TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ tín dụng của Thành phố Hồ Chí Minh đến thu nhập người dân nông thôn huyện Củ Chi, đồng thời xác định các yếu tố ảnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH BẢO
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ TÍN DỤNG CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN THU NHẬP NGƯỜI DÂN NÔNG
THÔN HUYỆN CỦ CHI
Mã số chuyên ngành : 60 03 01 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN TIẾN KHAI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ tín dụng của Thành phố Hồ Chí Minh đến thu nhập người dân nông thôn huyện Củ Chi, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng làm gia tăng thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn huyện Củ Chi Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi nhằm nâng cao thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn
Dựa trên phương pháp khác biệt trong khác biệt và các nghiên cứu trước
đề tài đã xây dựng mô hình và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn Trên cơ sở 92 hộ gia đình được khảo sát trên địa bàn Củ Chi, số liệu thu thập tại Chi cục Phát triển nông thôn – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế huyện - Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi tại 2 thời điểm năm 2011 và năm 2014 với 184 quan sát xác định
mô hình chuẩn theo phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) kết hợp với hồi quy OLS Kết quả hồi quy cho thấy 6 trong tổng số 12 yếu tố của mô hình có ảnh hưởng đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn đã được kiểm định đủ điều kiện: (1) Vay vốn, (2) Tương tác, (3) Đào tạo tập huấn, (4) Khoa học công nghệ, (5) Lượng vốn vay, (6) Đối tượng sản xuất Đây là những yếu tố không thể thiếu cho mô hình nghiên cứu, chúng có tác động đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn Thành phố nói chung và huyện
Củ Chi nói riêng
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn Kết quả và giải pháp nghiên cứu sẽ giúp ích cho công tác tham mưu điều chỉnh, bổ sung chính sách, bổ sung những giải pháp hỗ trợ cho chính sách hiện hành giúp cho người dân vùng nông thôn gia tăng năng suất lao động, năng suất cây trồng vật nuôi từ đó nâng
Trang 3cao thu nhập trong nông nghiệp theo ý chí, nguyện vọng của người làm chính sách và chính quyền sở tại
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Bối cảnh nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa nghiên cứu 2
5 Thiết kế nghiên cứu 3
6 Giới hạn của đề tài 3
7 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1 Các khái niệm 5
2 Các lý thuyết về thị trường tín dụng nông thôn 9
3 Sơ lược một số nghiên cứu trước 17
4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập hộ gia đình 20
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
1 Dữ liệu nghiên cứu 26
Trang 52 Phương pháp nghiên cứu 28
3 Cấu trúc của mô hình nghiên cứu 33
4 Các bước phân tích xử lý số liệu 38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
1 Giới thiệu về chính sách hỗ trợ tín dụng cho chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh 40
2 Phân tích các yếu tố liên quan đến đặc trưng của lao động chính hộ gia đình 42 3 Phân tích các yếu tố liên quan đến đặc trưng của hộ gia đình 44
4 Phân tích các yếu tố liên quan đến đặc trưng sản xuất và nhu cầu vay vốn hộ 47 5 Phân tích khác biệt thu nhập giữa các nhóm hộ gia đình 51
6 Tác động của chính sách hỗ trợ tín dụng đến thu nhập của người dân nông thôn 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Giải pháp nhằm nâng cao thu nhập từ việc sử dụng vốn vay của chính sách hỗ trợ tín dụng của thành phố 70
3 Hạn chế của nghiên cứu 72
4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tóm tắt ước lượng DID 31
Bảng 2: Kỳ vọng dấu từ mô hình nghiên cứu 35
Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của lao động chính hộ gia đình 42
Bảng 4: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của hộ gia đình 44
Bảng 5: Thu nhập so sánh từ quy mô hộ gia đình 46
Bảng 6: Diện tích đất sản xuất tại các hộ 46
Bảng 7: Các yếu tố liên quan đến đặc trưng sản xuất và nhu cầu vay vốn hộ 47
Bảng 8: Khoa học công nghệ so sánh từ các đặc trưng của hộ 48
Bảng 9: Thu nhập so sánh từ số hoạt động sản xuất của hộ 50
Bảng 10: Khác biệt thu nhập giữa các nhóm 51
Bảng 11 Kiểm định tự tương quan 56
Bảng 12 Kiểm định tự tương quan sau khi mô hình khắc phục 56
Bảng 13 Kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình 57
Bảng 14 Kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình sau khi khắc phục 57
Bảng 15 Kết quả hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân 59
Bảng 16 Kết quả kiểm định độ phù hợp chung của mô hình 60
Bảng 17 Tổng hợp kết quả kỳ vọng của mô hình nghiên cứu 61
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 1: Cơ cấu trình độ lao động chính của hộ gia đình 41
Biểu đồ 2: Cơ cấu đối tượng cây trồng vật nuôi chính của hộ 48
Biểu đồ 3a: Biểu đồ tần số Histogram 55
Biểu đồ 3b: Biểu đồ phân phối tích l y P-P Plot 55
Trang 8CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Bối cảnh nghiên cứu
Chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những chính sách thể hiện sự quan tâm của thành phố đối với người dân nông thôn Nhằm khuyến khích người dân phát triển sản xuất nâng cao thu nhập và hướng người dân vào những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, áp dụng biện pháp khoa học, kĩ thuật cao vào sản xuất nông nghiệp phù hợp với nền nông nghiệp đô thị của thành phố, để từ đó nâng cao thu nhập cho người dân vùng nông thôn.Trong tình hình khó khăn về kinh tế, một chính sách kích cầu khuyến khích, tạo động lực cho người dân phát triển sản xuất nâng cao thu nhập là rất cần thiết - và đó là một niềm an ủi đối với người dân về tái phân phối thu nhập của thành phố cho người dân vùng nông thôn, góp phần giảm khoảng cách thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn Hơn nữa, khu vực nông thôn thành phố là một vùng rộng lớn chiếm 76,4% diện tích tự nhiên của thành phố (160.170/209.555 ha), chiếm 16% số dân của toàn thành phố (1,2/7,5 triệu dân) và cung cấp 17,18% lao động cho thành phố (số liệu của Tổng cục thống kê năm 2011); do đó, một chính sách
hỗ trợ vùng nông thôn góp phần an sinh xã hội là một điều rất cần thiết Trong tình trạng thiếu vốn sản xuất tại khu vực nông thôn, thay vì người dân phải đối mặt với việc vay vốn lãi suất cao để phát triển sản xuất hoặc ngưng sản xuất thì
đã có sự hỗ trợ lãi suất cho vay từ chính quyền thành phố khuyến khích người dân
phát triển sản xuất Chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị thực chất là một chương trình hỗ trợ lãi vay cho người dân nông thôn trong phát triển sản xuất, thể hiện một phần mong muốn của thành phố về nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân vùng nông thôn Chính sách bắt đầu từ năm 2006 và vẫn tiếp tục duy trì cho đến hôm nay (qua từng giai đoạn chính sách có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp hơn với đặc
Trang 9thù vùng nông thôn thành phố) Trong quá trình thực hiện chính sách, chính quyền Thành phố đã sử dụng khá lớn ngân sách để hỗ trợ cho nông dân phát triển sản xuất (tổng mức vốn vay từ năm 2008 đến cuối năm 2014 là trên 4.600 tỷ đồng
và tổng mức ngân sách nhà nước hỗ trợ là trên 300 tỷ đồng (báo cáo chính sách tại Chi cục phát triển nông thôn, tp.HCM năm 2014) Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân Thành phố năm 2014 thì việc hỗ trợ vốn đã góp phần làm tăng thu nhập cho người dân nông thôn và đã khuyến khích người dân phát triển sản xuất Nhưng kết quả của báo cáo, chỉ mang số liệu điều tra danh nghĩa mà không có sự
so sánh và chưa có một đánh giá cụ thể nào thể hiện sự tăng lên thu nhập của người dân vùng nông thôn Đã trải qua 9 năm thực hiện chính sách và nguồn vốn
cứ hỗ trợ mà chưa có một đề tài đánh giá tác động của chính sách và cũng chẳng biết khi nào ngừng hỗ trợ cho người dân để người dân tự lực sản xuất Nhằm đánh giá tác động của chính sách và xem xét các yếu tố tác động đến chính sách,
đề tài đưa ra chủ đề tiến hành nghiên cứu đó là “Đánh giá tác động của chính
sách hỗ trợ tín dụng của Thành phố Hồ Chí Minh đến thu nhập người dân nông thôn huyện Củ Chi”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của các khoản tín dụng mà thành phố hỗ trợ từ chính sách theo Quyết định số 13 và 36 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tới thu nhập của người dân nông thôn trên địa bàn huyện Củ Chi Trên cơ sở đó đưa ra những cải cách chính sách hoặc bổ sung những chính sách hỗ trợ đi kèm, nhằm nâng cao thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của người dân trên địa bàn
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi: Việc vay vốn từ chính sách hỗ trợ tín dụng của thành phố có thực
sự làm thay đổi thu nhập của người dân nông thôn thành phố không?
4 Ý nghĩa nghiên cứu
Trang 10Đề tài đánh giá tác động của chính sách đến thu nhập của người dân nông thôn huyện Củ Chi nhằm xem xét chính sách của thành phố triển khai có hiệu quả hay không?
Chính sách của thành phố là một chính sách đúng đắn Nhưng việc sử dụng vốn của người dân có hiệu quả hay không, phù hợp với mục đính, yêu cầu
và kỳ vọng lãnh đạo thành phố hay không? Bằng phương pháp khác biệt trong khác biệt kết hợp với hồi qui OLS ta xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến gia tăng thu nhập của người dân Từ đó, đưa ra gợi ý chính sách phù hợp để nâng
cao hiệu quả của chính sách
5 Thiết kế nghiên cứu:
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Các hộ dân tham gia vay vốn và không vay
vốn theo chương trình hỗ trợ tín dụng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại
huyện Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn về thời gian: Đề tài sẽ nghiên cứu giai đoạn từ năm 2011 đến
năm 2014 Vì giai đoạn này thành phố đã chỉnh sửa, bổ sung và thay thế chính sách theo Quyết định số 105 của thành phố bằng các Quyết định số 36 và 13 (gọi tắc là Chính sách 36 và Chính sách 13) sát hợp hơn với đặc thù vùng nông thôn thành phố Thời gian 2011 đến năm 2014 cũng là thời gian ra đời của chính sách
36 và kết thúc chính sách này để chuyển sang chính sách 13 Hơn nữa giai đoạn này cũng gần đây sẽ thuận tiện hơn cho việc điều tra và khảo sát các hộ dân
Giới hạn về không gian: Đề tài tập trung vào nghiên cứu trên địa bàn
huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
6 Giới hạn của đề tài
Thành phố có 5 huyện và 6 quận còn diện tích đất nông nghiệp để thực hiện về chính sách Do đó, nếu đánh giá chung về mặt chính sách phải triển khai
Trang 11khảo sát trên tất cả các huyện, quận này Tuy nhiên, do khả năng của cá nhân thực hiện đề tài, nên chỉ chọn huyện Củ Chi để nghiên cứu (lý do: địa bàn gần gũi với
cá nhân thực hiện nghiên cứu, hơn nữa huyện Củ Chi có những đối tượng cây trồng, vật nuôi nằm trong định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi của Thành phố, diện tích khá lớn với 21 xã, thị trấn, dân số đông và có lượng vốn vay cũng tương đối lớn chỉ sau huyện Cần Giờ Số liệu cụ thể về lượng vốn vay và đối tượng cây trồng, vật nuôi chủ yếu thể hiện ở Phụ lục 1 và Phụ lục 2)
7 Kết cấu đề tài
Luận văn nghiên cứu được trình bày theo 5 chương:
Chương 1 Đặt vấn đề: nêu lên bối cảnh và vấn đề cần thiết phải nghiên cứu của đề tài
Chương 2 Cơ sở lý thuyết - Tổng quan tài liệu: giới thiệu các khái niệm, giới thiệu về chính sách, các lý thuyết về thị trường tín dụng nông thôn và sơ lược các nghiên cứu trước
Chương 3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: xây dựng hướng tiếp cận
và mô hình nghiên cứu của đề tài Phương pháp nghiên cứu và cách đo lường các biến được trình bày cụ thể trong chương này
Chương 4 Kết quả và thảo luận: trình bày thống kê mô tả các biến, phân tích số liệu khảo sát và kết quả mô hình nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và kiến nghị: đưa ra các kết luận từ kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất các chính sách giúp nâng cao thu nhập trong nông nghiệp của người dân tại khu vực nông thôn huyện Củ Chi
Trang 12CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Các khái niệm:
1.1 Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ
và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm, ngư và diêm nghiệp (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
Để đánh giá chính xác tác động của chính sách hỗ trợ tín dụng đến thu nhập của người dân thì thu nhập của hộ gia đình trong đề tài chỉ giới hạn đó là thu nhập thuần túy từ nông nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư và diêm nghiệp
Do đó, thu nhập bình quân/lao động là bao gồm tổng thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp trong hộ chia cho tổng số lao động trong hộ gia đình có tham
gia hoạt động sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt bao gồm việc sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau, cây thức ăn gia súc và cây thuốc,…
Trang 13 Chăn nuôi bao gồm việc chăn nuôi đại gia súc, gia cầm và các vật nuôi khác
Thủy sản bao gồm việc nuôi trồng và khai thác nguồn động thực vật thủy sinh trong môi trường nước mặn, nước lợ và nước ngọt
Lâm nghiệp bao gồm việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật
và động vật rừng – cho gỗ và những sản phẩm ngoài gỗ
Trong nông nghiệp, việc tái sản xuất sản phẩm không chỉ gắn liền với các quá trình kinh tế - xã hội, mà còn gắn với các quá trình tự nhiên của sinh vật và môi trường sống của nó Do đó, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế - kỹ thuật như những lĩnh vực kinh tế khác, mà còn là một hệ thống kinh tế - kỹ thuật,
xã hội và môi trường
1.3 Vốn trong nông nghiệp:
Theo Kay và Edwards (ĐH Texaz và Iowa, Hoa Kỳ) (2009), vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp Đó là số tiền dùng để mua hoặc thuê ruộng đất, đầu tư hệ thống thủy nông, vườn cây lâu năm, máy móc, thiết bị, nông cụ và tiền mua con giống, cây giống, mua vật tư (phân bón, nông dược, thức ăn gia súc,…) Vốn trong nông nghiệp phân thành vốn cố định và vốn lưu động
1.4 Nông thôn:
Theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố
Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 04 tháng 10 năm 2013, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới: “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”
Trang 141.5 Tín dụng:
Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay (quan hệ vay mượn), là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thỏa thuận, hết thời hạn thì người đi vay phải trả cho người cho vay số tài sản kèm theo một số lợi tức
Theo từ điển thuật ngữ tài chính thì “tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau và được biểu hiện như sự vay mượn trong thời hạn nào đó” Khái niệm vay mượn bao gồm sự hoàn trả Chính sự hoàn trả là đặc trưng thuộc bản chất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù cấp phát tài chính khác
1.6 Hộ nông dân:
Theo Đào Công Tiến (2003), hộ nông dân là đơn vị tế bào xã hội nhưng không phải trùng với gia đình Khái niệm hộ tồn tại trong hệ thống hành chính pháp lý, dùng để chỉ những người cùng sống chung một nhà, có quan hệ kinh tế chung
Gia đình là tập hợp những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng, huyết thống cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống,…
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn Kinh tế nông hộ dựa chủ yếu vào lao động gia đình để khai thác đất đai và các yếu tố sản xuất khác nhằm thu về thu nhập thuần cao nhất
1.7 Lao động nông nghiệp:
Theo Đinh Phi Hổ (2003), nguồn lao động nông nghiệp bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất nông nghiệp Nguồn lao động nông nghiệp được thể hiện cả về mặt số lượng và chất lượng
Trang 15Theo Bộ Luật Lao động mới số 10/2012/QH13 bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2013 Độ tuổi lao động là độ tuổi được tính từ thời điểm bắt đầu đủ tuổi lao động đến tuổi nghỉ hưu
Theo ghi nhận tại điểm 1 điều 3 Luật lao động thì tuổi lao động được tính
từ đủ 15 tuổi Trong khi đó tuổi nghỉ hưu được xác định như sau:
1 Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam
đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi
2 Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định tại khoản 1
Như vậy độ tuổi lao động là 15 – 60 tuổi đối với nam và 15 – 55 tuổi đối với nữ Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm
1.8 Khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp:
Theo Đinh Phi Hổ (2003), Khoa học là hệ thống tri thức gồm những qui luật về tự nhiên, xã hội và kinh tế được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ
sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm và học thuyết
Khoa học nông nghiệp là hệ thống tri thức về các qui luạt tự nhiên, kinh tế
và xã hội trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Công nghệ trong nông nghiệp là tập hợp những công cụ và phương pháp dùng để tác động vào các nguồn lực nhằm nâng cao năng lực của sản xuất nông nghiệp
Trang 16Như vậy, khoa học và công nghệ trong nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau Chức năng của khoa học là khám phá các qui luật trong khi chức năng của công nghệ chính là ứng dụng các qui luật vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp
2 Các lý thuyết về thị trường tín dụng nông thôn
2.1 Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông thôn
2.1.1 Vai trò của vốn trong phát triển nông nghiệp
Todaro và Smith (2009) đã đề cập đến vai trò của vốn trong việc phát triển nông nghiệp Các tác giả đã chia sự phát triển của nông nghiệp ra làm ba giai đoạn lớn Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn có sản lượng và năng suất thấp, chủ yếu
là hình thức tự cung tự cấp với nhân tố chính là đất đai và lao động, vốn được đầu
tư ít Do đó, người nông dân có thu nhập thấp và không ổn định Giai đoạn thứ hai được gọi là giai đoạn đa dạng và hỗn hợp nông nghiệp, sản lượng và năng suất lao động được nâng cao, một phần nhỏ sản phẩm được sử dụng cho tiêu dùng, còn một phần đáng kể được bán cho các khu vực thương mại Trong giai đoạn này, vốn được đầu tư nhiều hơn, đồng thời nguồn lao động dư thừa ở vùng nông thôn được sử dụng tốt và hiệu quả hơn, thu nhập của người lao động gia tăng ở mức trung bình nhưng có độ ổn định cao Giai đoạn thức ba là chuyên môn hóa, đại diện bởi các trang trại hiện đại có năng suất cao Việc tạo vốn, áp dụng tiến bộ công nghệ, nghiên cứu khoa học và triển khai đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhờ đó, đời sống người dân được cải thiện với mức thu nhập cao nhưng độ
ổn định ở mức trung bình do sự biến động về giá cả hàng hóa
Khi nghiên cứu đầu vào của quá trình sản xuất, các nhà kinh tế học hiện đại đã khẳng định vốn là “chìa khóa” của tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo Perkins (2006), vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế của một đơn vị kinh tế bất kỳ (công ty, ngành công nghiệp, nông nghiệp, hay toàn bộ nền kinh tế) được lượng hàng hóa thông qua mô hình Harrod – Domar với một hàm sản xuất đơn giản: g = s/k
Trang 17Trong đó: g là tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng đầu ra
S là tỷ lệ tiết kiệm so với sản lượng đầu ra
K là hệ số gia tăng vốn- sản lượng đầu ra (hệ số ICOR) Hệ
số k cho biết để có thêm một đồng sản phẩm đầu ra (giá trị tăng thêm) cần phải đầu tư k đồng vốn
Mô hình Harrod – Domar khẳng đinh: tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR Do đó, để tăng trưởng nền kinh tế cần phải tiết kiệm để đầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP Hay nói rõ hơn, nền kinh tế có khả năng tiết kiệm, đầu tư càng lớn càng đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là hiệu suất của đầu tư (mức sản lượng tăng thêm thu được từ một đơn vị đầu tư tăng thêm), được tính bằng 1/k, tức là bằng nghịch đảo của tỷ lệ tăng vốn – đầu ra Trên thực tế, k không phải không đổi mà luôn có xu thế tăng lên, nghĩa là đầu tư có xu hướng ngày càng tốn vốn hơn trong điều kiện khoa học
và công nghệ bùng nổ và phát triển mạnh mẽ như hiện nay Vì vậy, để giữ cho tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao, cần phải đảm bảo sao cho hệ số ICOR tăng chậm, trong khi vẫn tiếp tục gia tăng tiết kiệm để đầu tư Trong trường hợp tiết kiệm không đủ bù đắp đầu tư, có thể bổ sung sự thiếu hụt vốn bằng việc thu hút vốn từ bên ngoài
Cũng giống như bất kỳ ngành sản xuất vật chất nào, sự gia tăng nhanh tiết kiệm để đầu tư phát triển nông nghiệp sẽ làm tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy gia tăng năng suất, sản lượng và nâng cao chất lượng nông phẩm hàng hóa Đồng thời, sản xuất nông nghiệp có hiệu quả càng tạo ra khả năng thu hút các nguồn lực khác (tài nguyên thiên nhiên, lao động, khoa học – công nghệ,…) tham gia vào phát triển nông nghiệp, gắn với thị trường Nhờ đó, đời sống người nông dân sẽ
Trang 18ngày càng khấm khá hơn, mức sống của họ cũng ngày càng được cải thiện nhanh chóng
Tác động của vốn đối với tăng trưởng sản lượng trong nền kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nông thôn nói riêng còn được thể hiện thông qua hàm sản xuất dạng Cobb-Douglass: Y=ALαBβ (Mankiw, 2002) Trong đó: Y là sản lượng đầu ra; L là lao động; K là lượng vốn; A là tổng các nhân tố sản xuất; α
và β là các hệ số co giãn theo sản lượng của lao động và vốn
Nếu α + β = 1 thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy
mô, nghĩa là nếu vốn và lao động tăng theo một tỷ lệ bao nhiêu thì sản lượng của ngành hay nền kinh tế cũng tăng theo cùng tỷ lệ bấy nhiêu
Nếu α + β < 1 thì hàm sản xuất có lợi tức giảm dần theo quy
mô, tức là mức sản lượng gia tăng với tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ tăng vốn và lao động
Nếu α + β > 1 thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần theo quy
mô, nghĩa là tỷ lệ gia tăng sản lượng đầu ra cao hơn tỷ lệ tăng vốn và lao động đầu vào
Như vậy, vốn là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới mức độ gia tăng sản lượng đầu ra trong nền kinh tế nói chung và trong khu vực nông nghiệp nói riêng Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, đồng thời nâng cao mức sống cho người dân vùng nông thôn, cần phải tăng cường đầu tư vốn cho khu vực này
2.1.2 Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng
Đinh Phi Hổ (2008), đã xác định vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:
Trang 19Thứ nhất là vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp Đây là vốn tự
có, do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng Mức
độ tích lũy vốn thường được đánh giá bởi tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập hoặc tỷ
lệ tiết kiệm so với GDP
Thứ hai là vốn đầu tư của ngân sách – vốn đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách Nhà nước Vốn này được dùng vào khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới, nông trường quốc doanh, trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp, thủy lợi, nghiên cứu khoa học, chương trình giải quyết việc làm ở nông thôn
Thứ ba là vốn từ tín dụng nông thôn, vốn đầu tư cho nông nghiệp của nông
hộ, trang trại và các doanh nghiệp nông nghiệp vay từ hệ thống định chế tài chính nông thôn thuộc khu vực chính thức và phi chính thức
Thứ tư là vốn nước ngoài, bao gồm hai nguồn chủ yếu là vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Như vậy, vốn tín dụng là một trong số cấu thành nguồn vốn quan trọng để phát triên nông nghiệp Có tác động tới mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Tuy nhiên, vốn tín dụng nông thôn gồm có hai loại là tín dụng chính thức (tín dụng ngân hàng) và tín dụng phi chính thức, trong đó tín dụng ngân hàng là nguồn tín dụng chủ yếu được sử dụng ở nông thôn hiện nay
2.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển nông nghiệp và nâng cao mức sống hộ gia đình ở nông thôn
Xét dưới hình thức chủ yếu của tín dụng là loại hình cho vay thì tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế hộ
ở nông thôn Theo Nguyễn Bích Đào (2008), tín dụng ngân hàng có những vai trò sau:
Thứ nhất, tín dụng góp phần hình thành và phát triển thị trường tài chính nông thôn Hoạt động tín dụng là “cầu nối” trung gian giữ những người cần vốn
Trang 20và những người cung ứng vốn, để phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Xét trong phạm vi cả nước thì có những vùng, khu vực này cần vốn, nhưng khu vực khác lại có nguồn vốn dư thừa chưa cần dùng đến Vì thế tín dụng ngân hàng còn là công cụ điều hòa nguồn vốn giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn, đáp ứng nhu vầu phát triển kinh tế nông thôn Với hệ thống cơ sở rộng khắp xuống từng huyện, xã, hoạt động tín dụng đã đẩy nhanh sự hình thành và phát triển thị trường tài chính ở nông thôn
Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần tận dụng mọi tiềm năng to lớn ở nông thôn Tiềm năng về phát triển ở nông thôn nước ta là rất lớn, đây là khu vực tập trung đại đa số tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai cũng như nguồn lực lao động dồi dào của đất nước Nếu được đầu tư vốn một cách hiệu quả, người dân nơi đây sẽ có điều kiện khai thác tiềm năng tại chỗ, giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, ngày càng
mở rộng và phát triển thị trường ở nông thôn
Thứ ba, tín dụng góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho người nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân hàng tham gia vào quá trình sản xuất thông qua hình thức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn như: đường sá, cầu cống, công trình thủy lợi, công trình giao thông, mạng lưới điện, thông tin, nước sạch, bệnh viện, trường học, chợ,…Đây là những cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình sản xuất, góp phần nâng cao đời sống của người dân vùng quê
và giảm sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn
Thứ tư, tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn Thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ sản xuất, một lượng lớn lao động dư thừa ở nông thôn đã được giải quyết việc làm Tuy nhiên, khi nền
Trang 21kinh tế ngày càng phát triển, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, sẽ có những doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân làm ăn kém hiệu quả, rời khỏi nông nghiệp
và chuyển sang nghề khác như: tiểu thủ công nghiệp, các nghề truyền thống Do
đó, các ngành nghề này sẽ được phát triển và lại tiếp tục thu hút lao động Qua
đó, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân
Thứ năm, tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người nông dân Hoạt động tín dụng phát triển góp phần hạn chế đáng kể tình trạng cho vay nặng lãi đã tồn tại khá lâu đời ở nông thôn Vì vậy, người dân sẽ thực sự được hưởng thụ thành quả của mình sau một thời gian dài lao động sản xuất Mặt khác, vốn tín dụng của ngân hàng còn được cung ứng cho mọi đối tượng thiếu vốn, không phân biệt giàu nghèo Do đó, đời sống mọi tầng lớp dân cư được nâng cao và thúc đẩy nông thôn ngày càng phát triển
Tóm lại, tín dụng nông thôn góp phần quan trọng trong việc hình thành và
phát triển thị trường tài chính ở nông thôn; hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính thành phố; tăng cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng với lãi suất phù hợp cho người nghèo, người thiếu vốn là thúc đẩy thực hiến tiến bộ và công bằng xã hội trong phân phối nguồn lực; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ sản xuất, tạo công ăn việc làm, tận dụng và phát huy hiệu quả mọi tiềm năng to lớn nơi đây Qua đó, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống không chỉ vật chất mà còn tinh thần cho người dân vùng nông thôn Chính sách hỗ trợ tín dụng nông thôn của thành phố Hồ Chí Minh là một trong những chính sách thể hiện nhận thức sau sắc ý chí và sự kỳ vọng của thành phố nhằm hỗ trợ mạnh mẽ, thiết thực cho khu vực nông thôn, khuyến khích phát triển sản xuất nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân nơi đây
2.2 Lãi suất cho thị trường tín dụng nông thôn:
Trang 22Chính sách hỗ trợ tín dụng nông thôn tại thành phố Hồ Chí Minh là một chính sách thực hiện hỗ trợ lãi vay nhằm khuyến khích người dân phát triển sản xuất Tuy nhiên một số lập luận về mặt cơ sở lý thuyết dẫn tới bác bỏ điều này
Theo Đinh Phi Hổ (2003), các nhà kinh tế học thuộc trường phái Ohio (Adams 1973; Gonzalez-Vega 1981; Von Pischke 1978) tranh luận như sau:
Thứ nhất: Lãi suất thực thấp không phải là cách hiệu quả của việc phân phối lại thu nhập cho nông dân nghèo ở vùng nông thôn
Lý do: a) không huy động được tiết kiệm dẫn đến suy giảm quy mô nguồn vốn cho vay b) sự khống chế của chính sách trần lãi suất dẫn đến hạn chế khả năng sinh lợi của các định chế tài chính Hệ quả là: (i) phân bổ lượng tiền cho vay theo đối tượng chọn lọc; (ii) hạn chế tối đa về chi phí thu thập thông tin đối với khách hàng Trong điều kiện đó, các định chế tín dụng nông thôn sẽ phải chọn lựa khách hàng vừa đảm bảo ít rủi ro (có tài sản thế chấp) và quy mô lượng tiền vay lớn (giảm chi phí giao dịch) Hệ quả, nông dân nghèo, sản xuất nhỏ bị loại ra Như vậy người hưởng lợi sẽ chính là nông dân giàu
Bằng chứng thực tiễn: 15% nông dân nghèo được vay từ các đinh chế tín dụng nông thôn thuộc khu vực chính thức trong các nước châu Á và Mỹ Latinh, 5% ở Châu Phi, 20% của tổng số người vay đã vay 80% tổng doanh số cho vay trong các nước đang phát triển (Gonzalez-Vega 1984)
Thứ hai: Sự ngộ nhận của việc ứng dụng quan điểm Keynes “lãi suất thấp
là cần thiết để khuyến khích đầu tư vào sản xuất” Trong thời kỳ những năm 30 ở
Mỹ, lãi suất thực rất cao Do đó, việc giảm lãi suất là cần thiết để khuyến khích
mở rộng đầu tư Trong khi hiện nay đối với các nước đang phát triển, lạm phát rất cao nhưng áp dụng lãi suất danh nghĩa thấp rồi lãi suất thực âm không có nghĩa là khuyến khích đầu tư Ngộ nhận ở chỗ: giảm lãi suất không có nghĩa là lãi suất thực âm
Trang 23Thứ ba: Lãi suất thực âm sẽ khuyến khích sự dịch chuyển chi phí giao dịch
từ các định chế tín dụng nông thôn đến người vay và ảnh hưởng đến phong cách phục vụ của các định chế Nông dân là người có lý lẽ Khi biết lãi suất thấp, âm trong dạng thực, họ sẽ nổ lực tìm kiếm người cho vay này Do nguồn lực này phân bổ có chọn lọc nên họ sẵn sàng sử dụng chi phí tiêu cực (hối lộ, đút lót cho cán bộ tín dụng) Do nguồn cho vay khan hiếm, họ cũng sẵn sàng chịu thêm các chi phí khác bao gồm hồ sơ – giấy tờ, đi đường, chi phí cơ hội vè thời gian phải làm thủ tục Như vậy chi phí vay tiền không có nghĩa chỉ là trả lãi suất Hơn nữa, trong bối cảnh như vậy, sự phục vụ khách hàng sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu và lạm dụng nguồn lực hạn chế này cho lợi ích cá nhân của cán bộ tín dụng
Trong tập bài giảng của Trần Tiến Khai (chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright) cũng đã đưa ra nhận định là bản thân hệ thống tín dụng chính thức có vấn đề riêng của chúng Hầu hết các thể chế tín dụng nông nghiệp chuyên nghiệp hóa không được coi như là các thể chế tài chính trung gian nhằm huy động được tiết kiệm mà phụ thuộc vào nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước để cho nông dân vay Chính vì không hoạt động theo các tiêu chuẩn hoạt động tài chính thương mại, các thể chế này thiếu hăng hái nỗ lực thu hồi nợ và thay vào đó lại có xu hướng tăng cường cho vay ngắn hạn để có tăng trưởng tín dụng và sử dụng nhiều hơn các nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài Về lãi suất, do nhà nước chủ định hỗ trợ cho khu vực nông thôn nên lãi suất cho vay thường thấp và không đủ bù đắp chi phí giao dịch và rủi ro Vì vậy, các thể chế này có xu hướng tập trung cho vay các món vay lớn để giảm bớt chi phi giao dịch và tối thiểu hóa rủi ro Mặc dù vậy, trên thực tế, đôi khi chi phí vay hiệu quả từ các thể chế tín dụng chính thức của nông dân lại rất cao, thậm chí cao hơn cả vay từ tín dụng phi chính thức Bên cạnh đó, rủi ro không thu hoài được nợ là rất lớn ở khu vực nông thôn Người vay không chú tâm trả nợ khi biết hệ thống tín dụng chính thức không có động lực thu hoài nợ và việc mất khả năng chi trả không ảnh hưởng nhiều đến khả năng vay
Trang 24lần sau Sự dễ dàng của nhà nước càng khuyến khích người vay không trả nợ Ngoài các lý do mất khả năng chi trả do thiên tai hoặc làm ăn thua lỗ, người vay
có tâm lý chờ đợi Nhà nước cho phép đảo nợ, giãn nợ hoặc xóa nợ
Tóm lại, phát triển tín dụng ở khu vực nông thôn là một điều cần thiết để
phát triển thị trường tín dụng nơi đây, giúp cho người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập Tuy nhiên , theo một số tác giả trường phái Ohio, việc cung ứng vốn cho khu vực nông thôn với một cái giá rẻ (lãi suất thấp) chưa phải là một phương án tốt để giúp cho người dân phát triển sản xuất nâng cao thu nhập Ngược lại nó còn làm cho ngân sách của nhà nước bỏ ra không có hiệu quả hay là một sự thất bại về mặt chính sách
3 Lượt khảo một số nghiên cứu trước
Đánh giá tác động của tín dụng đến thu nhập của hộ là một đề tài không mới đối với các nhà nghiên cứu Nhưng nó được sự quan tâm rất nhiều của các nhà nghiên cứu vì tính cần thiết của nó đối với các nhà làm chính sách:
Kondo và các đ.t.g (2007) đã sử dụng phương pháp hồi quy OLS kết hợp với phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) để đánh giá tác động của tài chính vi mô tới các hộ gia đình ở nông thôn Philippines Nghiên cứu này tiến hành xem xét tác động của tín dụng tới các nhóm vấn đề của hộ như: phúc lợi, các giao dịch tài chính quan trọng khác của hộ, kinh doanh và việc làm, tài sản của
hộ, đầu tư vốn nhân lực (giáo dục và sức khỏe) và tỷ lệ giảm đói trong tiêu dùng thực phẩm với các biến giải thích được sử dụng như: tuổi, giới tính, trình độ của
hộ, quy mô hộ, số năm sống tại địa phương, diện tích nhà,…Trong đó, các tác giả đánh giá tác động của tín dụng tới phúc lợi (đại diện cho mức sống của hộ gia đình thông qua các biến: thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu dùng bình quân đầu người, tiết kiệm bình quân đầu người và chi tiêu dùng thực phẩm bình quân đầu người) Kết quả ước lượng cho thấy tín dụng có tác động tích cực tới mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Philippines Cụ thể, phân tích cho
Trang 25thấy ở mức ý nghĩa 10%, những hộ có vay vốn có thu nhập bình quân đầu người cao hơn những hộ không vay là 5.222 Peso; chi tiêu bình quân đầu người của hộ
có vay vốn cũng cao hơn những hộ không vay là 4.136 Peso
Nghiên cứu của Arun và các đ.t.g (2006) ở Ấn Độ cho thấy vai trò tích cực của tài chính vi mô đối với giảm nghèo không chỉ ở nông thôn mà còn ở các đô thị của quốc gia này Các tác giả cho thấy rằng trong khi các hộ gia đình ở nông thôn cần phải vay tín dụng cho mục đích sản xuất để giảm đói nghèo thì các hộ gia đình ở đô thị chỉ cần truy cập tài chính vi mô là đủ giảm bớt đói nghèo Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hàm logit để xác định các nhân tố có tác động tới giảm nghèo hộ gia đình Bên cạnh tín dụng vi mô, kết quả ước lượng đã chỉ ra tuổi, giới tính chủ hộ, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, khu vực sinh sống đều là những nhân tố quan trọng có ý nghĩa không thể bỏ qua Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Banerjee và các đ.t.g (2009) thực hiện ở Hyderabad của Ấn Độ, nơi tài chính
vi mô phát triển nhanh nhất lại cho thấy rằng tín dụng không tác động tới mức sống thông qua chi tiêu của các hộ gia đình
Hai tác giả Gobezie và Garber (2007), với nghiên cứu về tác động của tín dụng vi mô ở Amhara phía bắc Ethiopia cũng cho kết luận rằng tài chính vi mô có tác dụng tích cực tới đời sống, khả năng giảm nghèo của các hộ gia đình sống tại khu vực này Bằng phương pháp hồi quy OLS, nghiên cứu đã xác định các nhân
tố có ảnh hưởng tới mức sống các hộ gia đình sống như nhiều nghiên cứu khác là: tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, tình trạng sức khỏe, tình trạng hôn nhân của chủ
hộ, giá trị khoản vay, số lao động trên 18 tuổi, khu vực sinh sống
Bằng phương pháp hồi quy OLS kết hợp DID và sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2004 và VHLSS 2006, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2010) đã tiến hành đánh giá tác động của tín dụng chính thức tới mức sống các hộ gia đình
ở đồng bằng sông Cửu Long với 5 biến phụ thuộc là: thu nhập bình quân, chi tiêu bình quân, chi tiêu đời sống bình quân, tiết kiệm bình quân và thu nhập trên một lao động hộ Kết quả nghiên cứu đã không tìm thấy ảnh hưởng tích cực của tín
Trang 26dụng tới mức sống hộ gia đình tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các tác giả cũng tìm được một số nhân tố khác có ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình như: quy mô hộ, số trẻ em (người phụ thuộc) trong gia đình, bằng cấp của chủ hộ, diện tích sản xuất và nhà ở, tình trạng nghèo của hộ Cùng bộ dữ liệu VHLSS 2004 và VHLSS 2006 và bằng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) kết hợp phương pháp hồi quy OLS, Phan Thị Nữ (2012) đã đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam và đưa ra kết luận: việc tiếp cận tín dụng đã giúp tăng chi tiêu cho đời sống của hộ nghèo lên 29 nghìn đồng/người/tháng, tương đương khoảng 20% Nhờ vậy, tín dụng cho người nghèo thật sự cần thiết Nhưng đáng tiếc là đề tài chưa nhìn thấy bằng chứng về tác động của tín dụng đối với thu nhập của người nghèo Nguyên nhân có thể do các hộ nghèo chủ yếu vay vốn để phục vụ nhu cầu chi tiêu trong hiện tại mà chưa có một phương án sử dụng vốn cho đầu tư sản xuất có hiệu quả nên chưa cải thiện được thu nhập Do đó, hỗ trợ tín dụng cho người nghèo không thôi là chưa đủ, mà cần có những chính sách, biện pháp, chương trình hướng dẫn về kĩ thuật sản xuất cũng như giúp họ tìm kiếm phương án đầu tư hiệu quả
Bằng phương pháp OLS kết hợp DID và sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2006
và VHLSS 2008, nghiên cứu của Ngô Hải Thanh (2011) đã tiến hành đánh giá tác động của tín dụng từ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tới mức sống
hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, đề tài tiến hành xây dựng mô hình ước lượng với 3 biến phụ thuộc được sử dụng đại diện cho mức sống là: thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu đời sống bình quân đầu người và chi lương thực bình quân đầu người (theo giá thực); các biến độc lập được chia làm 3 nhóm đại diện cho đặc trưng của chủ hộ: hộ gia đình, cộng đồng và vùng địa lý Kết quả đề tài: không tìm thấy ảnh hưởng tích cực từ việc vay vốn tới thu nhập cũng như chi tiêu bình quân của hộ gia đình, hay nói cách khác là tín dụng từ ngân hàng chủ lực trong việc cho vay vốn ở khu vực nông nghiệp và nông thôn chưa góp phần cải
Trang 27thiện đời sống cho người dân vùng quê trong giai đoạn 2006 – 2008 Mặc dù không tìm thấy tác động tích cực của tín dụng nhưng đề tài chứng minh được những yếu tố khác có ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam
Đó là trình độ giáo dục của chủ hộ, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, yếu tố dân tộc, tình trạng nghèo của hộ, việc làm phi nông nghiệp, diện tích đất sở hữu, vùng miền sinh sống Bên cạnh đó các yếu tố như tình trạng nghèo, trình độ giáo dục của chủ hộ, quy mô, tỷ lệ phụ thuộc trong hộ và việc làm phi nông nghiệp là những nhân tố có tác động mạnh tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn
Như vậy, các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, vào
những thời điểm khác nhau, với các bộ dữ liệu khác nhau cho những kết quả khác nhau Hay nói cách khác, tác động của tín dụng vi mô tới mức sống của người dân là không rõ ràng, nó tùy thuộc vào đặc điểm dữ liệu mỗi quốc gia, thời điểm tiến hành nghiên cứu, chính sách đưa ra của mỗi quốc gia Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng các yếu tố như: tuổi tác, giới tính, trình độ chủ hộ; tình trạng nghèo, diện tích gieo trồng, tỷ lệ phụ thuộc trong hộ, quy mô hộ, vùng miền sinh sống là những yếu tố có ảnh hưởng tới mức sống của các hộ gia đình
4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập hộ gia đình
4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của lao động chính của hộ Tuổi của lao động chính (Người thực hiện trực tiếp sản xuất góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị) đại diện
cho kinh nghiệm của người dân trong lao động sản xuất Khi tuổi của người lao động chính càng cao có nghĩa là kinh nghiệm càng nhiều thì thu nhập của người dân càng lớn Các nghiên cứu trước: Arung, Imai và Sinha (2006); Gobezie và Garber (2007); Ngô Hải Thanh (2011) đều chỉ ra rằng tuổi của chủ hộ có mối quan hệ đồng biến với thu nhập hộ gia đình
Giới tính của lao động chính có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau về
ảnh hưởng tới thu nhập hay mức sống của hộ khi giới tính của người lao động
Trang 28chính là nam và khi người lao động chính là nữ Nghiên cứu tại Ethiopia của Arun và các cộng sự cho thấy nam giới là người lao động chính thì mức sống gia đình đó cao hơn nhưng kết quả nghiên cứu tại Philippines của Kondo cùng các cộng sự năm 2007 lại chỉ ra rằng thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình cao hơn khi người lao động chính là nữ Đặng Thị Phương Thảo (2011) với nghiên cứu “Ảnh hưởng của tín dụng nhỏ đến thu nhập của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang” cho rằng khi lao động chính trong gia đình là nam thì hiệu quả sử dụng vốn vay thấp hơn những hộ gia đình có lao động chính là nữ
Trình độ học vấn của lao động chính có ảnh hưởng quan trọng tới khả
năng thu nhập và chi tiêu của cả hộ Trình độ học vấn càng cao thì thu nhập của
hộ càng lớn Các nghiên cứu tại Việt Nam và các nghiên cứu nước ngoài như Philippines, Ấn Độ đều có kết quả như nhau về nhận định này Đặng Thị Thảo (2011) nhận định rằng trình độ học vấn của lao động chính có tương quan tỷ lệ thuận với thu nhập sau khi vay vốn Cụ thể là, những gia đình mà lao động chính
có trình độ từ lớp 9 trở lên bình quân thu nhập tăng thêm sau khi vay vốn nhiều hơn những gia đình mà lao động chính có trình độ dưới lớp 9 là 5,2 triệu đồng/năm Tương tự có các nghiên cứu Ngô Hải Thanh (2011); Nguyễn Thanh Bình (2010); Gobezie và Garber (2007); Kondo và các đ.t.g (2007)
Đào tạo, tập huấn trong quá trình phát triển nông thôn tại thành phố Hồ
Chí Minh Để giúp người dân có công ăn việc làm cũng như nâng cao trình độ trong quá trình phát triển sản xuất Thành phố đã triển khai nhiều lớp tập huấn về khuyến nông và đào tạo nghề nông thôn cho người dân Quá trình đào tạo, tập huấn được kỳ vọng sẽ giúp cho người dân có việc làm ổn định hoặc sản xuất hiệu quả góp phần gia tăng thu nhập cho hộ Nghiên cứu của Đặng Thị Thảo (2011) đã chỉ ra rằng việc tham gia các khóa tập huấn khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp sẽ tác động tích cực đến hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ Đinh
Phi Hổ (2003) cũng đã đưa ra nhận định: “Kiến thức nông nghiệp đã trở nên yếu
Trang 29tố quan trọng giúp nông dân thành công trong hoạt động sản xuất” Theo Alfred Marshall (1980), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất Theo S.C Hsieh (1963), kiến thức nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào mức độ mà họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng ở vùng nông thôn C.R Wharton (1963) tranh luận rằng với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau
4.2 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của hộ gia đình
Quy mô hộ là số nhân khẩu trong hộ có tác động tiêu cực tới mức sống của
hộ gia đình Trong giới hạn của đề tài, quy mô hộ là số lao động trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu đều cho thấy quy mô hộ
tỷ lệ nghịch với thu nhập hộ gia đình Có nghĩa là những hộ gia đình càng đông thì thu nhập càng thấp Các nghiên cứu đã chỉ ra điều này là Verner (2005); Ngô Hải Thanh (2011); Arun và các đ.t.g (2006); Kondo và các đ.t.g (2007)
Diện tích đất sản xuất người dân vùng nông thôn sống chủ yếu dựa vào
sản xuất nông nghiệp Vì vậy, đất đai là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của các hộ Việc sở hữu nhiều đất đai có thể giúp hộ gia tăng sản xuất, đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi, qua đó cải thiện mức sống tốt hơn Các căn cứ chứng minh cho luận điểm trên là Đinh Phi Hổ (2003), Kondo và các đ.t.g (2007)
Trong giới hạn của đề tài là vùng đất Củ Chi thuộc thành phố Hồ Chí Minh Do đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chia làm 3 loại đại diện cho các lĩnh vực sản xuất trong nông nghiệp:
+ Diện tích đất trồng trọt
+ Diện tích đất chăn nuôi
+ Diện tích đất nuôi trồng thủy sản
Trang 304.3 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng sản xuất và nhu cầu vay vốn của hộ gia đình Chính sách đưa ra nhằm mục tiêu khuyến khích phát triển sản
xuất, nâng cao thu nhập của người dân Mục tiêu của chính sách cũng hướng người dân đi vào sử dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất và lựa chọn các loại đối tượng cây trồng, vật nuôi phù hợp nhằm nâng cao thu nhập Do đó,
để đánh giá chính sách có hiệu quả hay không thì đề tài đưa vào các biến đặc trưng sản xuất của hộ
Khoa học công nghệ Theo Đinh Phi Hổ (2003) thì việc áp dụng khoa học
công nghệ vào phát triển sản xuất bao gồm nhiều yếu tố như thủy lợi hóa, cơ giới hóa, hóa học hóa, sinh học hóa,…Việc áp dụng càng nhiều khoa học công nghệ làm cho năng suất của cây trồng, vật nuôi càng cao và dẫn đến thu nhập cho hộ nông dân càng cao Hiện tại vùng khảo sát là thành phố Hồ Chí Minh rất phát triển về kinh tế nên thành phố đầu tư vào thủy lợi hóa rất lớn và xem như là như nhau giữa các hộ Đề tài sẽ đánh giá biến khoa học công nghệ dựa trên việc áp dụng cơ giới hóa và sinh học hóa (cây trồng vật nuôi mới)
Đối tượng cây trồng, vật nuôi Đề tài đang đánh giá tác động của chính hỗ
trợ tín dụng cho vùng nông thôn thành phố Một trong những mục tiêu của chính sách nhầm mục đích khuyến khích người dân sản xuất theo những cây trồng, vật nuôi theo định hướng của thành phố Dựa vào Chương trình 13 (Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành phố theo hướng nông nghiệp đô thị) và Chính sách 13 (Chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị) thì đối tượng cây trồng vật nuôi chia làm
3 nhóm:
Nhóm 1: Hoa lan, cây kiểng, cá cảnh, nuôi trồng thủy sản nguồn nước kênh Đông
Trang 31Nhóm 2: Gieo trồng rau, cỏ thức ăn gia súc, bò sữa, tôm các loại, đàn cá sấu
Nhóm 3: các loại cây trồng, vật nuôi khác
Thứ tự các nhóm là thứ tự ưu tiên đầu tư đối tượng cây trồng vật nuôi của thành phố Vì vậy, thành phố kỳ vọng nhóm 1 là nhóm đối tượng cây trồng, vật nuôi mang lại thu nhập cao nhất cho người dân
Hoạt động sản xuất của hộ Đặc tính của sản xuất nông nghiệp là có tính
thời vụ, nên có thời gian lao động nhàn rỗi Do đó, nếu hộ nào tận dụng thời gian lao động nhàn rỗi đó để làm những ngành nghề khác, sẽ mang lại thu nhập cao hơn so với các hộ chỉ làm một ngành nghề cố định.Số hoạt động sản xuất của hộ cũng chỉ được giới hạn trong lĩnh vực nông nghiệp Nếu hộ có tham gia vào các nghành nghề phi nông nghiệp thì sẽ không được tính vào thu nhập của hộ trong
mô hình
Lượng vốn vay của hộ là số vốn mà gia đình đã vay vốn để tiến hành sản
xuất theo ý định đã đưa ra trong phương án vay vốn Theo Đặng Thị Thảo (2011) thì lượng vốn vay tương quan thuận với thu nhập của hộ sau khi vay Cụ thể là trong trường hợp các yếu tố khác không đổi thì khi lượng vốn vay tăng thêm 1
đồng thì thu nhập của nông hộ sẽ tăng thêm 0,06 đồng
Tóm tắt chương 2:
Từ các lý thuyết về tín dụng nông thôn, chính sách hiện hành và các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, vào những thời điểm khác nhau, với các bộ dữ liệu khác nhau cho những kết quả khác nhau Đề tài xác định được các yếu tố có ảnh hưởng đến mức sống của các hộ gia đình vùng nông như: tuổi tác, giới tính, trình độ chủ hộ, diện tích gieo trồng, quy mô lao động của hộ, lượng vốn vay, đối tượng sản xuất, khoa học công nghệ, đào tạo tập huấn Từ những biến được xác định đề tài cũng đã định nghĩa và xác định được cách thức
Trang 32tác động của các biến đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn
Trang 33CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu thứ cấp: Số liệu báo cáo và các phương án vay vốn tại huyện Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh; Số liệu tổng hợp tại Chi cục phát triển nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Số liệu Tổng cục thống kê; Dữ liệu năm 2011: Số liệu điều tra thu nhập hộ gia đình của Chi cục Phát triển nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh phục vụ xây dựng Đề án nông thôn mới tại 20 xã trên địa bàn huyện Củ Chi
- Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu năm 2014: Điều tra chọn mẫu tại các hộ vay vốn được hỗ trợ lãi suất và các hộ không vay vốn trong cùng điều kiện Trong cùng điều kiện có nghĩa là năm 2011 các hộ đều có xuất phát điểm như nhau, cùng tham gia loại hình sản xuất hoặc có mức thu nhập không quá chênh lệch nhau giữa hai nhóm hộ vay vốn và không vay vốn để phát triển sản xuất của chính sách
- Kích cỡ mẫu:
+ Đề tài sử dụng phương pháp xác định cỡ mẫu theo tỷ lệ: Theo Trần Tiến Khai (2013), với cách xác định cỡ mẫu theo tỷ lệ ta phải xác định tỷ lệ của tổng thể mà chúng có một thuộc tính cho trước, tỷ lệ này gọi là p Và thay vì sử dụng
độ lệch chuẩn, độ biến thiên của dân trong trường hợp này được xác định bằng p
x q, trong đó q là tỷ lệ của tổng thể không có thuộc tính đó, tức là q = (1-p) Tương tự như vậy, sai số chuẩn của trung bình được thay thế bằng sai số của của
tỷ lệ, σp Ta có, công thức sau:
σp =
n =
Trang 34Với pq là chỉ thị của độ biến thiên của mẫu, được dùng như là một ước lượng của độ biến thiên của tổng thể, σp là sai số chuẩn của tỷ lệ và n là cỡ mẫu
+ Áp dụng phương pháp trên ta tính được cỡ mẫu cần thiết của đề tài như sau:
Ta có, tổng số hộ vay vốn của huyện Củ Chi năm 2011 là 3338 hộ, tổng số
hộ làm trong nông nghiệp của huyện là 12.670 hộ Do đó, tỷ lệ hộ vay vốn trên địa bàn huyện là 26,35% Ta ước lượng tỷ lệ thực đúng của tổng thể trong phạm
vi sai số là 10% (p = 0,3 0,1), với mức tin cậy của nghiên cứu là 95%
Mức tin cậy để ước lượng khoảng tin cậy mà ta kỳ vọng tỷ lệ tổng thể đạt được là 95% Vì vậy, z bằng 1,96 và ta có 0,1 bằng 1,96 x σp. Suy ra, σp bằng sai
số chuẩn của tỷ lệ có giá trị là 0,051 (0,1/1,96)
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo tỷ lệ ta được:
350 hộ, do đó tổng số hộ điều tra năm 2011 là 7.000 hộ gia đình Trong đó, số hộ nông nghiệp là 3.600 hộ chiếm tỷ lệ 51,43% và số hộ có vay vốn trong tổng số hộ nông nghiệp là 380 hộ chiếm tỷ lệ 10,55% Trên cơ sở ước tính cỡ mẫu tối thiểu cho đề tài tài phải là 74 hộ gia đình, đề tài đã chọn ra 100 hộ gia đình với tỷ lệ hao hụt khoản 26% (gồm 50 hộ tham gia vay vốn và 50 hộ không tham gia vay vốn) Sử dụng phương pháp ngẫu nhiên để chọn ra 100 hộ gia đình để tiến hành điều tra khảo sát: từ 380 hộ tham gia vay vốn đề tài sử dụng hàm ngẫu nhiên Randbetween(…) trong excel để chọn ra 50 hộ có vay vốn và tương tự sử dụng
Trang 35hàm này để chọn ra 50 hộ không vay vốn cho các hộ còn lại Mẫu dự kiến là 100
hộ, tuy nhiên qua quá trình khảo sát bị hao hụt 8 hộ gia đình với lý do là các hộ này đã di chuyển chỗ ở hoặc không sắp xếp được thời gian để thực hiện khảo sát
- Thu nhập nông nghiệp bình quân/người của hộ là tất cả thu nhập tính chung cho các hoạt động nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) của hộ chia cho số lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp của hộ
2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng Sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) kết hợp với hồi qui OLS để đánh giá tác động của chính sách tín dụng đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích các đặc điểm
và các yếu tố khác biệt của các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh
2.1 Giới thiệu phương pháp khác biệt trong khác:
Phương pháp khác biệt trong khác biệt (difference in difference hay viết tắt
là DID) là một phương pháp thông dụng trong thí nghiệm tự nhiên Để áp dụng phương pháp này ta cần số liệu bảng, trong đó vừa chứa thông tin chéo về các đối tượng khác nhau, vừa có thông tin theo thời gian
Ta có Y là kết quả chịu tác động của một chính sách công (ví dụ như việc làm, thu nhập, điểm thi trắc nghiệm của học sinh,…); D là biến giả xác định một đối tượng có thuộc diện chi phối của chính sách công đó hay không (D=1 nếu đối tượng chịu chi phối của chính sách công; D = 0 nếu đối tượng không bị chi phối bởi chính sách công)
Về mặt thời gian, ta có Y0 là kết quả tại thời điểm chưa thi hành chính sách công và Y1 là kết quả tại thời điểm đã thi hành chính sách công Vậy, đối với
Trang 36nhóm bị chi phối bởi chính sách công, kết quả thay đổi từ Y0[D = 1] thành
Y1[D=1]; đối với nhóm không bị chi phối bởi chính sách công, kết quả thay đổi
Y1[D=1] – Y0[D = 1]) > 0
Tương tự, ta cũng không thể coi tác động của chính sách công là khác biệt
về kết quả sau khi thi hành chính sách giữa nhóm bị chi phối và nhóm không bị chi phối (tức là, Y1[D=1] – Y1[D=0]) Lý do là nhóm bị chi phối (nhóm xử lý) và nhóm không bị chi phối (nhóm kiểm soát) có thể khác nhau về một số đặc điểm
cơ sở Ví dụ, mặc dù trên thực tế chính sách có thể tác động làm tăng thu nhập, nhưng vì trước khi thi hành chính sách thu nhập của nhóm kiểm soát đã cao hơn nhiều so với nhóm xử lý nên sau khi thi hành chính sách ta có Y1[D=1] –
Y1[D=0] < 0
Phương pháp DID tính tới hai khác biệt: khác biệt theo thời gian trước và sau khi thi hành chính sách và khác biệt chéo giữa nhóm xử lý và nhóm kiểm soát, và do vậy có tên gọi là khác biệt trong khác biệt
Trang 37Đồ thị dưới đây mô tả phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID):
Theo thời gian kết quả của nhóm kiểm soát (ví dụ như thu nhập) thay đổi
từ Y0[D=0] thành Y1[D=0] Vì nhóm kiểm soát không hề chịu chi phối của chính sách công, nên ta có thể coi Y1[D=0] – Y0[D=0] là thay đổi thu nhập theo xu thế thời gian Một giả định phải đưa ra để áp dụng phương pháp DID là nếu như không có chính sách công thì theo thời gian thay đổi thu nhập của hai nhóm xử lý
và kiểm soát là như nhau
Vậy, nếu không có chính sách công thì thay đổi thu nhập của nhóm xử lý
sẽ là:
Y1[D=0] – Y0[D=0]
Nói một cách khác, nếu không có chính sách công thì thu nhập của nhóm
xử lý vào thời điểm t = 1 sẽ là:
Trang 38Tác động của chính sách công là:
Y1[D=1] – {Y0[D=1] + (Y1[D=0] – Y0[D=0])} = (Y1[D=1] – Y0[D=1]) – (Y1[D=0] – Y0[D=0])
Ta có thể tóm tắt ước lượng DID trong bảng sau:
Bảng 1: Tóm tắt ước lượng DID
Trước khi thi hành chính sách, t
Lưu ý: Giả định tối quan trọng của phương pháp DID là nếu như không có
chính sách công thì hai nhóm xử lý và nhóm kiểm soát sẽ có cùng xu thế vận động theo thời gian Điều này có thể đúng hay có thể sai trên thực tế Giả định này có tên gọi là giả định song song Chỉ khi nào giả định này đúng thì ta mới áp dụng được DID
Một cách để kiểm định giả định song song là thu nhập thêm số liệu tại một thời điểm nữa trước khi thi hành chính sách Như vậy ta có hai điểm thời gian trước khi thi hành chính sách công ở đó cả hai nhóm xử lý và kiểm soát đều không chịu tác động của chính sách công Dựa vào các số liệu này, ta có thể tính thay đổi kết quả của hai nhóm theo thời gian và kiểm định xem sự thay đổi này của hai nhóm có như nhau hay không
Vậy, ngoài Y0, Ta còn thu thập thêm số liệu vào thời điểm trước đó nữa,
Y-1. Thay đổi kết quả từ thời điểm t = -1 đến t = 0 của nhóm kiểm soát là:
Trang 392.2 Kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt với hồi quy OLS
Ta có được ước lượng DID bằng cách chạy hồi quy OLS sau đây:
D*T là biến tương tác của hai biến giả D và T
Đối với nhóm kiểm soát trước khi thi hành chính sách, ta có D = 0 và T =
0
E(Y0[D=0]) = β0 Đối với nhóm xử lý trước khi thi hành chính sách ta có D = 1 và T = 0
E(Y0[D=1]) = β0 + β1Đối với nhóm kiểm soát sau khi thi hành chính sách, ta có D = 0 và T = 1
E(Y1[D=0]) = β0 + β2
Đói với nhóm xử lý sau khi thi thành chính sách, ta có D = 1 và T = 1
E(Y1[D=1]) = β0 + β1 + β2 + β3
Trang 40Khác biệt trong khác biệt (DID) chính là β3
β3 = (E(Y1[D=1]) – E(Y0[D=1])) - (E(Y1[D=0]) – E(Y0[D=0])) = [(β0 + β1
Y = β0 + β1D + β2T + β3(D*T) + γX + e
Sử dụng các loại kiểm định để đánh giá mô hình:
+ Kiểm định t: Kiểm định cho từng biến độc lập riêng biệt trong mô hình Kiểm định t xem như kiểm định ý nghĩa riêng
+ Kiểm định F: Xác định việc tồn tại mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và tất cả các biến độc lập trong mô hình Kiểm định F là kiểm định ý nghĩa tổng
+ Kiểm định đa cộng tuyến
3 Cấu trúc của mô hình nghiên cứu:
3.1 Mô hình nghiên cứu:
Y it = β 0 + β 1 D + β 2 T + β 3 (D*T) + γ n X n + e
Trong đó:
+ Yit là chỉ tiêu phản ánh thu nhập lao động từ hoạt động nông nghiệp của
hộ i vào thời gian t Đơn vị tính: triệu đồng/năm
+ D là biến giả về nhóm hộ sử dụng vốn vay được hỗ trợ lãi suất/nhóm không sử dụng vốn vay: D = 1 là nhóm hộ sử dụng vốn vay được hỗ trợ lãi suất
và D = 0 là nhóm hộ không sử dụng vốn vay