Vì lẽ đó tôi đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội phường Trần Phú, Thành phố Hà Giang, Tỉnh Hà Giang”,dưới sự hướng dẫn của cô giáo - Thạc sỹ Đỗ Hải Hà
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hoá là xu thế tất yếu trên con đường phát triển của hầu hết các quốcgia trên thế giới trong đó có Việt Nam Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cảnước đã có gần 200 khu công nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố vớitrên 6.000 dự án đầu tư trong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động Phầnlớn diện tích các khu công nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượngchủ yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân
Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chếxuất các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng của đấtđai, tạo những ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môitrường ứng dụng rộng rãi khoa học, công nghệ… Đô thị hoá kích thích và tạo cơhội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn cácphương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chínhđáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện - đó là xuhướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá
Không nằm ngoài sự phát triển chung đó, Phường Trần phú được thànhlập ngày 15/7/1981, là phường Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội củaThành phố Hà giang - với những lợi thế sẵn có của mình đã thu hút được rấtnhiều các dự án đầu tư lớn cả về quy mô lẫn giá trị Sau khi đi vào hoạt động các
dự án đã giải quyết được rất nhiều việc làm cho người dân trong phường Nhìnchung đời sống của người dân địa phương đang từng bước được cải thiện Với
chủ đề của Đại hội Đảng bộ Phường lần thứ X là: ''Đoàn kết - Xây dựng phường giàu mạnh về kinh tế, sáng về văn hóa, vững về QPAN, mạnh về chính trị” phương hướng của Đảng bộ Phường đến năm 2015 là: Phát huy truyền
Trang 2thống đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ sự giúp đỡ của Thành phố và các thànhphần kinh tế đứng chân trên địa bàn Phường, phát huy cao độ nội lực đẩy mạnhphát triển kinh tế, kinh doanh dịch vụ thương mại và mở rộng các loại hình pháttriển kinh tế, phấn đấu hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu trên giao phấn đấu xâydựng Phường là địa phương có kinh tế phát triển mạnh, đời sống đạt mức khá,giàu của Tỉnh Tinh thần vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện và nângcao, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, lịch sự, hiếu khách Quản lý đô thị có trật tự
kỷ cương, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội xây dựng hệ thống chínhtrị vững mạnh, QPAN vững chắc
Vì lẽ đó tôi đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội phường Trần Phú, Thành phố Hà Giang, Tỉnh Hà Giang”,dưới
sự hướng dẫn của cô giáo - Thạc sỹ Đỗ Hải Hà - Giảng viên khoa Quản lý đấtđai - Trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội cùng với sự giúp đỡcủa các đồng chí cán bộ thuộc UBND phường Trần Phú để đi sâu nghiên cứunhững tác động tích cực cũng như những hạn chế của đô thị hóa đối với sự pháttriển kinh tế xã hội trên địa bàn phường Trần Phú
2 Mục đích
- Tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế xã hội của phường Trần Phú trước
và sau quá trình đô thị hóa, từ đó đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sự pháttriển kinh tế xã hội của địa phương
- Trên cơ sở đó, đề ra những định hướng và giải pháp phù hợp thúc đẩykinh tế xã hội của phường Trần Phú để không ngừng phát triển
3 Yêu cầu
- Nắm chắc được các quy định của Nhà nước, của ngành và địa phương cóliên quan tới quá trình đô thị hóa để vận dụng vào thực tế của địa phương
Trang 3- Thu thập tài liệu, số liệu theo các tiêu chí đã được xác định Các số liệuđiều tra, thu thập phải chính xác, đầy đủ phản ánh trung thực khách quan.
- Xử lý, phân tích số liệu, rút ra kết luận về các tiêu chí phản ánh nhữngảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới phát triển kinh tế xã hội của địa phương
- Kiến nghị và đề xuất phù hợp với thực tiễn của địa phương
Trang 4CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về tăng trưởng kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bìnhquân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Hoặc:
- Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng trong một thời
kỳ nhất định (thường là 1 năm)
Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu ngườihoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI)
Trong đó:
- Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sảnphẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuốicùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời giannhất định (thường là một năm tài chính)
- Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tínhbằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân mộtnước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốcdân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng
- Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia chodân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia chodân số
Trang 5Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn cácnước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực củaphát triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăngtrưởng kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốnnhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khácnhau đưa đến kết quả tương ứng.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thunhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thểhiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độbất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu ngườicao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ
1.1.2 Khái niệm cơ bản về phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trongmột thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô, sản lượng
và sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý Do đó,phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăngtrưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xãhội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khuvực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế
là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội,môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP caohơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn
1.1.3 Lý luận về đô thị hoá
Khái niệm đô thị hóa: có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về đô thị
hoá như sau:
Trang 6Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị Đồng thời đó là quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuấtphi nông nghiệp tăng Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mởrộng Trong đó, dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn nhữngngười dân lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Đô thị hoá là một quá trình kinh tế - xã hội, mà biểu hiện của nó là sự tăngnhanh về số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô thị, sự tập trung của dân
cư trong các thành phố, nhất là các thành phố lớn, là sự phổ biến rộng rãi lốisống nơi thành thị
Đô thị hóa là một quá trình định cư của dân số nông nghiệp sang phi nôngnghiệp, với những chỉ số biểu trưng như: tỷ số dân số đô thị tăng lên trong khi tỷ
lệ dân số nông thôn giảm đi kèm theo sự mở rộng diện tích và không gian củacác đô thị đã có và sự xuất hiện các đô thị mới
Đô thị hóa là sự biến đổi toàn diện kinh tế - xã hội nhiều mặt, trên cái nhìnhẹp hơn đó là hiện tượng dịch cư nghề nghiệp từ lĩnh vực nông nghiệp sang phinông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó Và đô thị hóa là quá trình kinh tế - xãhội tất yếu sẽ xảy ra mà không ngoại trừ bất kỳ quốc gia nào
Nói một cách đầy đủ hơn thì đô thị hoá là một quá trình biến chuyển kinh
tế - xã hội – văn hoá và không gian, gắn liền với những tiến bộ về khoa học kỹthuật của xã hội loài người, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sựchuyển dịch cơ cấu lao động, sự chuyển đối lối sống ngày càng văn minh hơncùng với sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song với việc tổchức ranh giới hành chính lãnh thổ và quân sự Ở những nước có trình độ pháttriển kinh tế xã hội càng cao thì tỷ lệ đô thị hoá càng cao
Trang 7* Đặc điểm của đô thị hóa
Quá trình đô thị hoá thể hiện ở ba đặc điểm chính:
- Xu hướng tăng nhanh dân số thành thị
- Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn
Số lượng các thành phố có số dân trên 1 triệu người ngày càng nhiều Hiệnnay, toàn thế giới có hơn 270 thành phố từ 1 triệu dân trở lên, 50 thành phố có sốdân vượt quá 5 triệu người
- Lối sống thành thị phổ biến rộng rãi
Cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, lối sống thành thị đượcphổ biến rộng rãi và có ảnh hưởng đến lối sống của dân cư nông thôn về nhiềumặt
* Ảnh hưởng của đô thị hoá đến sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
- Ảnh hưởng tích cực
Đô thị hoá không những góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động mà còn làm thay đổi sự phân bốdân cư và lao động, thay đổi các quá trình sinh, tử và hôn nhân ở các đô thị…
- Ảnh hưởng tiêu cực
Đô thị hoá nếu không xuất phát từ công nghiệp hoá, không phù hợp, cânđối với quá trình công nghiệp hoá, thì việc chuyển cư ồ ạt từ nông thôn ra thànhphố sẽ làm cho nông thôn mất đi một phần lớn nhân lực Trong khi đó thì nạnthiếu việc làm, nghèo nàn ở thành phố ngày càng phát triển, điều kiện sinh hoạtngày càng thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến nhiềuhiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội
Trang 8Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có, thông thường quá trình nàykhông phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thànhphố thường thấp hơn nông thôn Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thànhthị, hoặc như là sự nhập cư đến đô thị ĐTH có các tác động không nhỏ đến sinhthái và kinh tế khu vực Đô thị học sinh thái cũng quan sát thấy dưới tác động đôthị hóa, tâm lý và lối sống của người dân thay đổi Sự gia tăng quá mức củakhông gian đô thị so với thông thường được gọi là "sự bành trướng đô thị"(urban sprawl), thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp pháttriển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị Những người chống đối
xu thế đô thị hoá cho rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phíđầu tư hạ tầng kỹ thuật và có tác động xấu đến sự phân hóa xã hội do cư dânngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăn của khu vực trong đô thị Đô thịhoá nông thôn thúc đẩy phát triển xã hội
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐÔ THỊ HÓA
1.2.1 Quá trình đô thị hóa trên thế giới
Đô thị hoá là quá trình tăng dân số ở khu vực thành thị trong tương quan
so sánh với dân số của một vùng, một quốc gia hay thậm chí toàn cầu Kể từcuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tại nước Anh năm 1750, người ta đãbắt đầu chuyển từ nông thôn ra thành thị sinh sống và làm việc Theo báo cáonăm 2005 của Tổ chức Viễn cảnh Đô thị hoá của Liên hợp quốc thì thế kỷ 20chứng kiến tốc độ đô thị hoá rất nhanh Theo các chuyên gia nghiên cứu về đôthị hoá thì trong tiến trình đô thị hoá nửa sau thế kỉ 20, các quốc gia kém pháttriển có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỉ trọng dân số đô thị trêntổngdân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều sovới các quốc gia phát triển
Trang 9Quá trình đô thị hoá được diễn ra ở tất cả các quốc gia trong đó mạnhnhất ở các nước đang phát triển Cùng với sự phát triển của đô thị hoá là sự di cưcủa dân số từ nông thôn ra đô thị Ở các nước kém phát triển, sản xuất nôngnghiệp đóng vai trò chủ yếu (xã hội nông thôn) thì dân số nông thôn chiếm chủyếu Đối với các nước đang phát triển đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từnông nghiệp sang công nghiệp (xã hội đô thị) thì dân số nông thôn đã chuyểnlên các khu đô thị làm việc và sinh sống Còn phát triển là những nước có côngnghiệp và dịch vụ phát triển mạnh - người dân được sử dụng những dịch vụđược cho là tốt nhất (xã hội đô thị) thì dân số chủ yếu là dân số đô thị Và
để thấy rõ hơn sự thay đổi về dân số đô thị ta cùng nghiên cứu qua bảng:
Bảng 1.1 : Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn
(Nguồn: World urbanization prospects: 2000)
Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỉ lệ dân số đôthị toàn thế giới là từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17 ,8%lên 40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% lên 76,1%
Hiện tại tỉ lệ đô thị hoá châu Á là 35%, châu Âu là 75%, châu Phi là 45%,Bắc Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La tinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phầnlớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống
ở các đô thị
Trang 10Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH-HĐH.Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộcsống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao độngtheo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô Số hóa bởitiêu hao nhiên liệu, năng lượng Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đấtcanh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 havào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:
1 Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra đô thị trong đó yêu cầu nhất thiếtphải nâng cao mức sống nông thôn
2 Khi tập trung quá tải, cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thố ng dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, có cơ sở xã hội thoả đáng
1.2.2 Quá trình đô thị hóa tại Việt Nam
Đô thị hoá là một quá trình phát triển tất yếu của bất kỳ quốc gia nào,trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, đô thị hoá tự phát, thiếu quy hoạch khoa học
sẽ làm nảy sinh và để lại rất nhiều hậu quả tiêu cực, lâu dài, gây lãng phí lớn vàcản trở sự phát triển của đất nước Mà đặc điểm đô thị hoá ở nước ta: là thấp vớinền kinh tế nông nghiệp lạc hậu bị kéo dài, nặng nề tính bao cấp cùng với chiếntranh cho nên tốc độ đô thị hoá diễn ra rất chậm chạp kể từ thập kỷ 80 trở vềtrước Có thời kỳ đô thị hoá bị âm tính do di dân và di tản dân cư đô thị về nôngthôn Không gian đô thị luôn có sự đan xen và phát triển theo kiểu "da báo" giữa
đô thị và nông thôn Do vậy tính gắn bó truyền thống và cả huyết thống giữa đôthị - nông thôn khá rõ rệt và khác với nhiều nước Đồng thời tạo ra tính bảo thủ,giằng dai giữa đô thị - nông thôn không phân biệt quá rõ ràng, lối sống nông
Trang 11thôn còn ngập tràn trong đô thị Nông thôn có lúc còn "chế ngự đô thị" Do tốc
độ đô thị hoá chậm nên tính thời gian cũng không mấy ý nghĩa, hàng thập kỷ trôi
đi mà đô thị thì rất ít thay đổi
Chính vì vậy, chiến lược đô thị của Việt Nam phải hướng tới mục tiêu bảođảm cân đối giữa tính hiện đại với tính bền vững của tự nhiên - con người - xãhội, thông qua việc lựa chọn các mô hình định cư tiên tiến, phù hợp đặc thù củaViệt Nam ở đô thị, nông thôn, miền núi, các vùng biên giới, hải đảo; bảo đảm sựhài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của dân tộc, trên cơ sở tìm kiếmnhững phương thức phát triển đô thị tiết kiệm đất, đô thị xanh, đô thị sinh thái thay thế cho mô hình đô thị còn tồn tại nhiều bất cập hiện nay của chúng ta
Quá trình đô thị hoá nông thôn ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn
ra với tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và kiến trúctrên cả nước Năm 1999, cả nước có khoảng 400 thị trấn, nay tăng lên khoảng
651 thị trấn Cuối những năm 90 của thế kỷ XX, dân số của thị trấn từ 2.000 đến30.000 người, nay khoảng dao động này từ 2.000 - 50.000 người Tỷ lệ dân sốphi nông nghiệp của thị trấn phổ biến ở mức 30 - 40% vào cuối những năm 90,nay đã lên mức 50 - 60% Năm 1998 có khoảng 60 đô thị loại 4, nay tăng lên 84
đô thị Dưới chế độ phong kiến, giữa nông thôn và thành thị là một khoảng cáchquá xa Thời gian gần đây, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước, chúng ta thấy nông thôn đang xích lại gần hơn với thành thị Quátrình ĐTH nông thôn đã biến nền sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nềnsản xuất hàng hóa đa ngành nghề Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rấtnhanh, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục tập quán thôn quê Việt Nam vànhững giá trị văn hóa truyền thống lâu đời
Trang 12Nếu như ở nông thôn trước kia còn nhiều hủ tục, mê tín dị đoan thì nay đãbớt đi nhiều Quá trình ĐTH nông thôn đã đem lại rất nhiều thành tựu cho đấtnước Cái được là rất lớn Những gì tốt đẹp mà đời sống vật chất đem lại cho conngười đã nảy sinh dần dần trong nông thôn Đời sống được nâng cao đã khiếncho người ta xây dựng lại nhà cửa đẹp, khang trang hơn Đường sá nông thônđược trải nhựa, bê - tông sạch sẽ, đi lại thuận tiện Người nông dân trước kia chỉquanh quẩn trong thôn làng, giờ mở rộng quan hệ ra bên ngoài
Tuy nhiên, những nét đẹp truyền thống trong gia đình, họ hàng, làng xómláng giềng cũng có phần bị tổn hại; một bộ phận thanh niên ăn chơi, đua đòi;quan hệ con cái với cha mẹ trong một số gia đình ngày càng xa dần; thế hệ trẻtiếp thu nhanh xu thế hiện đại, ngược lại với đa phần người cao tuổi cố giữnhững giá trị truyền thống, dẫn tới những mâu thuẫn mới
Quá trình đô thị hoá nông thôn hiện nay tập trung mạnh tại các đô thị lớn
và diễn ra không đồng đều giữa các vùng trong cả nước Chất lượng và trình độ
đô thị hóa nông thôn còn thấp Cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị còn yếukém về chất lượng phục vụ so với yêu cầu Định hướng phát triển không giankhu vực được đô thị hoá chưa rõ nét, đặc biệt còn phát triển một cách tùy tiện,mang nặng tính hình thức đô thị, chưa thực sự giải quyết vấn đề cốt lõi của đô thịhóa đối với khu vực dân cư hiện có: chưa gắn kết chất lượng đô thị với giữ gìnbản sắc, kiến trúc truyền thống trên cơ sở đảm bảo điều kiện tiện nghi cuộc sống
đô thị cho người dân và đảm bảo phù hợp về cảnh quan đô thị
Nói tóm lại, đô thị hoá là một hiện tượng xã hội liên quan tới những dịchchuyển kinh tế - xã hội - văn hoá - không gian - môi trường sâu sắc gắn liền vớinhững tiến bộ khoa học - kỹ thuật tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, sựchuyển đổi nghề nghiệp và hình thành các nghề nghiệp mới đồng thời tạo ra nhu
Trang 13cầu dịch cư vào các trung tâm đô thị Qua đó nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh
tế làm điểm tựa cho các thay đổi trong đời sống xã hội và văn hoá, nâng cao mứcsống, biến đổi lối sống và hình thức giao tiếp,… làm nền cho sự phân công dân
cư hợp lý nhằm đáp ứng những nhu cầu xã hội ngày càng phong phú và đa dạng
để tạo thế cân bằng giữa môi trường xây dựng và môi trường xã hội với thiênnhiên
Trang 14CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng kinh tế xã hội của phường Trần phú trước và sau đô thị hóa từnăm 2009 đến nay
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại phường Trần Phú, Thành phố Hà Giang, tỉnh
Hà Giang, nơi quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh nhất
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
- Một số khái niệm về tăng trưởng kinh tế
- Khái niệm về phát triển kinh tế
- Lý luận về đô thị hóa
* Cơ sở thực tiễn
- Quá trình đô thị hóa trong nước
- Quá trình đô thị hóa trên thế giới
2.2.2 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của phường
* Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
- Vị trí địa lý
- Địa hình
- Điều kiện về khí hậu thủy văn
- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
* Điều kiện kinh tế xã hội
Trang 15- Tăng trưởng kinh tế
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội
2.2.3 Thực trạng quá trình đô thị hoá
- Mô tả về thời gian, không gian của quá trình đô thị hóa
- Tốc độ đô thị hóa và các dự án đã được đầu tư vào phường
- Ảnh hưởng của đô thị hoá đến phát triển KT - XH của phường
2.2.4 Những đánh giá chung về ảnh hưởng của đô thị hóa
2.2.5 Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thống kê
Chọn mẫu nghiên cứu để tiến hành điều tra thực tế và sưu tầm, thu thậpnhững tài liệu, số liệu liên quan đã đươc công bố và những tài liệu, số liệu mớitại địa bàn nghiên cứu sau đó tổng hợp và phân tích thông tin thu thập được Cácthông tin điều tra được nhập vào máy tính dựa vào phần mềm Excell để thựchiện một số phân tích thống kê, kinh tế lượng và quy hoạch tuyến tính nhằm
Trang 16đánh giá về mặt khoa học và đối chứng thực tế các quan hệ thể hiện trong cácvấn đề nghiên cứu đã đặt ra.
2.3.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá kết quả, xác định vị trí củađối tượng hoặc số liệu nghiên cứu, từ đó phát hiện các xu hướng biến động củađối tượng cần nghiên cứu
2.3.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp thu thập dựa trên cơ sở thu thập
ý kiến của các chuyên gia trong từng lĩnh vực, các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản
lý, người sản xuất giỏi có kinh nghiệm, các cán bộ về kỹ thuật thông qua các tàiliệu hoặc trao đổi trực tiếp với họ để ta có kết luận chính xác
- Phương pháp chuyên khảo: Nghiên cứu các tài liệu mang tính chất lýluận về đô thị hóa và những tác động của đô thị hóa
2.3.4 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu, phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này nhằm thu thập các tư liệu, số liệu, thông tin cần thiếtphục vụ cho việc nghiên cứu Nhằm điều tra, thu thập số liệu, thông tin cần thiết.Các tư liệu cần thu thập như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của khu vựcnghiên cứu, hiện trạng sử dụng đất của địa phương,… Đây là phương pháp rấtsinh động và thực tế vì qua phương pháp này tất cả các giác quan của ngườiphỏng vấn đều được sử dụng: mắt nhìn, tai nghe qua đó các thông tin được ghilại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp một cách cụ thể, thực tế, phong phú vàkhách quan
Trang 17CHƯƠNG III:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lý
Trần Phú là một phường trung tâm của Thành phố Hà Giang, tổng số đơn
vị hành chính của phường bao gồm 17 tổ dân phố với diện tích 244,80 ha Toạ
độ địa lý của phường nằm trong khoảng 22°50’04” Vĩ độ Bắc và 104°59’28”Kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp phường Ngọc Hà
- Phía Nam giáp phường Minh Khai
- Phía Tây giáp phường Nguyễn Trãi và phường Quang Trung
- Phía Đông giáp phường Ngọc Hà
Trên địa bàn phường có quốc lộ 34 chạy qua là tuyến giao thông quantrọng của tỉnh Hà Giang, Trần Phú vừa là trung tâm của tỉnh Hà Giang vừa làmột điểm trên trục trung chuyển lớn giữa các khu vực trên địa bàn Thành phố HàGiang với nước CHND Trung Hoa Vị trí đó vừa là lợi thế, vừa là một thách thứcđối với phường Trần Phú trong xu hướng hoà nhập nền kinh tế của phường nóiriêng và cả thành phố Hà Giang nói chung với nền kinh tế của toàn tỉnh
3.1.2 Địa hình
Phường Trần Phú thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao trungbình so với mặt biển là 13,8m Điểm cao nhất là 153m và thấp nhất là 8m Địahình được chia thành 2 vùng rõ rệt, vùng đồi núi thấp đất đai tương đối bằngphẳng, có độ cao trung bình 8,2m và hệ thống thuỷ văn khá thuận lợi vùng núicao, địa hình chủ yếu là đồi núi đất đai nghèo dinh dưỡng Chính điều này đã
Trang 18gây ra không ít ảnh hưởng đến sản xuất cũng như với cuộc sống của người dânđịa phương.
3.1.3 Khí hậu thời tiết
Phường Trần Phú nằm trong vùng khí hậu á đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởngcủa chế độ gió mùa Mùa hè trùng với gió mùa Đông Nam, kéo dài từ tháng 5đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Mùa Đông trùng với gió mùa ĐôngBắc kéo theo từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết lạnh, khô và ít mưa
* Nhiệt độ:
Nhiệt độ trung bình năm 15,7°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất20,9°C (tháng7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 8,8°C (tháng1)
- Nhiệt độ tối cao trung bình: 24,6°C
- Nhiệt độ tối thấp trung bình: 5,4°C
Nhìn chung yếu tố nhiệt độ thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp, đặcbiệt đối với các loại cây ăn quả và cây công nghiệp có nguồn gốc nhiệt đới vàmột số loại cây á nhiệt đới sinh trưởng và phát triển
* Lượng mưa:
Lượng mưa trung bình năm 1.745 mm, đây là một trong những vùng cólượng mưa bình quân năm thấp nhất của tỉnh Hà Giang, nhưng phân bố khôngđều trong năm: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 85% tổng lượng mưa cảnăm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm 15% lượng mưa cả năm
Tổng số ngày mưa trung bình năm khoảng 175 - 180 ngày, tập trung vàocác tháng 6, 7 và 8 có số ngày mưa cao từ 20 - 22 ngày/tháng và cường độ mưalớn, làm xói mòn rửa trôi đất, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc có độ
dốc lớn và độ che phủ của thảm thực vật thấp.
Trang 193.1.4 Thủy văn
Trên địa bàn phư ờng Trần Phú có hệ thống suối nhỏ khá dày đặc Do địahình phức tạp, các suối đều ngắn và dốc nên vào mùa khô thường thiếu nước,mùa mưa hay gây ra lũ lụt, ngập úng Ngoài ra còn có nguồn nước ngầm nông,sạch có thể khai thác phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân
3.1.5 Các nguồn tài nguyên
3.1.5.1 Tài nguyên đất:
Dựa trên kết quả bản đồ thổ nhưỡng phường Trần Phú do Viện Quy hoạch
và Thiết kế Nông nghiệp điều tra xây dựng theo tiêu chuẩn phân loại định lượngcủa FAO-UNESCO, được chia thành 5 nhóm (Mafor Soil Group), 11 đơn vị(Soil Unít) và 23 đơn vị phụ (Sub-Soil Units) Những tính chất chính của từngnhóm đất là:
- Nhóm đất phù sa (tên theo FAO-UNESCO là Fluvisols): chiếm 0,61%
tổng diện tích đất tự nhiên, phân bố rải rỏc ở cỏc tổ dân cư Phản ứng của đất ítchua (pHKCL = 5,0); độ no bazơ khá (V% > 50%) Hàm lượng mùn ở đất mặt từ 1đến 2,16%, càng xuống sâu mùn càng giảm, đạm tổng số ở lớp mặt từ trung bìnhđến khá, lân tổng số và dễ tiêu ít có sự thay đổi giữa các tầng, kali tổng số từ1,93 đến 2,1% ở tầng mặt, kali dễ tiêu trung bình và có xu hướng tăng lên ở cáctầng dưới Lượng cation kiềm trao đổi thấp, trong đó canxi trao đổi chiếm ưu thếhơn so với magie trao đổi Đây là nhóm đất hiện tại và tương lai rất thích hợp vớicây trồng ngắn ngày, đặc biệt là các cây lương thực chủ yếu là lúa nước Vì vậycần có biện pháp bảo vệ và cải tạo đất như: bón vôi cải tạo độ chua, tiêu thoátnước cho những vùng ngập úng
- Nhóm đất gley (tên theo FAO-UNESCO là Gleysol): chiếm 1,04% diện
tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở những nơi có địa hình thấp Đất có phản ứng
Trang 20chua, thành phần cơ giới của đất cũng biến động phức tạp, chủ yếu là thành phần
cơ giới trung bình và nặng Hàm lượng mùn và đạm tổng số giàu, lân tổng số vàkali tổng số khá giàu nhưng các chất dễ tiêu đều nghèo Dung tích hấp thu củađất dao động xung quanh 10 meq/100g đất Nhóm đất này chủ yếu là trồng lúanước, đất thường chặt bí, quá trình khử mạnh hơn quá trình ôxy hoá Vì vậy,canh tác trên nhóm đất này cần chú ý thoát nước, bón vôi, bón lân cải tạo đất
- Nhóm đất đen (tên theo FAO-UNESCO là Luvisols): Có diện tích nhỏ
nhất, chiếm 0,1% diện tích tự nhiên, được hình thành ở vùng ven chân núi đá vôi
có độ dốc thấp, phân bố ở khu vực đường chõn nỳi Hình thái phẫu diện đất cómàu xám xanh hơi đen là chủ đạo, do ảnh hưởng của canh tác lúa nước nên hìnhthành tầng gley điển hình Phản ứng dung dịch đất trung bình pHKCL > 7,0, hàmlượng cation kiềm trao đổi cao, đạt trên 30 meq/100g đất Hàm lượng mùn vàđạm tổng số tầng mặt giàu, các tầng ở dưới mức độ khá, lân tổng số giàu nhưngkali dễ tiêu nghèo Dung tích hấp phụ đạt 23,79 meq/100g đất Thành phần cơgiới chủ yếu là thịt nặng đến sét chứng tỏ khả năng giữ nước, giữ phân tốt Đây
là loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, hướng sử dụng nên trồng lúa nướcnhưng phải bảo đảm đủ nước thì năng suất lúa mới cao và ổn định Nếu thiếunước, đất chai cứng, nứt nẻ sẽ làm giảm năng suất lúa
- Nhóm đất xám (tên theo FAO-UNESCO là Acrisols): chiếm 74% diện
tích tự nhiên, phân bố trên khắp địa bàn phường Đất có phản ứng chua đến rấtchua Thành phần cơ giới biến động từ nhẹ đến nặng Hàm lượng mùn và đạmtổng số ở lớp đất mặt từ trung bình đến khá Lân tổng số và dễ tiêu trong đấtnghèo Dung tích hấp thu trong đất thấp Vùng đất có địa hình thấp thích hợp vớicác cây ngắn ngày, vùng đất có địa hình cao độ dốc trung bình thích hợp với cáccây dài ngày Cần có biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất
Trang 21- Nhóm đất đỏ (tên theo FAO-UNESCO là Ferralsols): chiếm 5,88% diện
tích tự nhiên được hình thành do sản phẩm phong hoá của đá vôi Đất có thànhphần cơ giới nặng Phản ứng của đất chua hoặc ít chua Hàm lượng mùn và đạmtổng số từ khá đến giàu Lân tổng số giàu nhưng lân dễ tiêu thấp Dung tích hấpthu trong đất thấp Đất đỏ có hàm lượng dinh dưỡng khá thích hợp với nhiều loạicây trồng ngắn ngày và dài ngày, chú ý chống xói mòn bảo vệ đất
3.1.5.2 Tài nguyên nước
a Nguồn nước mặt
Chảy qua phường có hệ thống suối nhỏ dày đặc Tuy nhiên, do địa hìnhphức tạp, các suối đều ngắn và dốc nên vào mùa khô nước dùng cho sinh hoạtcũng thiếu nhiều nên hầu như không đáp ứng được cho sản xuất nông nghiệp.Vào mùa mưa, do mưa lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp đã tạo nên dòngchảy mạnh gây lũ lớn làm ảnh hưởng đến sản xuất và giao thông trong mùa mưabão
b Nguồn nước ngầm
Chưa có tài liệu điều tra khảo sát cụ thể nhưng qua thực tế sử dụng củangười dân trong phường cho thấy mực nước ngầm trên địa bàn phường có độ sâutrung bình 6-10m, chất lượng nước tốt, có thể khai thác phục vụ cho sản xuất vàsinh hoạt
Trang 22nghiệp dài ngày như (chè), cây ăn quả (xoài, hồng, lê), cây thuốc nam (quế), vànghề nuôi ong đã góp phần không nhỏ vào kinh tế vườn rừng và góp phần nângcao độ che phủ mặt đất góp phần đắc lực cho việc bảo vệ đất đai và cải thiện môitrường sinh thái của phường.
Tuy tiềm năng tài nguyên rừng của phường rất lớn nhưng ý thức bảo vệ vàphát triển rừng của người dân chưa cao UBND phường đã có những định hướngphát triển và khai thác tài nguyên rừng nhưng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầngcòn thấp, việc áp dụng quy trình công nghệ và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đầu
tư vào ngành lâm nghiệp còn ít dẫn đến việc khai thác tài nguyên rừng còn nhiềubất cập, hiệu quả kinh tế thấp
3.1.5.4 Tài nguyên khoáng sản
Qua thăm dò khảo sát, hiện nay trên địa bàn phường có mỏ Antimon thuộckhu vực đường chõn nỳi có trữ lượng lớn Ngoài ra trên địa bàn phường còn cócác mỏ: Antimon, Chì, Kẽm, mỏ mangan nằm rải rỏc ở các khu dân cư
3.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
3.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2009 - 2012, tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định) trêntoàn phường tăng trưởng nhanh, bình quân đạt 16,85%/năm, trong đó Côngnghiệp và XD tăng nhanh nhất đạt 30,834%/năm; Dịch vụ đạt 17,46%/năm;Nông nghiệp đạt 3, 61%/năm So với giai đoạn trước thì giá trị của ngành Côngnghiệp và xây dựng giảm chút ít nhưng của ngành dịch vụ và ngành nông nghiệplại tăng lên Nguyên nhân của sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là
do những năm gần đây quá trình đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ (số lượng dự ánđầu tư gia tăng cả về số lượng lẫn giá trị) Tuy nhiên các dự án trên mới đangtrong giai đoạn được đền bù và bắt đầu được triển khai nhưng nó đã đánh dấu
Trang 23cho một hướng phát triển mới của phường Trần Phú nói chung và trong suy nghĩcủa từng người dân nói riêng Mặc dù tốc độ tăng bình quân của ngành Côngnghiệp và xây dựng có sự giảm sút chút ít so với giai đoạn trước nhưng có thểnói sự sụt giảm đó là cần thiết Hiện nay quá trình đô thị hoá của phường diễn rakhá nhanh, điều này được chứng minh bằng hàng loạt các dự án được đầu tư vàođịa bàn phường với giá trị lớn nhỏ khác nhau và các lĩnh vực khác nhau Đểchuẩn bị cho các nhà máy lớn nhỏ đi vào hoạt động trong thời gian không xa thìhàng loạt các ngành dịch vụ đã phát triển nhanh chóng Nói tóm lại, đạt được tốc
độ tăng trưởng như trên là rất ngoạn mục, đặc biệt là tốc độ tăng của ngành côngnghiệp – xây dựng và ngành dịch vụ Với tình hình thực tế hiện nay của phườngthì trong tương lai giá trị sản xuất của phường sẽ tăng lên đáng kể đặc biệt là giátrị ngành công nghiệp và xây dựng
3.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành: Do xác định rõphương hướng phát triển hiện nay là phát huy mọi tiềm năng để tăng giá trị cácngành công nghiệp và dịch vụ Vì thế cơ cấu ngành đã có sự chuyển dịch mạnhtheo hướng ngày càng hợp lý, tỷ trọng công nghiệp và thương mại dịch vụ tăngnhanh, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần (trong khi quy mô giá trị sản xuất nôngnghiệp nói chung và bình quân lương thực có hạt vẫn tăng, từ 377,6 kg/ngườinăm 2007 lên 391 kg/người năm 2011) Năm 2009, tính trên toàn địa bàn, tỷtrọng các ngành Công nghiệp và xây dựng - Dịch vụ - Nông nghiệp đạt theo thứ
tự là: 54,16% - 13,51% - 32,33% Và đến năm 2012, tỷ trọng tương ứng đã là:53,28% - 19,34% - 27,38%
Trang 243.2.3 Thực trạng các ngành kinh tế phường Trần Phú
3.2.3.1 Thực trạng phát triển công nghiệp, TTCN và xây dựng cơ bản
Theo quan điểm của phát triển đô thị thì phái tập trung chủ yếu vào sảnxuất CN & TTCN Vì quá trình ĐTH tức là chuyển đất nông nghiệp thành đất
để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị Và do đó giá trị của CN & TTCNphải không ngừng tăng lên Như vậy sự phát triển của phường phù hợp với quyluật phát triển vốn có của nó, cụ thể: sản xuất CN, TTCN và xây dựng cơ bảntrên địa bàn Phường đã tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2009 - 2012 thì mứctăng trưởng CN, TTCN và xây dựng cơ bản bình quân trên địa bàn là 25%/năm
Thời gian qua cùng với hàng loạt các chính sách mở cửa của phường về
ưu đãi đầu tư khiến nhu cầu xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị tăng lênnhanh chóng Tuy nhiên ngành Xây dựng trong giai đoạn 2009 - 2012 cũng chỉđạt được tốc độ tăng trưởng bình quân năm trên địa bàn là 18,08% Điều nàyphần nào phản ánh năng lực của các nhà thầu địa phương vẫn còn hạn chế
Xét theo thành phần kinh tế thì khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh (kinh
tế ngoài nhà nước) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởngvượt bậc trong giai đoạn 2009 – 2012, với mức tăng bình quân tương ứng là19,96%/năm Điều này phản ánh chính sách đúng đắn và các nỗ lực của phườngtrong thu hút đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài vào địa bàn đã có kết quả thựcsự
Trong cơ cấu thành phần kinh tế ngành CN, TTCN thì kinh tế nhà nướcgiảm dần tỷ trọng, còn 58,23% năm 2009 và 59,88% năm 2012 Điều này làhoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển chung của thành phố cũng nhưcủa cả tỉnh đó là dần loại bỏ hình thức doanh nghiệp Nhà nước để thay bằng hìnhthức doanh nghiệp tư nhân Bên cạnh đó thì kinh tế ngoài nhà nước tăng chiếm
Trang 2537,95% năm 2009 và 32,20% năm 2012 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mớixuất hiện từ năm 2009 nhưng đến 2012 đã chiếm 7,9% tổng giá trị sản xuất CN,TTCN trên địa bàn Như vậy, khi xét theo thành phần kinh tế thì đã có sự thayđổi, và sự thay đổi lớn nhất phải nói đến đó là sự xuất hiện của thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài Mặc dù xét về giá trị của nó trong tổng giá trị sảnxuất CN & TTCN thì chưa lớn lắm Nhưng có thể nói đây là dấu hiệu cho thấy
sự thay đổi trong hướng đi hay cụ thể hơn là sự thay đổi trong quá trình pháttriển kinh tế của phường Trần Phú Điều này chưa từng xảy ra trong những nămtrước đây
Nguyên nhân cơ bản của các thành tựu tăng trưởng CN, TTCN và xâydựng nêu trên là do chính sách cởi mở của Trung ương và địa phương, môitrường đầu tư được cải thiện nên khuyến khích mọi thành phần kinh tế pháttriển: Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã hoàn thành cổ phần hoá và sản xuất hiệuquả; thu hút được nhiều dự án đầu tư vào địa bàn để phát triển công nghiệp (một
số dự án đầu tư đã đi vào hoạt động có hiệu quả); số hộ sản xuất TTCN tăng khánhanh qua các năm; đặc biệt từ năm 2009 xuất hiện nhân tố mới là đầu tư nướcngoài vào sản xuất công nghiệp
3.2.3.2 Thực trạng phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Trong những năm qua sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của Phường
đã có những bước phát triển tương đối ổn định, không chỉ giúp đảm bảo an toànlương thực mà còn tạo ra hàng hoá cho thị trường trong nước và xuất khẩu.Nhiều mô hình sản xuất mới trong trồng trọt, chăn nuôi cho năng suất, hiệu quảcao đã được đưa vào áp dụng Nông nghiệp ngày càng phát triển theo hướng sảnxuất hàng hoá, hình thành các vùng chuyên canh với quy mô lớn
Trang 26Tốc độ tăng trưởng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản phường Trần Phúgiai đoạn 2009 - 2012 đạt mức trung bình khá Nhìn chung, tăng trưởng các nămkhông có nhiều biến đổi lớn
Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung của tiểu ngành nông nghiệp, trướchết phải kể đến phải kể đến tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định của ngànhtrồng trọt, sau đó là của ngành dịch vụ nông nghiệp Tính chung giai đoạn 2009
- 2012 ngành trồng trọt tăng trưởng 5,67%, dịch vụ nông nghiệp tăng 66,59%.Nhờ vậy, tăng trưởng nông nghiệp vẫn đạt 8,48%/năm trong khi ngành chăn nuôităng lên đáng kể đạt 9,97% (Tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi bất ổn định,năm 2009 giảm 9,64%, năm 2010 giảm 5,43%, nhưng đã phục hồi trở lại vàonăm 2011 và 2012 với mức tăng năm 2011 là 8,43%, năm 2012 là 41,4%) Tăngtrưởng nông nghiệp quyết định tăng trưởng chung của ngành nông, lâm nghiệp
và thuỷ sản của Phường
Tổng GTSX nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (giá hiện hành) năm 2012 đạt26,25% tổng GTSX trên địa bàn phường Trần Phú, đóng vai trò quan trọng gópphần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản trênmột ha đất nông nghiệp đã tăng từ 17,2 triệu đồng năm 2004 lên 27 triệu đồngnăm 2009 và đạt 31 triệu đồng năm 2012
3.2.3.3 Thực trạng phát triển ngành dịch vụ
Giá trị SX của ngành dịch vụ đã có sự thay đổi nhanh chóng, tốc độ tăngbình quân giai đoạn 2009 - 2012 đạt 28,79% Điều này hoàn toàn phù hợp vớitình hình thực tế cũng như định hướng phát triển kinh tế xã hội của phường.Như trên đã phân tích, khi giá trị SX ngành công nghiêp & TTCN tăng lên sẽ tạođiều kiện cho ngành dịch vụ phát triển theo
3.2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng
Trang 27- Đường bộ: trên địa bàn phường có quốc lộ 34 chạy qua, nền đường rộng
12m, được dải nhựa áp phan, hệ thống cống rãnh được trang bị đầy đủ, đảm bảo.Với chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm đã xâydựng được trên 1.500 mđường bê tông và 2.431m rãnh thoát nước, 7.000m2 vỉa hè Trên các trục đườnggiao thông chính có đèn tín hiệu chỉ đường phục vụ cho việc giao thông đi lạithuận tiện đảm bảo an toàn (3 cột đèn được đặt tại các ngã tư, nơi giao nhau giữacác đường Nguyễn Thái Học, Trần Hưng Đạo, Trần Phú)
- Về hệ thống điện
Phường được cấp điện từ nguồn điện lưới quốc gia qua đường truyền tải
110 KV Hệ thống điện về cơ bản đảm bảo tốt cho nhu cầu phát triển đô thị hiệnnay, là phường trung tâm của Thành phố Hà Giang, do vậy thu hút được lượnglớn khách thăm quan du lịch, là điểm nhấn khi khách đặt chân tới cầu Yên Biên
có đài phun nước, các trục đường chính như: Nguyễn Thái Học, Trần Hưng Đạo,Trần Phú đèn điện trang trí lung linh trên cao có các bóng đèn cao áp chiéu sáng
Ngoài ra, phường còn xây dựng được 5 nhà văn hoá liên tổ và 1 Câu lạc
bộ Người cao tuổi, 5 tuyến phố văn minh, 3 trường học công lập và 1 trườngmầm non dân lập với trên 131 giáo viên và 1.500 học sinh ở các bậc học, có 2Câu lạc bộ Cầu lông và 1 Câu lạc bộ Bóng chuyền, 22 đội văn nghệ cơ sở, 1trung tâm học tập cộng đồng
Từ thực trạng trên cho thấy, hệ thống cơ sở hạ tầng của phường Trần Phúngày càng được cải thiện Đây là yếu tố tích cực giúp cho việc giao lưu trao đổihàng hoá ngày càng phát triển góp phần đưa cuộc sống người dân địa phươngkhông ngừng nâng lên
Trang 283.2.5 Dân số, lao động và việc làm
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Phường khoảng trên dưới 1% (tỷ lệ sinhkhoảng trên dưới 1,3%); trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao nhất là 1,06%(năm 2012), dân số trung bình toàn phường đạt 2.075 hộ = 8.000 người
Dân số tuổi lao động của Trần Phú hiện nay là 4.775 người chiếm 59,69%tổng dân số toàn phường, tốc độ tăng trưởng lao động bình quân hàng năm giaiđoạn 2009 - 2012 là 1,16%, nhanh hơn tốc độ tăng dân số Dân số tuổi lao động
có khả năng lao động chiếm 95,69% Cơ cấu lao động theo ngành có xu hướngchuyển dịch theo hướng phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế, tỷ trọng laođộng ngành nông nghiệp hiện nay còn 73,75%, cao hơn mức chung của toànthành phố hiện nay đạt 65,67% năm 2009, tốc độ chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng
cơ cấu lao động công nghiệp chiếm 7,8% thấp hơn mức chung của thành phố khánhiều, thấp nhất trong cơ cấu lao động của 3 nhóm ngành của Phường, năm 2009
cơ cấu lao động công nghiệp của thành phố chiếm 13,54% và có tốc độ chuyểndịch khá nhanh, ngành dịch vụ hiện có tỷ trọng 12,97% Trong đó, năm 2012, cơcấu lao động ngành dịch vụ của thành phố Hà Giang là 18,87% Tốc độ tăngtrưởng lao động ngành dịch vụ thấp nhất so với các ngành khác và so với mứccủa toàn thành phố Điều này giải thích trong cơ cấu thu nhập của phường, tỷtrọng ngành dịch vụ trên địa bàn phường Trần Phú hiện nay mới chiếm khoảnggần 20% trong cơ cấu kinh tế phường
Nếu xét cơ cấu lao động theo chất lượng thì có thể thấy, tỷ lệ lao động quađào tạo của Trần Phú đang có xu hướng tăng lên rõ rệt, năm 2009 tỷ lệ ngườitrong độ tuổi lao động đang đi học chiếm 4,1% đến năm 2012 là 5%
Xem xét thực trạng sử dụng lao động, số lao động trong độ tuổi không cóviệc làm năm 2012 ở Trần Phú là: 25 lao động, chiếm tỷ lệ 0,52% Những năm
Trang 29gần đây tỷ lệ thất nghiệp, số lao động trong độ tuổi không có việc làm ngày cànggiảm, thực trạng sử dụng lao động ở cả khu vực thành thị và nông thôn có phầntốt hơn Đóng góp vào việc giải quyết việc làm trong 5 năm qua chủ yếu là sựphát triển kinh tế tại địa phương thông qua các chương trình phát triển kinh tếcông nghiệp, nông nghiệp Số lao động giải quyết việc làm từ kinh tế phườngtăng lên qua các năm, trong nông nghiệp, đó là sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng,vật nuôi, thực hiện kinh tế trang trại, trong công nghiệp, sự phát triển khu vựckinh tế tư nhân, nhất là trong ngành chế biến, cơ khí, khai thác.
3.2.6 Thực trạng mức sống dân cư
Chất lượng cuộc sống của người dân trong một vùng được đánh giá thôngqua các chỉ tiêu phản ánh mức sống của dân cư Mức sống (thể hiện thông quacác chỉ tiêu) của phường Trần Phú có xu hướng tăng lên Mức lương thực bìnhquân đầu người hiện năm 2012 của phường đạt 391 kg/ người, cao hơn mứctrung bình của toàn thành Phố Điều này cho thấy vấn đề an ninh lương thực đãđược bảo đảm ở Trần Phú một cách vững chắc Giá trị sản xuất bình quân đầungười tăng đều qua các năm từ năm 2009 - 2012 và cũng khá ổn đinh, hiện caohơn mức trung bình của Thành phố Tuy vậy nếu so với mức chung của cả nướcthì mức này hiện còn thấp, và Trần Phú vẫn là địa phương còn phấn đấu nhiều
Công tác xoá đói giảm nghèo cũng được Đảng uỷ và Uỷ ban Phường dành
sự quan tâm, nên luôn đạt được kết quả tốt Phường luôn đạt được chỉ tiêu kếhoạch giảm nghèo và đến năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo của phường theo chuẩnnghèo mới đã được xoá 100% Phường đã có nhiều chương trình giúp đỡ các hộnghèo, cho vay vốn, hỗ trợ người nghèo tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, giảiquyết việc làm Việc thoát nghèo ở Phường chủ yếu được thực hiện thông quachương trình dự án vay vốn của Ngân hàng người nghèo đầu tư cho phát triển