15 TỔNG QUAN HIỆN TƯỢNG THU MUA NÔNG SẢN LẠ CỦA CHƯƠNG 3: THƯƠNG LÁI TRUNG QUỐC TỪ CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG .... 1.3.2 Mục tiêu cụ thể - Tổng hợp các thông tin hiện có từ các phươn
Trang 1Luận văn Thạc Sỹ Kinh Tế Học
TÓM TẮT
Trong thời gian qua, hiện tượng thu mua nông sản lạ được phản ánh nhiều trên các phương tiện truyền thông ở nước ta, nhưng đến nay chưa có một nghiên cứu khoa
học nào về hiện tượng này Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Hiện tượng thu mua nông sản
lạ ở một số tỉnh thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long” được nghiên cứu nhằm đánh
giá, phân tích hiện tượng dưới góc độ kinh tế học Nghiên cứu này cung cấp thông tin cho những người quan tâm đến hiện tượng, những nhà quản lý có những giải pháp phù hợp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực từ những thương vụ mua bán nông sản lạ
Đề tài nghiên cứu ứng dụng phương pháp tiếp cận định tính Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu Phỏng vấn sâu được thực hiện đối với các chủ thể có liên quan trực tiếp và gián tiếp như người nông dân, thương lái trong nước, chính quyền địa phương, chuyên gia Trên cơ sở lý thuyết về kinh tế học hành vi và lịch sử quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc, phương pháp phân tích đa chiều được áp dụng tập trung vào bốn nhóm đối tượng sau: truyền thông, nông dân, thương lái trong nước và chuyên gia Đối với mỗi góc nhìn của từng nhóm đối tượng, nghiên cứu tập trung vào các vấn đề về mức độ phổ biến của hiện tượng, mục đích và cách thức thu mua, chủ thể tham gia và vai trò của từng chủ thể, những lợi ích, tổn thất trực tiếp và gián tiếp
Việc phân tích từ nhiều góc nhìn khác nhau của các nhóm đối tượng đối với một số mặt hàng nông sản lạ (cau non, vịt đẻ, ớt Demon, lá mãng cầu xiêm) ở một số tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang) cho chúng ta một bức tranh tương đối đầy đủ về hiện tượng Giúp chúng ta có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về những nguyên nhân, đặc điểm và vai trò của các chủ thể liên quan Để từ đó có cơ sở đề xuất kiến nghị phù hợp đối với hiện tượng thu mua nông sản lạ đã và đang diễn ra ở Việt Nam
Trang 2Mục lục
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 1: 1.1 Đặt vấn đề và lý do chọn đề tài 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa và giới hạn của nghiên cứu 4
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
CHƯƠNG 2: 2.1 Một số khái niệm 6
2.1.1 Thị trường nông sản và cơ cấu tổ chức thị trường nông sản 6
2.1.2 Nhận dạng chuỗi cung ứng nông sản lạ và các chủ thể liên quan 7
2.1.3 Khái niệm nông sản lạ 8
2.1.4 Khái niệm nông sản lạ được sử dụng trong nghiên cứu 8
2.2 Lịch sử quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc 8
2.3 Thông tin bất cân xứng 13
2.4 Lý thuyết trò chơi trong hoạt động thương mại 14
2.5 Tiểu kết 15
TỔNG QUAN HIỆN TƯỢNG THU MUA NÔNG SẢN LẠ CỦA CHƯƠNG 3: THƯƠNG LÁI TRUNG QUỐC TỪ CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG 16
3.1 Các kênh truyền thông 16
3.1.1 Báo in, báo điện tử 17
3.1.2 Truyền hình, phát thanh 17
3.2 Nhận định của tác giả 18
3.2.1 Bảng thống kê tóm lược 18
3.2.2 Sơ đồ về hiện tượng 24
3.2.3 Đánh giá hiện tượng thu mua nông sản lạ từ phương tiện truyền thông 32
3.3 Tiểu kết 34
PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG THU MUA NÔNG SẢN LẠ CỦA CHƯƠNG 4: THƯƠNG LÁI TRUNG QUỐC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 35
Trang 3Mục lục
4.1 Nhận định về mặt hàng và địa bàn nghiên cứu 35
4.2 Khung phân tích 36
4.3 Quy trình nghiên cứu 38
4.4 Phân tích hiện tượng 39
4.4.1 Từ góc nhìn của truyền thông 39
4.4.1.1 Thu mua “cau non” 39
4.4.1.2 Thu mua “vịt đẻ” 42
4.4.1.3 Thu mua “ớt Demon” 44
4.4.1.4 Thu mua “lá mãng cầu xiêm” 47
4.4.2 Từ góc nhìn của nông dân 50
4.4.2.1 Chuyện thu mua “cau non” 50
4.4.2.2 Chuyện thu mua “vịt đẻ” 52
4.4.2.3 Chuyện thu mua “ớt Demon” 54
4.4.2.4 Chuyện thu mua “lá mãng cầu xiêm” 55
4.4.3 Từ góc nhìn của thương lái 57
4.4.4 Từ góc nhìn của cán bộ địa phương 60
4.4.5 Từ góc nhìn của chuyên gia 62
4.4.6 Nhận định chung của tác giả 66
4.5 Tiểu kết 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70
CHƯƠNG 5: 5.1 Kết luận 70
5.2 Đề xuất kiến nghị 71
5.2.1 Đối với người dân 71
5.2.2 Đối với cơ quan chính quyền 72
5.2.3 Đối với truyền thông 73
5.2.4 Đối với những nhà nghiên cứu 73
5.3 Hướng phát triển đề tài nghiên cứu tiếp theo 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 1: TỔNG HỢP THÔNG TIN HIỆN TƯỢNG THU MUA NÔNG SẢN LẠ TỪ CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG 78
PHỤ LỤC 2: TỔNG HỢP Ý KIẾN BÌNH LUẬN CỦA BẠN ĐỌC TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG 79
PHỤ LỤC 3: BẢNG HỎI PHỎNG VẤN SÂU 88
PHỤ LỤC 4: TÓM TẮT GỠ BĂNG PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA 90
Trang 4Mục lục
PHỤ LỤC 5: NHẬT KÝ HÀNH TRÌNH 94
PHỤ LỤC 6: TÓM TẮT GỠ BĂNG PHỎNG VẤN THỰC ĐỊA - ĐỒNG THÁP 100
PHỤ LỤC 7: TÓM TẮT GỠ BĂNG PHỎNG VẤN THỰC ĐỊA – TP.CẦN THƠ 104
PHỤ LỤC 8: TÓM TẮT GỠ BĂNG PHỎNG VẤN THỰC ĐỊA - TIỀN GIANG 112
Trang 5Danh mục hình ảnh
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Dây chuyền phân phối 6
Hình 2.2: Chuỗi cung ứng nông sản lạ 7
Hình 2.3: Lịch sử quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc 9
Hình 2.4: Tỉ trọng xuất nhập khẩu với Trung Quốc trong tổng xuất nhập khẩu Việt Nam 12
Hình 3.1: Bản đồ phân bố nông sản lạ được thu mua tại Việt Nam 22
Hình 3.2: Bản đồ phân bố nông sản lạ được thu mua tại ĐBSCL 23
Hình 3.3: Sơ đồ hiện tượng thu mua nông sản lạ từ các phương tiện truyền thông 24
Hình 3.4: Thông tin đối tượng nông sản lạ 27
Hình 3.5: Thông tin hoạt động chủ thể Thương lái Trung Quốc 28
Hình 3.6: Thông tin hoạt động của chủ thể Thương lái trong nước 29
Hình 3.7: Thông tin hoạt động chủ thể người Nông dân 30
Hình 3.8: Thông tin hoạt động chủ thể Chính quyền địa phương 31
Hình 4.1: Quy trình tiến hành nghiên cứu 38
Hình 4.2: Hiện tượng thu mua nông sản lạ dưới góc nhìn truyền thông 50
Trang 6Danh mục bảng biểu
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Phân loại mặt hàng nông sản lạ 8 Bảng 2.2: Phân tích yếu tố lợi ích theo lý thuyết trò chơi 15 Bảng 3.1: Bảng thống kê tóm lược các mặt hàng nông sản lạ được thu mua theo địa phương 18 Bảng 3.2: Các mặt hàng nông sản lạ được thu mua theo sản phẩm 19 Bảng 3.3: Thống kê tóm lược các mặt hàng nông sản lạ được thu mua theo từng địa phương tại vùng ĐBSCL 21 Bảng 3.4: Thống kê tóm lược các mặt hàng nông sản lạ thu mua tại vùng ĐBSCL 21
Trang 7Chương 1: Giới thiệu
GIỚI THIỆU CHƯƠNG 1:
1.1 Đặt vấn đề và lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống
kê năm 2013, tỉ lệ người dân sống ở nông thôn là 67,8% và kinh tế nông nghiệp đóng góp khoảng 20% GDP Vì vậy, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nước ta Kinh tế nông nghiệp không chỉ giúp tạo ra công ăn việc làm cho người lao động (chiếm 47,4% vào năm 2012) mà còn góp phần ổn định và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển ổn định theo hướng chuyên canh như: vùng sản xuất lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL); vùng chuyên canh cây công nghiệp cà phê, cao su ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; vùng nuôi trồng thủy sản
ở ĐBSCL và các tỉnh Duyên Hải; vùng trồng cây ăn quả tại ĐBSCL; … Một số mặt hàng nông sản Việt Nam đã khẳng định được vị thế trên thị trường thế giới như: gạo,
cà phê, chè, hồ tiêu, hạt điều, cao su, rau quả, … Và gần đây là cá tra, cá basa, tôm, … đang là nhữngmặt hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu hiện nay
Dù chính phủ đã đầu tư đáng kể cho nông nghiệp, nông thôn nhưng đời sống của nông dân Việt Nam vẫn nhiều khó khăn Thị trường nông sản chưa phát triển nên việc bán nông sản của bà con nông dân vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động thu mua của các thương lái Thương lái thu mua nông sản không chỉ có thương lái trong nước mà còn có thương lái nước ngoài Bên cạnh việc thu mua các nông sản thông thường có thị trường tiêu thụ rõ ràng, thương lái nước ngoài (cụ thể là thương lái Trung Quốc) còn thu mua những nông sản dị biệt, bất thường hay “lạ” Theo các phương tiện thông tin đại chúng thì hiện tượng thu mua nông sản lạ của thương lái Trung Quốc đã xuất hiện từ lâu (khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước) Như việc họ đến những vùng nông thôn Việt Nam để thu mua móng trâu, móng bò, mèo,… và thời gian gần đây là lá điều khô, lá khoai lang non, rễ cây hồ tiêu, ốc bưu vàng, đỉa, …
Theo các phương tiện thông tin truyền thông, khi thu mua những nông sản lạ tại Việt Nam, thương lái Trung Quốc thường áp dụng những cách thức làm giá tinh vi Dù mua bán công khai hay không công khai phần lớn người dân đều không rõ người Trung Quốc mua những thứ đó để làm gì nhưng do giá thành cao nên người nông dân vẫn ồ ạt chạy theo sản xuất, thu hoạch những nông sản lạ này với số lượng khá lớn
Trang 8Chương 1: Giới thiệu
Chỉ đến khi giá hạ thấp, thậm chí là không bán được thì xảy ra tình trạng thua lỗ, gây thiệt hại đáng kể Tổn thất này không chỉ ảnh hưởng đến người nông dân mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất nông nghiệp nói riêng và phát triển nền kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung Dù ảnh hưởng về kinh tế của hiện tượng này chưa được đánh giá đầy đủ nhưng những tác động về mặt xã hội là rất lớn
Bên cạnh đó, cũng có một vài ý kiến trái chiều về hiện tượng thu mua nông sản
lạ không có giá trị kinh tế sẽ giúp nông dân có thêm nguồn thu nhập Cũng có ý kiến
đề xuất cần tìm hiểu rõ hơn về công dụng của những sản phẩm “lạ” này để có hướng khai thác và sử dụng hợp lý hơn Tuy nhiên, những ý kiến trái chiều này chưa được quan tâm đúng mức Cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá một cách toàn diện về vấn đề này1, các thông tin hiện có chủ yếu được phản ảnh từ những bài báo phổ thông
Vậy mức độ phổ biến của hiện tượng này ở Việt Nam là như thế nào? Thương lái Trung Quốc mua những nông sản lạ để làm gì? Họ sử dụng những cách thức thu mua như thế nào? Việc thu mua nông sản lạ có ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích kinh
tế của người nông dân nói riêng và địa phương nói chung? Chúng ta có thể làm gì để nâng cao hiệu quả, đồng thời tránh được những tổn thất có thể xảy ra từ việc mua bán nông sản lạ với thương lái Trung Quốc? Đó là mối quan tâm không chỉ của người dân
mà còn là của các nhà quản lý kinh tế cấp địa phương và các cấp Bộ ngành có liên quan
Do đó, việc phân tích toàn diện và đầy đủ về hiện tượng sẽ cung cấp những thông tin hữu ích để người dân, các cơ quan chức năng có cơ sở đề ra quyết định phù hợp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực từ hoạt
động này Đó là lý do tôi thực hiện luận văn đánh giá và phân tích “Hiện tượng thu mua nông sản lạ ở một số tỉnh thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long” ở Việt Nam
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Thứ nhất, mức độ phổ biến của hiện tượng thương lái Trung Quốc đến thu mua
nông sản lạ như thế nào?
1Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không tìm thấy một nghiên cứu khoa học nào về vấn đề này.
Trang 9Chương 1: Giới thiệu
- Thứ hai, những cách thức thu mua của thương lái Trung Quốc trong các thương vụ
thu mua nông sản lạ là gì?
- Thứ ba, các chủ thể tham gia vào các thương vụ này là ai? Họ có vai trò như thế
nào trong các thương vụ này?
- Thứ tư, những lợi ích, tổn thất trực tiếp và gián tiếp từ hiện tượng thu mua nông sản lạ này là gì?
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Thu thập thông tin và phân tích hiện tượng thu mua nông sản lạ của các thương lái Trung Quốc tại một số tỉnh thành ở ĐBSCL để tìm ra nguyên nhân, đặc điểm của hiện tượng và vai trò của các chủ thể liên quan Trên cơ sở đó, đề xuất kiến nghị nhằm hạn chế những tác động tiêu cực và gia tăng những tác động tích cực từ các hoạt động này
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Tổng hợp các thông tin hiện có từ các phương tiện truyền thông và từ những người dân địa phương về hiện tượng thu mua nông sản lạ nhằm xác định mức độ phổ biến
và đặc điểm của các thương vụ này
- Trên cơ sở những thông tin ban đầu thu thập được, xác định địa bàn và loại sản phẩm nghiên cứu
- Xác định những chủ thể liên quan, vai trò, những lợi ích và tổn thất đối với các chủ thể
- Phân tích hiện tượng từ nhiều góc nhìn khác nhau, đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi của đề tài giới hạn hiện tượng thu mua nông sản lạ tại 3 tỉnh ở ĐBSCL
và 4 sản phẩm tiêu biểu được thu mua tại các tỉnh này để nghiên cứu gồm : Cần Thơ (sản phẩm cau non và vịt đẻ), Đồng Tháp (sản phẩm ớt Demon), Tiền Giang (sản phẩm lá mãng cầu xiêm) để nghiên cứu sâu Đối tượng nghiên cứu là hiện tượng thu mua nông sản lạ, các chủ thể liên quan, những lợi ích và tổn thất của họ trong các thương vụ này
Trang 10Chương 1: Giới thiệu
Đề tài kết hợp sử dụng cả 2 nguồn dữ liệu: sơ cấp và thứ cấp
- Dữ liệu thứ cấp: Nghiên cứu, thu thập, tổng hợp và phân tích các thông tin
hiện có liên quan đến hiện tượng thu mua nông sản lạ từ mọi nguồn dữ liệu sẵn có mà tác giả có thể tiếp cận Do hiện tượng này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ nên hầu hết các thông tin thu thập được thông qua phương tiện truyền thông, các bài viết trên báo điện tử Dữ liệu này giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu như: nơi xảy ra, mức độ phổ biến, diễn biến của thương vụ, loại hình nông sản giao dịch, những người có liên quan, mức độ tổn thất
- Dữ liệu sơ cấp: Căn cứ vào dữ liệu thứ cấp, tác giả tiến hành thực địa đến
một số địa phương đã từng xảy ra hiện tượng thu mua nông sản lạ nhằm thu thập những thông tin cho việc phân tích sâu: thông tin chi tiết, những bộ phận, những yếu tố tạo nên hiện tượng, động cơ kinh tế, lợi ích và tổn thất của các bên tham gia Đồng thời cung cấp thông tin cho người dân, các cơ quan chức năng để có thể đề ra các giải pháp hữu hiệu cho hiện tượng thu mua nông sản lạ hoặc các hiện tượng tương tự
1.5 Ý nghĩa và giới hạn của nghiên cứu
Về ý nghĩa lý thuyết, nghiên cứu ứng dụng kinh tế học hành vi để phân tích và đánh giá hiện tượng thu mua nông sản lạ, một vấn đề phổ biến nhưng chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách khoa học
Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu này cung cấp luận cứ khoa học cho các đối tượng liên quan và các cơ quan hữu quan về hiện tượng thu mua nông sản lạ - một hiện tượng đã diễn ra từ lâu và ngày càng phổ biến, nhưng ít được nghiên cứu một cách thấu đáo Nghiên cứu kỳ vọng sẽ cung cấp một bức tranh tương đối toàn diện về hiện tượng, giúp những người quan tâm hiểu và có những giải pháp phù hợp nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực từ những giao dịch liên quan Đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách có cơ sở để đánh giá vấn đề và đề ra các chính sách phù hợp nhằm quản lý nền kinh tế hiệu quả hơn, cũng như tạo sân chơi công bằng cho các chủ thể tham gia, nhất là giúp người nông dân hưởng lợi trong hoạt động tiêu thụ nông sản ở Việt Nam
Trang 11Chương 1: Giới thiệu
Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian và khả năng thực hiện nghiên cứu nên nghiên cứu còn một số hạn chế sau:
- Bức tranh tổng thể về hiện tượng được vẽ dựa vào thông tin thu thập từ nhiều nguồn Các nguồn thông tin này thường là những bài báo đăng trên các báo, tạp chí phổ thông nên thông tin có thể không mang tính khoa học
mà thiên về nhận định mang tính chủ quan của người viết
- Hiện tượng thu mua nông sản lạ diễn ra ở nhiều nơi nhưng tác giả chỉ tiến hành thực địa ở một số địa bàn nhất định Do đó, không thể kiểm định tính xác thực của toàn bộ thông tin thứ cấp đã thu thập được Nghiên cứu giới hạn cho 4 sản phẩm “lạ” ở 3 tỉnh thành thuộc vùng ĐBSCL nên kết quả nghiên cứu chỉ phản ánh những thông tin liên quan đến những sản phẩm nêu trên tại những địa bàn được chọn Kết quả này có thể không tổng quát hóa đối với hiện tượng đã xảy ra tại các địa bàn khác Do đó việc vận dụng những kết quả nghiên cứu này vào các sản phẩm khác tại các địa bàn khác
có thể không phù hợp
- Việc khó tiếp cận các thương lái Trung Quốc nên nghiên cứu tập trung vào thông tin thu thập được từ những người nông dân, thương lái trong nước, cán bộ địa phương nơi đến thực địa, chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
Do đó thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho việc nghiên cứu vấn đề theo góc nhìn từ phía chúng ta
Mặc dù còn một số hạn chế nhất định, đây có thể là một trong những nghiên cứu đầu tiên tìm hiểu về hiện tượng thu mua nông sản lạ một cách khoa học Nghiên cứu này kỳ vọng sẽ phân tích hiện tượng và cung cấp thông tin hữu ích cho những người quan tâm, đặc biệt là những chủ thể liên quan trực tiếp, những người làm công tác quản lý ở địa phương và những nhà hoạch định chính sách
Trang 12Chương 2: Cơ sở lý thuyết
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHƯƠNG 2:
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Thị trường nông sản và cơ cấu tổ chức thị trường nông sản
Thị trường nông sản (Đinh Phi Hổ, 2003): là tập hợp những thỏa thuận, dựa
vào đó người bán và người mua trao đổi được các hàng hóa nông sản và các dịch vụ cho nhau Có hai cách mô tả cơ cấu tổ chức của dây chuyền phân phối như sau:
- Timmer (1983): Có 5 dây chuyền phân phối khác nhau có thể hoạt động ở
thị trường nông sản
Người sản xuất và người tiêu dùng ở nông thôn
Người sản xuất, người bán lẻ nông thôn và người tiêu dùng nông thôn
Người sản xuất, người thu gom và người chế biến ở địa phương và người tiêu dùng ở nông thôn
Người sản xuất, người thu gom và người chế biến ở địa phương, người bán buôn ở thành thị, người bán lẻ ở thành thị và người tiêu dùng ở thành thị
Người sản xuất, người thu gom và người chế biến không ở địa phương, người bán buôn ở thành thị, người bán lẻ ở thành thị và người tiêu dùng ở thành thị
- Hill và Insergent (1977): Mô tả tổng quát cơ cấu một dây chuyền phân phối
Người buôn bán
Người bán lẻ
Người Tiêu dùng
Trang 13Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Theo hình mô tả dây chuyền phân phối, hàng triệu người sản xuất bán sản phẩm của mình cho một số ít thương nhân, những người này thực hiện chức năng mua gom các lô hàng nhỏ lại thành những lô hàng lớn bán lại cho người bán buôn hoặc chế biến
Số người bán buôn và chế biến ít hơn rất nhiều so với người thu gom nên phía cuối dây chuyền sẽ mở rộng ra vì sản phẩm vào tay rất nhiều người bán lẻ và cuối cùng là đến hàng triệu người tiêu dùng
Dây chuyền này hoạt động theo nguyên tắc chung, mỗi lần chuyển giao quyền
sở hữu đều kéo theo một lần định giá, do đó sẽ có một hệ thống giá Giá người nông dân bán cho các tổ chức tham gia dây chuyền phân phối là giá của người sản xuất (hoặc là giá ở cổng trại) Giá mà người tiêu dùng phải trả là giá bán lẻ Giá được ấn định từ người thu gom đến người bán lẻ được xem như là giá bán buôn
2.1.2 Nhận dạng chuỗi cung ứng nông sản lạ và các chủ thể liên quan
Trên cơ sở lý thuyết về cơ cấu thị trường nông sản cũng như cơ cấu một dây chuyền phân phối nông sản ở mục [2.1.1] Mặt khác từ các thông tin được phản ánh qua các phương tiện truyền thông ta có thể nhận dạng chuỗi cung ứng nông sản lạ đối với thị trường thu mua nông sản lạ ở Việt Nam như sau:
Hình 2.2: Chuỗi cung ứng nông sản lạ Các chủ thể tham gia trong chuỗi cung ứng nông sản lạ, trong đó:
- Nông dân là người sản xuất trong cơ cấu một dây chuyền phân phối nông sản cũng như là người sản xuất và khai thác nông sản lạ trong chuỗi cung ứng nông sản lạ
- Thương lái (nhỏ/lớn) trong nước là người thu gom, người buôn bán, người bán lẻ nông sản và là người nắm thông tin về nhu cầu nông sản lạ Thương lái nhỏ là những người thu mua trực tiếp tại nhà vườn của nông dân và bán lại cho các thương lái lớn như các vựa thu mua
Nông dân
Thương lái nhỏ trong nước
Thương lái lớn trong nước
Thương lái Trung Quốc
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Trang 14Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- Thương lái Trung Quốc có thể hiểu là người bán buôn, người bán lẻ hoặc người tiêu dùng và thực tế là người hiểu rõ nhất nhu cầu thực sự về nông sản
lạ cần tìm mua
- Chính quyền địa phương là chủ thể gián tiếp tham gia vào chuỗi cung ứng nông sản thông qua qui định, luật định đã được ban hành nhằm quản lý thị trường nông sản
2.1.3 Khái niệm nông sản lạ
Theo các phương tiện truyền thông (Pháp luật Tp.HCM, 2014) thì nông sản lạ được chia thành hai loại:
Thứ nhất, là các mặt hàng xác định được giá trị và nhu cầu sử dụng, nhưng thị
trường tiêu thụ không rõ ràng như lá khoai lang, dứa xanh (thực phẩm rau xanh), địa sâm, cây sắn (đặc sản), rễ sim, cây cò ke (làm thuốc)
Thứ hai, là các mặt hàng không xác định được giá trị và nhu cầu sử dụng, đồng
thời thị trường tiêu thụ cũng mơ hồ, khó xác định như lá điều khô, rễ hồ tiêu, đỉa, móng trâu, móng bò
Bảng 2.1: Phân loại mặt hàng nông sản lạ
2.1.4 Khái niệm nông sản lạ được sử dụng trong nghiên cứu
Tuy có hai loại nông sản lạ như các phương tiện truyền thông thường phản ánh, nhưng trong nghiên cứu này, khi nói đến các mặt hàng nông sản lạ là nói đến các mặt hàng thuộc cả hai loại như trên không phân biệt loại 1 hay loại 2 mà được gọi chung là
“nông sản lạ”
2.2 Lịch sử quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc
Lịch sử của Việt Nam gắn liền với lịch sử quan hệ thương mại với các nước
Có thể chia lịch sử quan hệ thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc thành các giai đoạn như sau:
Trang 15Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Hình 2.3: Lịch sử quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc
2.2.1 Giai đoạn phong kiến (từ cuối thế kỷ thứ II TCN đến thế kỷ XIX)
Trong giai đoạn phong kiến, lịch sử quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc phân thành hai thời kỳ: thời kỳ Bắc thuộc từ những năm cuối thế kỷ II TCN đến thế kỷ X và thời kỳ tự chủ từ năm đầu thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷ thứ XIX Đây là giai đoạn Việt Nam có mối quan hệ giao thương phụ thuộc chủ yếu nhà nước Trung Quốc phong kiến
- Thời kỳ Bắc thuộc
Giao thương buôn bán ở miền Bắc Việt Nam (vùng Giao Chỉ - về hình thức là 1 tỉnh của Trung Quốc) diễn ra trên cả đường thủy và đường bộ với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam (dangcongsan.vn, 2003) cho rằng trong giai đoạn này hàng hóa bán ra các nước chủ yếu là hương liệu, lâm sản quý, vải, gấm, giấy bản đường Trong khi đó, hàng hóa nhập vào chủ yếu là các hàng
xa xỉ phẩm, phục vụ cho chính quyền quan lại đô hộ và tầng lớp quý tộc
- Thời kỳ tự chủ
Suốt gần mười thế kỷ, lịch sử không chỉ chứng kiến những cuộc chiến tranh lớn
do các triều đại Trung Quốc phát động mà còn chứng kiến những mối quan hệ giao hảo giữa Việt Nam với các triều đại phong kiến Trung Quốc cả về chính trị, kinh tế, văn hóa… Hoạt động thương mại trong thời kỳ này chủ yếu thông qua hoạt động triều
Các giai đoạn lịch sử quan hệ
thương mại
Việt Nam - Trung Quốc
Giai đoạn phong kiến
(Từ cuối TKII TCN đến TK XIX)
Giai đoạn trước CMT8
(Từ 1884 đến 1945)
Giai đoạn 1945 - 1975
Giai đoạn 1975 - 1990
Giai đoạn 1991 - 1999 Giai đoạn 2000 - nay
Trang 16Chương 2: Cơ sở lý thuyết
cống và thương mại trên bộ được diễn ra dọc tuyến biên giới giữa hai nước (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2012)
Ngoài ra, theo Stuart-Fox (2003), Trung Quốc vẫn là nước có sức mạnh và chiếm ưu thế trong việc chi phối nền kinh tế và trật tự thế giới Các triều đại Trung Quốc tiếp tục khẳng định vị thế kiểm soát nền kinh tế Hàng hoá và thị trường chỉ Trung Quốc mới có thể cung cấp Đây là hình thức độc quyền thị trường hàng hóa Trung Quốc
2.2.2 Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8
Với hiệp ước Hòa Thân – 1884 và hiệp ước Thiên Tân – 1885 đã chấm dứt việc triều cống của triều đình Huế đối với nhà Thanh và đánh dấu quyền thống trị của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Theo Bộ Công thương Việt Nam cho rằng trong giai đoạn này người Hoa đóng vai trò quan trọng trong việc nhập cảng và tiêu thụ nội địa Về xuất khẩu, người Hoa chiếm thị phần lớn trong việc thu mua, chế biến và xuất khẩu lúa gạo của toàn vùng Nam Bộ Người Hoa gần như độc quyền trong việc nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng đến từ các nước Nhật, Singapore, nhất là Hồng Kông và Thượng Hải, gồm vải vóc, thực phẩm, dụng cụ gia đình, nến, giấy, bút mực, diêm, giày dép, quần áo… Đó là những mặt hàng mà Pháp không có hoặc có nhưng giá đắt hơn do chi phí vận chuyển lớn
2.2.3 Giai đoạn 1945 – 1975
Đây là giai đoạn quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tốt đẹp nhất trong suốt chặng đường quan hệ của hai nước và được Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khái quát là “Mối tình thắm thiết Việt – Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em”
Theo Bùi Xuân Lưu và Nguyễn Hữu Khải (2006) vào cuối những năm 1950 Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu thiết lập quan hệ chính thức về kinh tế và thương mại với Việt Nam Năm 1952, Chính phủ Việt Nam ký Hiệp định thương mại với Chính phủ Trung Quốc Năm 1953, Chính phủ hai nước ký Nghị định thư về mậu dịch tiểu ngạch biên giới, quy định việc trao đổi hàng hóa giữa nhân dân các tỉnh biên giới Việt – Trung Trong thời kỳ này, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc các mặt hàng nông, lâm, thổ sản như: chè, sơn, gỗ, hoa hồi, quế, sa nhân, trâu bò… và nhập khẩu từ Trung Quốc các máy móc, dụng cụ, sắt thép, hóa chất, vải sợi, hàng tiêu dùng,
Trang 17Chương 2: Cơ sở lý thuyết
dược phẩm… Ngoài quan hệ thương mại, Trung Quốc còn viện trợ cho Việt Nam một
số vật tư hàng hóa không hoàn lại
Từ năm 1955, Chính Phủ Việt Nam đã ký với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác các hiệp định về viện trợ hàng hóa và kỹ thuật Ngoài ra, Chính phủ cũng ký Hiệp định thương mại với Chính phủ Pháp (1955), Ấn Độ (1956), Indonesia (1957) và đặt quan hệ buôn bán với các công ty Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore,
Hà Lan, Anh Tính đến năm 1964, Miền Bắc có mối quan hệ thương mại với 40 nước
Đặc điểm cơ bản của hoạt động ngoại thương thời kỳ này là: Xuất khẩu tăng rất chậm, trong khi kim ngạch nhập khẩu, tỉ trọng viện trợ không hoàn lại lớn
2.2.4 Giai đoạn 1975 – 1990
Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước vào năm 1975, do mâu thuẫn chính trị giữa Trung Quốc và Việt Nam, đến đầu năm 1979, Trung Quốc đưa quân vào biên giới Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung Sau chiến tranh quan hệ hai nước xấu đi và quan hệ thương mại chính thức giữa hai nước không diễn ra
2.2.5 Giai đoạn 1991 – 1999
Tháng 11-1991 đánh dấu sự kiện quan hệ bình thường hóa giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc Mối quan hệ này được Trung Quốc khái quát qua 16 chữ vàng
“Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”
Hai nước đã ký hiệp định thành lập Ủy ban hợp tác Thương mại Việt Nam – Trung Quốc Hai bên ra thông cáo chung, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc gia tăng hợp tác về kinh tế thương mại giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi Theo số liệu của Tổng cục Thống kê giá trị xuất nhập khẩu trong giai đoạn này khoảng
41 triệu USD mỗi năm
2.2.6 Giai đoạn 2000 – nay
Từ sau khi bình thường hóa quan hệ năm 1991, giá trị xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc tăng trưởng liên tục Theo số liệu thống kê hàng năm của Tổng cục Hải quan và IMF từ năm 2000 đến 2013 Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc tăng
từ 1,5 tỷ USD lên 13,3 tỷ USD và dao động trong khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Trong khi đó, giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc
Trang 18Chương 2: Cơ sở lý thuyết
không ngừng tăng lên (từ 1,4 tỷ USD vào năm 2000 lên gần 37 tỷ USD vào năm 2013), tỉ trọng tăng từ 10% lên 28%
Hình 2.4: Tỉ trọng xuất nhập khẩu với Trung Quốc trong tổng xuất nhập khẩu Việt Nam
(Nguồn theo Tổng cục Hải Quan và IMF qua các năm)
Theo Lê Thị Kim Thoa và Ngô Hoàng Đại Long (2014), những mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc là các hàng hóa thô, sơ chế, có giá trị gia tăng thấp như: khoáng sản thô (than, quặng sắt, dầu thô), nông lâm sản, thủy sản, đồ thủ công, hoa quả và nông sản chủ lực của Việt Nam Riêng mặt hàng cao su chiếm 70%, lúa gạo chiếm 40%, thanh long, vải và bột sắn chiếm 80-90% tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này đi các nước trên thế giới Tuy nhiên, những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc là các mặt hàng thành phẩm có giá trị gia tăng cao bao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; điện thoại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và các linh kiện đi kèm; sắt thép các loại; các nguyên phụ liệu; thành phẩm hóa chất, và cả hàng nông sản
Trong năm 2014, số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy Việt Nam tiếp tục nhập siêu từ Trung Quốc xấp xỉ 29 tỷ USD: xuất khẩu chỉ đạt 14,9 tỷ USD so với nhập khẩu là 43,87 tỷ USD Như vậy, nhập siêu từ Trung Quốc không ngừng tăng lên cho
Trang 19Chương 2: Cơ sở lý thuyết
thấy Việt Nam phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất trong nước và sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Lịch sử quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc chịu ảnh hưởng rất lớn từ quan hệ chính trị hai nước Lịch sử đã chứng minh khi một nước lớn hơn gây chiến xâm lược thì Việt Nam chống lại bằng mọi giá để bảo vệ lãnh thổ Nhưng khi chiến tranh kết thúc Việt Nam luôn giữ mối quan hệ giao hảo với nước lớn mạnh hơn
Vì vậy, quan hệ Trung Quốc – Việt Nam, theo Womack (2006) luôn là mối quan hệ bất cân xứng
2.3 Thông tin bất cân xứng
Theo Pindyck, Rubinfeld (1999) trong rất nhiều giao dịch kinh tế, một số người
có đầy đủ thông tin hơn những người khác, và sự thuận lợi hay thiệt thòi về thông tin
đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của họ, khiến cho kết quả giao dịch không còn ở trạng thái tối ưu Hiện tượng một hay nhiều người tham gia thị trường không có đầy đủ thông tin để ra quyết định như vậy được gọi là sự bất cân xứng thông tin
(Asymmetric information), hay thông tin không hoàn hảo (Imperfect information)
Thông tin bất cân xứng là một thất bại của thị trường vì nó dẫn đến hậu quả là thị trường không đạt trạng thái hiệu quả tối ưu vì các lý do sau:
- Thứ nhất, giao dịch với thông tin không hoàn hảo tạo ra một sự tổn thất hay
mất mát trong tổng phúc lợi xã hội
- Thứ hai, giao dịch với thông tin không hoàn hảo dẫn đến hậu quả là thị trường
chỉ có hàng xấu, dịch vụ không tốt, hoặc thậm chí không tồn tại
Ngoài ra, theo Taylor (2013) những nhà kinh tế học đã cho chúng ta một cơ sở vững chắc để hiểu, thấy được những khiếm khuyết và thất bại thị trường nơi mà những bản hợp đồng rất được chú trọng Hai nguyên nhân dẫn đến thất bại của thị trường là
do lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Cả hai khái niệm này liên quan mật thiết tới vấn
đề thông tin bất cân xứng Khái niệm lựa chọn bất lợi là tình trạng mà những hệ quả xấu xảy ra do bởi bên bán hoặc bên mua có được những thông tin mà bên mua hoặc bên bán thiếu, những thông tin này là đặc điểm của hàng hóa đem bán Còn rủi ro đạo đức là tình huống mà bên bán hoặc bên mua có đầy đủ những thông tin mà bên mua hoặc bên bán thiếu, thông tin về những động cơ hành động mà một bên tạo ra, ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Trang 20Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Khi người nông dân bán những hàng hóa nông sản lạ cho thương lái Trung Quốc, trước tiên người nông dân không biết được một cách rõ ràng Trung Quốc mua những nông sản này để làm gì? Thị trường đối với hàng hóa này là như thế nào? Nhu cầu đối với hàng hóa ra sao? Giá cả của hàng hóa là như thế nào? Chỉ có thương lái Trung Quốc nắm được những thông tin này Việc bất cân xứng thông tin là tiền đề cho nguy cơ “lựa chọn ngược” và “rủi ro đạo đức”
2.4 Lý thuyết trò chơi trong hoạt động thương mại
Theo Gibbons, Robert (1992) lý thuyết trò chơi (game theory) nghiên cứu các
tình huống đưa ra quyết định của người chơi Trong đó, các bên tham gia hay người chơi chọn các hành động khác nhau để cố gắng tối đa hóa kết quả nhận được Từ lâu,
lý thuyết trò chơi đã được phát triển như là một công cụ để nghiên cứu hành vi kinh tế học Ngày nay, lý thuyết trò chơi còn được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học khác như: sinh học, triết học, khoa học máy tính, chính trị, quân sự, ngoại giao…
Nếu xem xét việc các thương lái Trung Quốc tìm những người nông dân để mua nông sản lạ theo thỏa thuận như thuận mua vừa bán, khi đó đôi bên đã chấp nhận tham gia một cuộc chơi và đây cũng là môi trường có tương tác ra quyết định Khi đó, theo lý thuyết trò chơi thì người nào đưa ra quyết định đúng thì người đó sẽ thắng hay ngược lại là thua và bất kỳ người chơi nào cũng muốn tìm cách để kết quả có lợi cho mình nhất Giả sử, thương lái Trung Quốc đến tìm mua một mặt hàng nông sản “lạ” là
lá điều khô ở nhà vườn của người nông dân, theo lý thuyết trò chơi ta có thể xác định được bài toán mà người chơi có thể lựa chọn như sau:
- Nếu hai bên không vi phạm thỏa thuận hợp tác trong việc mua lá điều khô thì lợi ích hai bên như nhau và lợi ích là thấp (1 : 1) do bán với giá thỏa thuận ban đầu
- Nếu hai bên vì lý do nào đó có một bên vi phạm thỏa thuận hoặc không hợp tác trong mua bán thì bên đó sẽ thu lợi nhiều hơn bên hợp tác Khi đó lợi ích sẽ là (2 : -2) hoặc (-2 : 2)
- Nếu hai bên cùng vi phạm hợp đồng thì 2 bên cùng bị thiệt hại, nhưng thiệt hại này thấp hơn Khi đó lợi ích là (-1 : -1)
Trang 21Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Bảng 2.2: Phân tích yếu tố lợi ích theo lý thuyết trò chơi
Không hợp tác Hợp tác Thương lái
Tuy nhiên, trên thực tế thương lái Trung Quốc đóng vai trò chủ đạo của cuộc chơi này nên các yếu tố của cuộc chơi thay đổi theo hướng có lợi cho bên thương lái Trung Quốc Mặt hàng lá điều khô là mặt hàng không rõ ràng về thị trường và tính năng sử dụng nên người nông dân dù có hợp tác hay không hợp tác vẫn là người chơi
bị thiệt hại nhiều nhất vì không có quyền quyết định chiến lược cho mình Mặc khác, hai bên tham gia cuộc chơi này lại không có chế tài nào bảo vệ hay trừng phạt người chơi vi phạm thì người có quyền quyết định chiến lược cho mình là người chiến thắng
2.5 Tiểu kết
Chương cung cấp một số khái niệm về chuỗi cung ứng nông sản, các chủ thể trong chuỗi cung ứng nông sản và khái niệm nông sản lạ mà các phương tiện truyền thông đề cập đến, cũng như khái niệm nông sản lạ được sử dụng trong đề tài nghiên cứu Ngoài ra, lịch sử quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Trung Quốc, lý thuyết kinh
tế học hành vi trong hoạt động thương mại như hành vi lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức trong điều kiện thông tin bất cân xứng, ứng dụng của lý thuyết trò chơi là cơ sở lập luận trong quá trình phân tích hiện tượng thu mua nông sản lạ tại vùng ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung
Trước khi đi vào công việc phân tích, chương tiếp theo sẽ tìm hiểu tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ của thương lái Trung Quốc từ các phương tiện truyền thông Qua đó phần nào giúp ta thấy được bức tranh tổng thể về tình hình và thực trạng của hiện tượng cần nghiên cứu
Trang 22Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
TỔNG QUAN HIỆN TƯỢNG THU MUA NÔNG
CHƯƠNG 3:
SẢN LẠ CỦA THƯƠNG LÁI TRUNG QUỐC TỪ CÁC
PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG 3.1 Các kênh truyền thông
Ngày nay phương tiện truyền thông không ngừng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của con người Báo chí nói chung bao gồm các loại hình truyền thông như: báo in hay còn được gọi là báo giấy, báo viết, báo chữ; phát thanh (báo nói), truyền hình (báo hình) và báo điện tử hay còn gọi là báo mạng Các phương tiện truyền thông này đã trở nên quen thuộc với mọi người Do tính chất đa dạng và phong phú của từng loại hình nên thông tin được truyền tải đến độc giả theo nhiều cách khác nhau
Nếu báo in với lợi thế là nội dung truyền tải sâu sắc, có tính phổ cập cao do ra đời sớm nhất nhưng thông tin truyền tải chậm, hạn chế tương tác hai chiều với người đọc thì báo nói thông tin được truyền tải nhanh hơn nhưng lại thiếu hình ảnh minh họa Báo hình ra đời giúp thông tin truyền tải nhanh với hình ảnh sống động hơn nhưng vẫn tồn tại hạn chế tương tác hai chiều với người xem đài Từ những năm đầu thế kỷ 21, báo điện tử ra đời đã giúp cải thiện những hạn chế của các loại hình truyền thông khác như: thông tin cập nhật nhanh chóng, có tính tương tác cao Tuy báo mạng chưa phổ cập như báo in nhưng với lợi thế môi trường internet giúp báo mạng phản ảnh thông tin một cách sinh động qua bài viết, hình ảnh, âm thanh, video clip… nên hiện nay báo mạng ngày càng nổi trội hơn các loại báo khác
Thông qua báo chí, thông tin về các sự kiện, hiện tượng mang tính thời sự thuộc mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội được phản ánh đến độc giả với nhiều hình thức khác nhau Do đó, đối với hiện tượng thương lái Trung Quốc thu mua nông sản lạ xảy ra ở các địa phương trong thời gian qua đã được báo chí tích cực phản ảnh đến người dân Từ báo in, truyền hình, phát thanh và phổ biến nhất là báo điện tử đã cập nhật thông tin liên lục về các sự kiện thu mua nông sản lạ diễn ra khắp nơi trên cả nước
Trang 23Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
3.1.1 Báo in, báo điện tử
Các cơ quan báo chí hiện nay không chỉ sản xuất và phát hành các loại báo viết hay báo in mang tính phổ cập như trước đây mà còn phát hành song song hai loại hình báo in và báo điện tử như: báo in “tuổi trẻ” và báo điện tử “tuổi trẻ online”,…Ngoài ra,
có những tòa soạn báo điện tử là cơ quan chuyên sản xuất và phát hành các bài báo dưới dạng ấn bản điện tử như VnExpress với địa chỉ truy cập là http://vnexpress.net/
Với lợi thế của báo điện tử, chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin trên internet Ví dụ với từ khóa “thu mua nông sản lạ”, hàng loạt bài viết trên các báo điện
tử được tìm thấy với những nhan đề ấn tượng như: “Thương lái Trung Quốc mua đủ thứ lạ đời”(Vietnamnet, 2015); “Thương lái Trung Quốc lại giở trò”(Người lao động, 2015); “Làm rõ mục đích thương lái Trung Quốc mua nông sản lạ”(An Ninh Thủ Đô, 2015); Do tính chất đa đạng và thuận lợi khi chọn lọc thông tin, nên tác giả đã tổng hợp thông tin ban đầu chủ yếu từ các bài viết trên các trang báo điện tử: Tuổi trẻ, Người lao động, Dân trí, An Ninh Thủ Đô, Đời sống Pháp luật, Vietnamnet, Kinh tế Nông thôn, Nông nghiệp Việt Nam, Báo Cần Thơ, Dân Việt, Đất Việt, Đại Đoàn kết…
3.1.2 Truyền hình, phát thanh
Bên cạnh các loại hình phổ biến như báo điện tử và báo in phản ánh hiện tượng thu mua nông sản lạ thì truyền hình là một kênh thông tin không thể đứng ngoài cuộc Đài truyền hình Việt Nam - một kênh truyền hình quốc gia (VTV) - hay kênh truyền hình Công An Nhân dân (ANTV) đã có hàng loạt các phóng sự như:
- Kênh VTV1 với phóng sự: “Thu mua nông sản „dị biệt‟: thủ đoạn làm giá của thương lái Trung Quốc” (Tạp chí kinh tế cuối tuần, 2013), “Những sản vật lạ đã được mua bán tại Việt Nam” (Vấn đề hôm nay, 2015)
- Kênh ANTV với phóng sự: “Thương lái Trung Quốc thu mua nông sản dị biệt” (Kinh tế & Tiêu dùng, 2015)…
Do khó truy cập thông tin vì hạn chế tương tác hai chiều và các thông tin phản ánh hiện tượng thu mua nông sản lạ trùng lắp với thông tin trên các báo mạng, nên trong giới hạn của nghiên cứu này thông tin chủ yếu được thu thập từ các trang báo điện tử như đã đề cập Ngoài ra, thông tin phản ánh về hiện tượng này trên sóng phát thanh thì tác giả chưa thể thu thập được vì khó xác định được thời gian phát sóng
Trang 24Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
3.2 Nhận định của tác giả
3.2.1 Bảng thống kê tóm lược
Từ các thông tin thu thập được qua các phương tiện truyền thông, cụ thể từ các trang web của báo điện tử, tác giả đã tổng hợp thành “Tổng hợp hiện tượng thu mua
nông sản lạ từ phương tiện truyền thông” (Xem Phụ lục 1) từ năm 2011 đến nay Căn
cứ vào thông tin tổng hợp, tác giả thực hiện bảng thống kê tóm lược các sản phẩm nông sản lạ được thu mua theo các yếu tố như sau:
Bảng 3.1: Bảng thống kê tóm lược các mặt hàng nông sản lạ được thu mua theo địa phương
(Giảm dần theo số lượng mặt hàng)
1 Bình Định Cà gai leo, lá trầu, lan kim tuyến, nấm độc, nấm
2 Hậu Giang Cam non, cau non, lá mãng cầu, ốc bưu vàng 4
6 Tiền Giang Dứa xanh, hoa thanh long, lá mãng cầu 3
7 Trà Vinh Cam non, cau non, hoa thanh long 3
8 Vĩnh Long Cam non, cau non, lá khoai lang 3
12 Gia Lai Rễ cây rừng: cây T'Rưng, gốc rễ cây hồ tiêu 2
Trang 25Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
(Nguồn thông tin tổng hợp từ các báo điện tử)
Bảng 3.2: Các mặt hàng nông sản lạ được thu mua theo sản phẩm
(Theo thứ tự A, B, C…)
1 Cá sấu con An Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp
3 Các loại cây thảo dược Thanh Hóa
4 Cam non Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh
Long
5 Cau non Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh,
Vĩnh Long
6 Cây kim cương Kon Tum
9 Cây phong ba Quảng Ninh
11 Chè bẩn Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái
12 Con banh long Cà Mau, Kiên Giang
14 Đỉa
Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Tp.HCM
17 Gốc rễ, gỗ trắc non Khánh Hòa
Trang 26Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
18 Gốc và rễ cây hồ tiêu Gia Lai
25 Hoa hồng non Hải Phòng
26 Hoa thanh long Long An, Tiền Giang, Trà Vinh
28 Lá điều khô Bình Phước, Đồng Nai
29 Lá khoai lang Vĩnh Long
30 Lá mãng cầu Tiền Giang, Hậu Giang
32 Lá vải thiều khô Bắc Giang
33 Lan kim tuyến Bình Định
34 Mầm cây thảo quả Hà Giang
36 Nấm linh chi Bình Định
37 Ốc bưu vàng Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang
39 Phân trâu khô Điện Biên
40 Rễ cây rừng: cây T'Rưng Gia Lai
43 Sầu riêng non Lâm Đồng
(Nguồn thông tin tổng hợp từ các báo điện tử)
Các bảng thống kê tóm lược cho thấy các mặt hàng nông sản lạ được thu mua rất đa đạng, phong phú và diễn ra ở khắp các tỉnh thành trong cả nước Có 43 tỉnh trên
tổng số 63 tỉnh thành (Bảng 3.1) có hiện tượng thương lái Trung Quốc thu mua nông sản lạ với tổng số 45 loại mặt hàng được tìm mua (Bảng 3.2) Riêng vùng ĐBSCL hiện tượng thu mua nông sản lạ được diễn ra ở tất cả 13 tỉnh thành (Bảng 3.3) với 11 loại mặt hàng nông sản lạ được thu mua (Bảng 3.4) Xét về số lượng tỉnh thành khu
vực này chỉ chiếm 20,6% số tỉnh thành trong cả nước nhưng số mặt hàng được thu mua chiếm đến 24,4% tổng số mặt hàng của cả nước Tỷ lệ tỉnh thành có xảy ra hiện tượng này của vùng là 100% trong khi tỷ lệ bình quân chung cả nước chỉ là 68,2%
Trang 27Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
Bảng 3.3: Thống kê tóm lược các mặt hàng nông sản lạ được thu mua theo từng địa phương tại vùng ĐBSCL
(Theo thứ tự số lượng mặt hàng giảm dần)
1 Hậu Giang Cam non, cau non, lá mãng cầu, ốc bưu vàng 4
3 Tiền Giang Dứa xanh, hoa thanh long, lá mãng cầu 3
4 Trà Vinh Cam non, cau non, hoa thanh long 3
5 Vĩnh Long Cam non, cau non, lá khoai lang 3
Bảng 3.4: Thống kê tóm lược các mặt hàng nông sản lạ thu mua tại vùng ĐBSCL
(Theo thứ tự A, B, C…)
1 Cá sấu con An Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp
2 Cam non Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long
3 Cau non Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh,
Vĩnh Long
4 Con banh long Cà Mau, Kiên Giang
6 Hoa thanh long Long An, Tiền Giang, Trà Vinh
7 Lá khoai lang Vĩnh Long
8 Lá mãng cầu Tiền Giang, Hậu Giang
9 Ốc bưu vàng Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang
(Nguồn thông tin tổng hợp từ các báo điện tử)
Trang 28Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
Trên cơ sở các bảng thống kê tóm lƣợc về tình hình thu mua nông sản, ta vẽ đƣợc bản đồ thể hiện mật độ phân bố mặt hàng nông sản lạ đƣợc thu mua tại Việt Nam
và vùng ĐBSCL
Hình 3.1: Bản đồ phân bố nông sản lạ đƣợc thu mua tại Việt Nam
(Nguồn thông tin tổng hợp từ các báo điện tử)
Trang 29Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
Hình 3.2: Bản đồ phân bố nông sản lạ đƣợc thu mua tại ĐBSCL
(Nguồn thông tin tổng hợp từ các báo điện tử)
Trang 30Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
3.2.2 Sơ đồ về hiện tượng
Theo thông tin tổng hợp hiện tượng thu mua nông sản lạ từ các phương tiện
truyền thông (Phụ lục 1), ta khái quát hiện tượng này qua sơ đồ sau đây:
Hình 3.3: Sơ đồ hiện tượng thu mua nông sản lạ từ các phương tiện truyền thông
(Nguồn thông tin tổng hợp của tác giả)
Sơ đồ ở hình 3.3 thể hiện các đối tượng chủ thể tham gia vào hiện tượng thu mua nông sản lạ gồm có:
THƯƠNG LÁI
TRUNG QUỐC
HIỆN TƯỢNG THU MUA NÔNG SẢN
LẠ
Trang 31Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
các mặt hàng là đặc sản, dược liệu, tài nguyên quý hiếm Tùy vào từng sản phẩm nông sản lạ mà khi sản xuất hoặc khai tác sẽ gây ra những thiệt hại khác nhau Nhưng nhìn chung nguy cơ khi khai thác các sản phẩm lạ này chủ yếu gây hại đến tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu sản xuất, môi trường sống và bất ổn xã hội
2 Thương lái Trung Quốc (xem hình 3.5)
Theo các phương tiện truyền thông, Thương lái Trung Quốc dưới hình thức là khách du lịch, thăm thân nhân, đến Việt Nam để chữa bệnh hoặc là doanh nghiệp đến tìm cơ hội kinh doanh, họ đã đến các vùng nông thôn để tìm mua các nông sản lạ thông qua trung gian là các thương lái trong nước Đồng thời cũng theo thông tin từ các bài báo thì mục đích của việc thu mua này có thể là do Trung Quốc có nhu cầu về sản phẩm nhưng lại không ổn định hoặc đây có thể là hành vi lừa đảo của thương lái Trung Quốc nhằm phá hoại: như gây nhiễu loạn thị trường, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, tận diệt nguồn nguyên liệu sản xuất, gây hại môi trường sống, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội và gây bất ổn an ninh trật tự Cách thức thu mua của thương lái Trung Quốc là thu mua qua trung gian, xuất khẩu qua đường tiểu ngạch, và không có hợp đồng Kịch bản thu mua gồm 3 giai đoạn: đầu tiên là đưa ra giá cao và tìm mua với số lượng lớn; tiếp theo đẩy giá cao hơn và tăng số lượng mua; cuối cùng là ngừng mua và biến mất
3 Thương lái trong nước (xem hình 3.6)
Theo nhận định của các phương tiện truyền thông thì thương lái trong nước nói chung không biết rõ nhu cầu các mặt hàng nông sản lạ của thương lái Trung Quốc, mơ
hồ không biết họ mua để làm gì Tuy nhiên thương lái trong nước vẫn thu mua và bán các nông sản lạ tùy vào nhu cầu của thương lái Trung Quốc, vì đây là cơ hội có thu nhập cao Cách thức thu mua của thương lái trong nước như sau: các thương lái lớn là các chủ vựa thu mua nông sản lạ từ các thương lái nhỏ là những người thu mua trực tiếp từ các nhà vườn của nông dân, sau đó xuất hàng bán cho thương lái Trung Quốc qua tiểu ngạch Vì không có hợp đồng cũng không bồi thường khi có thiệt hại nên hầu hết các giao dịch mua bán này không sòng phẳng và có nhiều rủi ro Ngoài ra, với cách thu mua bất thường do phụ thuộc vào thương lái Trung Quốc nên không chỉ thương lái trong nước chụi thiệt hại mà những người nông dân cũng là đối tượng gánh chịu không nhỏ những tổn thất qua các giao dịch này
Trang 32Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
4 Nông dân (xem hình 3.7)
Người nông dân là người sản xuất và khai thác trực tiếp các mặt hàng nông sản
lạ Thế nhưng theo các phương tiện truyền thông thì người nông dân không biết mục đích, nhu cầu của thương lái thu mua các nông sản lạ để làm gì Nông dân chỉ nghĩ rằng việc thu mua này có thêm thu nhập giúp họ cải thiện đời sống Vì vậy, họ đã ồ ạt sản xuất, khai thác với số lượng lớn mà không nghĩ đến hậu quả Những hậu quả mà người nông dân gánh chịu không chỉ có thiệt hại trước mắt như mất nguồn nguyên liệu sản xuất, mất năng suất sản xuất mà còn gây thiệt hại trong dài hạn như mất việc làm, ảnh hưởng đến kinh tế và đời sống gia đình
5 Chính quyền địa phương (xem hình 3.8)
Các cơ quan quản lý ở các địa phương có xảy ra hiện tượng thu mua nông sản
lạ gặp khó khăn trong việc quản lý như: khó kiểm soát việc mua bán, chưa xác định được mục đích thu mua các mặt hàng này, hiện chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu để ngăn chặn cũng như chế tài xử lý kiểu buôn bán lừa gạt người dân Do đó, hiện nay chính quyền địa phương chủ yếu tuyên truyền cho người dân cẩn trọng trong việc mua bán các mặt hàng lạ này Mặt khác, địa phương cũng tìm hiểu, điều tra mục đích của việc thu mua nông sản lạ khi ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu, năng suất sản xuất và đời sống của người dân Qua báo chí, các địa phương cũng có đề xuất kiến nghị cần xây dựng luật, chế tài xử lý việc mua bán có biểu hiện tiêu cực này và cần có sự phối hợp giữa nhiều cấp, nhiều ngành có liên quan để xác định đúng mục đích, nhu cầu của thị trường nông sản lạ
Các sơ đồ sau đây mô tả cụ thể thông tin hoạt động từng đối tượng, chủ thể tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình thu mua nông sản lạ:
Trang 33Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
Hình 3.4: Thông tin đối tƣợng nông sản lạ
(Nguồn thông tin tổng hợp của tác giả)
Trang 34Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
Hình 3.5: Thông tin hoạt động chủ thể Thương lái Trung Quốc
(Nguồn thông tin tổng hợp của tác giả)
Trang 35Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
Hình 3.6: Thông tin hoạt động của chủ thể Thương lái trong nước
(Nguồn thông tin tổng hợp của tác giả)
Trang 36Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
Hình 3.7: Thông tin liên quan đến Nông dân
(Nguồn thông tin tổng hợp của tác giả)
Trang 37Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
Hình 3.8: Thông tin liên quan đến Chính quyền địa phương
(Nguồn thông tin tổng hợp của tác giả)
Trang 38Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
3.2.3 Đánh giá hiện tượng thu mua nông sản lạ từ phương tiện truyền thông
Trung Quốc hiện vẫn là thị trường lớn về giao thương hàng hóa nông sản với Việt Nam Với dân số đông, có nhu cầu lớn về hàng hóa lương thực thực phẩm, nên từ lâu Trung Quốc là thị trường tiêu thụ phần lớn hàng nông sản của Việt Nam Tuy nhiên, dù đây là thị trường tiêu thụ lớn và có nhiều tiềm năng, nhưng hoạt động giao thương hàng hóa nông sản giữa hai nước vẫn tồn tại nhiều bất cập Cũng theo các phương tiện truyền thông, dưới danh nghĩa khách du lịch, đi thăm thân nhân, đi chữa bệnh hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh, các thương lái Trung Quốc đã đến các tỉnh thành của Việt Nam tìm mua các loại nông sản lạ theo nhiều hình thức khác nhau Điều “lạ” ở đây là có những nông sản xác định được công dụng nhưng không rõ về thị trường tiêu thụ và có những nông sản không rõ ràng về thị trường tiêu thụ, cũng như mục đích sử dụng Ngoài ra, cách thức thu mua các sản phẩm này rất thất thường, không rõ ràng, thiếu minh bạch
Thông qua báo chí, hiện tượng này đã xảy ra từ rất lâu khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước (Ngọc Lan, 2014) Trung Quốc đã tìm mua mèo ở các tỉnh phía Bắc và cách đây hơn 10 năm là móng trâu, móng bò diễn ra phổ biến ở một số vùng nông thôn Việt Nam Với giá của bốn cái móng bằng giá của một con trâu, từ đó gây ra những hệ lụy người dân giết nhiều trâu, bò lấy móng để bán, mất đi phương tiện sản xuất; tệ nạn chặt móng trộm trâu bò đem bán gây bất ổn an ninh trật tự
Tình hình những năm gần đây càng diễn biến phức tạp, từ truyền hình, báo in, nhất là báo điện tử đều phản ánh tình trạng thu mua nông sản diễn ra phổ biến khắp cả nước Các số liệu tổng hợp thống kê, bản đồ phân bố và sơ đồ thông tin hoạt động của các chủ thể trên đây đã cho chúng ta thấy được bức tranh toàn cảnh về thị trường mua bán khá đa dạng Riêng từ đầu năm 2015 đến nay, tình hình thu mua các nông sản lạ này ngày càng diễn biến phức tạp hơn Đặc biệt là ở vùng ĐBSCL, thương lái Trung Quốc đến tìm mua các nông sản lạ ở hầu hết các tỉnh này Nếu như trước đây, khoảng năm 2013 thương lái tìm mua ốc bưu vàng ở Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, dứa xanh ở Tiền Giang, vịt đẻ ở Cần Thơ… thì từ cuối năm 2013 đến đầu
2014, thương lái tìm mua con banh lông ở Cà Mau, Kiên Giang, ớt Demon ở Đồng Tháp… Đến những tháng đầu năm 2015, hàng loạt các sản phẩm lạ khác được thương lái tiếp tục tìm mua, có thể kể đến như cam non ở các tỉnh Trà Vinh, Hậu Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp; cau non ở các tỉnh như Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh
Trang 39Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
và điểm tập kết thu gom hàng là huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ; cá sấu con ở
An Giang, Bạc Liêu Đồng Tháp và cả Tp.HCM; hoa thanh long ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Trà Vinh; lá mãng cầu xiêm ở Tiền Giang, Hậu Giang và hơn thế nữa Con số 11 mặt hàng được tìm mua trên khắp 13 tỉnh thành của vùng ĐBSCL thời gian qua đã làm cho dư luận không khỏi không quan tâm, suy nghĩ
Nhìn chung, tuy các hàng hóa nông sản lạ được tìm mua rất nhiều chủng loại và
“lạ” nhưng có một điểm chung là cách thức thu mua không ổn định giống nhau Lúc đầu thương lái Trung Quốc đưa ra giá cao và mua với số lượng lớn khiến người dân ồ
ạt khai thác, thu gom hàng… Thế nên khi thương lái Trung Quốc ngừng mua thì cả người dân và thương lái trong nước đều không biết làm gì với nông sản đó Việc ngừng mua đột ngột làm thương lái trong nước lao đao vì hàng lỡ mua không biết bán cho ai Người nông dân đã lỡ thu hoạch hàng hóa không bán được hàng Do điều kiện kinh tế khó khăn và thiếu thông tin nên không ít người nông dân phải gánh chịu tổn thất lớn về kinh tế, cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong khi đó chính quyền địa phương lúng túng không biết phải xử lý như thế nào nên chỉ khuyến cáo bà con cẩn trọng
Tình hình diễn biến trong thời gian qua đã đặt ra những ý kiến trái chiều về hiện tượng này Các phương tiện truyền thông thì cảnh báo nguy hại đến tình hình sản xuất phát triển kinh tế nông nghiệp, môi trường bị tàn phá, nguồn nguyên liệu và tài nguyên
bị cạn kiệt, đời sống người dân bị ảnh hưởng… Nhưng lại có ý kiến cho rằng việc họ mua những hàng hóa nông sản lạ vốn không có giá trị kinh tế sẽ giúp nông dân có thêm nguồn thu nhập để cải thiện cuộc sống Việc thương lái Trung Quốc thu mua những sản phẩm này là bình thường vì nhu cầu thực sự Có thể họ biết công dụng của sản phẩm mà chúng ta trước giờ vẫn bỏ đi Tuy nhiên, những ý kiến trái chiều này vẫn
là thiểu số và chưa được quan tâm
Từ đó, nhu cầu cần nghiên cứu hiện tượng này một cách khoa học nhằm giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng từ nhiều góc độ khác nhau Không chỉ từ báo chí phản ánh mà còn từ phía các chuyên gia và những người trong cuộc liên quan đến các thương vụ mua bán mặt hàng nông sản lạ này như thương lái trong nước, nông dân và chính quyền địa phương Bên cạnh đó, nếu chúng ta không nghiên cứu vấn đề một cách khoa học thì hiện tượng sẽ này mãi là hiện tượng lạ đối với chúng ta và không lạ đối với người khác
Trang 40Chương 3: Tổng quan hiện tượng thu mua nông sản lạ qua phương tiện truyền thông
3.3 Tiểu kết
Nội dung tổng quan thu thập từ các phương tiện truyền thông đã cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh về hiện tượng thu mua nông sản lạ đã và đang diễn ra trong thời gian qua Với chức năng của mình các phương tiện truyền thông đã truyền tải thông tin về hiện tượng đến quần chúng Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện hơn về một hiện tượng đã và đang tác động đến kinh tế xã hội cần phải đánh giá từ nhiều phương diện Ngoài phản ánh của báo chí, nghiên cứu này đi sâu phân tích vấn đề từ góc nhìn của các chuyên gia và nhất là từ những người trong cuộc hoặc những chủ thể liên quan Bởi vì chỉ khi nào chúng ta có cái nhìn đúng về một hiện tượng thì mới có thể có biện pháp hiệu quả và phù hợp Chương tiếp theo sẽ đi sâu phân tích hiện tượng thu mua nông sản lạ đối với một số mặt hàng đã được thu mua gần đây ở một số tỉnh
thành vùng ĐBSCL