Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nói trên, chúng ta cũng không thể phủ nhận một thực tế khách quan đang còn tồn tại đó là công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
- -
HÀ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP XÂY DỰNG SỐ 4, THỊ XÃ PHÖC YÊN, TỈNH VĨNH PHÖC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2015
Trang 2TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hồng Loan
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, cùng toàn thể giảng viên đã nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Hồng Loan – Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Công tác học sinh, Trường Trung cấp Xây dựng số 4 đã tạo điều kiện cho tôi
về thời gian, kinh phí trong suốt quá trình học tập và số liệu điều tra để tôi hoàn thành luận văn
Tuy nhiên, do điều kiện thời gian và kinh nghiệm, năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế, chắc chắn luận văn còn nhiều khiếm khuyết Kính mong các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp góp ý để tôi có sự tiến bộ hơn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp luôn động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống, học tập và công tác
Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Hà Thu Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như những ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan trên đây
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Hà Thu Hương
Trang 56 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
7 GDĐĐNN Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
8 GVCN Giáo viên chủ nhiệm
14 QLGDĐĐNN Quản lý Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
15 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 62.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục của thị
xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và vài nét khái quát về Trường TCXD số 4 422.2 Thực trạng công tác GDĐĐNN của học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 hiện nay 482.3 Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 61Tiểu kết chương 2 75CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
Trang 7NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP XÂY DỰNG SỐ 4
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 77
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 77
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý GDĐĐNN cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 hiện nay 79
3.3 Kiểm tra mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 103
Tiểu kết chương 3 106
III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107
1 Kết luận 107
2 Khuyến nghị 108
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hệ thống quản lý giáo dục 14
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy Nhà trường 45Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ đánh giá chất lượng kế hoạch GDĐĐNN cho HS 62Bảng 2.1 Tổng số CBGVNV của nhà trường, trình độ học vấn và vị trí làm việc 45Bảng 2.2: Quy mô đào tạo của Nhà trường 47Bảng 2.3: Động cơ đăng ký, lựa chọn ngành nghề đào tạo tại Trường Trung cấp Xây dựng số 4 của học sinh (100 học sinh năm thứ nhất, 100 học sinh năm thứ hai) 48Bảng 2.4: Thái độ của học sinh đối với ngành nghề đang đào tạo 49Bảng 2.5: Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của giáo dục đạo đức nghề nghiệp 51Bảng 2.6: Nhận thức của học sinh về các tiêu chuẩn, phẩm chất đạo đức của người lao động 53Bảng 2.7: Mức độ thực hiện những yêu cầu cơ bản trong rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của học sinh 59Bảng 2.8: Tỷ lệ có xây dựng các kế hoạch GDĐĐNN cho HS 61Bảng 2.9: Nhận thức của Nhà trường về công tác Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp 62Bảng 2.10: Vai trò của các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh 64Bảng 2.11: Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho HS 67Bảng 2.12: Các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh đã được nhà trường thực hiện 69Bảng 2.13: Thái độ của học sinh tham gia các hình thức giáo dục đạo đức 71
Trang 9Bảng 2.14: Thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục đạo đức 72Bảng 2.15: Thực trạng kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức 73Bảng 3.1: Kết quả của các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh (Theo đánh giá của học sinh) 83Bảng 3.2: Kết quả thu được sau khi thực tập sản xuất 89tại các doanh nghiệp 89Bảng 3.3: Nhận thức của học sinh về mức độ quan trọng của sự tự tu dưỡng,
tự rèn luyện 91Bảng 3.2: Đánh giá về tầm quan trọng và tính khả thi của các biện pháp quản
lý giáo dục ĐĐNN cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 104
Trang 10I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của sự thay đổi lớn về khoa học và công nghệ Những biến đổi mạnh mẽ này có tác động rất lớn đến các giá trị xã hội, đặc biệt là giá trị nhân văn Xã hội hiện đại đang đứng trước một vấn đề bức xúc: Làm thế nào để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa sự phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ với việc phát triển những giá trị đạo đức, giá trị nhân văn của con người và của đời sống xã hội
Đứng trước những yêu cầu của thời đại việc xác định những hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực của xã hội là một đòi hỏi tất yếu Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định xây dựng một nền giáo dục Việt Nam tiên tiến mang đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Năm 1979, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết
về cải cách giáo dục và Uỷ ban cải cách giáo dục Trung ương đã ra Quyết định số 01 về cuộc vận động tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học với quan điểm: Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học sinh
từ mẫu giáo đến đại học, nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy
Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII có nêu: Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành
Công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo (từ năm 1986 đến nay), đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của nước ta luôn đạt mức tăng trưởng khá, bộ mặt xã hội ngày càng thay da đổi thịt, quan hệ hợp tác quốc tế được tăng cường và mở rộng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng
Trang 11cao, đội ngũ lao động qua đào tạo nghề có trình độ đáp ứng nhu cầu của xã hội thông qua hệ thống các trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề ngày càng chiếm ưu thế
Góp phần vào thắng lợi ban đầu có ý nghĩa quan trọng này phải kể đến những đóng góp của ngành giáo dục và đào tạo Với vị trí quốc sách hàng đầu, GD&ĐT có vai trò là nền tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội Vai trò của GD&ĐT được thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng ở các
kì đại hội đã khẳng định: Phát triển GD&ĐT là nền tảng, động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay Thêm vào đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng nhấn mạnh: GD&ĐT là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH,
là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững quan điểm xuyên suốt của Đảng
ta là GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội XI, vai trò của GD&ĐT lại được làm rõ: GD&ĐT cần tập trung vào việc phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất
là nguồn nhân lực chất lượng cao
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nói trên, chúng ta cũng không thể phủ nhận một thực tế khách quan đang còn tồn tại đó là công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chưa được quan tâm đúng mức Đây chính là là tác nhân gây nên sự giảm sút không nhỏ tới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trước tình hình đó, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nói chung và học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 nói riêng là hết sức cần thiết và cấp bách
Trang 12nhằm làm cho học sinh, thế hệ tương lai của đất nước trong sáng, cao đẹp về đạo đức, giàu có về tài năng Điều đó đòi hỏi phải có các công trình đi sâu vào nghiên cứu về vấn đề đạo đức, đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Công tác đào tạo nghề hiện nay đã tạo ra nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, những tác động của nền kinh tế thị trường đã và đang tạo ra những biến động về giá trị đạo đức trong xã hội và trong tầng lớp học sinh, sinh viên Nhà trường cần có sự quan tâm đúng mức và
có những biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh thích hợp nhằm hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực và phát huy được những mặt tích cực giúp học sinh, sinh viên rèn luyện những phẩm chất đạo đức nói chung và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp nói riêng để họ vững bước vào cuộc sống lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp ra trường Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lao động với đầy đủ các phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ khoa học kỹ thuật, nghề nghiệp, năng động sáng tạo nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, là trách nhiệm của Nhà nước, của nhà trường, của gia đình và của toàn xã hội
Để nâng cao nhận thức về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cũng như góp phần vào việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp
Xây dựng số 4, chúng tôi đã chọn đề tài: “Quản lý giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay”để làm luận văn tốt nghiệp cao học
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung về đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức nghề nghiệp, thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp và công tác quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp của học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4; Trên cơ sở đó, đề ra phương hướng và giải pháp nhằm
Trang 13nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh các Trường Trường Trung cấp
- Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp và công tác Quản
lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho HS Trường Trung cấp Xây dựng số 4
- Đề xuất một số giải pháp Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tại Trường Trung cấp Xây dựng số 4, thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc trong năm học 2014 – 2015
5 Giả thiết khoa học
- Phát hiện được thực trạng đạo đức nghề nghiệp của học sinh và quản
lý hoạt động giáo dục đạo đức của Trường Trung cấp Xây dựng số 4
- Đề xuất được một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho Trường Trung cấp Xây dựng số 4
Việc Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh tại Trường Trung cấp Xây dựng số 4 còn có những hạn chế, nếu thực hiện được đồng bộ
Trang 14các giải pháp hợp lý sẽ nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh của Nhà trường
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu về những lý luận cơ bản của quá trình giáo dục đạo đức học sinh
- Nghiên cứu văn kiện, sách báo, tạp chí nhằm hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng phiếu hỏi
- Quan sát, khảo sát thực tế
- Xin ý kiến chuyên gia
6.3 Phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp toán thống kê
- Sử dụng phần mềm tin học
- Sử dụng bảng biểu, sơ đồ
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,
luận văn có cấu trúc gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh các Trường Trung cấp
Chương 2: Thực trạng công tác Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 trong giai đoạn hiện nay
Chương 3: Một số nguyên tắc và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 trong giai đoạn hiện nay
Trang 15II NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người Việc giáo dục đạo đức đã được đặt ra
từ xa xưa và luôn thay đổi theo sự thay đổi của xã hội
Việc giáo dục đạo đức của học sinh trong nhà trường được xem là vấn
đề quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh Vì thế, đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục trong và
ngoài nước quan tâm
1.1.1 Một số nghiên cứu nước ngoài
Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN) trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức
Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết,
do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức
Phoiơbắc (1804 - 1872) nhấn mạnh đạo đức chỉ tồn tại ở đâu đó trong
quan hệ giữa người với người, đâu có mối quan hệ giữa tôi và anh [7, tr.142]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Đạo đức có nguồn gốc từ lao động xã hội và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Khi tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức xã hội cũng thay đổi theo Chính vì vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc, tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức
Trang 161.2.1 Một số nghiên cứu trong nước
Đến nay, việc nghiên cứu đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên của các trường học, các cấp học trong hệ thống giáo dục của nước
ta, hay giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên của các cơ quan, ban ngành khác nhau, v.v đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có các công trình tiêu biểu như:
- Đề tài Luận án Tiến sỹ Những biện pháp giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên sư phạm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam của
Tiến sỹ Nguyễn Anh Tuấn, Trường Đại học Hùng Vương – Tỉnh Phú Thọ Tác giả nghiên cứu những nội dung cơ bản của đạo đức nghề nghiệp nghề dạy học và đề xuất những biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
sư phạm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên cho các trường sư phạm
- PGS TS Bùi Minh Hiền, giảng viên Trường Đại học Quốc gia Hà
Nội trong công trình: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục
đạo đức cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội” đã nêu ra thực trạng đạo
đức và đề xuất một số giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục
đạo đức cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng và sinh viên các
trường bạn nói chung
- PGS.TS Nguyễn Xuân Uẩn, công tác tại Đại học Quốc gia Hà Nội
đã có công trình: “Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên Đại học
Sư phạm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Công trình đã
đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đạo đức cách mạng
cho cán bộ hiện nay của tác giả Đinh Đức Hiền, Sở Nội vụ, Ủy ban nhân dân
thành phố Đà Nẵng đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà
Trang 17Nẵng - số 5(40), 2010 Tác giả đã vận dụng những Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, bài viết đề xuất một số giải pháp: Giáo dục chính trị, đạo đức, đánh giá đúng và tạo môi trường thuận lợi nhằm phát huy tài năng, có cơ chế ràng buộc và kiểm tra giám sát, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay
- Về quan điểm “đức là gốc” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của tác giả Trần Ngọc Ánh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã nhấn mạnh Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng hàng đầu về đạo đức, nhất là đạo đức
cách mạng "Đức là gốc" là quan điểm cơ bản, xuyên suốt và nhất quán trong
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
- Tác giả Nguyễn Viết Thông - Phó trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung Ương đã nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới nhằm
làm rõ việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục Tư tưởng
Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chính trị quan trọng thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; là nội dung trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng, là tình cảm, nguyện vọng thiết tha của mọi người Việt Nam Nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh phải nhằm mục đích lâu dài, nhất quán, là biến tư tưởng của Người thành hiện thực; hình thành và phát triển tố chất Hồ Chí Minh, tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo trong mỗi con người Việt Nam
- Vận dụng Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu hy sinh cho l i ích c a t quốc và nhân dân trong c ng tác c a lực lư ng C ng
an nhân dân của Nguyễn Văn Nghệ - Thượng tá, Tiến sĩ, Phó Trưởng Bộ
môn Mác – Lênin và khoa học xã hội nhân văn - Trường Đại học Cảnh sát
Nhân dân Tác giả nghiên cứu chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức mới,
đạo đức cách mạng Việt Nam Một trong những chuẩn mực đó là: “Suốt đời
Trang 18phấn đấu hy sinh cho lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” và việc vận dụng trong công tác của lực lượng Công an nhân dân
Nhìn chung, các công trình trên do các tác giả nghiên cứu rất sâu sắc,
đề cập tới cái chung, bình diện rộng, phong phú, đa dạng nhằm nâng cao hiệu qủa công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên hiện nay Tuy nhiên, về thực tiễn vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 trong giai đoạn hiện nay chưa có công trình nào đi sâu khảo sát, nghiên cứu và đề ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh học nghề Vì vậy, với tư cách là người giáo viên
- cán bộ quản lý của Nhà trường, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần thiết thực trong công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh tại Trường Trung cấp Xây dựng số 4
1.2 Một số khái niệm khoa học
1.2.1 Khái niệm Quản lý
Trên cơ sở những tiếp cận khác nhau thuật ngữ “quản lý” được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định· Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra
· Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng),
kể cả nguồn nhân lực để đạt đến những két quả kỳ vọng
· Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người
· Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội để chúng phát triển hợp quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và
Trang 19đúng ý chí của người quản lý
· Quản lý là sự tác động của con người (cơ quan quản lý) đối với con người và tập thể người nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt động bình thường
có hiệu lực giải quyết được các nhiệm vụ đề ra, là sự trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhiệm vụ nhất định
Thuật ngữ “Quản lý” gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình
“quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái“ổn định”, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm vào việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt nền tảng của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có
“quản” để động thái của hệ luôn ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ “quản lý” được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”[43, tr 326]
Theo K.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” K.Marx đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [47, tr 350]
Nhà triết học V.G Afnatsev cho rằng, quản lý xã hội một cách khoa học là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng vận động của xã hội và hướng sự vận động của xã hội cho phù hợp với các khuynh hướng đó;
là phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển; là duy trì
Trang 20sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống; là tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa các lực lượng xã hội [20, tr 326]
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa học về lao động đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất [20, tr 327]
Harold Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu,
nó đảm bào phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong
đó con người có thể đạt được các mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [20, tr 327]
Henry Fayol (1841-1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” và sau này được kết hợp lại thành 4 chức năng
cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Những cống hiến của ông về lý luận quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn [20, tr 327-328]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [30, tr 1]
Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại:
“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”
Bản chất quản lý
Đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối
Trang 21tượng quản lý để đạt mục tiêu đã xác định Các hoạt động của chủ thể quản
lý chính là việc dựa vào các nguồn lực, nhân lực để lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá hiệu quả đạt được theo mục tiêu đã đề ra
Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định gồm 4 chức năng cơ bản sau đây:
- Dự báo và lập kế hoạch
- Tổ chức thực hiện kế hoạch
- Lãnh đạo/Chỉ đạo thực hiện kế hoạch
- Kiểm tra, đánh giá
+ Theo truyền thống: H.fayot đưa ra 5 chức năng quản lý: Kế hoạch- tổ chức- chỉ huy- phối hợp- kiểm tra
+ Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống các chức năng quản
lý bao gồm 8 vấn đề sau: xác định nhu cầu- thẩm định và phân tích dữ liệu- xác định mục tiêu kế hoạch hóa (bao gồm cả phân công trách nhiệm, phân phối các nguồn lực, lập chương trình hành động) - triển khai công việc - điều chỉnh - đánh giá - sử dụng liên hệ và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo
Như vậy thực chất của các chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động quản lý
1.2.2 Khái niệm Quản lý giáo dục
Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau Cũng như bất kỳ một hoạt động xã hội nào, hoạt động
Trang 22giáo dục cần được tổ chức và quản lý với cấp độ khác nhau (nhà nước, nhà trường, lớp học ) nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển của các thể chế chính trị-xã hội ở các quốc gia
P.V Khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em”
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là những tác động có
hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em” [29, tr 341]
Theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch phù hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho
hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Trong tài liệu “Tổng quan về lý luận quản lý giáo dục” của trường Cán
bộ Quản lý Giáo dục - Đào tạo có nêu: “Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [19, tr.12]
Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những đây đã đưa đến một
Trang 23
kết luận tương đối thống nhất về 5 chức năng cơ bản của quản lý là: kế hoạch hoá; tổ chức; kích thích; kiểm tra; điều phối [50, tr 146]
- Kế hoạch hoá: lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch
- Tổ chức: tổ chức triển khai, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm
- Kích thích: khuyến khích, tạo động cơ
- Kiểm tra: kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích
- Điều phối: phối hợp, điều chỉnh
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và là cơ
sở để phân công lao động quản lý
Vậy có thể khái quát sự quản lý giáo dục qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hệ thống quản lý giáo dục
1.2.3 Khái niệm Đạo đức
Có thể nói, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức
xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội), là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử của xã hội và góp phần phản ánh tồn tại xã hội Căn cứ vào những chuẩn mực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và ác,
Trang 24về cái không được làm (vô đạo đức) và về nghĩa vụ phải làm Khác với pháp luật, các chuẩn mực đạo đức không ghi thành văn bản pháp quy có tính cưỡng chế, song đều được mọi người thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm cá nhân và của dư luận xã hội Đạo đức ra đời và phát triển là do nhu cầu của xã hội phải điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động chung của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tính đạo đức biểu hiện bản chất xã hội của con người, là nét cơ bản trong tính người; sự tiến bộ của ý thức đạo đức là cái không thể thiếu được trong sự tiến bộ chung của xã hội
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của các quan hệ xã hội Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản Lợi ích của giai cấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có; trái lại, giai cấp bị bóc lột tuỳ theo nhận thức về tính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình Trong
xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định Các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung Tính kế thừa của đạo đức phản ánh những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộng đồng người nào Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn Không ai nghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cả các ngành tri thức khác của nhân loại Quan hệ giữa người với người ngày càng mang tính nhân đạo cao hơn Trong sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, đạo đức vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội
Trang 25Đạo đức là một vấn đề giành được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học và của nhiều nhà khoa học Mỗi lĩnh vực khoa học, nhà khoa học lại đề cập đến đạo đức ở những khía cạnh với những phạm vi nội dung khác nhau:
- “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh dư luận xã hội” [12;
tr 8]
- “Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên” [9; tr 37]
- “Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng
xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình” [9; tr 39]
- Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”; “Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do
tu dưỡng theo những tiêu chuẩn nhất định mà có” [24; tr 466]
Có thể liệt kê ra rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức Nhưng tựu trung lại dù theo cách định nghĩa nào thì đạo đức cũng được xem
là một hiện tượng xã hội, thực hiện các chức năng cơ bản sau: Chức năng định hướng giáo dục, chức năng điều chỉnh hành vi, và chức năng kiểm tra đánh giá
Đạo đức còn được xem là một hình thái ý thức xã hội, có quan hệ chặt chẽ với các hình thái ý thức xã hội khác: Chính trị, pháp luật, khoa học, tôn giáo Đạo đức thể hiện ở các quan niệm về thiện và ác; hạnh phúc; nghĩa vụ; lương tâm; danh dự; lẽ công bằng… Những phạm trù này xoay quanh một cái
Trang 26gốc triết học cơ bản và biểu thị cụ thể thành một hệ thống chuẩn mực đạo đức
Hệ thống quan niệm về đạo đức thay đổi tùy theo chế độ xã hội chính trị Tuy nhiên, giữa các hình thái kinh tế - xã hội, chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì cũng có ít nhiều quan niệm về đạo đức giống nhau, hoặc là về ngôn từ hoặc là về cả nội dung chủ yếu Về cơ bản “xã hội nào thì đạo đức ấy” Trong đạo đức của các chế độ chính trị - xã hội khác nhau cũng có một số vấn đề được gọi là “tính nhân loại phổ biến của đạo đức”, ví dụ: lòng nhân ái; lương tâm; lòng tự trọng; khiêm tốn; lễ độ… Hệ thống các quan niệm, chuẩn mực đạo đức được biểu hiện, tồn tại dưới hình thức những hành vi đạo đức sống động của những nhân cách cụ thể vận hành ý thức đạo đức ấy và dưới hình thức tồn đọng trong nền văn hóa – xã hội, đặc biệt là trong lối sống, phong tục tập quán, nền lý luận, ca dao, tục ngữ, cách đối nhân xử thế…
Đạo đức của mỗi con người được thể hiện thông qua hành vi đạo đức Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có
ý nghĩa về mặt đạo đức Hành vi đạo đức chịu sự quy định bởi các yếu tố tâm lý: Chủ thể của hành vi đạo đức (toàn bộ nhân cách cụ thể và giáo dục đạo đức phải thông qua tổ chức cho người được giáo dục tham gia vào các hành vi đạo đức và giáo dục toàn bộ nhân cách con người); tính sẵn sàng hành động
có đạo đức; niềm tin đạo đức; xu hướng đạo đức; phẩm chất ý chí và phương thức hành vi Hành vi đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với nhu cầu đạo đức Nhu cầu đạo đức quy định sự bộc lộ hành vi đạo đức, nhưng hành vi đạo đức cũng có sự tác động trở lại nhu cầu đạo đức làm cho nó biến đổi Nhu cầu đạo đức là một bộ phận trong hệ thống nhu cầu của cá nhân Trong một điều kiện nhất định, nhu cầu đạo đức sẽ được nổi bật lên và dần xác định được đối tượng để thỏa mãn nhu cầu đó Khi đối tượng được xác định tức là động cơ đạo đức được hình thành Động cơ đạo đức chính là yếu tố thúc đẩy chủ thể
Trang 27tiến hành hành vi đạo đức trong quá trình đó nhân cách của con người được
bộ lộ và hình thành
1.2.4 Khái niệm Đạo đức nghề nghiệp
Nói tới khái niệm đạo đức nghề nghiệp là người ta muốn thu hẹp phạm
vi của khái niệm đạo đức nói chung nhưng nó được cụ thể hoá và đặc trưng hoá cho từng nghề nghiệp nhất định
Đạo đức nghề nghiệp cũng có những nguyên tắc, chuẩn mực được dư luận xã hội thừa nhận và quy định những hành vi ứng xử trong mối quan hệ
xã hội Bản thân nó lại có những nét đặc thù riêng, phản ánh đầy đủ phẩm chất cần có của một ngành, một nghề cụ thể Đó là những qui tắc, chuẩn mực của một nghề nghiệp hoặc một nhóm nghề nghiệp nào đó, nó qui định những hành vi ứng xử của những cá nhân khi hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp
đó Khi những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả trong hoạt động của chính hoạt động đó Mỗi một lĩnh vực nghề nghiệp đều có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung: Ví dụ khi nói đến đạo đức của ngành y thì vấn đề “lương y như từ mẫu” được coi là một chuẩn mực đạo đức của ngành này Trong thời kì chiến tranh, phẩm chất đạo đức “yêu xe như con, quí xăng như máu” là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của người bộ đội lái xe thời kì
đó Với những người làm công tác dịch vụ xã hội thì: “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” là biểu hiện đạo đức nghề nghiệp của họ Với lực lượng công an nhân dân thì phẩm chất đạo đức của họ phải đạt chuẩn theo 6 điều Bác Hồ dạy:
“Với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính
Với đồng sự phải thân ái giúp đỡ
Với chính phủ phải tuyệt đối trung thành
Với nhân dân phải kính trọng lễ phép
Trang 28Với công việc phải tận tụy
Đối với địch phải cương quyết khôn khéo.”
Đối với người Đảng viên, cán bộ, Bác Hồ dạy phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư” Đối với ngành giáo dục, một khẩu hiệu chung cho các cấp học là: “Tất cả vì học sinh thân yêu” Đó chính là đạo đức nghề nghiệp của người thầy giáo
Mỗi loại hình nghề nghiệp luôn đặt ra cho những người trong lĩnh vực nghề nghiệp đó những yêu cầu, quy tắc, chuẩn mực mà họ phải tự giác thực hiện Có bao nhiêu loại nghề nghiệp thì cũng có bấy nhiêu loại đạo đức nghề nghiệp Ví dụ: đạo đức nghề nghiệp của người giáo viên, công an nhân dân, bác sỹ, kỹ sư, huấn luyện viên, vận động viên thể thao, luật sư, dịch thuật, lái
xe, người kinh doanh, nhà báo
Đạo đức nghề nghiệp luôn thể hiện qua hành vi nghề nghiệp và kết quả lao động Đạo đức nghề nghiệp thực hiện các chức năng sau đây:
Định hướng giáo dục những người làm việc trong nghề nghiệp để họ có được những phẩm chất phù hợp với xã hội, với nghề nghiệp
Điều chỉnh hành vi của người làm việc trong nghề nghiệp phải tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực của lĩnh vực đó
Với tư cách là phương thức kiếm sống, hoạt động nghề nghiệp là hoạt động cơ bản của con người Trong hoạt động nghề nghiệp, những lợi ích trực tiếp và thiết yếu nhất của con người được thực hiện Nhưng khi thực hiện lợi ích của mình con người không thể không có quan hệ về mặt lợi ích với người khác, với xã hội Vì thế, hoạt động nghề nghiệp cũng là hoạt động mà ở đó những quan hệ đạo đức giữa con người với con người, giữa con người với xã hội được thể hiện Do tính đặc thù của hoạt động nghề nghiệp mà xã hội có những yêu cầu, những đòi hỏi cụ thể về nghề nghiệp cũng như về đạo đức đối với từng dạng hoạt động nghề nghiệp nhất định Do đó, với mỗi loại hình
Trang 29nghề nghiệp có một số chuẩn mực đạo đức thể hiện một cách nổi bật, làm thành tính đặc thù đạo đức của nghề nghiệp đó Ví dụ: y tế là một trong những lĩnh vực mà từ lâu đã đề xuất những yêu cầu đạo đức nghề nghiệp Do có liên quan trực tiếp đến sinh mạng của bệnh nhân, lĩnh vực này đỏi hỏi một trách nhiệm cao, một sự tận tâm, một tình thương “lương y như từ mẫu”, đã hình thành nên chuẩn mực đạo đức của người thầy thuốc: tình thương, lương tâm, trách nhiệm; giữ chữ tín, trung thực là yêu cầu đạo đức của người kinh doanh chân chính; tận tụy với công vụ, thanh liêm, gương mẫu là yêu cầu đạo đức của người quản lý xã hội; với nghề luật sư ngoài các yếu tố Chân, Thiện, Mỹ, luật sư phải là người có khối óc thông minh, tấm lòng trong sáng, dũng cảm, biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với
sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, đó chính là yêu cầu rất cao trong đạo đức nghề nghiệp luật sư Những yêu cầu, chuẩn mực đó một mặt là sự phản ánh
cụ thể những đòi hỏi của xã hội; mặt khác lại là động lực tinh thần để con người có được hiệu quả tích cực trong hoạt động nghề nghiệp
Theo TS Nguyễn Anh Tuấn “Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống các chuẩn mực đạo đức phản ánh những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của bản thân nghề nghiệp đối với người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ của mình với kết quả cao nhất” [29; tr 27]
Như vậy, đạo đức là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức trong một lĩnh vực cụ thể trong đạo đức chung của xã hội Đạo đức bao gồm những yêu cầu đạo đức đặc biệt, các quy tắc chuẩn mực trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong nghề nghiệp đó sao cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ xã hội Đạo đức nghề nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực nghề nghiệp, chúng kết hợp với nhau, biểu hiện thông qua nhau, tạo nên nhân cách của cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp nào đó Các phẩm chất nghề nghiệp là cơ sở để hình thành các năng
Trang 30lực nghề nghiệp Ví dụ: tình yêu đối với nghề nghiệp làm cho cá nhân hăng say, tích cực sáng tạo trong nghề nghiệp Như vậy, tình yêu nghề nghiệp là một trong những cơ sở để hình thành các năng lực nghề nghiệp Đồng thời, năng lực nghề nghiệp sau khi được hình thành và rèn luyện lại có những ảnh hưởng đối với việc hình thành các chuẩn mực về đạo đức trong lĩnh vực nghề nghiệp nào đó
Tóm lại, từ nội hàm của khái niệm đạo đức nói chung và qua phân tích một số đặc trưng về đạo đức của một vài nghề nghiệp, ta có thể hiểu:
Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, những chuẩn mực đạo đức xã hội mang tính đặc thù của một bộ phận xã hội nhất định nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa các thành viên và xã hội, nó còn chịu sự chế ước của pháp luật
Vì vậy, đạo đức nghề nghiệp được xem như là một nội dung quan trọng của công tác giáo dục đạo đức nói riêng và công tác giáo dục đào tạo nói chung
Đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc để hướng dẫn cho các thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích của nghề nghiệp và xã hội Nói cách khác, đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp nâng cao chất lượng lao động sản xuất tăng năng suất chất lượng hiệu quả của công viêc, đạo đức nghề nghiệp là một phương thức để nâng cao sự tín nhiệm của công chúng vào nghề nghiệp, là một phương tiện giúp tăng cường lòng tin của công chúng vào các ngành nghề, các sản phẩm hàng hóa dịch vụ được cung cấp
1.2.5 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân
nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên
Trang 31Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức,
kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp
Mục tiêu chung c a giáo dục đạo đức nghề nghiệp là nhằm đào tạo
nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn
Để người học nghề có thể lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó thì trường đào tạo nghề phải thực hiện những nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp chủ yếu như sau:
1.2.5.1 Giáo dục tình cảm nghề nghiệp (yêu nghề)
Giáo dục học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức
nghề nghiệp và các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, trên cơ sở đó hình thành
ở học sinh niềm tin đạo đức nghề nghiệp Trước hết cần giúp học sinh nắm được sự cần thiết phải có các phẩm chất và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Đồng thời giúp các em nắm được nội dung cụ thể và các phẩm chất, chuẩn mực của đạo đức nghề nghiệp, hình thành ở họ niềm tin và các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
Học sinh trả lời được các câu hỏi: Lòng yêu nghề có ý nghĩa như thế nào đối với nghề nghiệp? Lòng yêu nghề được thể hiện như thế nào? Để hình thành lòng yêu nghề cần làm gì? Nếu không có lòng yêu nghề thì hiệu quả làm việc cao hay thấp Qua giáo dục tình cảm nghề nghiệp cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp sau: Thế
Trang 32giới quan khoa học, lòng yêu nghề, và một số phẩm chất đạo đức ý chí khác (tinh thần trách nhiệm với công việc, công bằng, bao dung, độ lượng)
Trong mọi loại hình lao động nghề nghiệp, người lao động đều phải yêu nghề mới mang lại hiệu quả lao động cao Đó là một trong những phẩm chất đạo đức hàng đầu đặt ra cho mỗi người lao động Chỉ có những người lao động say sưa, tận tụy, yêu nghề mới có thể thành công trong sự nghiệp Yêu nghề giúp cho người lao động có nghị lực, tạo được sự tâm huyết với nghề, tìm thấy niềm vui, nguồn hạnh phúc trong hoạt động nghề nghiệp của mình
Đó là những người lao động luôn nghĩ đến công việc, họ luôn luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, không thoả mãn với chính mình, cố gắng phấn đấu để không ngừng vươn lên Yêu nghề khiến cho người lao động gắn bó cuộc đời với nghề nghiệp, cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực cho lao động, sáng tạo
Lí tưởng nghề nghiệp của học sinh học nghề không phải là cái có sẵn
mà nó chỉ được hình thành và phát triển trong quá trình tôi luyện nhân cách qua quá trình học tập, rèn luyện và lao động nghề nghiệp Chính vì vậy, cần phải quan tâm giáo dục nghề nghiệp cho học sinh, ngay từ khi mới bước vào trường cũng như trong suốt quá trình đào tạo ở nhà trường
1.2.5.2 Giáo dục sự hiểu biết các quy định, quy tắc phẩm chất phẩm chất đạo đức đặc thù c a lĩnh vực nghề nghiệp
Trong Luật dạy nghề 2006 đã khẳng định: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước” (Điều 4 – luật dạy nghề 2006)
Trang 33Đối với học sinh học nghề trong suốt quá trình đào tạo, rèn luyện được trang bị nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
1.2.5.3 Giáo dục hành vi nghề nghiệp (rèn luyện, tu dưỡng ý thức theo nguyên tắc nghề nghiệp)
Xét cho cùng việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh là hình thành và củng cố những hành vi, thói quen nghề nghiệp, làm cho chúng trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và được duy trì bền vững để có thể ứng xử đúng đắn trong mọi hoàn cảnh
Ví dụ: Giáo dục cho học sinh một số thói quen có tính chất nghề
nghiệp: Sự say mê; sáng tạo; thân thiện và cởi mở; có năng lực; linh hoạt; thực tế; rõ ràng; kiên trì; khả năng thích nghi cao; tận tụy; trung thành; có niềm đam mê; tinh thần hợp tác; tinh thần trách nhiệm; năng động; thận trọng; bình tĩnh; khéo léo trong việc giải quyết các tình huống có thể xẩy ra, luôn cởi
mở vui vẻ và sẵn sàng lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp
Muốn giáo dục hành vi, thói quen nghề nghiệp thì phải lặp lại nhiều lần
các hành động nghề nghiệp Cần tổ chức hình thành cho học sinh tính năng
động sáng tạo, mẫu mực, mô phạm trong hành vi ứng xử và hành vi nghề
nghiệp; hình thành cho học sinh khả năng thích ứng nhanh chóng với môi
trường học tập, lao động, vui chơi, khả năng hoà nhập các quan hệ xã hội; rèn
luyện cho học sinh khả năng làm chủ, điều chỉnh hành vi phù hợp với các tình
huống, các chuẩn mực đạo đức xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh thể
Trang 34hiện, bộc lộ, tự rèn luyện và tự giáo dục hành vi đạo đức và hành vi nghề nghiệp cho bản thân; giúp học sinh, có khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá, tự phê bình hành vi đạo đức và hành vi nghề nghiệp cho bản thân
Tóm lại: Các nội dung của nhiệm vụ này cần được thực hiện đồng bộ
và lồng ghép trong tất cả các hoạt động của Nhà trường: học tập, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ, thực tập sản xuất, hơn thế nữa, việc thực hiện các nội dung nhiệm vụ này là cả một quá trình khó khăn và phức tạp Nó cần được thực hiện một cách thường xuyên, có hệ thống và liên tục thông qua việc tổ chức các hoạt động phong phú cho học sinh Bên canh đó, việc thực hiện các nội dung nhiệm vụ giáo dục đạo đức nghề nghiệp có liên quan chặt chẽ tới
những đặc điểm nhân cách và tâm sinh lý của học sinh học nghề Đây là lứa
tuổi có nhiều khát yọng, hoài bão đồng thời có vốn sống phong phú hơn lứa tuổi trước, do đó rất thuận lợi cho việc thực hiện các nội dung nhiệm vụ giáo dục đạo đức nghề nghiệp Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học
sinh học nghề là cả một quá trình lâu dài kể từ khi học sinh vào trường, sau đó
ra công tác Chính vì vậy, các nội dung nhiệm vụ giáo dục đạo đức nghề nghiệp chỉ trở thành bền vững và trở nên sâu sắc khi các em trở thành những người lao động có kỹ năng nghề thực thụ và trải nghiệm các hoạt động có tính chất nghề nghiệp
Như vậy, có thể hiểu: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một hệ thống các hoạt động, các giải pháp nhằm giáo dục những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho học sinh để khi hành nghề, mỗi cá nhân biết kết hợp hài hòa giữa
năng lực nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp
1.2.6 Khái niệm Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Ở bất kỳ một nhà trường nào cũng phải làm tốt hai nhiệm vụ “Dạy tốt”
và “Học tốt” Quản lý hoạt động GDĐĐNN trong nhà trường là hướng tới việc thực hiện phát triển toàn diện nhân cách cho người học Quản lý hoạt
Trang 35động GDĐĐNN là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa công tác giáo dục đạo đức đạt kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất
Quản lý GDĐĐNN là hướng tới việc phát triển toàn diện nhân cách cho con người Mục tiêu của quản lý GDĐĐNN cho học sinh là làm cho quá trình GDĐĐNN vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDĐĐ Về bản chất quản lý hoạt động GDĐĐNN là hoạt động điều hành việc giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của ngành giáo dục Như vậy, QL GDĐĐNN có những nội dung chủ yếu sau:
1.2.6.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Trong xã hội nói chung và trường nghề nói riêng quản lý GDĐĐNN
là hướng tới việc phát triển toàn diện nhân cách cho con người Mục tiêu của quản lý GDĐĐNN cho học sinh là làm cho quá trình GDĐĐNN vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDĐĐNN Kế hoạch quản
lý hoạt động GDĐĐNN bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết Trong nội dung của kế hoạch GDĐĐNN chú trọng đến giáo dục học sinh:
Về nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức
xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động quản lý GDĐĐ, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện
Về thái độ tình cảm: Giúp mọi người biết ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm trái pháp luật, có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân, đối với việc quản lý GDĐĐNN
Về hành vi: Tích cực tham gia quản lý việc GDĐĐNN, tham gia hoạt động tập thể, hoạt động xã hội Tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân theo chuẩn mực đạo đức chung của xã hội
Trang 36Kế hoạch phải được xây dựng từ thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội về việc GDĐĐNN của trường Trung cấp hiện tại nhưng cũng phải chú ý đến hoạt động dự báo khoa học
về quản lý GDĐĐNN thời gian tới Kế hoạch phải đưa ra được các chỉ tiêu
cụ thể và các giải pháp cụ thể
Tóm lại, điều quan trọng nhất của việc xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động GDĐĐNN là làm sao cho quá trình GDĐĐNN đạt được mục đích hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, tạo lập được những hành vi, thói quen đạo đức của học sinh trong Nhà trường
1.2.6.2 T chức thực hiện giáo dục đạo đức nghề nghiệp
- Chỉ đạo hoạt động xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội về việc GDĐĐNN đảm bảo sao cho kế hoạch phải vừa bao quát, vừa cụ thể phù hợp với từng đối tượng khác nhau, kế hoạch phải khả thi
- Quản lý nội dung hoạt động GDĐĐNN còn là việc triển khai chỉ đạo thực hiện kế hoạch theo đúng yêu cầu và tiến độ Thường xuyên kiểm tra, uốn nắn những lệch lạc, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình cụ thể Tổng kết, đánh giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức giáo dục đạo đức Quản lý nội dung hoạt động GDĐĐNN được lựa chọn tùy theo mục tiêu đề ra và được thực hiện theo kế hoạch đã định
1.2.6.3 Chỉ đạo quá trình thực hiện giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Quản lý chỉ đạo quá trình thực hiện GDĐĐNN là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đề ra Người ta thường sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp tổ chức hành chính: là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính dứt khoát bắt buộc như nghị định, nghị quyết, văn bản quy chế, quy
Trang 37định…Phương pháp tổ chức hành chính là vô cùng cần thiết trong hoạt động quản lý Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý, nếu lạm dụng nó thì sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu, mệnh lệnh Phương pháp tổ chức hành chính thể hiện qua các nghị quyết của HĐGD; nghị quyết của Hội nghị công chức, nghị quyết của liên tịch… Các quyết định của Hiệu trưởng, các quy định, nội quy của nhà trường yêu cầu giáo viên, công nhân viên và học sinh phải thực hiện Phương pháp tổ chức hành chính được xem như những biện pháp quản lý cơ bản nhất để xây dựng nề nếp, duy trì kỷ luật trong nhà trường, buộc cán bộ giáo viên và học sinh phải làm tốt nhiệm vụ của mình
+ Các phương pháp tâm lý - xã hội: Đây là phương pháp kích thích đối tượng quản lý sao cho họ luôn toàn tâm toàn ý cho công việc, coi những mục tiêu nhiệm vụ của quản lý như là mục tiêu công việc của chính họ, họ luôn cố gắng học hỏi tích lũy kinh nghiệm ngày càng tốt hơn, đoàn kết giúp đỡ nhau hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Các phương pháp tâm lý - xã hội bao gồm các phương pháp: Giáo dục, Thuyết phục, Động viên, Tạo dư luận xã hội, Giao công việc yêu cầu cao Nhóm phương pháp này thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý của người lãnh đạo Phương pháp này phát huy quyền làm chủ tập thể và phát huy mọi tiềm năng của mỗi thành viên trong tổ chức Vận dụng thành công phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của tổ chức và hoạt động GDĐĐNN học sinh Song phương pháp này đạt hiệu quả cao phụ thuộc vào nghệ thuật của người quản lý
+ Các phương pháp về kinh tế: Đặc điểm của phương pháp này là chủ thể quản lý tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý dựa trên các lợi ích vật chất và các đòn bẩy kinh tế làm cho đối tượng quản lý suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm một cách tốt nhất mà không phải đôn đốc nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể quản lý Thực chất của phương pháp kinh tế là dựa trên sự kết hợp giữa việc
Trang 38thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của cán bộ giáo viên, học sinh ghi trong điều
lệ nhà trường phổ thông, quy chế chuyên môn…với những kích thích có tính đòn bẩy trong trường Bản thân việc kích thích vật chất cũng đã chứa đựng sự
cổ vũ về tinh thần Bằng nguồn kinh phí của nhà trường xây dựng cơ chế thưởng phạt trong quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động GDĐĐNN nói riêng, khen thưởng xứng đáng cho những cán bộ giáo viên có thành tích trong hoạt động GDĐĐNN cho học sinh, đồng thời phê bình khiển trách, cắt danh hiệu thi đua đối với những cán bộ giáo viên thiếu trách nhiệm trong GDĐĐNN học sinh.(nhất là giáo viên chủ nhiệm lớp)
Phương pháp kinh tế thường kết hợp với phương pháp tổ chức hành chính Hai phương pháp này luôn hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau
1.2.6.4 Kiểm tra, đánh giá quá trình GDĐĐNN
Quản lý nội dung hoạt động GDĐĐNN cho học sinh còn là việc tổ chức sắp xếp bộ máy vận hành để thực hiện kế hoạch đã đề ra Việc phân công nhiệm vụ cụ thể, đúng việc Mỗi trường phải thành lập một Hội đồng (hoặc Ban giáo dục đạo đức) để GDĐĐNN cho học sinh bao gồm: Hiệu trưởng phụ trách chung, chủ tịch Hội đồng, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn theo dõi việc giáo dục đạo đức qua chuyên môn, các bài giảng trên lớp Phó hiệu trưởng phụ trách lao động, CSVC và hoạt động ngoại khóa thì theo dõi việc GDĐĐNN học sinh qua hoạt động lao động, việc bảo vệ CSVC môi trường, và các hoạt động tập thể, ngoại khóa ngoài giờ lên lớp, các hoạt động
ở gia đình, ở xã hội; Việc giáo dục lý tưởng, ý thức giác ngộ chính trị, ý thức làm chủ, hoạt động tự quản và nề nếp học sinh được tổ chức Đoàn TNCS của nhà trường đảm nhiệm Giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi học sinh nhất, kết hợp cùng tập thể cán bộ lớp và chi đoàn để GDĐĐNN và đánh giá đạo đức học sinh qua từng tháng
Trang 391.3 Tầm quan trọng của việc Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh Trường Trung cấp Xây dựng số 4 trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sự phân công lao động trở nên cực kỳ sâu sắc, nhiều hoạt động trước đây không mang tính nghề nghiệp nay trở thành phương thức kiếm sống của con người; nhiều ngành nghề mới xuất hiện Điều đó gây ra những khó khăn cho con người khi phải ứng xử trước những tình huống nghề nghiệp Các chuẩn mực đạo đức chung của xã hội không còn đủ để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạt động nghề nghiệp Đặc biệt tác động của kinh tế thị trường đang làm cho những đặc trưng và yêu cầu đạo đức nghề nghiệp thể hiện rõ hơn Do đó, việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp trở thành một vấn đề tất yếu
Tuy nhiên, không phải đến giai đoạn hiện nay, vấn đề xây dựng đạo đức nghề nghiệp mới được đặt ra Giáo dục chuyên môn nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp là hai mặt tất yếu của quá trình giáo dục Song, trong phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp
“Nghề nào nghiệp ấy”, nghề nào cũng có những chuẩn mực đạo đức riêng Hiện nay, có nhiều nghề trung gian thích ứng với sự năng động của nền kinh tế thị trường Do đó, đạo đức nghề nghiệp ngày càng được chú trọng trong giáo dục và được quan tâm chú ý bằng dư luận xã hội Đặc biệt, giai đoạn hiện nay sự đầu tư cho hoạt động dạy nghề càng được quan tâm: “Đào tạo thế hệ trẻ là sự nghiệp của Đảng, là trách nhiệm của toàn dân, của xã hội Nhưng vai trò chính yếu nhất là nhà trường Trong trường học sinh có được đào luyện tốt, thì ra ngoài các em mới trở nên tốt được”
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình xây dựng và điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân phù hợp với mục tiêu đã định Việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa vô lớn, nhằm mục đích tạo ra một đội ngũ
Trang 40những người lao động có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của
xã hội trong giai đoạn mới
Hiện nay, cả nước ta đang hướng tới mục tiêu là từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa đất nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp văn minh, hiện đại: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế quốc phòng, an ninh được tăng cường Thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao” [11; tr 89-90]
Trường Trung cấp Xây dựng số 4 trực thuộc Bộ Xây dựng đóng trên địa bàn thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc, nơi đào tạo người lao động tương lai
có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt,
có tổ chức kỷ luật trong lao động đáp ứng với nhu cầu của thị trường lao động trong và người nước Vì vậy, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh là một hoạt động mang tính xã hội phức tạp từ nhiều phía: Gia đình, nhà trường, xã hội, được thực hiện đồng bộ trên các mặt (giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục hành vi, lối sống, nếp sống, truyền thống, ý thức tổ chức kỷ luật lao động…) Kết quả đều phục vụ mục tiêu chung là hình thành ở học sinh những tri thức đạo đức, tình cảm, hành vi đạo đức lành mạnh Từ nhận thức
về các giá trị và chuẩn mực đạo đức dần hình thành các nhu cầu, động cơ bên trong thúc đẩy các em có hành vi, hành động thể nghiệm chúng trong cuộc sống hàng ngày
Vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp là vấn đề đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân học sinh Cá nhân học sinh, khi đã có lựa chọn cho mình một nghề phù hợp với năng lực, hứng thú,