- Vận dụng những quy định của Nhà nước để tìm hiểu, đánh giá việcthực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ vàTĐC khi Nhà nước thu hồi đất- Điều tra, khảo sát việc thực hiện bồi thường, hỗ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, Em đã nhận được sự quantâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đãtạo điều kiện thuận lợi cho Em hoàn thành bản luận văn này
Lời đầu tiên, Em xin chân thành cảm ơn Thạc Sỹ Nguyễn Thị Khuythuộc Khoa Quản lý đất đai, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường HàNội đã trực tiếp hướng dẫn Em trong suốt thời gian Em nghiên cứu thực hiện
đề tài
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Phòng Tài Nguyên và Môitrường, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Trung tâm phát triển quỹ đấthuyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ Em trong thời giannghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương
Em xin cảm ơn Anh Phạm Trung Hiếu cán bộ Trung tâm phát triển quỹđất huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã trực tiếp hướng dẫn Em trong thời gianthực tập tại địa phương
Một lần nữa Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
đã giúp đỡ Em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phạm Thị Yến
Trang 3MỞ ĐẦUI.1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết đất đai đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùngquý giá của mỗi Quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quantrọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xâydựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Đất đai là tài sản
do Nhà nước thống nhất quản lý Trong những năm trở lại đây, các khu côngnghiệp, khu đô thị mới được xây dựng làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế củađất nước Nhờ đó nền kinh tế của đất nước đang trên đà phát triển theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là công tác giải phóng mặt bằng phục vụ phát triển Kinh tế - Xã hội Việt Nam cũng như nhiềunước khác trên thế giới, việc bồi thường đất đai để giải phóng mặt bằng(GPMB), tái định cư (TĐC) là vấn đề mà Nhà nước phải đối mặt như một quyluật tất yếu và phổ biến, không thể tránh khỏi Đây là một vấn đề hết sức nhạycảm, phức tạp tác động tới mọi mặt của đời sống Kinh tế - Chính trị - Xã hội.Việc thu hồi đất bao gồm cả đất ở và đất nông nghiệp cho xây dựng các khucông nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình côngcộng phục vụ lợi ích quốc gia
Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp, giá đất ngày càng cao, nhịp
độ phát triển ngày càng lớn thì nhu cầu GPMB càng trở nên cấp thiết và trởthành một thách thức lớn đối với sự phát triển Kinh tế - Chính trị - Xã hội trênphạm vi vùng, quốc gia Vấn đề bồi thường, hỗ trợ và TĐC trở thành điềukiện tiên quyết để thực hiện phát triển dự án, nếu không được xử lý tốt thì sẽtrở thành vật cản của sự phát triển kinh tế - xã hội, bởi vậy đòi hỏi phải có sựquan tâm đúng mức và giải quyết triệt để của các cấp, ban ngành và của toàn
xã hội Trong những năm qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách vàđược các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, hỗ trợ
Trang 4và TĐC, đảm bảo việc làm, thu nhập và đời sống cho người dân có đất bị thuhồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghềnghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt tại nơi ở mới, đặc biệt là đối vớingười nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra ở nhiều địa phương Nguyênnhân này là do ở nhiều địa phương thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC, đàotạo, giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất còn chưa hợp lý dẫn đếntình trạng khiếu kiện gây mất trật tự, an ninh xã hội Xuất phát từ thực tiễn trên,
để nhìn nhận một cách đầy đủ về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC tại huyệnHưng Hà – tỉnh Thái Bình, được sự phân công của Khoa Quản lý đất đai, dưới
sự hướng dẫn của Cô giáo Nguyễn Thị Khuy, Em xin tiến hành thực hiện đề
tài: “Đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại tại một số dự án trên địa bàn huyện Hưng Hà – tỉnh Thái Bình” nhằm điều tra, tìm hiểu thực trạng và tìm ra nguyên nhân gây cản trở
khó khăn khi thực hiện dự án Đồng thời đề xuất một số phương án nhằm gópphần đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC trên địa bàn huyệnđáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính của Nhà nước
- Đề xuất ý kiến, góp phần hoàn thiện và đẩy mạnh công tác bồi thường,
hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích an ninh quốcphòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Góp phần hoàn thiện chính sáchbồi thường, hỗ trợ và TĐC phù hợp với thực tiễn
1.1.2 Yêu cầu
- Nắm vững những văn bản quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC, cácvăn bản pháp luật khác có liên quan
Trang 5- Vận dụng những quy định của Nhà nước để tìm hiểu, đánh giá việcthực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ vàTĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Điều tra, khảo sát việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC của các dự
án đại diện cho mục đích phục vụ lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; phảithu hồi cả đất nông nghiệp và phi nông nghiệp, phải bố trí tái định cư
- Số liệu điều tra khảo sát phải khách quan, đảm bảo độ tin cậy
Trang 6Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất.
1.1.1 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Bồi thường là đền bù những tổn thất gây ra tương xứng với giá trị hoặccông lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thế khác
1.1.2 Hỗ trợ
Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào việc bồi thường cho các chủ thểkhi bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thế khác Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồiđất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời tớiđịa điểm mới
dự án phát triển
1.1.4 Đặc điểm công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Như chúng ta đã biết mỗi dự án để thi công kịp tiến độ công trình thìcác chủ Dự án cần phải giải phóng xong mặt bằng Đó là công việc trọng tâm
và hết sức quan trọng Công việc này mang tính chất phức tạp, tốn kém nhiềuthời gian, công sức và tiền của Ngày nay khi giá trị của đất đai ngày càngđược coi trọng thì công tác GPMB càng trở nên khó khăn hơn Bên cạnh đócông tác GPMB liên quan đến lợi ích của nhiều cá nhân, tập thể và của toàn
xã hội Công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC mang hai tính chất là tính chất đadạng và tính chất phức tạp:
Trang 7- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đấtkhác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định.Đối với các khu đô thị, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất vàtài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ vàTĐC có những đặc trưng nhất định Đối với khu vực ven đô, mức độ tập trungdân cư cao,
- Ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: Côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ quá trình GPMB vàgiá đất tính bồi thường, hỗ trợ cũng có đặc trưng riêng của nó Đối với khuvực nông thôn, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nôngnghiệp, đời sống phụ thuộc chính vào nông nghiệp cho nên việc GPMB vàđịnh giá đất tính bồi thường, hỗ trợ cũng được tiến hành với những đặc điểmriêng biệt
- Tính phức tạp thể hiện: Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống vàohoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu quan trọng trong khitrình độ sản xuất của người dân còn thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệpkhó khăn do tâm lý dân cư trong vùng là giữ được đất để sản xuất, thậm trí họcho thuê đất được lợi nhuận cao hơn sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê
1.1.5 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Theo Điều 39 Luật đất đai 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì Nhànước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường và TĐC sau khi quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụngđất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền xét duyệt
Trước khi thu hồi đất chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nôngnghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan Nhànước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu
Trang 8hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, hỗtrợ và TĐC.
Sau khi có quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, giải phóngmặt bằng và TĐC đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, đượccông bố công khai, có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi đất phải chấp hànhquyết định thu hồi đất
Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồiđất thì Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất raquyết định cưỡng chế Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyếtđịnh cưỡng chế và có quyền khiếu nại
1.2 Giá đất và định giá đất
1.2.1 Giá đất
Theo điều 55 Luật đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009, Điều 2Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giáđất và khung giá đất có quy định rằng: Giá đất do UBND các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương quy định được công bố công khai vào ngay 01 tháng 01hàng năm được sử dụng làm căn cứ để tính thuế đối với việc sử dụng đất, thuếthu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đấtkhi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá QSDĐ hoặc đấu thầu dự
án có sử dựng đất, tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền
sử dụng đất, lệ phí trước bạ, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; tính tiềnbồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệthại cho Nhà nước
Theo điều 56 Luật đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì giáđất phải đảm bảo nguyên tắc sát với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trênthị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giáchuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phùhợp Các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu
Trang 9hạ tầng như nhau, cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụngtheo quy hoạch thì mức giá như nhau Đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương, có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, cócùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thìmức giá như nhau.
1.2.2 Định giá, định giá đất, định giá bất động sản.
Định giá là việc quy định về giá mua, giá bán tài sản hàng hoá, dịch vụcủa cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước theo trình tự và thủ tục nhất định
Định giá đất là xác định và ước tính về mặt giá trị của quyền sử dụngđất bằng hình thái tiền tệ cho mục đích sử dụng đã được xác định tại một thờiđiểm cụ thể Bản chất của định giá đất là xác định giá trị các yếu tố tự nhiêncấu thành và kinh tế xã hội ảnh hưởng tác động tới đất đai
Định giá bất động sản là một yếu tố không thể thiếu trong thị trườngbất động sản (BĐS) Thông qua định giá Nhà nước triển khai trên thực tế cácchính sách và các khoản thu để các bên giao dịch quyết định các lựa chọn củamình và cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
1.3 Chính sách bồi thường hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ.
1.3.1 Trước khi có luật đất đai năm 1993
Quá trình hình thành các triều đại phong kiến, trong mỗi kiểu Nhànước, tuỳ theo hình thức kinh tế, chính trị xã hội và những đặc điểm truyềnthống, huyết thống, tập tục mà các hình thức sở hữu đất đai luôn được giaicấp thống trị chú trọng Ngay từ thời kỳ phát triển Nhà nước Trung ương tậpquyền đến thời Nguyễn, chính sách bồi thường cho người thiệt hại khi Nhànước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi thường choruộng đất canh tác, đất ở không được quan tâm nhiều so với các loại đất khác.Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền, mức bồi thường được quy định chặtchẽ, tương xứng với những thiệt hại của người bị thu hồi đất
Trang 10Sau cách mạng tháng 8/1945, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Namdân chủ Cộng hoà (1946) chỉ rõ: "Nhiệm vụ của dân tộc trong giai đoạn này
là nhằm bảo toàn lãnh thổ giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trênnền tảng dân chủ " Với mục tiêu người cày có ruộng, ngày 04/12/1953, Luậtcải cách ruộng đất ra đời nhằm thủ tiêu chính quyền chiếm hữu ruộng đất củathực dân Pháp và tay sai bán nước ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiếnchiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, đồngthời tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng Cải cách ruộng đất hoàn thành,nông dân có quyền sử dụng ruộng đất được chia cấp
Để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng đất nước trong giai đoạn cách mạngmới, ngày 14/4/1959, Hội đồng chính phủ (nay là Chính phủ) đã ban hànhNghị định 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất Đây cóthể coi là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan tới bồi thường TĐC bắt buộc ởViệt Nam Tiếp sau đó, Liên bộ uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ banhành Thông tư Liên bộ số 1424/TTLB ngày 06/7/1959 hướng dẫn việc thihành Nghị định 151/TTg với các nguyên tắc cơ bản là đảm bảo kịp thời và đủdiện tích cần thiết cho xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi vàđời sống của người có ruộng đất; những người có ruộng đất bị trưng dụngđược bồi thường và trong trường hợp cần thiết phải được giải quyết công ănviệc làm; chỉ được trưng dụng số ruộng đất cần thiết, không được trưng dụngthừa, hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy trồng trọt; hế sức tránh những nơidân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa, đền, những người có ruộngđất trưng dụng cần được báo cáo trước một thời gian là hai tháng để kịp dichuyển
Ngày 11 tháng 01 năm 1970, thủ tướng Chính phủ ban thành Thông tư1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, câycối, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộngthành phố Nguyên tắc bồi thường theo quy định của Thông tư 1972/TTg là
Trang 11phải bảo đảm thoả đáng quyền lợi kinh tế của các hợp tác xã và của nhân dân,nhưng cũng không vì thiên lệch về phía nhân dân mà Nhà nước phải bồithường quá.
Mặc dù chính sách bồi thường về đất chưa được quy định trong luật vàthể chế thành một chính sách đầy đủ, song quy định về bồi thường khi màmức trưng dụng đất tại Thông tư 1792/TTg đã có sự thay đổi so với Nghị định151/TTg, từ "chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của những người córuộng đất bị trưng dụng" trước đây sang "đảm bảo quyền lợi kinh tế của HTX
và của nhân dân", đồng thời những quy định tại Nghị định số 151/TTg trướcđây chỉ có tính nguyên tắc thì đến Thông tư 1792/TTg đã được quy định cụthể mức bồi thường nhà ở, đất đai, cây lâu năm, hoa màu trên đất
Sau khi giải phóng miền Nam, để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cáchmạng mới, Hiến pháp năm 1980 ra đời, bước đầu tạo ra sự đổi mới về nhậnthức cũng như phương thức quản lý kinh tế Điều 19 của Hiến pháp khẳngđịnh đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng sự phát triển kinh tế vẫn dựa trên
cơ sở chế độ bao cấp Về đất đai, pháp luật không quy định có giá và khôngcho phép đất đai tham gia chuyển dịch dân sự (điều này thể hiện trong Quyếtđịnh số 201/CP ngày 01/07/1980 của Hội đồng Chính phủ) Khi có nhu cầu sửdụng đất, Nhà nước sẽ cấp đất và không thu tiền sử dụng đất, cần bao nhiêu,Nhà nước cấp bấy nhiêu, quan hệ đất đai giữa Nhà nước với người sử dụngđất đơn thuần chỉ là quan hệ "giao - thu"
Luật Đất đai 1987 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàndân do Nhà nước thống nhất quản lý, khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụcho các mục đích công cộng, người sử dụng đất không được Nhà nước bồithường bằng đất, chỉ được bồi thường bằng tiền, tài sản hoa màu có trên diệntích bị thu hồi
Ngày 31 tháng 5 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số186/HĐBT về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển
Trang 12sang sử dụng vào mục đích khác Theo quy định của Nghị định số186/HĐBT thì các tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để
sử dụng vào mục đích khác phải bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp, đất
có rừng mà người được Nhà nước giao đất phải nộp được điều tiết về ngânsách Trung ương 30%, còn lại 70% thuộc ngân sách địa phương để sử dụngvào việc khai hoang, phục hoá, cải tạo đất nông nghiệp, định canh, định cưcho nhân dân vùng bị lấy đất Người có đất bị thu hồi chỉ được bồi thườngthiệt hại tài sản trên đất, trong lòng đất Nếu Nhà nước thu hồi vào đất làmnhà ở, việc bồi thường thiệt hại về đất không được đặt ra ngoài người bị thuhồi đất làm nhà ở sẽ phải tự lo liệu
Tóm lại, do thời kỳ này đất đai được thừa nhận có giá trị nên các chínhsách bồi thường, hỗ trợ và TĐC còn nhiều hạn chế, thế hiện trong cách tínhgiá trị bồi thường, phương thức thực hiện Tuy nhiên, nhìn nhận một cáchcông bằng thì những chính sách này cũng đã đóng vai trò tích cực trong việcGPMB để dành đất cho việc xây dựng các công trình quan trọng trong hệthống cơ sở hạ tầng ban đầu của đất nước
1.3.2 Thời kỳ 1993 – 2003
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hộithông qua và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Với quy định "đất có giá" vàngười sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rấtquan trọng đối với công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC của Luật Đất đai năm1993
Những quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC của Luật Đất đai năm
1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện,nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, nó
đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩynhanh tốc độ GPMB, đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thời đảmbảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật dửa đổi, bổ sung một số
Trang 13điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồithường, hỗ trợ và TĐC đã được ban hành, bao gồm:
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất
- Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định về việcbồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích anninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ về việcbồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích anninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; thay thế Nghị định số90/CP nói trên
- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướngdẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC đã quyđịnh rõ phạm vi áp dụng bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đốitượng phải bồi thường thiệt hại, đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồithường thiệt hại và các chính sách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài sảngắn liền với đất, việc lập khu TĐC cũng như việc tổ chức thực hiện
Về việc áp dụng: Chính sách bồi thường, GPMB theo quy định của
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC áp dụngchung cho mọi trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất Đây là một điểm khác sovới Nghị định số 90/CP
Đối tượng phải bồi thường thiệt hại: Người sử dụng đất được Nhà
nước giao đất hoặc cho thuê đất có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về đất vàtài sản cho người có đất bị thu hồi để giao hoặc cho mình thuê
Đối tượng được bồi thường thiệt hại: Phải là người có quyền sử dụng
đất, người sở hữu tài sản hợp pháp theo quy định của pháp luật
Phạm vi bồi thường thiệt hại gồm:
- Bồi thường thiệt hại về đất cho toàn bộ diện tích đất thu hồi
Trang 14- Bồi thường thiệt hại về tài sản hiện có.
- Trợ cấp đời sống và sản xuất cho những người phải di chuyển chỗ ở,
di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh
Trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp cho người có đất bị thu hồi
- Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện bồithường, di chuyển, GPMB
Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại về đất: Khi Nhà nước thu hồi đất thì
tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có đất bị thu hồi được bồi thường bằngtiền, nhà ở hoặc bằng đất Khi bồi thường bằng đất hoặc nhà ở mà có sựchênh lệch về giá trị thì người được bồi thường được nhận hoặc phải trả lạiphần chênh lệch giá trị đo bằng tiền
Về điều kiện được bồi thường: Do chính sách đất đai của Nhà nước Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử có nhiều thay đổi và do còn nhiều bất cập trongcông tác quản lý, sử dụng đất, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã quy định rất cụthể, chi tiết các trường hợp được bồi thường thiệt hại về đất, về tài sản
Về giá đất để tính bồi thường thiệt hại: Giá đất để tính bồi thường thiệt
hại được xác định trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy địnhcủa Chính phủ nhân với hệ số K để đảm bảo giá đất tính bồi thường phù hợpvới khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương
Về chính sách hỗ trợ: Thực tế, khi Nhà nước thu hồi đất của người đang
sử dụng đất ổn định, lâu dài, hậu quả là người dân bị mất đất ở, mất tư liệu sảnxuất, nhiều trường hợp phải di chuyển chỗ ở, đời sống của người bị thu hồi đấtgặp nhiều khó khăn, nên việc thực hiện các chính sách hỗ trợ để khôi phục thunhập, cải thiện mức sống của những người bị ảnh hưởng là rất cần thiết Chínhsách hỗ trợ quy định trong Nghị định số 22/1998/NĐ-CP bao gồm:
- Hỗ trợ về ổn định sản xuất và đời sống, chi phí đào tạo chuyển nghề
- Trợ cấp ngừng việc cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệptrong thời gian ngừng sản xuất kinh doanh đến lúc sản xuất kinh doanh trở lại
Trang 15hoạt động bình thường.
- Trợ cấp chi phí di chuyển, hỗ trợ tạo lập chỗ ở đối với người đang sửdụng nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước, thưởng tiến độ
- Hỗ trợ cho các đối tượng chính sách
Về TĐC: Chính sách TĐC được đề cập đầy đủ hơn so với các Nghị
định trước đó, việc Nhà nước chuẩn bị đủ điều kiện để lập khu TĐC (bao gồmquỹ đất, quỹ nhà ở và quỹ tiền mặt) là một phần đảm bảo công tác GPMB thựchiện nhanh chóng Lập khu TĐC được cụ thể hoá một chương riêng trong Nghịđịnh số 22/1998/NĐ-CP, bao gồm quy định thẩm quyền phê duyệt lập khu TĐC,điều kiện bắt buộc phải có khu TĐC, nguyên tắc bố trí đất ở cho các hộ gia đìnhtại khu TĐC và nguồn vốn xây dựng khu TĐC Ngoài ra còn có một số quy định
về chính sách hỗ trợ lập khu TĐC, góp phần khôi phục cuộc sống của người dântrong vùng giải toả Lập khu TĐC, thể hiện chính sách đổi mới của Nhà nước vềquan điểm và mục tiêu lấy con người làm trọng tâm trong quá trình bồi thườngthiệt hại đối với người bị thu hồi đất
Về tổ chức thực hiện: Các văn bản trước đây mới chỉ quan tâm đến nội
dung bồi thường cho đất bị thu hồi và các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi,thì Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã có quy định cụ thể về công tác tổ chứcthực hiện, trách nhiệm của UBND các cấp và Hội đồng bồi thường, hỗ trợ vàTĐC cấp thành phố trong việc chỉ đạo thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ
và TĐC của các dự án như lập phương án bồi thường, xác định mức bồithường hoặc trợ cấp cho từng tổ chức gia đình, cá nhân và tổ chức thực hiệnbồi thường theo phương án được phê duyệt Các quy định này đã giúp cho cácđịa phương có sự chủ động trong việc lựa chọn phương án bồi thường phùhợp với điều kiện kinh tế - xã hội, quỹ đất, tập quán của địa phương
1.3.3 Từ khi có luật đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009 đến nay.
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lục thi hành từ
Trang 16ngày 01/7/2004 Để hướng dẫn việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nướcthu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Chính phủ và các Bộ,ngành đã ban hành các văn bản sau:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thihành Luật Đất đai
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính vềhướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07/12/ 2004 của Bộ Tài chính vềhướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 củaChính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ vềbồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ vềphương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ về bổsung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiệnquyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thuhồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của BộTài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung
về việc cấp GCN QSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự thủ tục bồithường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại vềđất đai
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quyđịnh bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗtrợ và TĐC
Trang 17Các Nghị định và Thông tư nêu trên đã quy định cụ thể về bồi thường,
hỗ trợ và TĐC như sau:
- Quy định những trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh
tế, trách nhiệm của UBND các cấp đối với những trường hợp nhà đầu tư thoảthuận với người sử dụng đất
- Quy định phạm vi, loại đất để tính bồi thường:
+ Quy định về giải quyết các trường hợp đang sử dụng đất nhưngkhông có một trong các loại giấy tờ về đất đai
+ Phạm vi, giới hạn đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đấtvườn, ao liền kề với đất ở để được hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Quy định về giá đất, phương pháp xác định giá đất:
+ Xác định lại giá đất cho phù hợp với thị trường đối với trường hợpgiá đất do UBND cấp tỉnh quy định và công bố chưa sát với giá chuyểnnhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bìnhthường
+ Quy định mở rộng khung giá, nâng mức giá tối đa của khug giá một
số loại đất (các loại đất nông nghiệp, đất ở và đất sản xuất kinh doanh phinông nghiệp tại nông thôn) tăng thêm 50%
- Quy định về hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất:+ Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có mức sống thuộcdiện hộ nghèo thì được hỗ trợ để vượt qua hộ nghèo
+ Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bịthu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp không được Nhà nước bồi thườngbằng đất nông nghiệp tương ứng được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạoviệc làm bằng cách giao đất để làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch
vụ phi nông nghiệp
- Quy định hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi được giao đất TĐC
mà có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi nợ tiền sử dụng đất trên giấy từ chứng
Trang 18Về cơ bản, chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC theo Luật Đất đainăm 2003 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồngthời có những đổi mới nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồithường, hỗ trợ và TĐC hiện nay.
Luật Đất đai năm 1993 quy định chỉ thu hồi đất khi đã có dự án đầu tư
cụ thể, nay Luật Đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thực hiện việc thu hồiđất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC sau khi đã quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtđược công bố hoặc khi có dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp vớiquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xétduyệt, nhằm để chủ động quỹ đất cho đầu tư phát triển; Nhà nước giao cho tổ
Trang 19chức phát triển quỹ đất (do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngthành lập) để thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC, trực tiếpquản lý đất đã bị thu hồi đối với trường hợp sau khi quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư.
Về giá đất bồi thường: Giá đất do Nhà nước quy định đảm bảo nguyên
tắc sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trongđiều kiện bình thường; các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùngmục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau; đất tại khu vực giápranh giữa các tỉnh, thành phố thuộc trung ương, có điều kiện tự nhiên, kết cấu
hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụngtheo quy hoạch thì mức giá như nhau Giá đất để tính bồi thường là giá đấttheo mục đích đang sử dụng đã được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương quy định và công bố; không bồi thường theo giá đất sẽ chuyển mục đích
sử dụng Việc bồi thường cho người có đất bị thu hồi được tính theo giá đất
do Nhà nước quy định theo các nguyên tắc trên đã tạo nên tính nhất quán vềmặt giá trị Đối với trường hợp giá đất do UBND các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương quy định tại thời điểm thu hồi đất hoặc thời điểm giao đấtchưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trườngtrong điều kiện bình thường thì UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp mà không bị giới hạn bởi khunggiá đất do Chính phủ quy định tại Nghị định số 123/2007/NĐ-CP Đây là mộttrong những quy định của pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo quyền lợi chongười có đất bị thu hồi trong trường hợp giá bồi thường thiệt hại khi Nhànước thu hồi đất thấp hơn giá đất thực tế trên thị trường
Về đối tượng được bồi thường thiệt hại về đất: So với trước đây, trong
thời kỳ này các đối tượng bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đã mở rộnghơn Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có các loại giấy tờ theo
Trang 20quy định nhưng đất đã được sử dụng trước ngày 01/7/2004, nay được UBND
xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quyhoạch sử dụng đất đã được xét duyệt với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thìđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sẽ được bồi thường khi Nhànước thu hồi đất
Về chích sách hỗ trợ: Một trong những mối quan tâm của Nhà nước ta
hiện nay đó là việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư không được làmảnh hưởng xấu tới đời sống của người dân có đất bị thu hồi, đặc biệt là thuộcdiện hộ nghèo Ngoài các chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sảnxuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp như trước đây, chính sách hỗ trợ khi Nhànước thu hồi đất trong thời kỳ này đã được quy định theo hướng tạo điều kiệncho các hộ vượt nghèo Chẳng hạn như các hộ nghèo bị thu hồi đất thì được
hỗ trợ để vượt nghèo từ 3 tới 10 năm theo mức và thời gian do UBND cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định; hộ sản xuất nông nghiệp bịthu hồi trên 30% đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thườngthì được giao đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, trườnghợp không có đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp thìnhững thành viên trong hộ còn trong độ tuổi lao động được hỗ trợ đào tạochuyển đổi nghề nghiệp
Về TĐC: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện
các dự án TĐC trước khi thu hồi đất Khu TĐC phải có điều kiện phát triểnbằng hoặc tốt hơn nơi cũ Trường hợp không có khu TĐC thì người bị thuhồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ởthuộc sở hữu của Nhà nước đối với các khu vực đô thị, bồi thường bằng đất
ở đối với khu vực nông thôn Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồiđất phải ở TĐC thì việc bố trí TĐC phải gắn với tạo việc làm hoặc chuyểnđổi nghề nghiệp
Về trình tự tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC: Một điểm
Trang 21mới đó là người sử dụng đất được thông báo về việc thu hồi đất và phương ántổng thể về bồi thường, hỗ trợ và TĐC; quá trình lập phương án bồi thường,
hỗ trợ và TĐC có sự tham gia của người dân có đất bị thu hồi trước khi trình
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
1.4 Thực trạng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số địa phương trong cả nước.
1.4.1 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Thành phố Hà Nội.
Tính đến năm 2008 số dự án GPMB của Thành phố Hà Nội là 1.005gấp 3 lần so với cùng kỳ năm trước, với quy mô thu hồi đất trên 13.500 hagấp 4,5 lần sơ với kỳ trước, phạm vi thu hồi liên quan đến hơn 186.000 tổchức, hộ gia đình, cá nhân với số hộ cần bố trí TĐC là trên 19.000 hộ
Ba tháng đầu năm 200 9, thành phố Hà Nội tiếp tục thực hiện GPMBtrên 790 dự án, với quy mô thu hồi đất lên đến trên 11.700 ha, liên quan đếngần 177.000 hộ dân, tái định cư cho trên 16.420 hộ Đến nay, 14 dự án đãhoàn thành toàn bộ công tác GPMB; 4 dự án đã hoàn thành bàn giao một phầntheo phân kỳ đầu tư, bàn giao 102 ha đất, chi trả 278 tỷ đồng cho gần 1.470
Hà Nội – Dự án 2; cải tạo môi trường các hồ ở nội thành Hà Nội các dự ándân sinh bức xúc như khu đô thị Mỗ Lao, mở rộng đường Nguyễn Khuyến,
Trang 22các khu đô thị Lê Trọng Tấn – Dương Nội – An Hưng trên địa bàn xãDương Nội, quận Hà Đông.
Thành phố đã tập trung chỉ đạo, đề ra nhiều giải pháp, rà soát, thốngnhất ban hành nhiều cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC Đặc biệtsau khi mở rộng địa giới hành chính thành phố; trực tiếp xem xét, khảo sát,kiểm tra xử lý những khó khăn, vướng mắc về chính sách bồi thường, hỗ trợcho người dân phải di dời ở một số dự án trọng điểm Các cấp, các ngành, đặcbiệt là các ngành chức năng của thành phố đã có nhiều cố gắng, vào cuộcquyết liệt, đồng bộ, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả của thành phố
Tuy nhiên trong quá trình giải phóng vẫn còn gặp nhiều khó khăn doquỹ nhà TĐC của Hà Nội còn thiếu, tiến độ đầu tư xây dựng khu TĐC chưađáp ứng yêu cầu ảnh hưởng tới tiến độ giải phóng mặt bằng Một số cán bộtrực tiếp làm công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC ở cơ sở còn tiêu cực, viphạm pháp luật gây bức xúc trong nhân dân Trong quá trình bồi thường, hỗtrợ và TĐC không tránh khỏi những ý kiến trái chiều sự đồng thuận và khôngđồng thuận trong nhân dân Do đó việc giải quyết đơn thư khiêu nại, tố cáoliên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC là một vấn đề hết sức quantrọng
Ngoài ra do nhiều yếu tố khách quan khác như đất đai hiếm, giá thịtrường cao, yêu cầu đối với công tác bảo đảm việc làm, đời sống cho ngườidân sau khi thu hồi đất khó khăn nên so với các địa phương khác công tác bồithường , hỗ trợ và TĐC ở Hà Nội gặp nhiều khó khăn và phức tạp hơn nhiều
1.4.2 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị.
Theo trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Đông Hà tính đến cuốinăm 2012, thành phố có hơn 40 công trình cần GPMB trong đó có 25 côngtrình đã cơ bản hoàn thành công tác GPMB, 15 công trình đang triển khaiGPMB Trong đó 15 công trình đang tiến hành giải quyết có những công trình
Trang 23có quy mô lớn, số hộ bị ảnh hưởng nhiều như công trình xây dựng hạ tầng cơ
sở đường Trần Nguyên Hãn, phường Đông Giang; công trình đường Lê Lợinối dài, phường Đông Lương, công trình hạ tầng khu công nghiệp Đông Hà
Trong số các công trình đã và đang triển khai trên địa bàn thành phố cóhơn 500 hộ dân trong diện bị ảnh hưởng được đền bù hỗ trợ, trong đó tỷ lệ hộdân trong diện bồi thường, hỗ trợ và TĐC bị vướng mắc, khó giải quyếtchiếm đến 10% Thực trạng trên khiến công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐCdiễn ra một cách ì ạch, ảnh hưởng đến tiến độ công trình, đặc biến các khiếunại liên quan đến đền bù hỗ trợ di dời GPMB liên tục tăng Theo báo cáo củathanh tra tỉnh, đến cuối năm 2012 thành phố Đông Hà hiện có 9 đơn thư tồnđọng kéo dài của 15 hộ đứng đơn khiếu nại về công tác bồi thường, hỗ trợ vàTĐC thi công các công trình xây dựng trên địa bàn Một số trường hợp gặpvướng mắc, kéo dài khiến công trình bị gián đoạn, không thực hiện 100%khối lượng theo thiết kế, gây mất mỹ quan và hiệu quả công trình như côngtrình nút giao thông Lê Chưởng – Trần Hưng Đạo; công trình đường NguyễnDu
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều vướng mắc trong công tác bồithường, hỗ trợ và TĐC ở thành phố Đông Hà là do cơ chế chính sách, phápluật còn nhiều bất cập và chậm thay đổi Về giá đất đền bù theo định hướngthấp hơn giá thị trường 2 – 3 lần Điển hình là việc áp giá bồi thường, hỗ trợ
và TĐC đối với các hộ dân trên đường 9B, thuộc dự án mở rộng quảng trườngTrung tâm văn hoá tỉnh nhiều hộ dân cho rằng việc áp giá mức 240 triệuđồng/ mét ngang là không thoả đáng vì trước đó trên cùng một vị trí một câyxăng do phá sản đã tổ chức đấu giá khu đất với diện tích 10 mét ngang và đãđược bán với giá 6,9 tỷ đồng
Về giá bồi thường vật kiến trúc, nhà cửa, cây cối, tài sản trên đất hiệnthấp hơn giá thị trường 20% Chính sách áp giá đền bù không thống nhất giữacác công trình do tỉnh làm chủ đầu tư là dự án mở rộng quốc lộ 1A và dự án
Trang 24mở rộng quảng trường trung tâm văn hoá tỉnh giai đoạn 2 được tăng tổng mứcbồi thường, hỗ trợ và TĐC lên 20%, trong khi đó các công trình khác dothành phố Đông Hà làm chủ đầu tư không được điều chỉnh tăng vốn khiếnnhiều hộ dân không đồng tình Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐCđối với các hộ dân bị thu hồi nhiều đất, hộ gia đình có nhiều thế hệ sinh sống,đông con, hộ gia đình ở hai đầu tuyến giao thông chưa phù hợp, thoả đáng.Quá trình lập dự án, đơn vị tư vấn luôn lập dự toán bồi thường, hỗ trợ và TĐCthấp hơn so với thực tế nên khi triển khai phải điều chỉnh lại.
Bên cạnh đó, việc thiếu khu TĐC là một nguyê nhân khiến công tácGPMB thêm phần khó khăn Hiện Đông Hà có một số khu TĐC chỉ mới dự
án trên giấy như khu TĐC phường 3, Tây Hùng Vương Trong khi đó, một sốkhu TĐC chỉ được triển khai khi có dự án xây dựng công trình với mục đíchphục vụ TĐC đối với các hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp từ công trình như khuTĐC phường Đông Giang phục vụ di dời các hộ dân đường Trần NguyênHãn; khu TĐC phường Đông Thanh phục vụ TĐC các hộ dân công trình cầusông Hiếu và đường 2 đầu cầu
Mặt khác, một bộ phận nhân dân thiếu hợp tác và có trường hợp lôi kéocác hộ dân khác không đồng tình với chính sách cua Nhà nước theo ý chí chủquan của mình Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC củathành phố Đông Hà chưa đảm bảo về số lượng và chất lượng, đặc biệt là thiếunăng lực, kinh nghiệm trong vận động, thuyết phục, đối thoại với nhân dântrong khi đó số lượng công trình cần GPMB ngày càng nhiều
Trong hiện tại và tương lai, thành phố Đông Hà sẽ triển khai nhiềucông trình có quy mô ngày càng lớn nhằm phát triển đô thị xứng tầm với vị trítỉnh lỵ
Trang 251.5 Cơ sở pháp lý của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Cơ sở pháp lý của việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thuhồi đất vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộngdựa theo một số văn bản sau đây:
- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
- Căn cứ Luật đất đai ngày 26/11/2003
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thihành Luật Đất đai;
- Căn cứ Luật ban hành văn bản pháp luật của HĐND và UBND ngày03/12/2004;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồithường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 07/01/2006 của Chính phủ về sửađổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thựchiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khiNhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Thông tư 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ Tàichính và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện một sốĐiều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quyđịnh bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cưkhi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về quyđịnh bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗtrợ và tái định cư
Trang 26Ngoài ra trên địa bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đối với công tácbồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích an ninh, quốcphòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công công áp dụng các văn bản sau:
- Quyết định 16/2009/QĐ-UBND ngày 03/11/2009 của UBND tỉnh TháiBình về việc ban hành quy định một số chính sách bồi thường, hỗ trợ và táiđịnh cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định 2907/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của UBND tỉnh TháiBình về mức giá các loại đất áp dụng từ ngày 01/01/2012 trên địa bàn tỉnhThái Bình;
Trang 27Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp
nghiên cứu2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bànHuyện Hưng Hà – Tỉnh Thái Bình
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu quy trình thực hiện công tác bồithường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện 02 dự án trênđịa bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình như sau:
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung của đề tài đề cập tới những vấn đề chính sách bồi thường, hỗtrợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích quốc phòng, lợi íchquốc gia, lợi ích công cộng qua dự án trên địa bàn Huyện Hưng Hà, TỉnhThái Bình bao gồm:
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Hưng Hà –tỉnh Thái Bình
- Nghiên cứu tình hình sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất
- Điều tra việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhànước thu hồi đất để thực hiện các dự án
- Xác định đối tượng, điều kiện được bồi thường, hỗ trợ và TĐC
- Xem xét việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC
- Phân tích chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC, công tác hỗ trợ ổnđịnh sản xuất và đời sống, hỗ trợ các hộ thuộc diện chính sách
- Phân tích công tác tổ chức, trình tự thực hiện, trách nhiệm của các cấpcác ngành trong công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC
- Vấn đề giải quyết công ăn việc làm và những vấn đề ảnh hưởng đến đờisống, xã hội của người dân trong vùng có dự án
- Đề xuất các giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm ổn định vànăng cao đời sống của người dân bị thu hồi cả trong hiện tại và tương lai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Trang 28- Điều tra, khảo sát thực địa về tình hình thu hồi đất của huyện Hưng Hà– tỉnh Thái Bình
- Điều tra thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hộicủa địa bàn huyện(thu thập số liệu thứ cấp)
2.3.2 Phương pháp kế thừa
Bằng cách tiếp cận các thu thập có từ trước từ các cán bộ, các nhà tưvấn, cán bộ địa chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ và TĐC
2.3.3 Phương pháp thống kê, thu thập số liệu, tài liệu.
Là cách tổng hợp thu thập số liệu số liệu dựa trên các tài liệu thu thậpđược từ hồ sơ địa chính, từ thực tế về đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụcho việc hoàn thiện đề tài một cách đầy đủ, chính xác và chi tiết nhất
2.3.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu.
Trên cơ sở thu thập số liệu và các chế độ chính sách hiện hành tiếnhành tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu và đánh giá những mặt ưu nhược điểmcủa dự án
2.3.5 Phương pháp điều tra thực tế
Tiếp cận các tổ chức thực hiện, các hộ gia đình và cá nhân bị ảnh hưởng đểphỏng vấn trao đổi, thu thập thông tin về tình hình thực hiện công tác bồithường, hỗ trợ và TĐC
Trang 29Chương 3: Kết quả nghiên cứu
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Hưng Hà là huyện nằm ở phí Tây Bắc tỉnh Thái Bình, bao gồm 35 xã
và thị trấn (33 xã và 2 thị trấn) với tổng diện tích tự nhiên là 21.028,56 ha,chiếm 12,96 tổng diện tích toàn tỉnh Thái Bình Ranh giới của huyện đượcxác định như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên
- Phía Nam giáp huyện Vũ Thư
- Phía Đông giáp huyện Quỳnh Phụ và huyện Đông Hưng
- Phía Tây giáp tỉnh Hà Nam
Huyện có ba mặt tiếp giáp với 03 con sông lớn: sông Hồng phía Tây,sông Luộc phía Bắc và sông Trà Lý phía Tây Nam Gồm 5 tuyến quốc lộ vàtỉnh lộ chạy qua địa bàn huyện trong đó tuyến quốc lộ 39 chạy qua 7 xã và 2thị trấn Đặc biệt khi đường cao tốc Thái Hà hoàn thiện cùng với hệ thốnggiao thông quan trọng nối liền huyện Hưng Hà với thành phố Thái Bình, HàNam, Hải Phòng, các huyện trong tỉnh và thành phố Hưng Yên Hưng Hàthuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp củatam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Vị trí địa lý của huyện
đã tạo điều kiện thuận lợi cho huyện trong buôn bán, trao đổi, vận tải hànghoá, hành khách và giao lưu văn hoá, phát triển kinh tế - xã hội
b Địa hình, địa mạo
Huyện Hưng Hà thuộc vùng châu thổ sông Hồng, địa hình tương đốibằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% (trên 1km), cao trình biến thiên từ 1 - 2m
so với mặt nước biển Nhìn chung, địa bàn huyện có độ cao bình quân lớnnhất tỉnh, hướng đất thấp dần từ Bắc xuống Nam Đất Hưng Hà thuộc khuvực phía Bắc sông Trà Lý được hình thành sớm và chịu ảnh hưởng của phù sa
Trang 30sông Hồng và sông Luộc nên là vùng đất tương đối cao hơn, độ cao trungbình từ 1,3 - 2,5 m so với mực nước biển.
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 84%, mùamưa độ ẩm cao có thể đạt tới 88%, độ ẩm thấp nhất là 24%
- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 2.372 giờ, cáctháng có số giờ nắng cao từ tháng 3 đến tháng 9 trung bình đạt 260 giờ/tháng(cao nhất vào tháng 5), các tháng có số giờ nắng thấp từ tháng 10 đến tháng 2năm sau trung bình 120 - 130 giờ/tháng (thấp nhất vào tháng 12)
- Gió: Hướng gió thịnh hành là gió Đông từ tháng 11 đến tháng 4; gióĐông Nam tháng 5; gió Tây tháng 6 đến tháng 9; gió Tây Nam tháng 10 Tốc
độ gió trung bình năm là 3,9m/s, trung bình tháng lớn nhất là 4,9m/s, trungbình tháng nhỏ nhất là 3,1m/s
d Thủy văn
Huyện chịu ảnh hưởng chủ yếu của các sông là sông Hồng, sông Luộc
và sông Trà Lý
- Sông Hồng chảy ven theo địa giới hành chính các xã Tiến Đức, Hồng
An, Minh Tân, Độc Lập, Hồng Minh; với chiều dài khoảng 14 km Vào mùamưa từ tháng 6 đến tháng 10 mực nước sông lên nhanh và cao hơn mặt ruộng
từ 2 - 5m Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau mực nước sông xuốngthấp hơn mặt ruộng từ 2 - 3m Sông Hồng đóng vai trò rất quan trọng trong
Trang 31việc cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất, đồng thời cũng cung cấp lượng phù
sa không nhỏ phục vụ việc cải tạo đồng ruộng
- Sông Luộc là một nhánh của sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắtđầu từ xã Tân Lễ đến xã Điệp Nông qua địa phận các xã: Tân Lễ, Canh Tân,Cộng Hòa, Hòa Tiến, Tân Tiến, Điệp Nông có chiều dài 21km Lưu lượngdòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm Sông Luộc cũng góp phầntích cực vào việc tưới, tiêu và bồi đắp phù sa cho đồng ruộng
- Sông Trà Lý cũng là một nhánh của sông Hồng chảy qua địa bàn huyệnbắt đầu từ xã Hồng Minh đến xã Chí Hòa (qua địa phận 2 xã: Hồng Minh, ChíHòa); có chiều dài 4,5km Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa hàngnăm
3.1.2 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Đất đai huyện Hưng Hà được hình thành qua quá trình biển lùi và bồi
tụ phù sa của sông Hồng và sông Trà Lý, cùng với việc quai đê, lấn biển, khaihoang của cư dân từ xưa đến nay Do đó, đất Hưng Hà phì nhiêu màu mỡ, nổitiếng “Bờ xôi, ruộng mật” với 93% là đất phù sa Đất phù sa ở huyện Hưng Hà
có thành phần cơ giới chủ yếu là đất cát pha và đất cát, địa hình đất lại tương đốicao, 70% diện tích canh tác nằm ở bề mặt cao và trung bình nên ngoài diện tíchcấy lúa, đất đai ở Hưng Hà còn thích hợp cho phát triển cây vụ đông, cây côngngiệp ngắn ngày (cây đay, cây dâu, cây đậu tương…), cây ăn quả nhiệt đới (cam,táo, nhãn, chuối…), cây thực phẩm và cây lương thực… có năng suất cao Nhìnchung, đất đai Hưng Hà thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp toàndiện
Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, đất đai huyện Hưng Hà được chialàm 3 nhóm chính:
- Nhóm đất phù sa, diện tích 11.440,37 ha chiếm 93% diện tích đất điềutra Là nhóm đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, với khả năng
Trang 32hấp thu các chất hữu cơ khá cao.
- Nhóm đất cát, diện tích 723.58 ha, khả năng giữ nước kém, nghèochất dinh dưỡng
- Nhóm đất phèn, diện tích 66,45 ha nằm xen kẽ rải rác ở các xã
Ngoài ra còn có nguồn đất sét, nguồn tài nguyên cát lòng sông rấtphong phú để phục vụ sản xuất, khai thác vật liệu xây dựng
b Tài nguyên nước
- Nước mặt: Bao gồm nước mưa và nước trong hệ thống sông ngòi, ao,
hồ, trên địa bàn nhưng chủ yếu là nguồn nước sông Hồng, sông Luộc, sôngTrà Lý… Nhìn chung nguồn nước mặt khá phong phú, đáp ứng được nhu cầuphát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân trong giai đoạn phát triển Tuynhiên, nguồn nước mặt ở Hưng Hà đang bị ô nhiễm
- Nước ngầm: Theo tư liệu dự án Quy hoạch nước sạch và vệ sinh môitrường nông thôn Thái Bình đến năm 2020 cho biết nguồn nước ngầm ở Hưng
Hà có 2 tầng đặc trưng là tầng chứa nước Thái Bình và tầng chứa nước HảiHưng
- Nguồn nước nóng ở xã Duyên Hải: Theo tư liệu và xét nghiệm bướcđầu của khoa sinh hóa Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cho biết tại vùngđất xã Duyên Hải ở độ sâu 50m có nguồn nước nóng 500C; ở độ sâu 178m cónguồn nước nóng 720C Tuy trữ lượng chưa được xác định nhưng 6 năm gầnđây chính quyền xã Duyên Hải đã đưa vào quản lý giao cho tư nhân khai thácbằng máy khoan bơm điện, bể chứa xử lý với mục đích cung cấp nước nóngphục vụ ngành thủy sản nuôi giữ cá bố mẹ qua đông và đẻ sớm, đã góp phầncung cấp lượng cá giống cho khu vực
c Tài nguyên khoáng sản
Hưng Hà là huyện thuộc vùng đồng bằng ven biển, đất đai của huyệnđược hình thành do quá trình bồi đắp của trầm tích biển nên tài nguyên
Trang 33khoáng sản của huyện rất nghèo về trủng loại và ít về trữ lượng, chủ yếu làkhoáng sản cát lòng sông, đất sét trắng, gạch ngói, than nâu và sa khoáng.
Ngoài ra theo đánh giá Hưng Hà còn có trữ lượng than trong lòng đấtthuộc bế than nâu vùng đồng bằng sông Hồng, được đánh giá có trữ lượnglớn trên 30 tỷ tấn, nhưng phân bố ở độ sâu 600 – 1000 m nên chưa đủ điềukiện về vốn, khoa học công nghệ để khai thác
d Tài nguyên nhân văn
Hưng Hà là vùng đất có truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước vàcách mạng Nhân dân Hưng Hà đã tạo dựng được nhiều công trình văn hóa có ýnghĩa lịch sử như tôn miếu, lăng mộ nhà Trần, đền Tiên La,… gắn liền với cáccông trình mang tính lịch sử đó là các danh nhân: Thái sư Trần Thủ Độ, "Nữtướng hậu cần" của nhà Trần - Trần Thị Dung, Bát Nạn Tướng Quân - Vũ ThịThục (tướng quân phá nạn cho dân - một nữ tướng của Hai Bà Trưng), bác học
Lê Quý Đôn Nhân dân trong huyện có tinh thần đoàn kết yêu quê hương, cóđức tính cần cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vững bước đi lên
Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triểnkinh tế xã hội, trong xu hướng hội nhập với cả nước, khu vực và quốc tế; làthuận lợi để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện vữngbước đi lên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng huyện giàu,đẹp, văn minh
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế: Trong những năm qua, mặc dù trên địa bànhuyện gặp nhiều khó khăn do thiên tai song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ,UBND huyện cùng với lợi thế về tiềm năng thiên nhiên, nguồn lực con người, nềnkinh tế của huyện Hưng Hà đã dần đi vào hướng phát triển ổn định đạt bình quân giaiđoạn 2011 là 12,33%, năm 2012 đạt 12,54%
+ Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 37,17% trong cơ cấu giá trị sản
Trang 34xuất năm 2005 lên 56,34% vào năm 2012.
+ Khu vực thương mại, dịch vụ, chịu nhiều ảnh hưởng của biến động thịtrường giá cả song cơ cấu giá trị sản xuất vẫn đạt ở mức 18,39% vào năm 2012
Nhìn chung, trong thời kỳ 2005 - 2010, cơ cấu kinh tế của huyện có sựchuyển dịch đúng hướng, cơ cấu kinh tế thay đổi đều ở cả ba khu vực theohướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ
và giảm dần tỷ trọng ngành nông - lâm - nghiệp Trong năm 2011 – 2012 huyệnHưng Hà đã đạt được những thành quả nhất định trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - văn hoá – xã hội Tuy nhiên mức độ chuyển dịch kinh tế hiện nay diễn ra vẫncòn chậm, tỷ trọng của ngành công nghiệp - xây dựng thấp hơn nhiều so với cơcấu nông - lâm - ngư nghiệp
b Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Kinh tế nông nghiệp: Nhận thức được vai trò quan trọng của khu vựckinh tế nông nghiệp trong việc ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế, trongthời gian qua, huyện đã có nhiều chủ trương đầu tư cho các vùng sản xuấttrọng điểm, triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,tạo ra các hành lang cơ chế phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nênngành nông - lâm nghiệp, thuỷ sản của huyện phát triển khá toàn diện
Trang 35Biểu 01: giá trị sản xuất và cơ cấu các phân ngành của khối ngành sản
xuất nông nghiệp huyện Hưng Hà – tỉnh Thái Bình
giai đoạn 2005 – 2010
Chỉ tiêu Đơn vị Năm
2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012 GTSX Tỷ đồng 563 708 772 803,1 846,05 886,9 897,
Đặc biệt trong năm 2011 – 2012 giá trị sản xuất và cơ cấu các phânngành của khối ngành sản xuất nông nghiệp huyện biến đổi rõ rệt Giá trị sảnxuất của khối ngành sản xuất nông nghiệp năm 2011 đạt 897,1 tỷ đồng, năm
2012 đạt 900,3 tỷ đồng tăng 69,2 tỷ đồng so với năm 2010; Cơ cấu ngànhnông nghiêp giảm điều đó thể hiện ngành công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp tăng
Trang 36Biểu 02: Giá trị sản xuất và cơ cấu sản xuất nông nghiệp huyện Hưng Hà
giai đoạn 2005 - 2012
Chỉ tiêu Đơn vị
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012 GTSX
Tỷ đồng 541,9 667 724,4 753,2 788,96
831, 1 865,3 887,8
+ Trồng trọt Tỷ đồng 418,1 483 483,1 490,9 498,66 516,5 531,0 540,1 + Chăn nuôi Tỷ đồng 105 162 220,8 241,2 268,35 290,8 310,2 321,4 + Dịch vụ
nông nghiệp Tỷ đồng 18,8 22 20,5 21,1 21,95 23,8
24, 1
26, 3
+ Trồng trọt % 77,15 72,41 66,69 65,18 63,20 62,15 61,36 60,83 + Chăn nuôi % 19,38 24,29 30,48 32,02 34,01 34,99 35,84 36,20 + Dịch vụ
nông nghiệp % 3,47 3,30 2,83 2,80 2,78 2,86
2,8 0
2,9 6
Ngành nông nghiệp phát triển lấy sản xuất lương thực làm trọng tâm,tích cực phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày Cơ cấu câytrồng, vật nuôi tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực, đúng hướng và đảm bảo sựphát triển bền vững, theo hướng phát triển sản xuất với tiêu thụ sản phẩm Sảnxuất cây màu vụ hè và hè thu được coi trọng, diện tích bình quân 5 năm đạt 1.900
ha Là huyện có truyền thống và kinh nghiệm thâm canh sản xuất vụ đông, diệntích bình quân hàng năm đạt 6.500 ha, chiếm 50% diện tích đất canh tác; Cây đậutương đã trở thành cây trồng chủ lực trong sản xuất vụ đông Giá trị sản xuất trồngtrọt năm 2010 đạt 516,5 tỷ đồng, chiếm 62,15% tổng giá trị sản xuất ngành nôngnghiệp Riêng năm 2012 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 887,8 tỷ đồng tăng mộtcách đáng kể so với các năm trước
Hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển đa dạng, hàng hoá tiêu dùngphong phú, thị trường sôi động, đã hình thành hệ thống mạng lưới chợ rộngkhắp trên địa bàn tạo ra sự lưu thông hàng hoá theo cơ chế thị trường đạt hiệuquả cao Huyện đã xây mới, cải tạo được 6 chợ khu trung tâm và chợ nông