần “Đảm bảo” ĐHCL Việt Nam 74

Bảng 3.8: Thang đo thành phần “Đồng cảm” ĐHCL Việt Nam 74

Bảng 3.9: Mô tả các biến 83

Bảng 4.1: Số lượng các trường đại học và cao đẳng qua các năm 92

Bảng 4.2: Chi phí đào tạo tính theo đầu sinh viên 107

Bảng 4.3: Chi phí đơn vị hợp lý tính trên đầu sinh viên năm 2012 108

Bảng 5.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 120

Bảng 5.2: Cơ cấu mẫu theo giới tính 120

Bảng 5.3: Cơ cấu mẫu theo độ tuổi 120

Bảng 5.4: Cơ cấu mẫu theo đối tượng khảo sát 121

Bảng 5.5: Thống kê mô tả về đánh giá cơ chế tài chính 121

Bảng 5.6: Thống kê mô tả mức độ đáp ứng kỳ vọng của người học về chất lượng đào tạo 124

Bảng 5.7: Kết quả kiểm định ANOVA đánh giá giới tính ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng kỳ vọng của người học chung về chất lượng đào tạo 126

Bảng 5.8: Kết quả kiểm định ANOVA đánh giá độ tuổi ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng kỳ vọng của người học chung về chất lượng đào tạo 127 Bảng 5.9: Kết quả kiểm định ANOVA đánh giá nhóm đối tượng nghiên cứu ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng kỳ vọng của người học chung về chất lượng đào tạo 128

Trang 11

Bảng 5.10: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thành phần đối với thang đo cơ

chế tài chính và các biến kiểm soát chất lượng đào tạo của ĐHCL 129

Bảng 5.11: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thành phần đối với thang đo cơ chế tài chính và các biến kiểm soát chất lượng đào tạo của ĐHCL sau điều chỉnh131 Bảng 5.12: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha đối với thang đo sự đáp ứng kỳ vọng của người học về chất lượng đào tạo của ĐHCL 133

Bảng 5.13: Tổng phương sai được giải thích lần 2 (Total Variance Explained) 134

Bảng 5.14: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần 2 135

Bảng 5.15: Kết quả thang đo mức độ đáp ứng kỳ vọng của người học về chất lượng đào tạo 138

Bảng 5.16: Ma trận xoay nhân tố 138

Bảng 5.17: Kết quả kiểm định hệ số hồi quy và đa cộng tuyến 142

Bảng 5.18: Kết quả kiểm định tự tương quan nhiễu 143

Bảng 5.19: Kết quả ước lượng mô hình 143

Bảng 5.20: Kết quả kiểm định tự tương quan nhiễu mô hình đại diện thành phần 144 Bảng 5.21: Kết quả kiểm định hệ số hồi quy và đa cộng tuyến mô hình đại diện thành phần 144

Bảng 5.22: Kết quả ước lượng mô hình đại diện thành phần 145

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Khung phân tích CIPO 2

Hình 2.1 Các nguồn tài chính của đại học công lập 26

Hình 2.2 Mối quan hệ giữa cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo 36

Hình 2.3: Khung chất lượng giáo dục truyền thống 52

Hình 2.4: Phương pháp tiếp cận hợp nhất về chất lượng giáo dục 6AS 53

Hình 2.5: Các khoảng cách của chất lượng đào tạo 56

Hình 3.2: Khung phân tích 81

Hình 4.1: Số lượng các trường đại học và cao đẳng 93

Hình 4.2: Cơ cấu các trường đại học và cao đẳng công lập theo vùng miền 93

Hình 4.3: Đội ngũ giảng viên cơ hữu các trường đại học và cao đẳng 94

Hình 4.4: Cơ cấu lượng sinh viên các trường công lập phân theo ngành 95

Hình 4.5 Cơ cấu các trường đại học – cao đẳng chia theo ngành 97

Hình 4.6 Mức độ tự chủ của các trường đại học công lập 98

Hình 4.7 Mức độ tự chủ về cơ chế tài chính của trường ĐHCL 99

Hình 4.8 Trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập 102

Hình 4.9 Cơ cấu nguồn thu ngoài ngân sách của các trường ĐHCL 106

Hình 4.10 Cơ cấu các khoản chi của ĐHCL 109

Hình 4.11 Số sinh viên quy đổi trên một giảng viên 110

Hình 5.1: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh 139

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Trong chương này, tác giả trình bày những khía cạnh trọng tâm của đề tài bao gồm cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và cấu trúc của đề tài nghiên cứu

1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Quản lý chất lượng đào tạo là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp quản trị nhằm quản lý hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội Theo cách tiếp cận hệ thống, chất lượng đào tạo được hiểu là chất lượng của các yếu tố cấu thành nên hoạt động này và chất lượng của các yếu tố này phải được xem xét trong một hoàn cảnh cụ thể Có thể nói, đây chính là quan điểm “Context – Input – Process – Output” (CIPO), tạm dịch là “Bối cảnh cụ thể – Đầu vào – Quá trình – Đầu ra” do Scheerens (1990) phát triển khi xem xét chất lượng đào tạo (CLĐT) của trường đại học nói chung và ở các trường đại học công lập (ĐHCL) nói riêng

Khi xem xét chất lượng đào tạo của các trường đại học nói chung và ở các trường ĐHCL nói riêng chính là xem xét chất lượng của các yếu tố cấu thành nên

hệ thống đào tạo trong một bối cảnh cụ thể (Context – C) bao gồm: Đầu vào (Input – I), Quá trình (Process – P), Đầu ra (Output – O) Nghĩa là muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì chúng ta cần phải nâng cao chất lượng của của các yếu tố cấu thành nên hệ thống đào tạo

Mô hình CIPO cho thấy các hoạt động này có thể sắp xếp thành một khung gồm 3 thành phần: đầu vào (I), quá trình (P), đầu ra (O), và các yếu tố này được xem xét trong một bối cảnh cụ thể (C) như được mô tả trong Hình 1.1 Như vậy, có thể thấy rằng trong hệ thống đào tạo thì tài chính là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định chất lượng đào tạo Việc đảm bảo yếu tố tài chính hợp lý sẽ góp phần đảm bảo đầy đủ cho công tác xây dựng cơ sở vật chất (phòng học, thư viện, nhà thi đấu…); mua sắm máy móc trang thiết bị, giáo trình cho đào tạo; thu hút và giữ chân đội ngũ giảng viên giỏi; xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến, thúc đẩy hoạt động nghiên

Trang 14

cứu khoa học đối với giảng viên và sinh viên cũng như hoạt động chuyển giao công nghệ của nhà trường đối với xã hội; tăng cường liên kết với các trường đại học –

cao đẳng có uy tín trên thế giới (Phạm Thị Thuý Hồng, 2013)

Hình 1.1: Khung phân tích CIPO

Nguồn: Phạm Thị Thuý Hồng (2013)

Để yếu tố tài chính đáp ứng được các mục tiêu trên thì cần phải có một cơ chế tài chính phù hợp nhằm tạo điều kiện cho các trường ĐHCL được chủ động hơn, sáng tạo hơn trong việc huy động và sử dụng các nguồn tài chính đáp ứng yêu cầu đào tạo trong bối cảnh mới (Phạm Thị Thuý Hồng, 2013) Như vậy, với những luận cứ trên có thể nói rằng giữa cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo có mối quan

hệ với nhau Yếu tố tài chính dưới sự điều tiết của một cơ chế phù hợp sẽ đóng vai trò là yếu tố đầu vào và chất lượng đào tạo sẽ đóng vai trò đầu ra Nếu đầu vào tốt thì sẽ góp phần tạo ra đầu ra có chất lượng Nghĩa là muốn chất lượng đào tạo được đảm bảo, nâng cao (thể hiện qua yếu tố Output) thì yếu tố tài chính hoạt động dựa trên một cơ chế phù hợp phải được đảm bảo (thể hiện qua yếu tố Input)

Do tầm quan trọng của cơ chế tài chính và ảnh hưởng của cơ chế tài chính đến chất lượng đào tạo, sự cần thiết phải cải cách cơ chế tài chính ở các trường ĐHCL đã trở thành một chủ đề trọng tâm gây tranh cải trong các cuộc thảo luận

Bối cảnh cụ thể (Context)

- Đào tạo phải gắn với và đáp ứng nhu cầu xã hội

- Cạnh tranh ngày càng lớn giữa các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước

- Yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo để rút ngắn khoảng cách đối với các trường đại học trong khu vực và thế giới

Đầu vào (Input)

- Mục tiêu đào tạo

- Kế hoạch đào tạo

- Hình thức đào tạo

- Nội dung đào tạo

- Phương pháp đào tạo

Trang 15

chính sách của Chính phủ ở các nước phát triển và đang phát triển trong những năm gần đây Một số nhà khoa học (Jongbloed, 2000b; Zhao, 2001; Cleveland-Innes, 2010; Teixeira và Koryakina, 2011) cho rằng cuộc khủng hoảng trong cấu trúc và quản trị ở các trường đại học có liên quan đến chất lượng đào tạo và trách nhiệm của việc sử dụng kinh phí công Ở các nước phát triển, kết quả cải cách cơ chế tài chính sâu rộng đã cho thấy nhiều cải thiện đáng kể trong việc thực hiện hệ thống tài chính của mình và kinh nghiệm đó được thừa hưởng bởi các nước đang phát triển Các nhà quản lý ở các nước đang phát triển có thể tuân theo và bắt đầu theo dõi sự thành công hay thất bại của hệ thống giáo dục ĐHCL hiện có của họ về cơ chế tài chính cũng như kinh phí tài trợ của Nhà nước cho hệ thống ĐHCL Thật vậy, với mong muốn nâng cao hiệu quả và hiệu suất tài trợ cho các trường ĐHCL nhằm thúc đẩy lợi ích lâu dài trong phát triển kinh tế dẫn đến việc xây dựng nhiều cải cách chính sách giáo dục ở các nước nói chung Một ưu tiên quan trọng của chính sách công là để đảm bảo rằng các trường ĐHCL đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội nói chung, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa thị trường như hiện nay cũng như vai trò quan trọng của nền kinh tế tri thức (Macerinskiene và Vaiksnoraite, 2006) Theo Newman và các cộng sự (2004), điều này đóng vai trò rất quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào để có một hệ thống giáo dục ĐHCL tốt nhằm cải thiện kết quả học tập, sử dụng trang thiết bị và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Hơn nữa, một số tác giả khác (Moja, 2007; Choban và các cộng sự, 2008) cũng cho rằng quản lý GDĐH đã trở thành một vấn đề phức tạp và đầy thách thức do toàn cầu hóa thị trường giáo dục và nhu cầu ngày càng tăng của công chúng Do đó, các trường ĐHCL phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc mở rộng và phát triển hoạt động của mình bởi nhiều chính phủ trên toàn thế giới đang trở nên nghiêm ngặt

và thắt chặt chi tiêu hơn trong đầu tư công vì kinh phí cho phát triển và cạnh tranh toàn cầu ngày càng lớn hơn Salmi và Hauptman (2009) khẳng định nguồn lực Chính phủ dành phân bổ cho các trường ĐHCL hiện nay là không đủ Hơn nữa, nghiên cứu của Lebeau và các cộng sự (2011) cũng cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã góp phần làm tăng áp lực cho tài trợ các trường ĐHCL ở hầu hết

Trang 16

các nước trên thế giới Điển hình, Postiglione (2011) cho rằng việc phân bổ kinh phí cho các trường ĐHCL đã giảm trong thời gian suy giảm kinh tế ở Thái Lan, Philippines và Malaysia Tại Nhật Bản, hai tác giả Ko và Osamu (2010) lập luận rằng, các trường ĐHCL ở Nhật đang bị áp lực bởi toàn cầu hóa thị trường, cắt giảm tài trợ của Chính phủ, nhu cầu xã hội và số lượng sinh viên bị cắt giảm Do đó, các trường ĐHCL đã được chỉ thị phải tìm kiếm các nguồn tài chính thay thế để lấp đầy khoảng trống trong tài trợ kinh phí từ Chính phủ Nhật (Jongbloed, 2004; Lepori và các cộng sự, 2007; Teixeira và Koryakina, 2011) Chính phủ trợ cấp thấp, sự chênh lệch kinh phí ước tính trở thành một yếu tố quan trọng dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong các trường ĐHCL Các trường ĐHCL phải đối mặt với các vấn đề như cắt giảm tài trợ của Chính phủ (Roger, 1995; Liefner, 2003; Altbach, 2007; Orr và các cộng sự, 2007), các bên liên quan đòi hỏi hiệu quả cao hơn (Massy, 2004), trách nhiệm hơn trong quản lý ngân sách (Alexander, 2000; Hines, 2000) và chi phí tăng liên tục trong các hoạt động giáo dục (Johnstone, 2004) Các thách thức trên đã mang lại phản ứng tích cực từ các trường ĐHCL, nơi được cam kết cải cách và tái

cơ cấu hệ thống trở nên cạnh tranh hơn Kết quả là, giáo dục ĐHCL đang đối mặt với những thách thức tài trợ trong việc duy trì chất lượng đào tạo

1.2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

GDĐH hay giáo dục bậc cao là chìa khóa then chốt trong tăng trưởng kinh tế

ở những nước đã phát triển, đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi bởi chức năng kinh tế - xã hội của GDĐH trong kết nối sản xuất và phổ biến kiến thức (Patterson, 1999) GDĐH đã trở thành “sản phẩm” giá trị cao không chỉ cho sinh viên như một phương tiện tự thân phát triển và đảm bảo thu nhập trong tương lai mà cho các nền công nghiệp và chính phủ xem GDĐH là nguồn lực của sự đổi mới và phát triển kinh tế bền vững (Harley và các cộng sự, 2004; Bosetti và Walker, 2010) Toàn cầu hóa trong GDĐH tác động lên gia tăng sự phụ thuộc học phí của sinh viên

và nhu cầu thiết lập sự công nhận quốc tế thông qua việc xếp hạng và lập bảng phân loại được chuẩn hóa trường đại học (Richards và các cộng sự, 2004) Hơn nữa, khi thế giới bước sang thế kỷ XXI – thế kỷ của nền kinh tế tri thức, về bản chất, các

Trang 17

quốc gia cạnh tranh nhau về nguồn nhân lực và khoa học kỹ thuật – công nghệ Do

đó, vấn đề cải cách giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng về quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo được nhiều nước xem là quốc sách hàng đầu và Việt Nam cũng không ngoại lệ

Đối với Việt Nam, giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi đất nước đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng chú trọng tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP-

Total Factor Productivity) để nâng cao chất lượng, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Do đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế nói trên Vì vậy, giáo dục nhận được sự quan tâm hàng đầu của Đảng và nhà nước với bằng chứng là Việt Nam đã trải qua ba lần đổi mới giáo dục, góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển và xây dựng đất nước và lần thứ tư gần đây là Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

Bên cạnh thành công của GDĐH thì hiện nay GDĐH cũng đang tồn tại những yếu kém, bất cập mà điển hình là thiếu và yếu về đội ngũ giảng viên và cán

bộ quản lý, cơ sở vật chất trang thiết bị GDĐH chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học và cơ chế tài chính của GDĐH còn mang nặng cơ chế hành chính bao cấp… Trong các vấn đề yếu kém, bất cập nêu trên, cơ chế tài chính giáo dục ĐHCL là vấn

đề đã và đang nhận được sự quan tâm lớn của Chính phủ bởi phần lớn ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp GDĐH Việt Nam được đầu tư cho hệ thống các trường ĐHCL Mặc dù 15 năm trở lại đây, vấn đề cơ chế tài chính giáo dục ĐHCL trải qua

ba lần cải cách (Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 49/2009/NĐ-CP) nhưng đến nay cơ chế tài chính giáo dục ĐHCL vẫn chưa đạt được mục tiêu mong muốn

Ở Việt Nam, nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo nhận được sự quan tâm của một số học giả như Nguyễn Công Giáp (2004);

Trang 18

Vũ Huy Hào và các cộng sự (2005); Nguyễn Anh Thái (2008),… Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu ở trên đều sử dụng phương pháp định tính và mới dừng ở việc đánh giá thực trạng nội dung các quy định thu chi tài chính mà chưa có sự phân tích sâu các tính chất của nó, cũng như chưa có sự liên kết chặt chẽ ảnh hưởng của cơ chế tài chính đến mục tiêu cơ bản cuối cùng là nâng cao chất lượng đào tạo

Trên cơ sở đó, đề tài “Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào

tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam” được tác giả chọn nghiên cứu

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của đề tài là xem xét tác động của cơ chế tài chính lên chất lượng đào tạo của các trường ĐHCL ở Việt Nam Các mục tiêu cụ thể như sau:

- Một là, phân tích thực trạng cơ chế tài chính các trường ĐHCL tại Việt Nam

- Hai là, đo lường và phân tích tác động của cơ chế tài chính đến chất lượng đào tạo của các trường ĐHCL tại Việt Nam

- Ba là, đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế tài chính và một số giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường ĐHCL tại Việt Nam

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, luận án trả lời các câu hỏi sau:

- Thứ nhất, các tính chất của cơ chế tài chính, các thành phần của chất lượng dịch vụ đào tạo và ảnh hưởng của cơ chế tài chính đến chất lượng đào tạo trường đại học công lập?

- Thứ hai, thực trạng cơ chế tài chính và ảnh hưởng của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập hiện nay?

- Thứ ba, những giải pháp nào về cơ chế tài chính và giải pháp nào khác cần thực hiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập hiện nay?

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo ở các trường ĐHCL tại Việt Nam

Trang 19

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi 33 trường ĐHCL tại Việt Nam Thời gian nghiên cứu là năm 2013

1.6 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

1.6.1 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu luận án này, tác giả kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định tính: Luận án sử dụng các phương pháp tổng hợp, diễn dịch nhằm xây dựng khung phân tích về cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo, sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích thực trạng diễn biến cơ chế tài chính

và chất lượng đào tạo của các trường đại học công lập tại Việt Nam Luận án cũng

sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu các chuyên gia tài chính và đào tạo nhằm xây dựng các bảng câu hỏi sơ bộ

Nghiên cứu định lượng: Sau bước nghiên cứu định tính, luận án dùng bảng khảo sát chính thức đi khảo sát mẫu đối tượng đang học, cán bộ quản lý tài chính và giảng viên đang công tác ở các trường ĐHCL Mẫu khảo sát có được sẽ được hỗ trợ bằng phần mềm SPSS phiên bản 22 trong xử lý thông tin Tác giả sử dụng kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố (EFA) và phân tích hồi quy bội trong mô hình nghiên cứu

1.6.2 Dữ liệu nghiên cứu

Luận án sử dụng cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp trong nghiên cứu Dữ liệu sơ cấp có được từ thu thập khảo sát của 950 đối tượng đang học, cán bộ quản lý tài chính và giảng viên đang công tác ở 33 trường ĐHCL tại Việt Nam Dữ liệu thứ cấp chủ yếu được sử dụng ở các báo cáo của Bộ GD&ĐT và các trường ĐHCL được chọn nghiên cứu

1.7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

- Thứ nhất, về mặt lý luận, luận án đã tập hợp tương đối đầy đủ những vấn đề

lý luận cơ bản nhất về cơ chế tài chính, cụ thể là cơ sở xây dựng cơ chế tài chính, các mô hình cơ chế tài chính, tính chất của cơ chế tài chính và mối quan hệ giữa cơ chế tài chính với chất lượng đào tạo Đặc biệt, luận án đã luận giải và làm sáng tỏ

Trang 20

mối quan hệ giữa các tính chất của cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo Đây là điểm mới mà các nghiên cứu trước ở Việt Nam rất ít đề cập tới

- Thứ hai, về phương pháp tiếp cận, luận án tập trung phân tích các tính chất của cơ chế tài chính biểu hiện mức độ hoàn thiện của nó, cụ thể là tính tự chủ, trách nhiệm giải trình, tính hiệu quả của cơ chế tài chính Từ đó luận án chỉ ra những hạn chế của cơ chế tài chính ở các trường đại học công lập, đó là các khía cạnh thể hiện mức độ tự chủ tài chính, trách nhiệm giải trình và tính hiệu quả tài chính còn ở mức tương đối thấp

- Thứ ba, về phương pháp phân tích, ngoài phương pháp định tính truyền thống, luận án vận dụng thêm phương pháp định lượng để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu là ảnh hưởng của cơ chế tài chính đến chất lượng đào tạo Cho đến nay, hầu như chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam vận dụng phương pháp này nhằm trả lời những câu hỏi nghiên cứu của luận án

- Thứ tư, về thực tiễn, qua phân tích, luận án cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa các tính chất thể hiện mức độ hoàn thiện của cơ chế tài chính đến chất lượng đào tạo Ngoài ra, luận án cũng luận giải những nhân tố khác ngoài nhân tố tài chính ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, bao gồm: các yếu tố hữu hình, khả năng đáp ứng, sự đảm bảo và sự tin cậy của nhà trường đối với người học

- Thứ năm, về mặt ứng dụng, trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở chương 3 và chương 4, cũng như kế thừa kinh nghiệm trên thế giới, luận án đã đề xuất một cách

hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

1.8 CẤU TRÚC LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU

Luận án kết cấu thành 6 chương:

Chương 1: Giới thiệu

Trong chương này, luận án đưa ra cơ sở khoa học và nhấn mạnh tính cấp thiết của đề tài, nêu ra mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và

Trang 21

phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài và cấu trúc của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận

Ở chương này, đề tài hệ thống hóa các cơ sở lý luận về cơ chế tài chính ở các trường ĐHCL và chất lượng đào tạo; các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo của một số học giả trên thế giới và ở Việt Nam

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên nội dung giới thiệu ở chương 1 và cơ sở lý luận được trình bày ở chương 2, trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về quy trình nghiên cứu và

mô hình nghiên cứu Cụ thể, đối với quy trình nghiên cứu, phần này đề cập đến hai bước nghiên cứu chính đó là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Đối với

mô hình nghiên cứu, phần này đưa ra được khung phân tích, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu

Chương 4: Tổng quan thực trạng cơ chế tài chính trường đại học công lập Việt Nam

Luận án tập trung đánh giá thực trạng cơ chế tài chính trường đại học công lập Việt Nam Từ đó, tác giả đánh giá một số nguyên nhân của những hạn chế về cơ chế tài chính Ngoài ra, trong chương này, luận án cũng phác họa tổng quan hệ thống các trường đại học công lập Việt Nam bao gồm hai khía cạnh đó là lịch sử hình thành và phân loại trường đại học công lập tại Việt Nam

Chương 5: Kết quả nghiên cứu

Dựa vào phương pháp nghiên cứu ở chương 3, trong chương này tác giả trình bày kết quả phân tích thống kê mô tả và kết quả phân tích nghiên cứu mô hình hồi quy bội và kết quả kiểm định các giả thuyết, đưa ra các ý kiến thảo luận và nhận định theo quan điểm của tác giả đồng thời có đối chiếu với các kết quả nghiên cứu trước đây

Chương 6: Kết luận và đề xuất giải pháp

Trong chương này, tác giả đúc rút lại những phát hiện chính từ kết quả nghiên cứu ở chương 5 Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường ĐHCL tại Việt Nam bao gồm các chính sách về cơ chế tài

Trang 22

chính và các chính sách khác có liên quan Ngoài ra, những hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được đề cập ở phần này

Trang 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý luận về cơ chế tài chính các trường ĐHCL, bao gồm khái niệm cơ chế tài chính, cơ sở xây dựng cơ chế tài chính, phân loại cơ chế tài chính, các nội dung thu chi tài chính, các tính chất của cơ chế tài chính, mối quan hệ giữa cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo Ngoài ra, cơ

sở lý luận về chất lượng đào tạo cũng được nêu ra ở phần này bao gồm các khái niệm về chất lượng đào tạo, thành phần chất lượng đào tạo và đo lường chất lượng đào tạo Một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo của một học giả trên thế giới và ở Việt Nam cũng được điểm qua

2.1 CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

2.1.1 Khái niệm cơ chế tài chính đại học công lập

Khái niệm “cơ chế” thường được hiểu phổ biến là “cách thức vận hành một

hệ thống để hướng đến các mục tiêu” (Morgan, 2005) Từ điển Bách khoa toàn thư tiếng Pháp cũng định nghĩa cơ chế là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu

tố phụ thuộc vào nhau”

Ở nước ta, thuật ngữ "cơ chế" được hiểu và sử dụng với nghĩa là những qui định về quản lý Tuy nhiên, cách hiểu đơn giản này dẫn tới việc tách rời cơ chế với con người Trên thực tế và cùng với quá trình phát triển của thuật ngữ “cơ chế” thì

“cơ chế” thường đi liền với chính sách, là tổng hoà các quan hệ chính sách, và “cơ chế” được dùng với hàm ý chỉ hiện tượng ở trạng thái động chứ không phải ở trạng thái tĩnh

Cơ chế tài chính (Financial Mechanism) được tiếp cận dưới nhiều quan

điểm khác nhau Theo quan điểm của Ezara Solomon (1963), cơ chế tài chính được định nghĩa là “việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó” Khái niệm cơ chế tài chính của Maheshwari (1985) cho rằng “cơ chế tài chính liên quan đến việc nâng cao và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính nhằm đạt được các mục tiêu

Trang 24

của tổ chức” Còn Richard (2008) định nghĩa “cơ chế tài chính là quá trình sử dụng nguồn vốn sẵn có mang lại lợi ích tốt nhất trong dài hạn nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh”

Như vậy, cơ chế tài chính là tổng hòa các quy tắc, phương pháp, công cụ quản lý tài chính được quy định trong một hệ thống các văn bản pháp quy do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về chế độ quản lý, cách thức điều hành, cách thức vận hành hệ thống tài chính quốc gia, hoặc một ngành, một cấp, của một hoặc một số đối tượng cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Theo đó, có thể có các cơ chế tài chính quốc gia, cơ chế tài chính ngành, cơ chế tài chính đối với các đơn vị dự toán, cơ chế tài chính đối với các trường ĐHCL,

cơ chế tài chính đối với các bệnh viện, trường học…

Theo Cronin (1992), các cơ chế tài chính khác nhau có những đặc điểm khác nhau Có các cơ chế quản lý chặt chẽ, có cơ chế quản lý lỏng lẻo; có cơ chế thắt chặt, có cơ chế nới lỏng; có cơ chế quản lý áp đặt toàn diện, tuân thủ tuyệt đối mệnh lệnh và quy định quản lý của cấp trên (từ chủ thể quản lý); có cơ chế quản lý coi trọng kết quả, tạo môi trường quản lý thông thoáng, trao quyền tự chủ cho các đơn

vị dự toán, kích thích và khuyến khích tính chủ động sáng tạo của các đối tượng bị quản lý

Friedmen (1995) cho rằng, nội dung của cơ chế tài chính các trường đại học nói chung và các trường ĐHCL nói riêng cũng có những nét tương đồng như phải

có sự cân đối giữa chi phí đầu vào và chi phí đầu ra, cũng chịu những tác động của các nhân tố thị trường như sự cạnh tranh về giá cả, cung cầu thị trường… Tuy nhiên, cơ chế tài chính trường ĐHCL khác với cơ chế tài chính trường đại học khác như bên cạnh mục tiêu kinh tế - tài chính thì các trường ĐHCL còn phục vụ mục tiêu xã hội Do đó, các trường ĐHCL đối mặt với khó khăn để tiến tới sự tối ưu trong quản lý tài chính vì phải cân bằng giữa mục tiêu kinh tế - tài chính và mục tiêu xã hội Hơn nữa, vì các trường ĐHCL do Nhà nước đầu tư về kinh phí, cơ sở vật chất và hoạt động của các trường đại học này chủ yếu từ nguồn tài chính nhà

Trang 25

nước và những khoản đóng góp phi lợi nhuận, nên các trường ĐHCL phải đối mặt với hai rủi ro cơ bản là sự giới hạn về ngân sách và nhu cầu cao từ phía người học

Từ những lập luận trên, khái niệm về cơ chế tài chính trường ĐHCL được

định nghĩa như sau:

Cơ chế tài chính trường đại học công lập là quá trình tác động của Nhà nước tới bộ máy quản trị trường đại học công lập thông qua tổng hòa các quy tắc, phương pháp, công cụ quản lý tài chính được quy định trong một hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước để thực hiện các chức năng cơ bản từ việc lập kế hoạch tài chính,

tổ chức thực hiện, điều khiển và kiểm tra giám sát tài chính nhằm đạt được mục tiêu của Nhà nước đề ra

2.1.2 Cơ sở xây dựng cơ chế tài chính trường đại học công lập

Trong nghiên cứu về cấu trúc tài chính của các trường đại học, Geuna (1992) cho rằng, hầu hết mọi cơ chế tài chính đều được xây dựng dựa trên cơ sở mục tiêu đào tạo, nghiên cứu và cung cấp dịch vụ của trường đại học, bối cảnh bên trong và bên ngoài trường đại học Đồng quan điểm trên, Johnstone (2001) cho rằng, mục tiêu đào tạo là yếu tố cốt lõi đầu tiên được xem xét đầu tiên khi xây dựng cơ chế tài chính Ngoài ra, theo Johnstone (2001), các yếu tố tác động đến mục tiêu đào tạo như nội lực của trường đại học, chính sách của nhà nước, nhu cầu của các bên liên quan, sự thay đổi của môi trường quốc tế, thông qua tác động đến mục tiêu đào tạo, đều có ảnh hưởng nhất định đến cơ chế tài chính Bryan Cheung (2011), xem xét đến bối cảnh chính sách, chiến lược phát triển ngành giáo dục của quốc gia, đồng thời trên cơ sở phân tích đặc điểm cụ thể của từng trường để xác lập mục tiêu cho từng trường đại học, từ đó xây dựng cơ chế tài chính để hướng đến mục tiêu đó Như vậy nhìn chung, khi nghiên cứu về cơ sở hình thành cơ chế tài chính, các tác giả đều thống nhất 3 nhóm yếu tố sau đây:

i) Mục tiêu đào tạo của trường đại học công lập

Mỗi trường đại học đều có mục tiêu đào tạo riêng, được xác lập trên cơ sở đặc điểm của trường và phù hợp với mục tiêu giáo dục đào tạo chung của quốc gia Các mục tiêu đào tạo, cùng với sứ mệnh và tầm nhìn của trường, thường được tuyên

Trang 26

bố rõ trong chiến lược phát triển của trường đại học Các mục tiêu giáo dục đào tạo thường có tính chất dài hạn, là định hướng cho việc xây dựng và triển khai các cơ chế, kế hoạch hoạt động, trong đó có cơ chế tài chính Nhìn chung, mục tiêu giáo dục đào tạo có thể được điều chỉnh sau một thời kỳ nhất định để phù hợp và phản ánh những thay đổi của môi trường đào tạo bậc đại học Theo Geuna (1992), trong từng thời kỳ nhất định, trường đại học có thể thực hiện một trong các mục tiêu sau đây:

- Mục tiêu ổn định: Đối với nhiều trường đại học đã có truyền thống lịch sử phát triển lâu dài, với chức năng và nhiệm vụ chính là đào tạo nguồn nhân lực phục

vụ cho một ngành hẹp, thường là những ngành phi lợi nhuận, thì mục tiêu ổn định

có thể là ưu tiên hàng đầu Ví dụ, ở một số địa phương, nhu cầu nhân lực trong các ngành công an, quân đội, văn hóa nghệ thuật, sư phạm có thể đạt đến giới hạn ổn định Những trường này thực hiện hoạt động đào tạo phần lớn dựa trên cơ sở đặt hàng của cơ quan chủ quản, do đó việc duy trì quy mô và cơ cấu ổn định có thể mục tiêu phù hợp với trường trong những điều kiện nhất định

- Mục tiêu phát triển quy mô đào tạo: Mục tiêu này thường được các trường đại học non trẻ lựa chọn thực hiện Phát triển về quy mô có thể bao gồm việc mở mới một ngành đào tạo, hoặc mở rộng quy mô của một ngành đã tồn tại, hoặc thay đổi cơ cấu các ngành học cho phù hợp với bối cảnh mới Để phát triển về quy mô, tức là gia tăng số lượng sinh viên nhập học và tốt nghiệp, tăng số công trình nghiên cứu khoa học, trường đại học phải đẩy mạnh đầu tư, cải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, gia tăng số lượng giảng viên, nhà khoa học, cán bộ hành chính, đồng thời cải tiến và đổi mới các quy trình hoạt động, các cơ chế hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu mới Trong các quy trình và cơ chế cần đổi mới thì cơ chế tài chính được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu, vì việc thay đổi cơ chế tài chính liên quan hầu hết đến mọi hoạt động của trường Do nhu cầu phát triển về quy mô, cơ chế tài chính mới phải đảm bảo làm gia tăng được nguồn thu tài chính của trường, đồng thời sự phân bổ nguồn tài chính đó cho các hoạt động phải phù hợp với sự thay đổi cơ cấu hoạt động và sự phát triển nhanh chóng quy mô của trường

Trang 27

Căn cứ vào cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp, các trường đại học nói chung và ĐHCL nói riêng sẽ tuân theo các quy định khác nhau dựa trên quy mô, cấp quản lý để từ đó quyết định đến việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ Các quan hệ tài chính mỗi trường đại học khác nhau bị tác động bởi quy mô như xác định hình thức và phương pháp huy động các nguồn tài chính, phân phối chênh lệch thu chi hàng năm Hơn nữa, đối với các trường ĐHCL, mức chi tiêu và mức thu từ NSNN cấp phụ thuộc vào quy mô lớn hay nhỏ Chính vì vậy, khi có sự thay đổi của quy mô hoạt động và mô hình tổ chức thì đơn vị cũng cần có sự điều chỉnh cơ chế tài chính phù hợp

Mỗi trường ĐHCL đều phải thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao và phải tận dụng cơ sở vật chất để mở rộng hoạt động sự nghiệp Bên cạnh đó, các trường ĐHCL còn phải chấp hành những chỉ tiêu đào tạo, cụ thể là chỉ tiêu tuyển sinh được giao, thực hiện những hoạt động nghiên cứu khoa học, các đề tài và chương trình do

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho Khối lượng nhiệm vụ được giao tác động trực tiếp đến mức chi của đơn vị Ngoài ra, nhiệm vụ nhiều hay ít ảnh hưởng đến khả năng mở rộng thêm hoạt động sự nghiệp của đơn vị, dẫn đến sự thay đổi trong mức thu sự nghiệp

- Mục tiêu đảm bảo chất lượng: môi trường kinh tế xã hội nói chung, môi trường giáo dục đào tạo nói riêng đang có những thay đổi sâu sắc, tác động đến hầu hết các trường đại học, buộc các trường phải thay đổi để tồn tại và phát triển Một mặt, do nhu cầu của các bên liên quan, bao gồm sinh viên, phụ huynh, nhà tuyển dụng, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các cơ quan chính phủ, đòi hỏi chất lượng đào tạo ngày càng cao nhằm đáp ứng được sự biến đổi của thực tiễn Mặt khác, quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng và sự mở rộng không ngừng của nhiều cơ sở đào tạo bậc đại học dẫn đến mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực đào tạo đại học ngày càng khốc liệt Những nhân tố này tác động buộc các trường đại học phải thay đổi mọi mặt nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua hàng loạt biện pháp cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động Có thể nói trong bối cảnh hiện nay, phần lớn các trường đại học đều theo đuổi mục tiêu nâng cao chất lượng Để nâng cao chất

Trang 28

lượng, ngoài việc chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị dạy học, một trong những nội dung cốt lõi cần thực hiện là đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập, đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học Để làm được điều này, nhà trường phải xây dựng được một cơ chế tài chính phù hợp, thông qua đó vừa góp phần gia tăng nguồn thu tài chính, vừa đảm bảo sự phân bổ nguồn tài chính hợp lý, hiệu quả Điều này lại phụ thuộc vào cơ chế tài chính của chính phủ đối với trường đại học công lập

ii) Các yếu tố bên trong của trường đại học

- Đặc thù ngành nghề đào tạo của trường đại học công lập Cơ chế tài chính chịu ảnh hưởng bởi các đặc thù đầu ra mà trường đại học tạo ra Chẳng hạn, các trường đào tạo ngành công an, quân đội, sư phạm có thể ít chịu áp lực cạnh tranh hơn giữa các trường có cùng khối ngành với nhau, và từ áp lực tạo ra bởi môi trường kinh tế xã hội bên ngoài, do đó, cơ chế tài chính dựa trên chi phí đầu vào, hoặc định hướng quản lý tập trung có thể thích hợp với những loại trường này Ngược lại, những trường đào tạo khối ngành kinh tế, kỹ thuật thường đứng trước ứng yêu cầu phải đổi mới để đáp ứng được nhu cầu thị trường đang ngày càng thay đổi nhanh chóng Điều này khiến các trường phải trở nên năng động và hiệu quả hơn trong các hoạt động của mình Một mặt, sự năng động và hiệu quả có tác động làm tăng khả năng cạnh tranh của trường đại học Mặt khác, giúp trường đại học nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và cung ứng dịch vụ, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Đối với những trường này, do những đòi hỏi về tính năng động, linh hoạt, tự chủ trong các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học nên cơ chế tài chính phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra, mang định hướng thị trường xem ra là loại cơ chế thích hợp

- Tổ chức bộ máy hoạt động của trường ĐHCL Cơ chế tài chính bị ảnh

hưởng khá lớn từ bộ máy quản lý các trường ĐHCL Toàn bộ bộ máy quản lý trường ĐHCL và sự tương tác giữa các bộ phận đều ảnh hưởng đến các chính sách,

Trang 29

quy chế chi tiêu nội bộ Sự yếu kém của một bộ phận sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu quả thực hiện cơ chế tài chính của các bộ phận khác

- Trình độ quản lý của lãnh đạo tại trường ĐHCL Trình độ quản lý của lãnh đạo đơn vị mà cụ thể là hiệu trưởng trường ĐHCL tác động rất lớn tới cơ chế tài chính tại đơn vị đó Thủ trưởng đơn vị là người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quyết định tới việc xây dựng dự toán, quy định mức tiền lương và trích lập quỹ của đơn vị Do vậy, quản lý tài chính như thế nào, hiệu quả hoạt động ra sao cũng bị tác động rất lớn bởi quan điểm và trình độ quản lý của lãnh đạo đơn vị Nhận thức của người đứng đầu trường đại học về quản lý tài chính

sẽ tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động của trường

- Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ giảng dạy Khả năng mở rộng

hoạt động sự nghiệp của các trường ĐHCL bị quyết định bởi chất lượng đào tạo Thực trạng cho thấy các trường ĐHCL thường có đội ngũ cán bộ giảng dạy với trình độ chuyên môn giỏi hơn các trường đại học dân lập hay bán công đào tạo cùng lĩnh vực, do đó sẽ có sức cạnh tranh cao hơn Kết quả là, các trường ĐHCL có khả năng mở rộng quy mô hoạt động và huy động nguồn thu sự nghiệp tốt hơn cũng như khả năng tự chủ tài chính sẽ cao hơn

iii) Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài trường đại học

- Chính sách pháp luật của Nhà nước Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất tác động trực tiếp đến cơ chế tài chính của các trường ĐHCL Nguyễn Trường Giang (2011) lập luận rằng, cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp nói chung và của ĐHCL nói riêng là một bộ phận cấu thành nên chính sách tài chính quốc gia, là cơ sở để căn cứ cho các đơn vị sự nghiệp xây dựng cơ chế tài chính cho riêng đơn vị mình Do đó, để cơ chế tài chính của các trường ĐHCL đạt được quyền

tự chủ, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thì điều kiện tiên quyết là chính sách tài chính của Nhà nước phải tạo được nền tảng cho các trường đại học phát huy được tính sáng tạo, chủ động

Đối với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dịch vụ xã hội nói chung và giáo dục đào tạo nói riêng nằm dưới sự quản lý của Nhà nước Trong hoàn cảnh đó, Nhà

Trang 30

nước sẽ cấp toàn bộ NSNN đến các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực GD&ĐT và việc sử dụng nguồn kinh phí như thế nào cũng tuân thủ hoàn toàn theo quy định của Nhà nước Từ đó, Nhà nước đã mang cơ hội học tập cho mọi người dân trong xã hội Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào nguồn NSNN bị hạn chế nên không thể đáp ứng cho nhu cầu học tập của toàn xã hội cả về số lượng và chất lượng giáo dục

- Chính sách tài khóa tăng (giảm) đầu tư vào giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng Chính sách tài khóa là sự thay đổi trong kế hoạch thu ngân sách (chủ yếu

là khoản thu từ thuế) và chính sách chi của Chính phủ (chi tiêu công) nhằm tác động đến các định hướng phát triển của nền kinh tế Trong nghiên cứu của mình, Lê Hồng Việt (2014) phát hiện thấy hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải dành nguồn ngân sách nhất định tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia cho giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng Khoản chi tiêu công dành cho GDĐH tăng, giảm phụ thuộc vào tình trạng nền kinh tế nói chung Khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái, Chính phủ có thể giảm thuế và tăng chi tiêu công nhằm kích thích nền kinh tế Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển quá “nóng” thì Chính phủ thường tăng thuế và giảm chi tiêu công để ngăn nền kinh tế tránh rơi vào tình trạng khủng hoảng Việc tăng giảm chi tiêu công có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nguồn vốn và chính sách đầu tư cho giáo dục cũng như ảnh hưởng đến cơ chế tài chính ở cấp độ vĩ mô và vi mô

- Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước Cơ chế tài chính ở các trường ĐHCL bị tác động bởi những yếu tố từ diễn biến kinh tế - xã hội và chính sách chi tiêu công của Nhà nước Trong điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, Nhà nước cũng phải có những chính sách phù hợp, trong đó có chính sách cơ chế tài chính nhằm phát triển đất nước Hơn nữa, cơ chế tài chính ở các cơ quan sự nghiệp còn bị tác động bởi quá trình hiện đại hóa, công nghệ hóa đất nước nên đòi hỏi các cơ quan sự nghiệp phải thực hiện cơ chế tài chính sao cho hiệu quả và tiết kiệm được chi phí nhất

Trang 31

Đối với lĩnh vực GD&ĐT nói chung và hệ thống trường ĐHCL nói riêng, sự ảnh hưởng của tiến bộ khoa học, kỹ thuật ngày càng rõ nét Quá trình đổi mới yêu cầu xóa bỏ những cái cũ, lạc hậu, không còn phù hợp mà thay vào đó là những chính sách, giải pháp mới phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, sự thích ứng và công bằng trong quá trình đào tạo

Trước yêu cầu phát triển của một nền kinh tế tri thức, nhu cầu về lực lượng lao động chất lượng cao ngày càng gia tăng Do đó, yếu tố lao động và việc làm đang bị ảnh hưởng đáng kể từ nhu cầu xã hội Bên cạnh đội ngũ lao động tay nghề cao từ các trường dạy nghề thì nhu cầu về nguồn lực lao động được đào tạo qua trình độ đại học, sau đại học ngày càng tăng lên đáng kể, để đáp ứng nhu cầu của xã hội, hệ thống giáo dục tăng lên về số lượng cũng như quy mô Tuy nhiên, nguồn lực không thể tăng kịp một cách tương xứng với sự phát triển hệ thống giáo dục Từ đó, nhiều vấn đề bất cập nảy sinh và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục Do vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục cần thiết phải triển khai những giải pháp đổi mới về tổ chức, quản lý trong giáo dục, trong đó có cơ chế tài chính trong lĩnh vực giáo dục nói chung và ở các trường ĐHCL nói riêng

2.1.3 Phân loại cơ chế tài chính trường đại học công lập

Phần lớn các nhà nghiên cứu trên thế giới khi phân loại cơ chế tài chính của trường đại học công lập đều xem xét đến cơ sở phân bổ nguồn tài chính, đặc biệt là nguồn ngân sách cấp Chẳng hạn, Bryan (2011), Jongbloed và Koelman (2000) sử dụng cơ chế phân bổ ngân sách cho đại học công lập để chia thành hai loại cơ chế tài chính là cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên đầu vào và cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên đầu ra Trong khi đó, Jongbloed (2008) sử dụng ma trận 4 nhân tố bao gồm đầu vào, đầu ra, định hướng quản lý tập trung và định hướng thị trường để phân loại

cơ chế tài chính thành 4 nhóm là cơ chế tài chính quản lý tập trung phân bổ theo đầu vào, cơ chế quản lý tập trung phân bổ theo đầu ra, cơ chế định hướng thị trường

phân bổ theo đầu vào, và cơ chế định hướng thị trường phân bổ theo đầu ra

Như vậy, căn cứ vào các tiêu thức khác nhau mà có sự phân loại cơ chế tài chính khác nhau:

Trang 32

* Căn cứ vào cơ sở phân bổ nguồn ngân sách nhà nước chi cho trường đại học, cơ chế tài chính được phân thành 2 loại là cơ chế phân bổ ngân sách dựa

trên chi phí đầu vào và cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra

- Cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên chi phí đầu vào: Theo Jongbloed và Koelman (2000), đây là cơ chế tài chính mà sự phân bổ ngân sách dựa vào các định mức chi phí đầu vào và số lượng các yếu tố đầu vào của trường đại học Một cách phổ biến nhất được áp dụng cho loại cơ chế tài chính này là lượng ngân sách phân

bổ được tính toán dựa trên chi phí trên một đầu sinh viên (gọi là suất chi phí đào tạo) nhân với số lượng sinh viên của một trường đại học Định mức chi phí trên đầu sinh viên thường dựa vào số liệu các kỳ trước và có sự điều chỉnh cho phù hợp với những thay đổi trong hiện tại, còn số lượng sinh viên của mỗi trường thường được

cơ quan chủ quan cấp một hạn mức cho trường đại học trong từng thời kỳ cụ thể Các chi phí phân bổ cho người học thường bao gồm chi phí tiền lương của giảng viên và cán bộ công nhân viên, khấu hao tài sản cố định, chi phí trang thiết bị giảng dạy và học tập, chi phí đầu tư mới, chi phí dịch vụ mua ngoài… Trong khi đó, hạn mức số lượng sinh viên được cấp cho từng năm căn cứ vào nhu cầu xã hội và nhiệm

vụ được giao của trường đại học Cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên chi phí đầu vào là loại cơ chế tài chính truyền thống và được áp dụng phổ biến nhất trên thế giới Mặc dù có nhiều tranh luận rằng, cơ chế này thường cứng nhắc, thiếu hiệu quả

và không tạo được động lực cho những đổi mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, song do tính chất dễ thực hiện nên nhiều nước hiện vẫn đang áp dụng loại cơ chế này

- Cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra: Jongbloed và Koelman (2000) cho rằng, sự thay đổi môi trường đào tạo mà đặc biệt là yêu cầu của xã hội ngày càng cao đòi hỏi các trường phải không ngừng đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó đổi mới cơ chế tài chính được xem là một trong những nội dung cốt lõi Thực tế cho thấy rằng, cơ chế tài chính truyền thống dựa trên chi phí đầu vào đã bộc lộ nhiều hạn chế, như thiếu tính linh hoạt, tự chủ, sáng tạo, thiếu hiệu quả và thiếu ràng buộc giữa nguồn ngân sách phân bổ và trách nhiệm của trường đại

Trang 33

học Do đó, một cơ chế tài chính mới tạo ra tính linh hoạt, tự chủ, trách nhiệm giải trình lớn hơn nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng và thành quả hoạt động của trường đại học đang được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu áp dụng Cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra là loại cơ chế tài chính mà ở đó, ngân sách nhà nước được phân bổ cho trường đại học dựa trên số lượng và chất lượng đầu ra của trường Về mặt số lượng, số sinh viên ra trường mỗi năm, hoặc đơn giản hơn là số lượng sinh viên tích lũy được một lượng tín chỉ nhất định trong từng thời

kỳ, hoặc số lượng sinh viên vượt qua được một kỳ thi đánh giá, kết hợp với số công trình nghiên cứu khoa học của một trường đại học sẽ được tính đến Về mặt chất lượng, các chỉ số đánh giá thứ hạng của trường đại học, hoặc kết quả thẩm định của một hội đồng đánh giá do cơ quan nhà nước chỉ định, sẽ được xem xét làm cơ sở tính toán cho lượng ngân sách phân bổ cho trường đại học Cơ chế tài chính gắn sự phân bổ ngân sách nhà nước với kết quả đầu ra rõ ràng có tác dụng kích thích các trường đại học phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, do đó buộc các trường phải năng động, hiệu quả hơn trong hoạt động của mình

Rõ ràng, việc gắn nguồn ngân sách phân bổ với kết quả đầu ra của trường đại học mang tính công bằng hơn và cũng phù hợp hơn với đòi hỏi khách quan của xã hội, song việc thống nhất khái niệm “kết quả dựa trên chất lượng đầu ra” như thế nào hiện vẫn còn nhiều tranh luận Mặc dù vậy, xu hướng thay đổi từ cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên chi phí đầu vào sang cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra, ở một mức độ nhất định, đã và đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới

* Căn cứ vào định hướng thu chi tài chính của trường đại học, có hai loại

cơ chế tài chính là cơ chế tài chính định hướng quản lý tập trung và cơ chế tài chính định hướng thị trường

- Cơ chế tài chính định hướng quản lý tập trung Đây là cơ chế tài chính dựa nhiều vào nguồn ngân sách nhà nước cấp, nói cách khác là ngân sách nhà nước sẽ trang trải phần lớn các chi phí cho hoạt động của trường Nhà nước ban hành các quy định chi tiết và cụ thể đối với mọi hoạt động thu và chi tài chính của trường đại học Phần lớn các khoản thu chi đều tuân theo định mức và chịu sự khống chế mức

Trang 34

trần hoặc mức sàn Nói cách khác là nhà nước kiểm soát chặt chẽ hoạt động tài chính Cơ chế này mang đậm đặc trưng mệnh lệnh hành chính, ít trao quyền tự chủ cho trường đại học Theo cơ chế này, trên cơ sở dự toán ngân sách định kỳ được nhà trường tính toán và trình cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà nước sẽ cấp một gói kinh phí hoạt động cho nhà trường Trong cơ chế này, nhà trường phải sử dụng nguồn kinh phí được cấp để trang trải cho các hoạt động và mục tiêu định trước, phần tài chính không sử dụng hết phải trả lại nhà nước Nhìn chung, cơ chế tài chính này tương tự như cơ chế tài chính gắn việc phân bổ ngân sách với chi phí đầu vào Điểm khác biệt giữa hai cơ chế là trong cơ chế phân bổ ngân sách theo chi phí đầu vào, nhà trường có thể được sử dụng linh hoạt nguồn ngân sách cấp; trong khi đối với cơ chế tài chính định hướng quản lý tập trung, nhà trường phải chi cho các hoạt động và mục tiêu cố định, nói cách khác là nhà nước quản lý tập trung hoạt động thu chi của nhà trường

- Cơ chế tài chính định hướng thị trường: Trường đại học cung cấp các dịch

vụ đào tạo, tư vấn và nghiên cứu khoa học dựa trên nhu cầu của thị trường và các hợp đồng được ký kết với các bên liên quan Thông qua đó, trường đại học đa dạng hóa nguồn thu của mình Trong cơ chế này, ngân sách nhà nước vẫn giữ một vai trò quan trọng nhưng không còn chiếm tỷ trọng quá lớn, ngược lại, nguồn thu ngoài ngân sách như học phí, tư vấn và nghiên cứu khoa học ngày càng lớn Để đạt được mục tiêu đa dạng hóa nguồn thu, gia tăng tỷ trọng đóng góp của nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước, cơ chế tài chính ở trường đại học công lập phải đảm bảo tính

tự chủ, và hiệu quả cao, qua đó tạo hiệu ứng linh hoạt, năng động cho trường đại học

Trong cơ chế này, nguồn ngân sách phân bổ cho trường đại học được xây dựng trên cơ sở hướng đến những nguyên tắc của thị trường, đó là đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh, giá trị và cung cầu Nhiều nước trên thế giới áp dụng các nguyên tắc này bằng cách mời các trường đại học tham gia đấu thầu cạnh tranh để cung cấp các dịch vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học Trong quá trình đấu thầu và thực hiện gói thầu, các trường đại học được khuyến khích cạnh tranh bình đẳng với nhau Kết quả

Trang 35

đấu thầu có thể là một hợp đồng được ký kết giữa một bên là đại diện của cơ quan nhà nước (cơ quan cấp ngân sách), và một bên là đại diện trường đại học Mục tiêu của việc thực hiện hợp đồng là nhà trường sẽ cung cấp và chuyển giao các sản phẩm đào tạo và nghiên cứu khoa học phù hợp với nhu cầu của thị trường, tác động làm gia tăng động lực phát triển của đất nước Nhà trường có trách nhiệm cung cấp dịch

vụ có chất lượng với giá cả hợp lý Nói cách khác là hiệu quả phản ánh mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích phải được đảm bảo Các tiêu chí đánh giá mức độ tuân thủ của trường đại học được định rõ trong hợp đồng Các tiêu chí này có thể bao gồm năng lực sinh viên đạt được sau khóa học, mức học phí áp dụng cho khóa học, các cam kết đối với sinh viên liên quan đến tư vấn và giảng dạy Chỉ khi những tiêu chí này được thực hiện và đáp ứng thì trường đại học mới nhận được kinh phí

Trong những năm qua, nhiều nhà giáo dục học và kinh tế học đã đề xuất sử dụng một hệ thống “chứng phiếu” trong lĩnh vực giáo dục đào tạo (Karmel 1991, Friedman 1995) Cốt lõi của hệ thống này là phần lớn nguồn kinh phí của trường đại học sẽ được cung cấp bởi các khách hàng của nó Các sinh viên sẽ được nhận các chứng phiếu từ cơ quan nhà nước, một loại phiếu có thể dùng thanh toán cho các dịch vụ đào tạo mà họ nhận được từ các cơ sở đào tạo mà họ lựa chọn Đối với các trường đại học, các chứng phiếu đều ghi nhận một giá trị nhất định, và có thể được dùng để rút tiền mặt từ Bộ Giáo dục Mỗi sinh viên được nhận một giới hạn các chứng phiếu, và có thể được sử dụng linh hoạt để thanh toán cho các dịch vụ đào tạo đã được kiểm định và thừa nhận trong một thời kỳ nhất định Trong hệ thống này, chính khách hàng (các sinh viên) là bên điều khiển hệ thống Các khách hàng quyết định trường đại học nào và chương trình nào để đăng ký nhập học Do đó, các trường đại học phải cạnh tranh bằng việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động, bởi vì những chương trình không hấp dẫn sẽ không có khả năng tạo ra được nguồn thu Hệ thống chứng phiếu

có thể được kết hợp với học phí, trong đó mức học phí tối đa được quy định bởi nhà nước, để tạo ra một cơ chế tài chính linh hoạt vận hành theo định hướng thị trường

Trang 36

Karmel (1991) chỉ ra rằng quá trình thu chi tài chính định hướng thị trường

có tác dụng thúc đẩy tính tự chủ của trường đại học Zhang (2000) xác định bốn lợi ích của việc sử dụng hệ thống “chứng phiếu”: (1) tạo ra quyền bình đẳng lựa chọn trường đại học cho sinh viên, (2) cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của trường đại học, (3) sử dụng nguồn ngân sách hạn hẹp như là lựa chọn cuối cùng, (4) trường đại học có quyền bình đẳng trong việc nhận kinh phí ngân sách

* Căn cứ vào mức độ tự chủ của cơ chế tài chính, có hai loại cơ chế tài

chính là cơ chế tài chính có tính tự chủ cao và cơ chế tài chính có tính tự chủ thấp

- Cơ chế tài chính có tính tự chủ cao Cơ chế tài chính có tính tự chủ cao là loại cơ chế trao nhiều quyền cho trường đại học để đa dạng hóa nguồn thu, mức thu

và trường được nhiều quyền tự do ra quyết định chi tiêu Theo Bryan (2011), quyền quyết định độc lập về việc sử dụng ngân sách được nhà nước cấp tạo ra tự chủ tài chính, cũng như quyền được tạo quỹ từ những nguồn khác Còn theo Jongbloed (2000), tự chủ tài chính ở trường đại học là sự không phụ thuộc vào một nguồn hỗ trợ duy nhất và hạn hẹp nào cả Như vậy, nói đến tự chủ tài chính là trường đại học được quyền chủ động trong quản lý tài chính của trường, bao gồm chủ động quản lý thu, quản lý chi và phân phối quỹ kết dư, quản lý các quỹ chuyên dụng, quản lý tài sản, quản lý nợ phải trả của trường đại học, các hoạt động này gắn với mục tiêu cuối cùng là bền vững tài chính Tự chủ tài chính được xem xét trên nhiều góc độ, hoặc

là các đơn vị được toàn quyền quyết định hoạt động tài chính: tự thu và tự quyết định các mức chi trong số lượng nguồn thu đó, hoặc chỉ tự chủ về nguồn kinh phí thường xuyên và một phần chi phí xây dựng cơ bản Nhìn chung, tự chủ tài chính có mối liên quan mật thiết với tự chủ trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung cấp dịch vụ và đầu tư, cụ thể là tự chủ trong tuyển sinh, tự chủ trong tuyển dụng, tự chủ trong liên kết đào tạo quốc tế, tự chủ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật…

- Cơ chế tài chính có tính tự chủ thấp Cơ chế tài chính có tính tự chủ thấp là loại cơ chế mà nhà trường ít có các quyền quyết định thu chi, phần lớn các nguyên tắc và nội dung tạo nguồn thu, cũng như chi tiêu trong nhà trường đều do cơ quan nhà nước ban hành và kiểm soát

Trang 37

2.1.4 Quản lý thu - chi tài chính trường đại học công lập 2.1.4.1 Các nguồn thu tài chính của đại học công lập

Trang 38

Hình 2.1 Các nguồn tài chính của đại học công lập

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Các nguồn tài chính chủ yếu của trường đại học công lập bao gồm: nguồn ngân sách do nhà nước cấp, nguồn học phí của người học, nguồn tín dụng ưu đãi từ các ngân hàng chính sách xã hội, nguồn do trường đại học công lập tự tạo ra từ hoạt động tư vấn, nghiên cứu khoa học và cung cấp dịch vụ, nguồn tài trợ khác

- Nguồn ngân sách cấp: Trong các nguồn tài chính thì nguồn do ngân sách

cấp có vai trò quan trọng nhất, thông thường chiếm tỷ trọng từ 70% đến trên 90% tổng nguồn tài chính của trường đại học công lập Nguồn thu từ ngân sách nhà nước bao gồm:

+ Kinh phí thực hiện các nghiệp vụ thường xuyên

+ Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học

+ Kinh phí thanh toán cho các đơn vị theo chế độ đặt hàng

+ Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị

+ Kinh phí thực hiện các mục tiêu khác

Trang 39

Nhận thức tầm quan trọng đặc biệt của ngân sách đào tạo đối với quá trình phát triển của đất nước, các quốc gia trên thế giới luôn quan tâm đầu tư thích đáng cho sự nghiệp giáo dục đào tạo Đầu tư cho sự nghiệp giáo dục được coi là đầu tư

cơ bản, lâu dài, mang lại động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội Do vậy, mặc dù ở nhiều quốc gia, hoạt động đào tạo bậc đại học đã được xã hội hóa sâu rộng và đang hướng đến những nguyên tắc thị trường, song nguồn tài chính do ngân sách cấp vẫn luôn chiếm vai trò chủ đạo Chẳng hạn, tại Mỹ, nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các trường đại học chiếm khoảng 50,5% tổng nguồn thu của trường đại học, tại Úc tỷ lệ này là 49,1%, tại Singapore là 60%, tại Trung quốc là 81,8% (NCES, 2002)

- Nguồn học phí: thu học phí là một trong những hình thức để chuyển bớt

gánh nặng tài chính từ nhà nước sang cha mẹ sinh viên hoặc người sử dụng nhân lực Theo Nguyễn Trường Giang (2011), nhà nước cho phép các trường ĐHCL được thu học phí (thu sự nghiệp) theo khung học phí mà Nhà nước đã khống chế Nguồn thu này có được do trường đại học cung cấp dịch vụ thông qua việc chuyển giao tri thức Nhà nước đặt khung học phí đối với GDĐH nhằm tới mục tiêu: chất lượng, số lượng, hiệu quả và sự công bằng Do vậy, chính sách định giá của GDĐH cần được cân nhắc đầy đủ đến khía cạnh thực hiện tốt hơn mục tiêu công bằng, tác động của chính sách tới các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội Nhà nước cũng phải ưu tiên sử dụng nguồn lực của mình để phát triển những ngành đào tạo ít người muốn học và cung cấp dịch vụ đào tạo đại học cho những đối tượng và nơi khó khăn

Nhà nước cần có khung học phí bởi những lý do chính sau:

+ Chế độ học phí từng bước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, giúp Nhà nước cải tiến cơ chế tài chính đối với GDĐH, thực hiện chính sách giữa các vùng, tạo điều kiện cho các vùng kinh tế kém phát triển đào tạo nguồn nhân lực

+ Chế độ học phí sẽ giúp một số trường đại học có điều kiện thuận lợi về địa

lý, đào tạo có chất lượng, uy tín cao, và các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, mở

Trang 40

rộng quy mô đào tạo, từng bước thực hiện tự chủ tài chính để thực hiện xu hướng của sự phát triển

+ Chế độ học phí về lâu dài có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của nhà trường đối với xã hội, đó là sự cạnh tranh giữa các trường về chi phí học tập và chất lượng đầu ra của đào tạo

Trong nghiên cứu về cơ chế tài chính, Vũ Minh Đức (2013) cho rằng, phải có

sự kết hợp giữa chính sách về học phí với phương thức phân bổ ngân sách để tạo nên sự cân đối chi phí được trang trải bằng học phí Chi phí trung bình đào tạo một sinh viên hết bao nhiêu và ngân sách Nhà nước sẽ đảm bảo được bao nhiêu, phần còn lại sẽ phải tính đến mức học phí Sau khi Nhà nước ban hành hoặc điều chỉnh khung học phí, các trường ĐHCL xác lập mức học phí thường phải tính đến các yếu

tố như chi phí đào tạo thực tế (chi phí đào tạo trung bình cho mỗi sinh viên), sự hấp dẫn của chuyên ngành đào tạo (nhiều sinh viên muốn học với hy vọng học xong sẽ

dễ kiếm việc làm), mức sống và giá cả sinh hoạt nơi trường đóng Nhiều khi không phải chỉ chi phí đào tạo cho sinh viên là yếu tố quyết định mà do nhu cầu người học chuyên ngành này là nhiều hay ít mà mức học phí khác nhau

- Nguồn do nhà trường tự tạo ra thông qua hoạt động tư vấn, nghiên cứu khoa học và cung ứng dịch vụ: Nhà nước cho phép và khuyến khích các trường

ĐHCL tăng nguồn thu từ các hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng, phát triển các doanh nghiệp trong nhà trường, tham gia sản xuất của cải vật chất, với vai trò của nhà trường là trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện các dịch vụ tư vấn và dịch vụ phục vụ học sinh sinh viên

Việc phát triển hợp tác quốc tế để khai thác thêm những tiềm năng mới đang trở thành một xu hướng của các cơ sở GDĐH Nhà nước khuyến khích việc mở rộng và đẩy mạnh quan hệ quốc tế về đào tạo, nghiên cứu với các trường, các cơ quan nghiên cứu khoa học có uy tín, có chất lượng trên thế giới không những nhằm trao đổi kinh nghiệm mà còn tăng thêm nguồn lực cho phát triển GDĐH Các trường có thể tận dụng mọi nguồn viện trợ thông qua chương trình hợp tác song

Ngày đăng: 28/04/2016, 18:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Anh Thái, 2008. Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ. Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam
12. Nguyễn Đức Chính, 2002. Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
13. Nguyễn Duy Phong, 2003. Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông ở Hà Nội. Luận án Tiến sĩ Kinh tế. Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông ở Hà Nội
14. Nguyễn Thị Yến Nam, 2013. Bước đầu tìm hiểu về quản lý tài chính trong giáo dục Đại học theo hướng tự chủ. Tạp chí Khoa học Đại học Sư Phạm TP.HCM, số 43, trang 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu về quản lý tài chính trong giáo dục Đại học theo hướng tự chủ
Tác giả: Nguyễn Thị Yến Nam
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học Sư Phạm TP.HCM
Năm: 2013
15. Nguyễn Thu Hương, 2013. Đổi mới cơ chế tài chính đối với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các ngành khoa học cơ bản. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 29, trang 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế tài chính đối với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các ngành khoa học cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thu Hương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
16. Nguyễn Trọng Hoài, 2013. Các chủ đề phát triển chọn lọc: Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm cho Việt Nam. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chủ đề phát triển chọn lọc: Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoài
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế TP.HCM
Năm: 2013
17. Nguyễn Trường Giang, 2011. Đổi mới cơ chế tài chính GDĐH hiệu quả và công bằng xã hội. Kỷ yếu hội thảo đổi mới cơ chế tài chính (11/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế tài chính GDĐH hiệu quả và công bằng xã hội
18. Nguyễn Trường Giang, 2012. Giải pháp đổi mới cơ chế tài chính nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Tạp chí Tài chính, số 4, trang 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đổi mới cơ chế tài chính nâng cao chất lượng đào tạo đại học
Tác giả: Nguyễn Trường Giang
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2012
19. Nguyễn Công Giáp, 2004. Kinh tế học giáo dục. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
20. Mai Ngọc Cường và các cộng sự, 2007. Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiện tự chủ về tài chính ở các trường đại học Việt Nam, Dự án điều tra cơ bản năm 2006-2007. Đề tài cấp bộ. Trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiện tự chủ về tài chính ở các trường đại học Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường, các cộng sự
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2007
21. Phạm Thành Nghị, 2000. Quản lý chất lượng đại học. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng đại học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
22. Phạm Thị Ly, 2014. Trách nhiệm giải trình của trường đại học và vấn đề cơ cấu thẩm quyền ở trường ngoài công lập. Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo Kinh tế Sài Gòn
23. Phạm Thị Thúy Hồng, 2013. Quản lý chất lượng dạy nghề theo mô hình CIPO. Tạp chí Khoa học Giáo dục, trang 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng dạy nghề theo mô hình CIPO
Tác giả: Phạm Thị Thúy Hồng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Giáo dục
Năm: 2013
24. Trần Đức Cân (2012) “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam”. Luận án tiến sỹ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Cân
Nhà XB: Luận án tiến sỹ kinh tế
Năm: 2012
25. Vũ Huy Hào và các cộng sự (2005), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính”. Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp ngành, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính
Tác giả: Vũ Huy Hào, các cộng sự
Nhà XB: Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
Năm: 2005
26. Vũ Minh Đức, 2013. Giá dịch vụ giáo dục đại học trong tiến trình thực hiện tự chủ tài chính của các trường đại học công lập. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá dịch vụ giáo dục đại học trong tiến trình thực hiện tự chủ tài chính của các trường đại học công lập
Tác giả: Vũ Minh Đức
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế & Phát triển
Năm: 2013
27. Vũ Thị Thanh Thủy, 2012. Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế. Trường Đại học Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Thanh Thủy
Nhà XB: Trường Đại học Quốc dân
Năm: 2012
28. Viện Nghiên cứu Giáo dục, 2014. Hệ thống giáo đục đào tạo của Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dụcDanh mục tài liệu tham khảo tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giáo đục đào tạo của Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu Giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2014
11. Bernard Teo, Hwa Chong Institution. 2010, A Satisfaction Model for Fast Food Outlets in Singapore”, Available from Internet:http://projectsday.hci.edu.sg/2010/15-FinalsWeb/Cat-02/2-12/index.php Link
108. Macerinskiene, I., & Vaiksnoraite, B. 2006. The role of higher education to economic development. [Online] Available:http://www.leidykla.vu.lt/fileadmin/Vadyba/11/Irena_Macerinskiene Birute_Vaiksnoraite.pdf (February 9, 2010) Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Các nguồn tài chính của đại học công lập - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 2.1 Các nguồn tài chính của đại học công lập (Trang 38)
Hình 2.2 Mối quan hệ giữa cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 2.2 Mối quan hệ giữa cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo (Trang 48)
Hình 2.3:  Khung chất lượng giáo dục truyền thống - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 2.3 Khung chất lượng giáo dục truyền thống (Trang 64)
Hình 2.4: Phương pháp tiếp cận hợp nhất về chất lượng giáo dục 6AS - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 2.4 Phương pháp tiếp cận hợp nhất về chất lượng giáo dục 6AS (Trang 65)
Hình 2.5: Các khoảng cách của chất lượng đào tạo - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 2.5 Các khoảng cách của chất lượng đào tạo (Trang 68)
Hình 3.1:  Quy trình nghiên cứu - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 80)
Hình 3.2: Khung phân tích - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 3.2 Khung phân tích (Trang 93)
Hình ĐHCL ở quan - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
nh ĐHCL ở quan (Trang 96)
Hình 4.3: Đội ngũ giảng viên cơ hữu các trường đại học và cao đẳng - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 4.3 Đội ngũ giảng viên cơ hữu các trường đại học và cao đẳng (Trang 106)
Hình 4.5 Cơ cấu các trường đại học – cao đẳng chia theo ngành (%) - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 4.5 Cơ cấu các trường đại học – cao đẳng chia theo ngành (%) (Trang 109)
Hình 4.7 Mức độ tự chủ về cơ chế tài chính của trường ĐHCL - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 4.7 Mức độ tự chủ về cơ chế tài chính của trường ĐHCL (Trang 111)
Hình 4.8 Trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 4.8 Trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập (Trang 114)
Hình 4.9 Cơ cấu nguồn thu ngoài ngân sách của các trường ĐHCL - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 4.9 Cơ cấu nguồn thu ngoài ngân sách của các trường ĐHCL (Trang 118)
Hình 4.10 Cơ cấu các khoản chi của ĐHCL - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 4.10 Cơ cấu các khoản chi của ĐHCL (Trang 121)
Hình 5.1: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh - Tác động của cơ chế tài chính đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập tại Việt Nam
Hình 5.1 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh (Trang 151)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w