Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực..." Bộ Giáo và Đào tạo đã ban hành công văn số 4
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGÔ QUÝ TOÀN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC
CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ” –
VẬT LÍ 12 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2015
Trang 2NGÔ QUÝ TOÀN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC
CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ” –
VẬT LÍ 12 THPT
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ THU HIỀN
HÀ NỘI, 2015
Trang 3Để hoàn thành luận văn thạc sĩ, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban giám hiệu; Phòng đào tạo Sau đại học; Ban Chủ nhiệm và quý Thầy, Cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tác giả xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, quý Thầy, Cô giáo tổ Vật lí, trường THPT Yên Phong Số 1 - huyện Yên Phong – Bắc Ninh đã nhiệt tình giúp
đỡ, trao đổi và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn tận tình chu đáo của TS Lê Thị Thu Hiền trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân, bạn
bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình học tập và thực hiện
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác
Tác giả
Ngô Quý Toàn
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Đóng góp mới của luận văn 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.2 Hoạt động học và quá trình tự học 8
1.2.1 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học 8
1.2.2 Vấn đề tự học 10
1.3 Năng lực tự học Vật lí của học sinh trung học phổ thông 14
1.3.1 Năng lực của học sinh trung học phổ thông 14
1.3.2 Năng lực tự học của học sinh 15
1.3.3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 17
1.3.4 Đặc trưng về năng lực tự học môn Vật lí của học sinh trung học phổ thông 23
1.3.5 Bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí cho học sinh trung học phổ thông 25
1.4 Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun môn Vật lí 29
Trang 6lí cho học sinh 29
1.4.2 Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun 32
1.4.3 Cấu trúc của tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun 35
1.4.4 Quy trình thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun 38
1.5 Thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí của học sinh trung học phổ thông 40
1.5.1 Thực trạng hoạt động tự học môn Vật lí của học sinh trung học phổ thông 40
1.5.2 Thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí của học sinh trung học phổ thông 42
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN CHƯƠNG “HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ” – VẬT LÍ 12 THPT 45
2.1 Tổng quan về dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí 12 THPT 45
2.1.1 Vai trò, vị trí của chương “Hạt nhân nguyên tử” trong chương trình Vật lí 12 THPT 45
2.1.2 Nội dung kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” trong chương trình Vật lí 12 THPT 47
2.2 Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí 12 THPT 49
2.2.1 Nguyên tắc chung của việc thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun 49
2.2.2 Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun một số bài trong dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí 12 THPT 50
2.3 Sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lí 12 THPT 62
2.3.1 Đối với học sinh 62
2.3.2 Đối với giáo viên 65
Trang 7dụng tài liệu có hướng dẫn theo môđun 65
2.4.1 Tiến trình dạy học bài: Năng lượng liên kết của hạt nhân Phản ứng hạt nhân 66
2.4.2 Thiết kế tiến trình dạy học bài: Bài tập Năng lượng liên kết của hạt nhân 70
2.4.3 Thiết kế tiến trình dạy học bài Phóng xạ (Phụ lục 2) 78
2.4.4 Thiết kế tiến trình dạy học bài Bài tập Phóng xạ (Phụ lục 3) 78
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 79
3.1 Mục đích thực nghiệm 79
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 79
3.3 Đối tượng, thời gian và phương pháp thực nghiệm sư phạm 79
3.3.1 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 79
3.3.2 Thời gian thực nghiệm sư phạm 80
3.3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 80
3.4 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 81
3.5 Nội dung thực nghiệm sư phạm 82
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 83
3.6.1 Đánh giá về mặt định tính 83
3.6.2 Đánh giá về mặt định lượng 84
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập,
giúp người học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm
đầu tiên trong giáo dục Có động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn tự giác say
mê học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận Vấn đề tự học của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc
từ nhiều năm qua
Tại điều 5, chương I, Luật Giáo dục đã ghi: "Phương pháp giáo dục phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của HS; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên”
Tại Nghị quyết trung ương Đảng kì họp thứ 8, Quốc hội khóa XI về đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam đã nêu rõ: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực; chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực "
Bộ Giáo và Đào tạo đã ban hành công văn số 4509/BGDĐT-GDTrH ngày 03/9/2015 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2015 - 2016 đã chỉ đạo rõ về
đổi mới hình thức tổ chức dạy học: "Đa dạng hóa các hình thức học tập, chú ý các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh; sử dụng các hình thức dạy học trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông như: dạy học trực tuyến, trường học kết nối; Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường"
- Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, TH là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học môn Vật lí Nói tới phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp TH, đó là cầu nối giữa học tập và
Trang 10nghiên cứu khoa học Nếu rèn luyện cho người học có được kỹ năng, phương pháp, thói quen TH, biết ứng dụng những điều đã học vào tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi người
- Môđun dạy học là một đơn vị chương trình dạy học được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học Môđun dạy học có nhiều cấp độ: môđun lớn gồm các môđun thứ cấp và môđun thứ cấp gồm các môđun nhỏ Mỗi môđun dạy học là một phương tiện tự học hiệu quả vì nó tương ứng với một chủ đề dạy học xác định, được phân chia thành từng phần nhỏ với mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng cụ thể và các test đánh giá tương ứng Do tính độc lập tương đối
về nội dung dạy học, GV có thể “lắp ghép”, “tháo gỡ” các môđun để xây dựng những chương trình dạy học đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu dạy học kiểu phân hoá, cá thể hoá, còn HS dưới sự hướng dẫn của GV có thể tự học theo nhịp độ
cá nhân phù hợp với bản thân mình Trong quá trình dạy học môn Vật lí ở trường Trung học phổ thông, HS sẽ thuận lợi hơn khi tự học với tài liệu có hướng dẫn theo môđun giúp nâng cao NLTH đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Xây
dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học chương "Hạt nhân nguyên tử" - Vật lí 12 THPT"
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận để xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun và sử dụng trong quá trình dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 THPT nhằm bồi dưỡng NLTH của HS qua đó góp phần nâng cao kết quả học tập môn Vật lí cho HS
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, hoạt
động dạy học Vật lí của GV, HS lớp 12 THPT và năng lực tự học Vật lí của học sinh THPT
- Phạm vi nghiên cứu: Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun chương
“Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 THPT
Trang 114 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng lí luận về xây dựng và sử dụng dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học chương "Hạt nhân nguyên tử" - Vật lí 12 THPT thì
sẽ bồi dưỡng NLTH của HS qua đó góp phần nâng cao kết quả học tập môn Vật lí cho HS
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu các tài liệu nhằm hệ thống hoá
cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học Vật lí
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng bồi dưỡng năng
lực tự học trong dạy học môn Vật lí cho HS hiện nay thông qua các phiếu điều tra
và phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để
đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung được đề xuất
- Phương pháp thống kê toán học: Phân tích, xử lý các số liệu thu được qua
thực nghiệm
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về NLTH của học sinh THPT
- Điều tra thực trạng tự học và bồi dưỡng NLTH trong dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 THPT cho HS ở trường THPT hiện nay
- Biên soạn tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 THPT góp phần bồi dưỡng NLTH cho HS
- Đề xuất phương thức sử dụng tài liệu có hướng dẫn theo mô đun chương
"Hạt nhân nguyên tử" và soạn thảo một số tiến trình dạy học có sử dụng mô đun đã xây dựng
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của việc sử dụng tài liệu
TH có hướng dẫn theo môđun chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12
Trang 127 Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học môn Vật lí ở trường THPT góp phần bồi dưỡng NLTH cho học sinh
- Xây dựng được tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun chương “Hạt nhân nguyên tử”- Vật lí 12 THPT để sử dụng trong dạy học môn Vật lí
- Soạn thảo tiến trình dạy học một số đơn vị kiến thức trong chương "Hạt nhân nguyên tử" - Vật lí 12
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm Ý tưởng dạy học coi trọng người học, chú ý đến tự học đã có từ thời cổ đại, tùy theo từng giai đoạn lịch sử và mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã phát triển và trở thành quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay
Thời kì phục hưng, ở Liên Xô (cũ) nhiều tài liệu về vấn đề tự học và vấn đề tự đọc sách được xuất bản Chẳng hạn: N.A Rubakin có nhiều tài liệu chuyên bàn về vấn
đề tự học như: “Tự học như thế nào” (Nước Nga Xôviết, M 1962, NXB Thanh niên,
Hà Nội, 1982), “Tâm lý người đọc và sách” (Nhà nước, M.1992)…A A.Gorơxepxky và
M I Liubinxưna (Đại học Tổng hợp Lêningrad) trong “Tổ chức công tác tự học của học sinh Đại học”, đã và tổng kết những kinh nghiệm cá nhân trong công tác dạy học ở trường Đại học và đưa ra một số đề nghị về cách học có hiệu quả của SV [dẫn theo 6] Viện sĩ N.N Xêmênốp khi trao đổi về các hình thức và phương pháp công tác tự học ở nhà của học sinh ông nói: “Trước hết cần phải dùng mọi cách khuyến khích và tạo ra những điều kiện tốt cho tính tự lực khoa học của các em”[dẫn theo 15]
Ở thế kỷ XVIII- XIX, rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học trong dạy học như Jan Jac Rousseau (1712- 1778), Johann Heinrich Pestalozzi (1746- 1827), Adolf Distervers (1790- 1866), Konstantin Dmitrievich Usinxki (1824- 1870) Các tác giả đã đề cập đến vai trò của nhà trường và của người thầy trong việc tổ chức
và bồi dưỡng kỹ năng tự học cho người học [dẫn theo 20]
Một số tác giả khác không chỉ khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học như tác giả X.P.Baranov, Ilina T.A [10], I.F Kharlamop [11] mà còn quan tâm tới các hoạt động tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của người học Tác giả Rubakin N.A [18] đã nhấn mạnh: giáo dục động cơ học tập đúng đắn là
Trang 14điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự học Tác giả X.G.Luconhin, B.P.Exipop [7] đã nghiên cứu đưa ra những kỹ năng TH cần thiết nhằm đảm bảo cho người học đạt kết quả cao Trong số các kỹ năng TH, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh vai trò và ý nghĩa của kỹ năng đọc sách, kỹ năng này được đánh giá là quan trọng nhất trong hoạt động TH
Tác giả I.F Kharlamop nghiên cứu về tự học trên cơ sở tìm ra những biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng cách: Tăng cường việc nghiên cứu, làm việc với sách và tài liệu học tập, tiến hành dạy học nêu vấn đề, cải tiến công tác tự lực học tập, đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá… [11]
Hiện nay, các tác giả đã nghiên cứu đến việc đề xuất hoạt động tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TH của người học; giáo dục động cơ học tập đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, xác định các kỹ năng TH của người học Điều đó khẳng định, tự học có một ý nghĩa vô cùng cần thiết, ảnh hưởng to lớn tới việc học của người học trong quá trình dạy học, đặc biệt TH là yếu tố quyết định cho xu hướng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu về vấn đề tự học Trong thời đại hiện nay vấn đề tự học càng được quan tâm như là yếu tố
không thể thiếu được của dạy học hiện đại
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học Quan niệm về tự
học, Người cho rằng: "Tự học là học một cách tự động" và "Phải biết tự động học
tập" Theo Người: "Tự động học tập" tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự
chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ, mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình Nhiều công trình nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục - đào tạo đều đã thống nhất một trong những tư tưởng cơ bản xuyên suốt của Người
là tự học, tự đào tạo Người cho rằng “học cốt lõi là tự học”, Người dạy: muốn
học suốt đời, làm việc suốt đời thì phải tự học, muốn tự học có kết quả thì phải có
Trang 15mục đích rõ ràng, lao động nghiêm túc, có các điều kiện cần thíết, tích cực luyện tập và thực hành
Ngoài ra, còn có các công trình tiêu biểu của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [23,24,25] đã nghiên cứu sâu về tự học, vai trò của tự học, dạy tự học
Cuốn sách “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” của GS.TSKH
Thái Duy Tuyên xuất bản năm 2008 đã thu hút được sự quan tâm của người đọc vì tác giả đã đã đưa ra nhiều nội dung lí luận quan trọng liên quan đến vấn đề bồi dưỡng NLTH cho học sinh [26] Tác giả tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã công bố
công trình nghiên cứu của mình trong cuốn sách “Tự giáo dục – tự học – tự nghiên
cứu” đã đưa ra phương pháp tự học của sinh viên để mỗi sinh viên không cảm thấy
việc học là gánh nặng nhưng đảm bảo cho các trường Đại học, Cao đẳng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của xã hội [25]
Một số nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài luận án về tự học khác như
luận án "Các biện pháp tổ chức hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp" của tác giả Phạm Hồng Quang [17], đề tài “Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Giáo
dục học cho sinh viên các trường ĐHSP” của tác giả Nguyễn Thị Tính[22], luận
án của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh với đề tài “Biện pháp hoàn thiện kỹ năng tự
học môn GDH cho sinh viên ĐHSP theo quan điểm sư phạm tương tác”[8]; luận án
"Hình thành và phát triển NLTH cho sinh viên ngành Toán hệ cao đẳng sư phạm" của tác giả Lê Hiển Dương [6], luận án của tác giả Nguyễn Duy Cẩn bàn về "Tăng
cường NLTH cho sinh viên hóa học ở trường đại học sư phạm bằng phương pháp
tự học có hướng dẫn theo môđun" [3], Nguyễn Thị Thanh Hồng nghiên cứu về "Tổ chức tự học Giáo dục học cho sinh viên đại học sư phạm qua e-learning"[9] , luận
án "Hình thành và phát triển NLTH môn Vật lí cho học sinh dự bị đại học dân tộc"
của tác giả Lương Viết Mạnh đã đề cập đến các biện pháp hình thành và phát triển NLTH cho học sinh[15]…các tác giả đã nghiên cứu về tự học và vai trò, cách thức đổi mới và phát triển NLTH của người học
Nghiên cứu về tự học môn Vật lí, có luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Châm
với đề tài "Xây dựng và sử dụng tài liệu có hướng dẫn theo mô đun chương "Động
lực học chất điểm" góp phần bồi dưỡng NLTH của học sinh"[4]
Trang 16Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về "Xây dựng và sử dụng tài liệu
tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học chương "Hạt nhân nguyên tử" - Vật lí 12 THPT"
1.2 Hoạt động học và quá trình tự học
1.2.1 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học
Hoạt động là một khái niệm của tâm lý học hiện đại Một hoạt động bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định Hai hoạt động khác nhau được phân biệt bởi hai đối tượng khác nhau Và đối tượng là động cơ thực sự của hoạt động
- Về phía đối tượng: Động cơ được thể hiện thành các nhu cầu Các nhu cầu
đó được sinh thành từ một đối tượng ban đầu còn trừu tượng, ngày càng phát triển rõ ràng, cụ thể hơn và được chốt lại ở hệ thống các mục đích Mỗi mục đích, lại phải thoả mãn một loạt các điều kiện (hay còn gọi các phương tiện) Mối quan hệ biện chứng giữa mục đích và điều kiện được coi là nhiệm vụ
- Về phía chủ thể: Chủ thể dùng sức căng cơ bắp, thần kinh, năng lực, kinh
nghiệm thực tiễn, để thỏa mãn động cơ gọi là hoạt động Quá trình chiếm lĩnh từng mục đích gọi là hành động Mỗi điều kiện để đạt từng mục đích, lại quy định cách thức hành động gọi là thao tác
Những điều mô tả trên có thể biểu diễn bởi sơ đồ sau:
Phía đối tượng Phía chủ thể
Động cơ Hoạt động
Mục đích Hành động Nhiệm vụ
Điều kiện Thao tác (phương tiện)
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mối liên hệ của đối tượng và chủ thể của hoạt động
Quá trình dạy học là quá trình thống nhất, biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, trong đó hoạt động học là trung tâm
Trang 17Một số khía cạnh cơ bản của hoạt động học tập:
+ Các hành động trên được thực hiện bởi các thao tác tư duy đặc trưng như phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, suy luận lôgíc, Tuy nhiên toàn bộ quá trình này không tự diễn ra mà đòi hỏi phải có điều kiện là sự kích thích nhất định trong các giai đoạn: phát hiện vấn đề; nhận thấy có mâu thuẫn, hình thành động cơ, tìm tòi
và khái quát hóa,
- Về hình thức:
Hoạt động học điển hình có thể diễn ra trong thời gian trên lớp, khi GV thực hiện vai trò chỉ đạo, hướng dẫn hoặc trong khi hoạt động độc lập trên lớp và cả khi làm bài tập ở nhà
Hoạt động học có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với hoạt động dạy, trình
tự các bước trong hoạt động học hoàn toàn thống nhất với trình tự các bước trong hoạt động dạy Nếu GV vạch ra các nhiệm vụ, hành động học tập sắp tới của HS bằng các biện pháp thích hợp và kích thích chúng thì HS sẽ tiếp nhận các nhiệm vụ
đó, thực hiện các hành động học tập đề ra; nếu GV kiểm tra hành động của HS và điều chỉnh hành động dạy của mình thì HS cũng điều chỉnh hành động học của mình,
+ Ý thức được vấn đề (vạch được nội dung, có biểu tượng chung nhất về sự kiện, nắm được quá trình hình thành và phát triển của sự kiện đó)
+ Nắm được vấn đề (vạch được bản chất bên trong của các hiện tượng)
Trang 18+ Sáng tỏ vấn đề (biết cách tìm ra lối thoát khi gặp khó khăn)
- Về cơ chế của hoạt động học tập:
Tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều khá
thống nhất với quan điểm của Piaget [16], đó là coi học tập là một quá trình kép:
+ Thứ nhất, là quá trình tiếp nhận, đó là sự tiếp thu các thông tin từ môi trường xung quanh và việc xử lý các thông tin mới đó với các cấu trúc nhận thức đã đạt được từ trước
+ Thứ hai, là quá trình thích nghi, đó là sự thích ứng và biến đổi các cấu trúc nhận thức đã có đối với các tác động của các thông tin từ môi trường nhằm làm cho cấu trúc nhận thức này tiến triển Trong quá trình này, mọi thao tác của con người đều nhằm thực hiện đồng hoá và điều ứng
1.2.2 Vấn đề tự học
1.2.2.1 Quan niệm về tự học
Khái niệm tự học đã được nhiều học giả và những nhà nghiên cứu giáo dục định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau Quan niệm về TH cũng được nhiều chuyên gia giáo dục như Vũ Văn Tảo, Lê Khánh Bằng, Phan Trọng Luận, Lê Công Triêm, Đặng Thành Hưng, Bùi Văn Nghị đề cập
Theo Nguyễn Cảnh Toàn ([23], [24]), TH là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình
Theo Nguyễn Kì [14], TH là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho bản thân: Nhận biết vấn đề, xử lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, hình thành và xây dựng giải pháp giải quyết vấn đề TH phụ thuộc vào quá trình cá nhân hóa việc học
Phân tích quan niệm về tự học của các chuyên gia cho thấy:
- TH là quá trình tích lũy thay đổi kinh nghiệm của cá thể bởi chính hoạt động tương tác của cá thể với các nhân tố môi trường TH là học ở trình độ độc lập, tự giác, chủ động
Trang 19- Bản chất của tự học là quá trình người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hoạt động học tập để thực hiện
có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập
- TH là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm Người học hoàn toàn làm chủ mình, tận dụng mợi cơ hội để học tập
- TH là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, một kết luận khác
- TH là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi
cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [24]
Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ cho rằng chất lượng đào tạo sẽ đạt hiệu quả cao khi dạy học (ngoại lực) cộng hưởng với tự học (nội lực) [24] Như vậy người học
sẽ phát huy được tính tích cực cao nhất nếu như có tác động của thầy “cộng hưởng” với NLTH của trò, tức là quá trình dạy học phải đảm bảo được sự thống nhất giữa tính
“vừa sức” và yêu cầu “phát triển”
1.2.2.2 Vai trò của tự học
Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy TH có vai trò rất quan trọng đối với HS, đó là:
- Phát huy nội lực của người học: Trong việc học thì kiến thức, kỹ năng, cách
học, cách tư duy, nhân cách vừa là mục tiêu cần đạt tới, vừa là công cụ để đạt đến mục đích Trong quá trình học tập, HS lắng nghe GV giảng bài, tự đọc sách, suy ngẫm, lựa chọn, phát huy tiềm năng cá nhân để đạt chất lượng cao trong học tập Đó chính là phát huy nội lực ở người học
- Nâng cao hiệu quả học tập: Nếu có sự cố gắng TH bền bỉ, thì dù điều kiện
học chưa được đầy đủ, giá trị gia tăng ở người học do người học mang lại vẫn có thể
sẽ hình thành, người học chiếm lĩnh giá trị đó biến thành thực sự của mình và từng bước, từng bước mà có năng lực mới, phẩm chất mới Học tập như thế sẽ mang lại hiệu quả thiết thực Nghiên cứu của các nhà tâm lý đã chứng minh được rằng năng lực của mỗi cá nhân được hình thành và phát triển chủ yếu trong quá trình hoạt động
và giao lưu
Trang 20- Giúp HS học cách học: Cách học là cách tác động của chủ thể đến đối
tượng học, hay là cách thực hiện hoạt động học Có ba cách học cơ bản: Học cá nhân tức là tự nghiên cứu; học thầy, học bạn tức là học tập hợp tác; học từ thông tin phản hồi tức là cách tự kiểm tra, tự điều chỉnh
- Giúp HS cách tiếp cận nghiên cứu: Khi hướng dẫn và giúp HS tự học, GV
phải yêu cầu HS học tập và làm việc với tác phong của một người nghiên cứu (sắp xếp, phân loại, so sánh đối chiếu, phân tích, tự tìm ví dụ, ) với những yêu cầu đó, qua quá trình TH và các hoạt động hợp tác, HS học và rèn luyện được nhiều năng lực phẩm chất, giúp họ có thể tiếp tục TH, tự nghiên cứu về sau và tự nghiên cứu suốt đời Từ đó HS có khả năng phát hiện, GQVĐ và đặc biệt là có tác phong công nghiệp, tư duy độc lập, sáng tạo
- Giúp HS nâng cao phẩm chất, rèn luyện tính cách: Hoạt động học tập của
HS là quá trình tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình để đạt được những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình dạy học phải làm cho hoạt động học của HS thực sự chủ động trong học tập, mà cụ thể là tăng cường nhiều hơn quá trình TH, tự nghiên cứu của HS
1.2.2.3 Các hình thức tự học
Có nhiều hình thức tự học khác nhau:
- Tự học dưới sự hướng dẫn của thầy như tự học của học sinh, sinh viên, thực
tập sinh, nghiên cứu sinh…
- Tự học không có sự hướng dẫn của thầy : trường hợp này thường liên quan
- Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học không
đến trường, không cần sự hướng dẫn của giáo viên, tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, đánh giá, tiến trình học tập của cá nhân
Trang 21- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không trực tiếp với thầy
mà chủ yếu nghe giảng giải qua phương tiện truyền thông, học từ xa
- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu: Người học trực tiếp làm việc với tài liệu
hướng dẫn Tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu để tìm kiếm, bổ sung hoàn thiện kiến thức
- Tự học thường xuyên trong quá trình học tập: Học bài và làm bài ở nhà theo
nhiệm vụ học tập là việc làm của bất cứ một người học nào
- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của GV, biến quá
trình dạy học thành quá trình tự đào tạo, đó là quá trình dạy – tự học Trong luận văn chủ yếu đề cập đến hình thức tự học này, đưa ra một số biện pháp chủ yếu để phát triển NLTH cho HS hướng tới hình thức tự học hoàn toàn, tự học suốt đời
1.2.2.4 Các cấp độ tự học
Xét về góc độ Tâm lí học, có thể phân hoạt động TH theo hai cấp độ:
- Cấp độ thấp: Nhiều nhà tâm lí cho rằng hoạt động sáng tạo của một nhà bác
học bắt nguồn từ nhu cầu bẩm sinh và sinh lí của con người, nhu cầu thúc đẩy bản năng mạnh mẽ của tự nhiên Theo họ, bản năng sáng tạo hoà nhập với phản xạ hướng về đích Viện sĩ Pavlop cho rằng: phản xạ hướng về đích là biểu hiện năng lượng sống của mỗi cá nhân Cấp độ thấp của TH thể hiện ở cơ chế học có cấu trúc hai thành phần: kích thích phản ứng Ở cấp độ này, thì việc TH của con người là hiện tượng tự nhiên, mang nhiều bản năng
- Cấp độ cao: Cấp độ cao của hoạt động TH là hoạt động nhận thức thể hiện
ở cơ chế học: học kết hợp học cá nhân với học hợp tác TH cấp độ cao gắn liền với kinh nghiệm của HS, gắn liền với sự phát triển sâu sắc ngôn ngữ khoa học của người
học TH ở cấp độ cao là cốt lõi của việc học, là "quá trình phát triển nội tại, quá
trình kết hợp học cá nhân với học hợp tác, trong đó chủ thể tự biến đổi mình từ trình
độ phát triển hiện tại đến trình độ tiềm tàng" [24],[25]
Cũng có thể chia ra nhiều cấp độ TH khác: TH ở cấp độ thấp là bước đầu làm quen để học cách học; cấp độ cao hơn là hình thành và rèn luyện kỹ năng TH; cấp độ tiếp theo là ý thức được việc học, biết chủ động việc học; cuối cùng là đam mê TH
Trang 221.3 Năng lực tự học Vật lí của học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Năng lực của học sinh trung học phổ thông
Thuật ngữ “năng lực” do R.W White đưa ra năm 1959, từ đó đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực
Theo Edmund Short C (1985), năng lực gồm các yếu tố sau: (a) Hành vi hoặc việc thực hiện các nhiệm vụ một cách độc lập, có chủ đích; (b) Khả năng lựa chọn và vận dụng các kiến thức, kĩ năng phù hợp để giải quyết nhiệm vụ và lý giải được sự lựa chọn đó; (c) Mức độ về khả năng thực hiện nhiệm vụ được xác định thông qua quá trình hoạt động công khai, minh bạch Mức độ này có thể dao động vì nó liên quan đến những phán xét về giá trị, phẩm chất hay trạng thái của một con người, bao gồm tính cách, hành vi, kiến thức, kĩ năng, các hoạt động thực
tế, mức độ đạt được, và cả động cơ, thái độ, năng khiếu,
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng được nhiều nhà giáo dục quan tâm
và đề cập đến Tác giả Lâm Quang Thiệp cho rằng: “Thật ra năng lực nào đó của
một con người thường là tổng hòa của kiến thức, kĩ năng, tình cảm - thái độ được thể hiện trong một hành động và tình huống cụ thể” [21] Theo PGS.TS Nguyễn
Công Khanh, "năng lực của người học là khả năng làm chủ những hệ thống kiến
thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống Năng lực của HS là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội"[12]
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kỹ năng cụ thể (VD:
“năng lực toán học” được hình thành qua việc học kiến thức cơ bản về toán và kỹ năng giải các bài tập toán, )
Có thể phân năng lực thành 2 nhóm chính:
Trang 23- Nhóm lấy dấu hiệu tố chất tâm lí để định nghĩa, ví dụ: "Năng lực là một thuộc
tính tích hợp nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả"
- Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định
nghĩa, ví dụ: "Năng lực là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái
độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong những tình huống đa dạng của cuộc sống" hoặc "Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống"
- Xét về cấu trúc, năng lực có năng lực chung và năng lực riêng (cụ thể) Năng lực chung, là tổ hợp nhiều khả năng thực hiện những hành động thành phần (năng lực riêng/ năng lực thành phần), giữa các năng lực riêng có sự lồng ghép và có liên quan chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, khái niệm “chung” hay “riêng” hoàn toàn chỉ là tương đối, bởi vì một năng lực gồm các năng lực riêng và năng lực riêng lại
là năng lực chung của một số năng lực Trong chương trình đánh giá học sinh Quốc
tế PISA đã đưa ra một số sơ đồ về năng lực như sau:
Sơ đồ 1.1 Minh họa cấu trúc năng lực
1.3.2 Năng lực tự học của học sinh
Có nhiều cách hiểu và cách diễn đạt khác nhau, nhưng các nhà khoa học đều thống nhất ở một số điểm: Năng lực TH là một năng lực thể hiện ở tính tự lực, sự
g
…
…
NL chung
Trang 24tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề của một chủ thể hoạt động; NLTH gắn với khả năng tự hoàn thành hoạt động học của một cá nhân; NLTH chỉ nảy sinh và quan sát được trong hoạt động tự học, tự giải quyết những yêu cầu mới mẻ và do đó nó gắn liền với tính sáng tạo ở mỗi cá nhân tuy có khác nhau về mức độ; NLTH tồn tại và phát triển thông qua hoạt động tự học; NLTH có thể rèn luyện để phát triển được và với mỗi cá nhân khác nhau có NLTH khác nhau
NLTH được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác
Từ việc làm rõ các khái niệm về kỹ năng, năng lực và mối quan hệ của kỹ năng và năng lực có thể hiểu NLTH là phương thức hành động trên cơ sở lựa chọn
và vận dụng những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm đã có để thực hiện có kết quả mục tiêu học tập đã đặt ra phù hợp với những điều kiện cho phép
- Thành tố 1: HS xác định được nhiệm vụ và mục tiêu học tập
Trước hết, HS nắm được thông tin về bài học, giải quyết các tình huống học tập trên lớp theo hướng dẫn của GV, được GV hướng dẫn cách TH Ở thành tố này, hoạt động của GV vẫn là chủ yếu, HS làm quen, hình thành dần ý thức và thói quen
TH Sau khi được làm quen, HS có thể tự xác định được cho mình nhiệm vụ và tự
đặt được mục tiêu học tập cho mình
- Thành tố 2: HS lập được kế hoạch và thực hiện các phương pháp TH
Ở thành tố này, HS có thể nắm được nội dung bài học, tự lập được kế hoạch TH cho bản thân, xác định được phương pháp TH HS có thể tự tìm tòi các tài liệu, phối hợp các cách học với nhau để tìm ra được phương pháp học hiệu quả nhất như học cá nhân, học nhóm có thể TH với sự hướng dẫn của GV Nhìn chung HS biết cách để thực hiện kế hoạch đạt ra để đạt được kết quả tốt nhất đối với học phần đã xác định
- Thành tố 3: HS có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình
Đây là thành tố cao hơn của TH, HS sau khi có kết quả của học phần, có thể
tự đánh giá kết quả TH của mình theo kế hoạch đã đặt ra; tự ĐG kết quả TH của
Trang 25mình sơ với năng lực của bản thân về nội dung TH, cách thức TH, thời gian đặt ra trong quá trình TH và rút ra những ưu điểm, ngược điểm của bản thân trong quá
trình TH
- Thành tố 4: HS biết điều chỉnh việc TH của mình
Sau khi tự ĐG được kết quả TH của mình, HS tự rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân từ đó HS tìm kiếm sự góp ý, giúp đỡ và các thông tin phải hồi từ người khác (ví dụ như bạn bè, thầy cô) HS chủ động xin ý kiến GV về kết quả TH của mình để mong muốn được tư vấn giúp đỡ về phương pháp TH Cuối cùng, trên cơ
sở các thông tin đó, HS có thể thu thập, tổng hợp và tự điều chỉnh phương pháp TH
để cải thiện phương pháp TH
1.3.3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
1.3.3.1 Đối với học sinh
Để bồi dưỡng NLTH cho HS thì trước mắt về mặt lí luận nên tập trung giải quyết 1 số vấn đề quan trọng sau đây:
* Xây dựng động cơ cho người học: Xây dựng động cơ học tập cho HS là 1
trong những vấn đề quan trọng nhất của việc bồi dưỡng tinh thần tự học, vì sự tự giác học tập phải được bắt nguồn từ bên trong, từ năng lực nội sinh
Ta có thể chia các động cơ học tập ra làm 2 nhóm chính:
- Các động cơ và hứng thú nhận thức: thường đến với các em khi bài học có nội dung mới, đột ngột, bất ngờ, động và chứa các yếu tố nghịch lý thỏa mãn yêu cầu đa dạng của các em Nó cũng thường xuyên xuất hiện khi HS tham gia các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận và các phương pháp kích thích học tập khác
- Các động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm trong học tập: liên hệ với ý thức về ý nghĩa xã hội của sự học tập như nghĩa vụ đối với tổ quốc, trách nhiệm đối với gia đình, nhà trường từ đấy mà HS có kỉ luật học tập tốt, thực hiện 1 cách tự giác yêu cầu của giáo viên Cần hình thành, phát triển, kích thích động cơ học tập của HS phù hợp với đặc điểm của từng em và điều quan trọng là dạy các em tự kích thích động cơ học tập của mình
Trang 26* Làm việc với sách, tài liệu: Đọc sách là 1 trong những công việc quan trọng
nhất của mọi người vì vậy đọc sách thế nào cho có hiệu quả là điều ai cũng muốn biết Khi đọc sách cần chú ý rút ra những tư tưởng chính trong mỗi đoạn, so sánh, phân
loại, hệ thống hóa, khái quát hóa… đề xuất cái mới và nêu câu hỏi Điều này rất quan
trọng vì sự sáng tạo thường nảy sinh ra ngay lúc đọc sách Cần giáo dục cho HS tinh thần đọc sách, tài liệu sáng tạo mà không chỉ dừng lại ở đọc sách tái hiện và cảm thụ
* Nghe và ghi theo tinh thần tự học: Nghe và ghi là những kĩ năng cơ bản
Trình độ nghe và ghi của các em là khác nhau và điều đó ảnh hưởng đến kết quả học tập Đa số HS tự lo liệu lấy cách nghe và cách ghi mà hầu như không trao đổi với nhau Từ thực tiễn có thể nhận thấy rằng, để nghe và ghi tốt ta thường phải sử dụng một số biện pháp tập trung tư tưởng khi nghe giảng, tăng cường tốc độ ghi và ghi tắt Nếu tìm hiểu sâu hơn, có thể thấy rằng để ghi tốt, khi nghe giảng cần chú ý đến những điểm sau:
+ Tập trung theo dõi bài giảng, nói chung chưa nghĩ đến việc sẽ làm gì vì điều
đó sẽ phá hoại logic của bài giảng
+ Chú ý ghi dàn bài để nhìn được khái quát cấu trúc chung của bài giảng
+ Tập trung vào những cái chính, những điểm quan trọng nhất mà thầy giáo thường nhấn mạnh qua ngữ điệu, qua việc lặp đi lặp lại nhiều lần
+ Chú ý đến các bảng tóm tắt, các sơ đồ, các hình vẽ, tranh và các tài liệu trực quan khác mà thầy giáo giới thiệu vì đây là lúc thầy giáo hệ thống hóa, so sánh, phân tích… để đi đến kết luận và rút ra cái mới
+ Khi gặp các chỗ khó, không hiểu hãy tạm thời gác lại và sẽ cố gắng tìm hiểu những điều đó trong các phần sau để quá trình nghe giảng không bị gián đoạn
+ Khi bài giảng dừng lại, có thể nêu câu hỏi để đào sâu kiến thức và làm rõ những chỗ chưa hiểu
1.3.3.2 Đối với giáo viên
Theo Thái Duy Tuyên [26]: Để có thể TH không những học sinh cần nhận biết được tầm quan trọng của nó, biết được nội dung và quy trình tự học, mà thầy giáo phải thay đổi cách dạy, các giáo trình và những điều kiện dạy học cũng cần
Trang 27phải có sự điều chinh thích hợp Vậy dạy trên lớp cần được tổ chức như thế nào để
HS có thể TH tốt là vấn đề cần đặt ra khi nghiên cứu đổi mới PPDH Thực tế dạy học cho thấy người thầy phải trải qua 3 bước:
- Chuẩn bị giáo án lên lớp
- Dạy học trên lớp
- Kiểm tra, đánh giá
Để bồi dưỡng NLTH cho HS thì hoạt động dạy của thầy giáo phải thay đổi như thế nào
a, Chuẩn bị giáo án
- Xác định các mục tiêu: Trong dạy học xác định mục tiêu là điều cần phải
làm đầu tiên Để xác định được mục tiêu của bài học thầy giáo cần phải tìm hiểu yêu cầu của chương trình, đọc sách tham khảo, tìm hiểu trình độ, năng lực, thái độ hiện có của HS, hình dung được những kiến thức, kĩ năng … mà HS cần nắm Trên cơ
sở đó thầy giáo sẽ xác định những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ của HS
- Xây dựng nội dung bài học: Nét nổi bật dễ nhận thấy của bài học theo
hướng tổ chức TH cho HS là hoạt động của các em chiếm tỉ trọng cao so với hoạt động của giáo viên về thời gian cũng như cường đọ làm việc Để có một tiết học như vậy ở trên lớp, giáo viên cần đầu tư rất nhiều về công sức và thời gian
- Lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học: Khi
thiết kế bài học giáo viên cần lựa chon phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, cụ thể cần dựa vào: Mục đích, mục tiêu dạy học; nội dung bài học; đặc điểm trình độ của HS và thầy giáo; điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường; tính chất, đặc điểm của các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Đây là một giai đoạn vô cùng phức tạp, phụ thuộc rất lớn vào kiến thức, kinh nghiệm, tài năng và trực giác nhạy bén của người thầy Do vậy, người thầy cần tập trung chủ yếu vào các hoạt động tự học của HS: đọc tài liệu, thảo luận, báo cáo các vấn đề đã chuẩn bị, giải quyết các tình huống nhận thức và thực tiễn; Suy nghĩ một cách công phu để tạo ra tình huống có vấn đề nhằm kích thích tính tích cực nhận
Trang 28thức; chuẩn bị một hệ thống câu hỏi phát triển tư duy, chuẩn bị một hệ thống bài tập và nhiệm vụ học tập nhằm tổ chức hoạt động TH cho HS
Tóm lại, để giúp các em TH có hiệu quả thì khi thiết kế bài học cần phải có
sự đổi mới, chuyển người học vào vị trí trung tâm, tăng cường tổ chức các hoạt động học tập độc lập hoặc theo nhóm bằng các nhiệm vụ học tập cụ thể
Phân biệt cách thiết kế bài học mới nhằm giúp các em TH trên lớp với thiết
kế bài học kiểu truyền thống
TT Thiết kế bài học kiểu
2 Trung xây dựng nội
dung cho hoạt động dạy
Tập trung xây dựng nội dung dạy + nội dung học + cách hướng dẫn tự học
b, Tổ chức dạy học trên lớp: Việc tổ chức dạy học trên lớp theo hướng bồi
dưỡng NLTH cho HS là việc làm đòi hỏi GV phải chuẩn bị bài dạy công phu, tỉ mỉ
và chú ý từng hoạt động của HS Có thể tổ chức dạy học trên lớp theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS như sau:
- Các hoạt động của GV tổ chức cho HS học tập thông qua TH trên lớp:
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Tạo tình huống để HS thấy rõ vấn đề,
thấy mâu thuẫn cần giải quyết
Nghe, tiếp thu, chuyển mâu thuẫn bên ngoài thành mâu thuẫn bên trong , có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn
Trang 29Giao nhiệm vụ học tập Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
Hướng dẫn HS hoạt động (đọc giáo
trình, tài liệu, tổ chức thảo luận…)
Đọc giáo trình, tái hiện, suy nghĩ, sáng tạo, trả lời câu hỏi, thảo luận…
Theo dõi sự tự học của các em, tổ chức
thảo luận nhóm, đặt các câu hỏi bổ
sung và giúp đỡ các em khi cần thiết
Phát huy tính tích cực, nỗ lực sáng tạo, trao đổi với bạn bè, hỏi thầy cô giáo để giải quyết các nhiệm vụ học tập
Giải đáp câu hỏi Nêu câu hỏi
Phân tích, bổ sung, khẳng định những
điểm đúng, sửa chữa những sai lầm
Sửa chữa, hoàn thiện, hệ thống hóa tri thức, kĩ năng
- GV vận dụng có hiệu quả các PPDH nâng cao vai trò TH của HS
Phương pháp Nội dung hoạt động
Diễn giảng nêu vấn đề - Tạo ra tình huống có vấn đề
- Thầy và trò cùng giải quyết vấn đề qua các thao tác: đặt câu hỏi, thuyết trình,đặt vấn đề các em cần trao đổi, thảo luận tìm cách giải quyết vấn đề
Tự đọc - HS đọc giáo trình, tài liệu
- Viết tóm tắt, lập sơ đồ, biểu bảng Thảo luận nhóm - HS được chia thành các nhóm để thỏa luận và giải
quyết vấn đề thầy giáo đưa ra
- Đại diện các nhóm trình bày trước lớp
- Thầy giáo tổng kết Phương pháp trực quan - Xem băng hình, làm thí nghiệm
- Thảo luận nhóm
- Thầy giáo tổng kết Làm bài tập, thực hành - Làm bài tập, thực hành
- Thảo luận rồi đi đến kết luận
Tổ chức cho HS thuyết - HS báo cáo một vấn đề đã được chuẩn bị trước
Trang 30trình, báo cáo - Cả lớp nghe, trao đổi và thảo luận
- Thầy giáo tổng kết Xemina - Cả lớp chuẩn bị và đại diện HS báo cáo
- Cả lớp cùng thảo luận
- Thầy giáo tổng kết
c, Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra đánh giá luôn đóng một vai trò rất quan trọng, là một nhân tố cấu thành của quá trình dạy học; là một biện pháp thu thông tin phản hồi để điều chỉnh qua trình dạy học kịp thời và phù hợp với mục tiêu góp phần phát triển trí tuệ, củng cố hệ thống tri thức và các phương pháp học tập; kích thích HS luôn vươn tới kết quả cao trong học tập Có thể nói, kiểm tra đánh giá là một động lực thúc đẩy quá trình đào tạo và tự đào tạo
Để bồi dưỡng NLTH cho HS, GV cần chú ý các yêu cầu về kiểm tra đánh giá như:
+ Sử dụng nhiều hình kiểm tra khác nhau
+ Cần thực hiện các hình thức thi: viết, vấn đáp, trắc nghiệm…
+ Đổi mới khâu chấm, chữa bài, đánh giá kết quả học tập
GV cần phân biệt cách kiểm tra, đánh giá kết quả truyền thống với cách kiểm tra đánh giá kết quả theo hướng bồi dưỡng NLTH
STT Kiểm tra đánh giá theo kiểu
Đánh giá kết quả học tập theo
các tiêu chí: kiến thức, kĩ năng,
kĩ xảo…
Đánh giá kết quả học tập theo các tiêu chí: độc lập, sáng tạo, vận dụng…
3 Thầy giữ vai trò độc tôn trong
đánh giá
Kết hợp giữa đánh giá của thầy, đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau của trò
Trang 311.3.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của người học Phải điều khiển, phối hợp những nhân tố ấy trong quá trình tổ chức tự học mới đạt được chất lượng và hiệu quả mong muốn
a, Nhóm nhân tố bên trong: Bao gồm Động lực ( động cơ, nhu cầu); Tố chất,
năng khiếu bẩm sinh; Trình độ lý luận và sự trải nghiệm thực tiễn; Kĩ năng tự học; Phẩm chất, ý thức, xúc cảm…
b, Nhóm nhân tố bên ngoài: Bao gồm Thầy giáo, cha mẹ, bạn bè và xã hội
nói chung và các điều kiện vật chất và tinh thần như sách vở, thời gian, tài chính, cơ
sở vật chất, môi trường đạo đức lành mạnh của gia đình, nhà trường và xã hội
Tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học phải được xem xét dưới 1 dạng tổng thể khi giải quyết vấn đề tự học và phải phát hiện kịp thời những lỗ hổng, những điểm yếu để bổ sung, khắc phục, nhằm tạo ra một sự phát triển hài hòa, cân đối Đồng thời phải tìm được « cái huyệt » nhằm tạo ra động lực thúc đẩy quá trình
tự học
1.3.4 Đặc trưng về năng lực tự học môn Vật lí của học sinh trung học phổ thông
Kiến thức vật lí bao gồm những hiểu biết về các hiện tượng, các khái niệm, các định luật, các thuyết vật lí, các tư tưởng, phương pháp nhận thức và ứng dụng của vật lí, là kết quả hoạt động của hoạt động tư duy, là tiền đề hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình tìm hiểu và cải tạo thế giới tự nhiên Quá trình quan sát, phân tích các sự kiện, hiện tượng vật lí, làm các thí nghiệm vật lí… khái quát
để hình thành nên các khái niệm, các định lí, định luật, các thuyết vật lí là cơ sở phát triển tư duy cho học sinh Vật lí có đặc thù là một môn khoa học thực nghiệm, các kiến thức vật lí rất gần gũi với cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của con người Chính vì thế mà môn vật lí có ưu điểm để học sinh phát huy NLTH Đặc trưng về NLTH vật lí của HS THPT như sau:
- Năng lực quan sát các hiện tượng thực tế, tìm tòi và phát hiện vấn đề:
Năng lực này đòi hỏi HS biết quan sát các hiện tượng, các thí nghiệm vật lí, đo đạc
và ghi chép lại các số liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, tổng quát hoá,
Trang 32khái quát hoá các tài liệu; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm cá nhân phát hiện ra các khó khăn, thách thức, mâu thuẫn cần giải quyết, các điểm chưa hoàn chỉnh cần bổ sung, các bế tắc, nghịch lý cần phải khai thông, làm sáng tỏ,… Các năng lực này đang còn rất hạn chế đối với học sinh THPT Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này là rất cần thiết để tạo cho HS thói quen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọi lúc, mọi nơi
và trong mọi điều kiện có thể
- Năng lực giải quyết vấn đề: Năng lực GQVĐ bao gồm: khả năng xử lý số
liệu thu thập trình bày giả thuyết; xác định cách thức và lập kế hoạch GQVĐ; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lý thông tin; đề xuất các giải pháp, kết luận Cần coi trọng dạy cho HS kỹ thuật GQVĐ vì nó vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho HS phương pháp tự học, đặc biệt là với đối tượng
học sinh THPT
- Năng lực tư duy: Các thao tác tư duy logic: như phân tích, tổng hợp, so
sánh, hệ thống hóa, trừu tượng hóa; Các thao tác tư duy logic biện chứng: các hiện tượng vật lí cần phải được khảo sát phù hợp với sự phát triển biện chứng trong mối quan hệ tương hỗ với sự vận động phát triển với nhau Khi nghiên cứu cần phải nghiên cứu ở nhiều đối tượng và ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cùng một đối tượng, trong các mối liên hệ phụ thuộc, tính quy luật, tính chuyển hóa và bảo toàn giữa chúng
- Năng lực đánh giá và tự đánh giá: Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS,
đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội, khuyến khích và bắt buộc HS đánh giá và tự đánh giá Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kỹ năng phát hiện và GQVĐ, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình GQVĐ đòi hỏi HS phải luôn đánh giá và
tự đánh giá Người HS phải hiểu biết chính xác năng lực của mình mới có thể tự tin trong việc phát hiện và GQVĐ, áp dụng kiến thức Ví dụ, một HS kém đã tự nghiên cứu và giải được một bài toán nhưng không có cách gì để tự kiểm nghiệm mình làm
có đúng không thì việc đã giải được chẳng có một ý nghĩa gì cả, nhưng nếu em biết
tự đánh giá (có thể chỉ ở mức độ dùng sách hướng dẫn giải kiểm tra kết quả, cách
Trang 33làm) thì nếu sai HS sẽ tự tìm ra chỗ sai để sửa, còn nếu đúng sẽ tạo cho HS đó một
sự tự tin để tiếp tục giải các bài toán khác ở mức độ tương tự hoặc khó hơn, và tiếp tục mở rộng các vấn đề của bài toán Từ đó sẽ phát triển được NLTH của bản thân
và nâng cao chất lượng học tập
Như vậy, các năng lực nêu trên không tác động và tồn tại độc lập mà chúng đan xen, tác động hỗ trợ với nhau, tạo nên NLTH ở HS Các năng lực đó cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học Việc rèn luyện được các năng
lực đó, chính là đặt HS vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, đòi hỏi việc dạy
không truyền thụ kiến thức làm sẵn cho HS mà GV phải là người hướng dẫn HS nghiên cứu Bài giảng ở THPT phải là một tài liệu khoa học ở mức độ thích hợp
1.3.5 Bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí cho học sinh trung học phổ thông
1.3.5.1 Bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí cho học sinh THPT
* Bồi dưỡng năng lực xây dựng kế hoạch TH cho HS: HS phải có kế hoạch học
tập tốt là một trong những điều kiện ban đầu quan trọng để có thành công trong TH
- Kế hoạch tự học: là sự sắp xếp các nội dung học tập được tiến hành trong
thời gian hợp lý của mỗi cá nhân nhằm thực hiện tốt chương trình đào tạo Các nội dung của kế hoạch tự học được cá nhân xác định trên cơ sở kế hoạch học tập của nhà trường và các điều kiện của bản than
- Nguyên tắc xây dựng kế hoạch tự học: HS phải đảm bảo tốt các nguyên
tắc xây dựng kế hoạch TH của mình, bao gồm:
+ Đảm bảo thời gian TH ccủa môn học, tiết học tương xứng với lượng thông tin của môn học, tiết học đó đồng thời đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lý các dạng tự học, các môn học có tính chất khác nhau
+ Đảm bảo xen kẽ, luân phiên hợp lý giữa thời gian tự học và nghỉ ngơi: Nghỉ ngơi hợp lý sẽ giúp trí óc sảng khoái và minh mẫn Nghỉ ngơi không có nghĩa là không hoạt động mà là dạng hoạt động chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác
+ Đảm bảo tính mềm dẻo, tính thực tế của kế hoạch tự học: Kế hoạch tự học cần được xây dựng mềm dẻo và thực tế Tính mềm dẻo và thực tế cần dựa trên sự cần thiết của công việc trong những thời gian khác nhau như ưu tiên công việc
Trang 34quan trọng và bố trí vào những khoảng thời gian thuận tiện và ít biến động nhất;
Có phương án thay đổi trình tự thực hiện các công việc khi có tình huống đột xuất;
Có thời gian dự trữ cho mỗi kế hoạch; Sắp xếp thời gian để đảm bảo thực hiện công việc của kế hoạch trước đó
- Kĩ năng xây dựng kế hoạch TH: Cần phải rèn cho HS biết kĩ năng xây
dựng kế hoạch TH môn Vật lí, bao gồm:
+ Thông tin cơ sở cho việc lập kế hoạch: để lập kế hoạch tự học trước hết cần kiểm tra xem việc quản lí thời gian của bản thân đã tốt chưa
+ Các bước lập kế hoạch tự học:
Liệt kế tất cả các công việc cần tiến hành, căn cứ vào: kế hoạch giảng dạy, nhiệm vụ học tập được giao, các công tác của lớp, đơn vị,
cá nhân
Xác định quỹ thời gian tự học
Xác định khối lượng và yêu cầu cần đạt của mỗi công việc
Phân biệt thời gian cho từng công việc và xác định khoảng thời gian thực hiện chúng
Kiểm tra lại tính hợp lý của kế hoạch
- Thực hiện kế hoạch tự học: Xây dựng kế hoạch tự học nhằm hoàn thành
tốt nhiệm vụ học tập, do vậy người học cần phải kiên trì, quyết tâm với sự nỗ lực rất lớn để thực hiện kế hoạch Muốn vậy, HS cần rèn luyện cách làm việc độc lập
và có phương pháp và kĩ năng tự học; Tập trung tư tưởng, không bị ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài; Kiên trì, cố gắng, không nản chí và tiết kiệm thời gian; Tự kiểm tra, kết hợp với sự kiểm tra của giáo viên và đảm bảo các điều kiện tự học
* Bồi dưỡng cho HS năng lực nghe và tiếp thu bài giảng: Bài giảng của GV
giúp HS tiếp thu đầy đủ nội dung cơ bản của môn học Bài giảng sẽ cung cấp những thông tin chọn lọc và cần thiết, cung cấp cho người học một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của vấn đề đang trình bày Vì vậy, đòi hỏi người học phải cùng suy nghĩ và ghi nhớ
Trang 35- Các giai đoạn nghe giảng
+ Chuẩn bị nghe giảng: HS cần đọc và nghiên cứu sơ bộ nội dung bài giảng, xác định nội dung nào cần tập trung nghe để hiểu, nội dung nào cần ghi đầy đủ, nội dung nào cần ghi nhớ tóm tắt…
+ Nghe giảng: Nội dung nghe giảng có phần chính, phụ và phần liên kết Vì vậy, khi nghe giảng người học hãy tóm tắt các kiến thức chính dùng các từ hay các câu để ghi lại
+ Ghi chép: Ghi chép khi nghe giảng nhằm mục đích: lưu trữ và sắp xếp thông tin để thấy được cấu trúc bài giảng; giúp quá trình ghi nhớ tốt và đầy đủ hơn; tạo thuận lợi cho quá trình học tiếp theo
* Bồi dưỡng cho HS năng lực đọc tài liệu: Để nâng cao NLTH môn Vật lí
của HS, cần bồi dưỡng cho HS năng lực lựa chọn và đọc tài liệu có liên quan đến môn học, bài học Phải tập cho HS có thói quen của một nhà nghiên cứu khoa học,
có thể tự đọc, tự khám phá tri thơcs từ các nguồn tài liệu: Có thể là nguồn tài liệu
là sách giáo khoa, tài liệu tham khảo của HS hoặc tại thư viện; hoặc có thể là tài liệu khai thác thông qua nguồn internet từ các trang web hoặc thư viện điện tử
* Bồi dưỡng cho HS năng lực đánh giá và tự đánh giá môn Vật lí: Phải tập
cho HS thói quen đánh giá và tự đánh giá trong quá trình tự học để bản thân HS biết được năng lực của mình để tự điều chỉnh hành vi, hoạt động học tập của mình Thông qua hoạt động tự đánh giá, HS sẽ tích cực, chủ động trong quá trình tìm tòi kiến thức của mình từ đó nâng cao NLTH cho bản thân HS
1.3.5.2 Vai trò của giáo viên trong việc bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí của học sinh THPT
- Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên và học sinh về sự cần thiết phải
nâng cao năng lực TH: Tự học có sự hướng dẫn của giáo viên là phương pháp
học giúp học sinh nắm bắt kiến thức môn học tốt nhất Để từ đó hình thành động
cơ và mục đích học tập đúng đắn cho học sinh; kích thích niềm hứng thú, say mê
tự học của học sinh, xây dựng bầu không khí học tập tích cực; không khí giao tiếp, ứng xử sư phạm lành mạnh trong lớp, trong trường nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh
Trang 36- Tổ chức trang bị cho học sinh những kiến thức về phương pháp tự học:
Tăng cường hướng dẫn cho học sinh đổi mới phương pháp học tập cho phù hợp với đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là khả năng tự học, tự nghiên cứu và phương pháp làm việc nhóm Thông qua các buổi sinh hoạt giáo viên chủ nhiệm, sinh hoạt chuyên đề, thảo luận học tập kinh nghiệm lẫn nhau hoặc bố trí cán bộ, giáo viên có kinh nghiệm hướng dẫn về phương pháp tự học: lập kế hoạch tự học,
tổ chức thực hiện, tự kiểm tra điều chỉnh cho phù hợp
- Tổ chức tốt quá trình tự học và quản lý hoạt động tự học của học sinh: Thực hiện đúng kế hoạch và nâng cao chất lượng của buổi lên lớp đầu tiên
của học phần môn học; giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh, hướng dẫn chuẩn bị; tổ chức thực hiện trên lớp, ôn tập hệ thống môn học, tự đánh giá kết quả một cách
chu đáo GV phải thiết kế khâu tự học cho học sinh như: lựa chọn phần bài học
trên lớp và phần không giảng trên lớp để giao cho học sinh tự nghiên cứu Thiết kế
bộ câu hỏi, bài tập hoặc đề tài thảo luận tương ứng với mỗi phần để cho học sinh giải quyết ở nhà.Ngoài ra GV còn hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm để hoàn thành các đề tài báo cáo đúng yêu cầu
- Xây dựng đội ngũ cán bộ và giáo viên và tích cực vận dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt: Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
vừa có “tâm” vừa có “tầm”, đặc biệt là khả năng dạy cho học sinh phương pháp tư duy và phương phát tự học; biết khai thác và phối hợp các phương pháp dạy học một cách cách linh hoạt phù hợp với từng đối tượng học sinh, làm sao để trên lớp giáo viên hoạt động ít hơn, học sinh làm việc nhiều hơn giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mới một cách có hiệu quả nhất
- Tăng cường cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ tích cực cho hoạt động dạy
học: Để bồi dưỡng NLTH cho HS đạt được kết quả cao nhất thì rất cần đến sự hỗ
trợ của các phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu, máy tính, mạng internet, phần mềm học tập… những phương tiện này giúp HS tiếp thu kiến thức một cách sinh động, gần gũi với thực tế kích thích được hứng thú cũng như đam mê học tập của các em
Trang 371.4 Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun môn Vật lí
1.4.1 Biên soạn tài liệu theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí cho học sinh
Để dạy học theo hướng tăng cường bồi dưỡng NLTH cho HS nhất thiết phải cải tiến nội dung theo hướng đó, bởi nội dung quyết định phương pháp Giáo trình, SGK là phương tiện vật chất chứa nội dung dạy học, là tài liệu chính thức, chỗ dựa khoa học và tin cậy để thầy giáo giảng dạy, là tài liệu học tập cơ bản của HS Do
đó, biên soạn tài liệu theo hướng bồi dưỡng NLTH là việc làm cần thiết
a, Một số yêu cầu cơ bản: Tài liệu tự học viết theo hướng bồi dưỡng NLTH
cần phải đạt các yêu cầu sau
- Tài liệu phải phối hợp logic khoa học và logic quá trình nhận thức: mục
đích của tài liệu không phải là công bố những phát hiện mới về khoa học, mà chủ yếu giúp người học lĩnh hội một cách có hiệu quả những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
và thái độ của khoa học tương ứng cũng như ứng dụng của chúng trong thực tiễn
Do đó, tài liệu phải cung cấp được những kiến thức cơ bản, có hệt thống của môn học; cụ thể hóa được nội dung và phương pháp môn học theo chương trình đào tạo được biên soạn cho từng đối tượng cụ thể Như vậy, tài liệu đã tạo ra những điều kiện nhận thức thuận lợi cho người học khi tự học, tự nghiên cứu
- Tài liệu phải có tác dụng hướng dẫn tự học: khi biên soạn tài liệu phải đặc
biệt chú ý đến việc chỉ đạo, hướng dẫn học tập cho HS, nghĩa là chú ý đến chức năng phương pháp của tài liệu Tài liệu có thể hướng dẫn các em tự học thông qua việc giao cho họ các “mệnh lệnh” học tập dưới dạng: câu hỏi, bài tập, gợi ý, chỉ dẫn, tình huống có vấn đề, thảo luận, tra cứu Qua đó, học sinh học được cách tư duy giải quyết vấn đề, cách trình bày có hệ thống, cách diễn đạt vấn đề bằng ngôn ngữ viết Tất cả những hành động đó giúp họ tái hiện, củng cố, khắc sâu hơn tri thức đã học
b, Một số nguyên tắc cơ bản: Việc biên soạn tài liệu theo hướng bồi dưỡng
NLTH cần tuân theo một số nguyên tắc sau đây:
- Về nội dung: Phù hợp với mục tiêu, chương trình dạy học do các cấp có
thẩm quyền ban hành Tài liệu phải đảm bảo: tính hệ thống, tính khoa học, tính cơ
Trang 38bản, tính thực tiễn… Tài liệu vừa đảm bảo mặt tri thức khoa học, vừa đảm bảo được nhiệm vụ bồi dưỡng NLTH thông qua nội dung và cách trình bày của tài liệu
- Về phương pháp: Tài liệu không những dùng cho HS tự học trên lớp, mà
còn giúp các em trong quá trình TH, tự nghiên cứu ở nhà Từng mục, từng chương đến toàn bộ tài liệu đòi hỏi người viết phải nghiên cứu kĩ nội dung khoa học, cấu trúc, đề mục, văn phong sao cho có tác dụng bồi dưỡng NLTH cho các em khi sử dụng tài liệu
- Về trình bày văn bản: Trình bày một tài liệu theo hướng bồi dưỡng NLTH
cho HS phụ thuộc vào cách thiết kế nội dung theo hướng đó Vì thế, cách diễn đạt nội dung và hình thức thể hiện trên trang viết phải rất linh hoạt Bố cục và nội dung trình bày không nhất thiết phải theo mạch thẳng như giáo trình hiện nay mà bằng nhiều cách để thể hiện tư tưởng bồi dưỡng NLTH
c, Quy trình biên soạn:
Quy trình biên soạn tài liệu là trình tự công việc, là các bước phải làm từ bước chuẩn bị đến bước ra sản phẩm, để tìa liệu đảm bảo chất lượng và việc biên soạn tài liệu có hiệu quả Việc biên soạn tài liệu thường phải tuân theo các bước cơ bản sau:
- Bước 1: Nghiên cứu lý luận: Giáo viên cần phải nghiên cứu những vấn đề
lí luận về phương pháp tự học nhằm phục vụ cho việc viết tài liệu
- Bước 2: Xác định nội dung tài liệu: Bước này có định hướng rất quan
trọng về mặt phương pháp luận vì nó xác định những tư tưởng chính và cấu trúc nội dung Khi biên soạn cần phải biên soạn trước một đề cương trong đó nêu lên mục đích, yêu cầu, chương trình và nội dung khoa học của các chương mục đó
Cần nêu lên những điểm mới, những đặc điểm của tài liệu viết cho HS tự học
- Bước 3: Viết tài liệu: Bước này là rất khó khăn, phức tạp vì nó giải quyết
trực tiếp mọi vấn đề đã nêu trên Nó đòi hỏi một quá trình làm việc tỉ mỉ, dày công
và đầy sáng tạo của tác giả Trong quá trình viết tài liệu giáo viên luôn phải đáp
ứng các yêu cầu sau:
Trang 39+ Những chỗ nào cần thông báo kiến thức? Thông báo những kiến thức gì? Dung lượng bao nhiêu?
+ Những chỗ nào cần hướng dẫn, cần ra bài tập, cần đặt câu hỏi?
+ Những chỗ nào cần làm bảng hệ thống, cần vẽ sơ đồ, xây dựng mô hình? + Những chỗ nào cần thảo luận, tổ chức xemina?
- Bước 4: Biên tập tài liệu: Tài liệu sau khi được biên soạn cần được biên
tập Trong quá trình biên tập cần chú ý:
+ Những vấn đề chung như tài liệu có thỏa mãn những mục đích, những yêu cầu đã đề ra không?
+ Cấu trúc có đảm bảo tính thống nhất, cân đối không?
+ Hệ thống tri thức có chính xác không?
+ Hệ thống phương pháp có đảm bảo giúp HS tự học không?
Giáo viên nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao khi biên tập tài liệu
- Bước 5: Thẩm định tài liệu: Một tài liệu được coi là có hiệu quả và chất
lượng nếu nó được thẩm định bằng một hội đồng với những thủ tục cần thiết như:
+ Có nhận xét, phản biện
+ Có chất vấn và trả lời chất vấn giữa các ủy viên của hội đồng và tác giả + Có đánh giá chính thức của hội đồng thẩm định
- Bước 6: Hoàn thiện tài liệu: Tài liệu được sửa chữa, hoàn thiện nhiều lần
trên cở sở những góp ý của các chuyên gia, đặc biệt là hội đồng thẩm định
d, Sử dụng tài liệu: Tài liệu có phát huy được tác dụng hay không, có góp phần
nâng cao chất lượng dạy và học hay không còn phụ thuộc vào cách sử dụng của thầy giáo Trong quá trình sử dụng tài liệu, giáo viên nên lưu ý một số điểm sau:
- Về nguyên tắc chung:
+ Tài liệu là một phương tiện dạy học, một công cụ trong tay giáo viên Vì tài liệu được viết theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS nên GV phải là những người có tư tưởng đổi mới theo hướng này thì tài liệu mới phát huy được tác dụng của nó
Trang 40+ Khi viết tài liệu, GV chỉ hướng tới một số đối tượng nhất định, trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định Vì vậy, phải điều chỉnh tài liệu cho phù hợp với đối tượng, không gian và thời gian mà GV giảng dạy là điều cần thiết và quan trọng đặc biệt
+ Sử dụng tài liệu khi học ở nhà, lú chuẩn bị học bài, làm bài tập, chuẩn bị xemina…
+ Sử tài liệu ôn tập Nhiệm vụ học tập lúc này thường rất nặng Số lượng câu hỏi và bài tập nhiều Nếu không có sự hướng dẫn của thầy giáo thì chắc chẵn các em sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình tự học
1.4.2 Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
1.4.2.1 Tự học có hướng dẫn
TH có hướng dẫn là cách học mà HS có thể tự chiếm lĩnh kiến thức trên cơ
sở tài liệu tự học có hướng dẫn được biên soạn cho người học Tài liệu gồm cả nội dung, cách xây dựng kiến thức và kiểm tra kết quả, giúp cho HS cách để tự chiếm lĩnh tri thức, đánh giá kết quả học tập của mình
Khi sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn sẽ làm thay đổi cách dạy và cách học của cả GV và HS GV định hướng, tổ chức cho HS tự khám phá ra kiến thức mới; HS chủ động nắm kiến thức phương pháp đi tới kiến thức đó