TÓM TẮT Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và khoa học, đề tài nghiên cứu “Những nguyên nhân khiến nông dân từ chối áp dụng công nghệ vào canh tác cây cao su tiểu điền tại huyện Bàu Bàng, tỉ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HỒ CHÍ MINH
- TRỊNH DUY KHÁNH
NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHIẾN NÔNG DÂN TỪ CHỐI ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ VÀO CANH TÁC CÂY CAO SU TIỂU ĐIỀN TẠI
HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số chuyên ngành: 60 03 01 0
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Minh Đức
TP.Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2TÓM TẮT
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và khoa học, đề tài nghiên cứu “Những nguyên nhân khiến nông dân từ chối áp dụng công nghệ vào canh tác cây cao su tiểu điền tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương” được thực hiện với mục tiêu tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người nông dân trồng cao su tại Huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương thường không áp dụng đúng công nghệ được khuyến cáo từ các nhà khoa học vào quá trình canh tác, những nguyên nhân đó đã tác động đến quyết định của người dân như thế nào
Thông qua khảo sát bằng bảng hỏi cùng và phỏng vấn sâu với 150 hộ trồng cao su tiểu điền không áp dụng chính xác công nghệ để thu thập các thông tin liên quan Sử dụng hai phương pháp phân tích chính bao gồm phương pháp định lượng bằng phân tích nhân tố khám phá để kiểm định, rút gọn các nhân tố đề xuất và phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn sâu để chỉ ra mối liên hệ trên thực tế giữa các nguyên nhân với vấn đề từ chối áp dụng công nghệ của người dân
Sau khi sử lý, phân tích các kết quả điều tra, kết quả cho thấy những nguyên nhân khiến người nông dân trồng cao su tiểu điền tại huyên Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương từ chối áp dụng công nghệ vào canh tác bao gồm: hạn chế trong khả năng tiếp cận thông tin, hạn chế về nhận thức, hạn chế về trình độ nhân công và do thiếu khả năng kinh tế
Kết quả cho thấy người nông dân phần đông là thiếu thông tin, thiếu hiểu biết và thiếu người hướng dẫn về công nghệ dẫn đến việc không thể áp dụng chính xác công nghệ vào canh tác
Quá trình ra quyết định áp dụng công nghệ là một quá trình tâm lý dựa trên các đánh giá chủ quan của người nông dân vì vậy mà yếu tố nhận thức cũng đóng một vai trò quan trọng
Trang 3Không chỉ trong việc ra quyết áp dụng hay không áp dụng công nghệ, mà
cả trong việc chủ động tiếp cận thông tin và ý thức nâng cao trình độ tay nghề thì hạn chế về nhận thức cũng là một trở ngại khó vượt qua của người nông dân
Nhiều thông tin về công nghệ được người nông dân tiếp cận rất tốt, và nhận thức rõ sự cần thiết phải áp dụng vào việc canh tác cây cao su của mình, nhưng vì trình độ quản lý, trình độ tay nghề không tương xứng đã dẫn đến việc áp dụng sai hoặc chấp nhận từ bỏ không áp dụng vào canh tác Nông dân là một đối tượng luôn bị hạn hẹp về khả năng kinh tế, chính
vì thế mọi hoạt động của họ luôn bị rào cản này chi phối, đặc biệt là rào cản
về vốn Người nông dân dù mong muốn nâng cao mức độ áp dụng công nghệ vào canh tác nhưng không có nguồn vốn để chi trả cho các đầu vào của công nghệ, cũng như chịu áp lực về giá cả đầu ra và chi tiêu của gia đình đã phải chấp nhận từ bỏ công nghệ
Dựa kết quả nghiên cứu những giải pháp đề ra bao gồm: Giải pháp hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin khoa học, công nghệ; Giải pháp giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân; Giải pháp đào tạo, dạy nghề nâng cao trình độ tay nghề cho nhân công; Giải pháp hỗ trợ về kinh tế, tài chính cho công nghệ; Giải pháp nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực cao su tiều điền
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa 1
Lời cam đoan 2
Lời cảm ơn 3
Tóm tắt 4
Mục lục 6
Danh mục hình và đồ thị 10
Danh mục bảng 11
Danh mục từ viết tắt 14
Chương 1: GIỚI THIỆU 15
1.1 Cơ sở hình thành luận văn 15
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 16
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 17
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu 18
1.6 Bố cục nghiên cứu 19
Chương 2: CƠ SỞ TỔNG QUAN CỦA NGHIÊN CỨU 20
2.1 Các khái niệm liên quan 20
2.1.1 Khái niệm nông nghiệp 20
2.1.2 Định nghĩa nông hộ 21
2.1.3 Định nghĩa về cao su tiểu điền 21
2.1.4 Định nghĩa công nghệ 22
2.1.5 Khái niệm áp dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp 23
2.2 Các lý thuyết về ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp 25
2.2.1 Sự cần thiết của áp dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp 25
2.2.2 Mô hình ra quyết định áp dụng công nghệ vào sản xuất 26
2.2.3 Sự bất hợp tác của nông dân đối với việc áp dụng công nghệ 28
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước 33
2.3.1 Nghiên cứu trong nước 33
2.3.2 Nghiên cứu nước ngoài 34
Trang 52.3.3 So sánh đề tài nghiên cứu với các nghiên cứu trước 35
2.4 Mô hình hình nghiên cứu 36
2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 36
2.4.2 Diễn giải các khái niệm trong mô hình đề xuất 37
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
3.1 Phương pháp nghiên cứu 41
3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ 41
3.1.2 Nghiên cứu chính thức 43
3.2 Thiết kế bảng hỏi 43
3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 44
3.4 Biến quan sát và thang đo 45
3.4.1 Thang đo “Nguyên nhân từ chối áp dụng công nghệ” 46
3.4.2 Thang đo “Nhân tố từ chối áp dụng công nghệ” 50
3.4.3 So sánh các biến quan sát với các nghiên cứu trước 52
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 55
4.1 Thực trạng áp dụng công nghệ trong canh tác cây cao su tiểu điền tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương 55
4.1.1 Đặc điểm của vườn cây 55
4.1.1.1 Vườn cây kiến thiết 55
4.1.1.2 Vườn cây thời kỳ kinh doanh 55
4.1.2 Thực trạng áp dụng công nghệ 56
4.1.2.1 Vườn cây thời kỳ kiến thiết 56
4.1.2.2 Vườn cây thời kỳ kinh doanh 58
4.2 Những nguyên nhân khiến người nông dân từ chối áp dụng công nghệ 61
4.2.1 Phân tích mô tả biến quan sát 61
4.2.2 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 65
4.2.2.1 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo “Khả năng tiếp cận thông tin” 65
4.2.2.2 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo “vấn đề nhận thức” 66
Trang 64.2.2.3 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo “Vấn đề
hiện trạng” 66
4.2.2.4 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo “Vấn đề trình độ nhân công” 68
4.2.2.5 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo “Vấn đề kinh tế” 68
4.2.2.6 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo “Tính phù hợp của công nghệ” 69
4.2.2.7 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo “quyết định từ chối áp dụng công nghệ” 70
4.2.3 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 71
4.2.3 Đánh giá thang đo “Nguyên nhân từ chối áp dụng công nghệ” bằng EFA 71
4.2.3.2 Đánh giá thang đo “Quyết định từ chối áp dụng công nghệ” bằng EFA 75
4.3 Phân tích tương quan 76
4.4 Thảo luận về các nhân tố thu được 79
4.4.1 Khả năng tiếp cận thông tin 79
4.4.2 Vấn đề trình độ nhân công 81
4.4.3 Vấn đề nhận thức 83
4.4.4 Vấn đề kinh tế 84
4.5 Kết quả nghiên cứu 86
4.5.1 Kết quả nghiên cứu 86
4.5.2 So sánh kết quả nghiên cứu với lý thuyết và nghiên cứu trước 89
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 92
5.1 Kết luận 92
5.2 Đề xuất giải pháp 93
5.2.1 Giải pháp hỗ trợ thông tin, và tư vấn tìm kiếm, lựa chọn công nghệ 93
5.2.2 Giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền, vận động người nông dân coi trọng áp dụng khoa học công nghệ vào canh tác 94
Trang 75.2.3 Giải pháp về đào tạo nhân lực 95
5.2.4 Giải pháp hạ giá thành công nghệ và hỗ trợ tiếp cận vốn 96
5.2.5 Giải pháp quản lý nhà nước đối với lĩnh vực cao su tiểu điền 97
5.3 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài 98
5.3.1 Hạn chế 98
5.3.2 Hướng phát triển tiếp theo của đề tài 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤLỤC 103
Phụ lục 1: Dàn bài nghiên cứu sơ bộ 103
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi 107
Phụ lục 3: Kết quả kiểm định chất lượng các thang đo 117
Phụ lục 4: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 121
Phụ lục 5: Kết quả phân tích tương quan giữa nhân tố phụ thuộc và các nhân tố độc lập qua hệ số Pearson Correlation 125
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Trang Hình 2.1 Quá trình ra quyết định áp dụng công nghệ vào sản xuất 28 Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 37
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1 : Các nhân tố anh hưởng tới việc từ chối áp dụng công
nghệ của nông hộ trồng cao su tại Malysia 34
Bảng 2.2: Các khái niệm được đề xuất trong mô hình 38
Bảng 3.1: Các biến quan sát trong thang đo “khả năng tiếp cận thông tin” 46
Bảng 3.2: Các biến quan sát trong thang đo “vấn đề nhận thức” 47
Bảng 3.3: Các biến quan sát trong thang đo “vấn đề hiện trạng” 47
Bảng 3.4: Các biến quan sát trong thang đo “vấn đề trình độ nhân công” 48
Bảng 3.5: Các biến quan sát trong thang đo “Vấn đề kinh tế” 49
Bảng 3.6: Các biến quan sát trong thang đo “Tính phù hợp của công nghệ” 49
Bảng 3.7: Các biến quan sát trong thang đo “Từ chối áp dụng công nghệ” 51
Bảng 3.8: So sánh các biến quan sát với các nghiên cứu trước 52
Bảng 4.1: Đặc điểm vườn cây thời kỳ kiến thiết 55
Bảng 4.2: Đặc điểm vườn cây thời kỳ kinh doanh 56
Bảng 4.3: Thực trạng áp dụng công nghệ thời kỳ kiến thiết 57
Bảng 4.4: Thực trạng áp dụng công nghệ thời kỳ kinh doanh 59
Bảng 4.5: Thống kê mô tả các biến quan sát 61
Bảng 4.6: Hệ số Cronbach’s Alpha nhân tố “khả năng tiếp cận thông tin” 65
Bảng 4.7: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi loại trừ biến của nhân tố “khả năng tiếp cận thông tin” 65
Bảng 4.8: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “Vấn đề nhận thức” 66
Bảng 4.9: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi loại trừ biến của nhân tố “Vấn đề nhận thức” 66
Bảng 4.10: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “Vấn đề hiện trạng” 66
Trang 1012
DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 4.11: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi
loại trừ biến của nhân tố “Vấn đề hiện trạng” 67 Bảng 4.12: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “Vấn đề hiện
trạng” kiểm định lần 2 67 Bảng 4.13: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi
loại trừ biến của nhân tố “Vấn đề hiện trạng” kiểm định lần 2 67 Bảng 4.14: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “Vấn đề trình độ
nhân công” 68 Bảng 4.15: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi
loại trừ biến của nhân tố “Vấn đề trình độ nhân công” 68 Bảng 4.16: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “Vấn đề kinh tế” 68 Bảng 4.17: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi
loại trừ biến của nhân tố “Vấn đề kinh tế” 69 Bảng 4.18: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “Tính phù hợp
của công nghệ” 69 Bảng 4.19: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi
loại trừ biến của nhân tố “Tính phù hợp của công nghệ” 69 Bảng 4.20: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “Tính phù hợp
của công nghệ” kiểm định lần thứ 2 70 Bảng 4.21: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi
loại trừ biến của nhân tố “Tính phù hợp của công nghệ” kiểm
định lần thứ 2 70 Bảng 4.22: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố “quyết định từ
chối áp dụng công nghệ” 70 Bảng 4.23: Hệ số tương quan biến tổng và Cronbach’s Alpha khi
loại trừ biến của nhân tố “Quyết định từ chối áp dụng công
nghệ” 71 Bảng 4.24: Hệ số KMO của các nhân tố “Nguyên nhân từ chối áp
dụng công nghệ” 71
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 4.25: Hệ số Eigenvalues và phương sai trích của các nhân tố
“Nguyên nhân từ chối áp dụng công nghệ” 72 Bảng 4.26: Hệ số hệ số tải nhân tố của các biến thuộc các nhân tố
“Nguyên nhân từ chối áp dụng công nghệ” 72 Bảng 4.27: Hệ số KMO của các nhân tố “Nguyên nhân từ chối áp
dụng công nghệ” khi kiểm định lần 2 73 Bảng 4.28: Hệ số Eigenvalues và phương sai trích của các nhân tố
“Nguyên nhân từ chối áp dụng công nghệ” sau khi kiểm định
KMO lần 2 73 Bảng 3.29: Hệ số hệ số tải nhân tố của các biến thuộc các nhân tố
“Nguyên nhân từ chối áp dụng công nghệ” sau khi thực hiện
xoay nhân tố lần 2 74 Bảng 4.30: Bảng 4.30: Hệ số KMO nhân tố “Quyết định từ chối
áp dụng công nghệ” 75 Bảng 4.31: Hệ số Eigenvalues và phương sai trích của nhân tố
“Quyết định từ chối áp dụng công nghệ” 75 Bảng 4.32: hệ số tải nhân tố của các biến thuộc nhân tố “Quyết
định từ chối áp dụng công nghệ” 75 Bảng 4.33: Hệ số tương quan của nhân tố “Quyết định từ chối áp
dụng công nghệ” với các nhân tố “Nguyên nhân từ chối áp dụng
công nghệ” 76
Bảng 4.34: Nhân tố “Quyết định từ chối áp dụng công nghệ” và
các biến quan sát được chấp nhận sau khi phân tích nhân tố 77 Bảng 4.35: Nhân tố “Nguyên nhân từ chối áp dụng công nghệ” và biến quan sát được chấp nhận sau khi phân tích nhân tố 78 Bảng 4.36: so sánh kết quả nghiên cứu với cơ sở lý thuyết và kết quả các nghiên cứu trước 89
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ANRPC : Association of Natural Rubber Producing Countries
VRG : Vietnam Rubber Group
ESCAP : Economic and Social Commission for Asia and the Pacific EFA : Exploratory factor analyses
RRIV : Rubber Research Institute Vietnam
Trang 13Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Cơ sở hình thành luận văn
Cây cao su có tên thật là cây Hêvê mọc dọc theo lưu vực sông Amazon
ở Nam Mỹ và các khu vực kế cận Năm 1840 hạt cao su được lấy từ khu vực Amazon về Anh để ươm giống và trồng tại các nước Nam Á Năm
1897 cây cao su được du nhập vào Việt Nam Trải qua hơn 100 năm phát triển, hiện nay cây cao su đã trở thành một loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao Sản phẩm chính của cây cao su là mủ cao su, được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào quan trọng nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành giao thông vận tải Sản phẩm mủ cao su còn là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng đem lại nguồn thu lớn cho đất nước Bên cạnh đó các sản phẩm phụ của cây cao su như hạt cao su dùng chiết xuất tinh dầu, thân cây phục
vụ ngành công nghiệp giấy, bao bì, gỗ mỹ nghệ…Có thể thấy cây cao su có một vị trí quan trọng trong danh sách các cây trồng mang lại hiệu quả kinh
tế cho người dân và đất nước khi được canh tác và khai thác một cách hiệu quả
Theo thống kê của Hiệp hội các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC) và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) trích bởi Ngô Kinh Luân (2013), tính tới cuối năm 2012 sản lượng khai thác của Việt Nam đạt 863.600 tấn, xếp hạng thứ 5 thế giới Đồng thời Việt Nam xếp hạng thứ 4 thế giới về sản lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên (1,02 triệu tấn năm 2012) và đứng thứ 2 thế giới về năng suất khai thác cao su Xét trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam thì Bình Dương là tỉnh có diện tích trồng cao su lớn thứ 2, hiện nay có khoảng trên 130.000 ha, tương ứng 18% diện tích cả nước trong đó có khoảng 80.000 ha cao su tiểu điền Vì vậy việc nghiên cứu về cây cao su tiểu điền tại Bình Dương với trường hợp cụ thể là huyện Bàu Bàng sẽ có ý nghĩa trong việc giúp chính quyền địa phương đưa
ra những chính sách có hiệu quả trong việc hỗ trợ phát triển loại cây trồng chủ lực của địa phương
Trang 14Bàu Bàng là một huyện mới được thành lập từ việc tách ra từ huyện Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương, Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp huyện thì Bàu Bàng hiện có diện tích trồng cao su khoảng 16.740 ha, trong
đó diện tích cao su tiểu điền chiếm trên 80% Các vườn cao su tiểu điền trong huyện được trồng chủ yếu trong giai đoạn đầu của phong trào trồng cao su của người dân tại Bình Dương Do trồng theo phong trào, người trồng chưa được tập huấn, thiếu các kiến thức về cây cao su nên nguồn giống, khâu kiến thiết cơ bản, chăm sóc và khai thác vườn cây bị hạn chế Tất cả các mặt hạn chế trên đã làm cho năng suất vườn cây tiểu điền thấp, hàm lượng mủ thấp dẫn tới giá thành thu mua tại các nhà máy không cao, tuổi thọ trung bình của vườn cây ngắn hơn so với tiêu chuẩn, có nhiều vườn cây người nông dân chưa kịp thu hồi vốn đầu tư đã phải thanh lý Mặc dù nhận thấy thực trạng về việc áp dụng kiến thức khoa học, công nghệ vào canh tác cây cao su chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn đề ra nhưng hiện nay chưa có những công trình nghiên cứu nhằm xác định cụ thể những nguyên nhân của việc kém áp dụng kiến thức khoa học, công nghệ là gì Xuất phát từ những đòi hỏi thực tế đó mà tác giả nhận thấy cần thiết
phải thực hiện đề tài nghiên cứu “Những nguyên nhân khiến nông dân từ chối áp dụng công nghệ vào canh tác cây cao su tiểu điền tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương” để từ đó đưa ra những giải pháp tham mưu cho
chính quyền nhằm giúp người nông dân tại địa phương nâng cao mức độ áp dụng công nghệ vào trồng và khai thác cây cao su
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu chung của nghiên cứu này là xác định những nguyên nhân khiến người nông dân từ chối áp dụng công nghệ vào trồng và khai thác cây cao su tiểu điền tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
Trang 153/ Một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao mức độ và hiệu quả của việc
áp dụng công nghệ vào canh tác cây cao su tiểu điền
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời ba câu hỏi sau:
1/ Thực trạng của việc từ chối áp dụng công nghệ vào trồng và khai thác cây cao su tiểu điền tại huyện Bàu Bàng hiện nay như thế nào?
2/ Những nguyên nhân nào làm cho người nông dân từ chối áp dụng công nghệ vào trồng và khai thác cây cao su?
3/ Từ những nguyên nhân này có thể rút ra được nhữ giải pháp gì để khắc phục tình trạng từ chối áp dụng công nghệ vào trồng và khai thác cây cao su?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Là các hộ trồng cao su tiểu điền tại huyện Bàu Bàng, các hộ này không
áp dụng đúng các kỹ thuật trong công nghệ canh tác cao su đã được Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV) và Tổng Công ty Cao su Việt Nam (nay là VRG), nghiên cứu và khuyến nghị trong tài liệu “Quy trình kỹ thuật cây cao su”
Các hộ trồng cao su được chia thành hai loại: Một là những hộ trồng cao su trong giai đoạn chưa trưởng thành hay còn gọi là giai đoạn kiến thiết
cơ bản (cây chưa tới 7 tuổi), hai là những hộ trồng cao su trong giai đoạn trưởng thành hay còn gọi là giai đoạn kinh doanh (cây từ 7 năm tuổi) Lý
do của việc phân chia nhóm như vậy là vì công nghệ cho từng giai đoạn
Trang 16của cây cao su có những kỹ thuật mang tính đặc thù riêng Ví dụ, kỹ thuật đào hố trồng sâu hoặc kỹ thuật kiểm soát tỉa cành chỉ áp dụng với giai đoạn kiến thiết cơ bản, trong khi quy trình dùng thuốc kích thích năng suất và kỹ thuật cạo xấp chỉ áp dụng trong giai đoạn cao su kinh doanh
Phạm vi nghiên cứu:
- 7 xã của huyện Bàu Bàng gồm: Lai Uyên, Long Nguyên, Lai Hưng, Trừ Văn Thố, Cây Trường II, Tân Hưng và Hưng Hòa
- Số mẫu điều tra khảo sát: 150 hộ
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 06/2014 đến tháng 12/2014
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này có những ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
Về mặt khoa học: Tổng hợp, hệ thống hóa và áp dụng các lý thuyết có
liên quan nhằm tìm ra nguyên nhân của thực trạng kém áp dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, với trường hợp cụ thể là cây cao su tiểu điền tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
Về mặt thực tiễn: Đề tài mang lại một số ý nghĩa thực tiễn cho những
người làm công tác quản lý ngành nông nghiệp tại địa phương Đề tài sẽ cho kết quả mới, bổ sung cho các công trình nghiên cứu trước đó, đồng thời làm cơ sở để địa phương quy hoạch phát triển, đề ra chiến lược hỗ trợ nông dân đưa khoa học, công nghệ vào canh tác, tăng tuổi thọ, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho vườn cây Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi giá
mủ cao su đang xuống thấp, người nông dân tại địa phương có xu hướng thanh lý và tái kiến thiết vườn cây nhằm đón đầu xu thế tăng giá của thị trường trong tương lai, thì ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong việc giúp người nông dân tăng khả năng tiếp cận khoa học công nghệ, khắc phục các rủi ro và bất cập trong tương lại càng được cũng cố
Trang 171.6 Bố cục nghiên cứu
Nghiên cứu được bố cục theo 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu: Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, những điểm nổi bật của luận văn và bố cụ nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở tổng quan của nghiên cứu: Trình bày khái niệm, các
mô hình các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu và các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: trình bày các phương pháp được
sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài
Chương 4: Kết quả và thảo luận: Mô tả phân tích thống kê dữ liệu
nghiên cứu, kết quả phân tích của mô hình kinh tế lượng
Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp: Trình bày tóm tắt kết quả
nghiên cứu được tìm ra, gợi ý một số chính sách Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài trong tương lai
Trang 18Chương 2: CƠ SỞ TỔNG QUAN CỦA NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm nông nghiệp
Theo Đinh Phi Hổ (2011) cho rằng nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi gia súc, gia cầm… Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản, công nghệ sau thu hoạch…
Trong nông nghiệp có hai loại chính: Thứ nhất, đó là nông nghiệp thuần nông tức là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, không có sự
cơ giới hóa trong sản xuất, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Thứ hai, nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Ngày nay, nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, nó không những tạo ra các sản phẩm lương thực, thực phẩm phục vụ cho con người mà còn tạo ra các loại khác như: sợi dệt, chất đốt, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học, lai tạo giống
Tóm lại: Nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản của xã hội, sử dụng
nguồn lực đất đai và lao động để trồng trọt, chăn nuôi, khai thác cây trồng, vật nuôi làm nguyên liệu chủ yếu tạo ra lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản, theo một khía cạnh rộng hơn thì nó có thể bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản
Trang 192.1.2 Khái niệm nông hộ
Nông hộ là một khái niệm khá phổ biến tại Việt Nam, có khá nhiều cách định nghĩa về nông hộ, nhưng nhìn chung nó liên quan tới ba vấn đề gồm
hộ gia đình, khu vực nông thôn và hoạt động nông nghiệp
Lê Đình Thắng (1993), cho rằng nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn Nông hộ hoạt động chủ yều trong lĩnh vực nông nghiệp theo phạm vi rộng hơn trồng trọt,
nó bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và một số nghề phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn (Đào Thế Tuấn, 1997) Nông hộ có toàn bộ hoặc ít nhất là 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp trong các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, các dịch vụ nông nghiệp và thông thường nguồn sống chính dựa vào nông nghiệp (Nguyễn Sinh Cúc, 2001)
Tóm lại: Từ các định nghĩa trên có thể hiểu nông hộ chủ yếu là các hộ
gia đình sống ở khu vực nông thôn, làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hoặc các dịch vụ liên quan tới nông nghiệp và nguồn thu nhập chính của hộ là từ nông nghiệp
2.1.3 Khái niệm cao su tiểu điền
Trong ngành cao su Việt Nam và trên thế giới có nhiều hình thức trồng khác nhau Xét trên quy mô diện tích thì thường dùng thuật ngữ cao su đại điền, cao su trung điền hay cao su tiểu điền Tuy nhiên cho đến nay ở Việt nam vẫn chưa có một tài liệu hay một văn bản chính thức nào quy định rõ
về quy mô và diện tích để xác định là cao su tiểu điền, trung điền hay đại điền Trong các nghiên cứu khác nhau về cây cao su, tuỳ vào mục đích cụ thể mà các tác giả sẽ thừa nhận hoặc đưa ra một định nghĩa về cao su tiểu điền
Vào thời kỳ đầu đưa cây cao su vào thực nghiệm tại Đông Dương và Việt Nam, người Pháp đã phân loại các cơ sở sản xuất cao su thành 3 loại gồm đại điền hay còn gọi là đồn điền có diện tích trên 500ha; loại đồn điền
Trang 20vừa hay còn gọi là trung điền có diện tích từ 100 đến 499ha; loại tiểu điền
là những cơ sở sản xuất nhỏ hơn 99ha
Theo Lê Thị Huyền Anh (2012) định nghĩa cao su tiểu điền là cao su
có quy mô diện tích nhỏ, phân tán từ một đến vài chục ha, thuộc sở hữu của nông dân, do nông dân tự bỏ vốn ra đầu tư hoặc do các tổ chức cho nông dân vay vốn phát triển cao su
Theo Bùi Đình Đức (2008, trang 9) định nghĩa “các dự án cao su tiểu điền là những dự án sản xuất cao su của hộ dân có diện tích không quá 10ha”
Theo quan sát của tác giả, tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương thì diện tích cao su của các hộ dân từ 0,5ha cho đến 50ha, trong đó phần lớn là
từ 0,5ha đến dưới 10ha, vì vậy trong nghiên cứu này sẽ thừa nhận cách định nghĩa cao su tiểu điền là vườn cao su của nông hộ có diện tích không quá 10ha Đặc điểm của cây cao su là rất khó trồng với một diện tích nhỏ, khoảng 450 đến 500 cây/1ha vì vậy những hộ trồng dưới 0,5ha sẽ không nằm trong đối tượng nghiên cứu do khả năng áp dụng công nghệ chắc chắn
là không thể
2.1.4 Khái niệm công nghệ
Ở Việt Nam, cho đến nay công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất hoặc là thiết bị để thực hiện một công việc,
do đó công nghệ thường gắn với các thuật ngữ như: quy trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ Mặc dù đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa công nghệ lại chưa
có sự thống nhất
Hiện nay các tổ chức quốc tế về khoa học chủ yếu khái quát công nghệ qua các khía cạnh là: “công nghệ là máy biến đổi”; “công nghệ là một công
cụ”; “công nghệ là kiến thức” Trong đó khía cạnh kiến thức có tính bao
quát hơn cả Nó bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thể, các máy
Trang 21móc, phải nhìn thấy được Đặc trưng kiến thức khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhấn mạnh rằng kết quả
do công nghệ mang lại phụ thuộc vào khả năng áp dụng của từng trường hợp cụ thể Vì vậy, trong nghiên cứu này sẽ thừa nhận định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương -
ESCAP; trích bởi Phan Tú Anh (2006, trang 4), đưa ra: “Công nghệ là kiến
thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”
Như vậy công nghệ chính là trạng thái hiện tại của kiến thức của con người trong việc làm thế nào để tạo được những đầu ra mong muốn và công nghệ có thể thay đổi khi kiến thức con người thay đổi
Trong lĩnh vực canh tác cây cao su tại Việt Nam có thể hiểu công nghệ
là quy trình kỹ thuật tiêu chuẩn đã được nghiên cứu và khuyến cáo một cách chính thức bởi những nhà khoa học trong lĩnh vực cao su
2.1.5 Khái niệm áp dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
Dựa vào những quan điểm về công nghệ, và cách định nghĩa công nghệ
mà có rất nhiều quan điểm về áp dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp (gọi tắt là áp dụng công nghệ) như: quan điểm xem áp dụng công nghệ là chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào quá trình sản xuất, quan điểm xem áp dụng công nghệ là cơ giới hoá bằng máy móc và phương tiện tân tiến, hoặc quan điểm cho rằng áp dụng công nghệ gắn với công nghệ mới và công nghệ sinh học trong nông nghiệp
Theo Ngô Anh Thư (2003) cho rằng áp dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp có thể được xem xét qua hai góc độ:
Thứ nhất, dưới góc độ là một mối quan hệ kinh tế thì sản xuất nông
nghiệp là sự tiếp nối liên tiếp các khâu như chọn giống, làm giống, làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch Vì vậy áp dụng công nghệ vào sản xuất là
Trang 22một quá trình tiếp nối liên tục như chuỗi dây chuyền trong suốt quá trình sản xuất công nghiệp Việc áp dụng đó được thực hiện ở từng khâu trong cả quá trình sản xuất một cách tương xứng và đồng bộ về trình độ, để từ đó cho ra sản phẩm cuối cùng có chất lượng tốt nhất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Thứ hai, là dưới góc độ kỹ thuật thì áp dụng công nghệ là: Áp dụng về
vật tư kỹ thuật cho sản xuất như giống, phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc…; Áp dụng về quy trình kỹ thuật và biện pháp kỹ thuật, giúp hình thành nên các tiêu chuẩn kỹ thuật trong các khâu của quy trình sản xuất; Áp dụng mô hình tổ chức quản lý như điều phối vật tư, phân bổ nhân công, quản lý sản phẩm…để làm cho quá trình sản xuất đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn
Từ hai góc độ trên, cộng với định nghĩa công nghệ được trình bày ở trên, trong phạm vi nghiên cứu này có thể hiểu rằng áp dụng công nghệ trong canh tác cao su tiểu điền là áp dụng đúng kiến thức khoa học đã được khẳng định tính đúng đắn vào mọi khâu của quá trình canh tác Quá trình
áp dụng đó được thực hiện bằng cách kết hợp ba yếu tố: Một là vật tư sản xuất gồm giống, phân bón, thuốc hoá học, máy móc; Hai là quy trình kỹ thuật gồm thiết kế, gieo trồng, bón phân, làm cỏ, cạo mủ; Ba là mô hình quản lý của nông hộ gồm quản lý vật tư đầu vào, quản lý đầu ra, quản lý nhân công nhằm mục đích tạo ra sản phẩm là mủ cao su với các đặc điểm kinh tế và kỹ thuật tốt nhất có thể Nếu một vườn cây chỉ áp dụng theo đúng khoa học, kỹ thuật trong một bước của quá trình canh tác mà bỏ qua một hay nhiều bước khác thì được xem là đã từ chối áp dụng công nghệ Ví
dụ, nếu một nông hộ A tuân thủ việc cạo mủ theo đúng chế độ để bảo vệ cây, nhưng lại lạm dụng bôi thuốc kích thích để tăng sản lượng trong một nhát cạo thì được xem là từ chối áp dụng công nghệ
Trang 232.2 Các lý thuyết về ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
2.2.1 Sự cần thiết của áp dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
Kaldor (1957) cho rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ Trong nông nghiệp, nhất là những nước đang phát triển, cần chú ý phát triển kỹ thuật, đưa phương tiện cơ giới hóa vào canh tác để tăng năng suất, hiệu quả kinh tế
Hayami và Ruttan (1971) cho rằng đối với nông nghiệp, theo thời gian hai nguồn lực là lao động và đất đai thường trở nên khan hiếm làm cho giá
cả của chúng tăng lên, so với các nguồn lực khác Vì vậy việc tìm kiếm và kết hợp các công nghệ tiết kiệm lao động với các công nghệ giúp tiết kiệm đất đai là một yêu cầu quan trọng
Phạm Quang Trí (2013) cho rằng sự cần thiết phải áp dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp là do: Thứ nhất, là do nhu cầu của xã hội đối với hàng hoá ngày càng tăng về số lượng, đa dạng về chủng loại và yêu cầu nghiêm ngặt hơn về chất lượng Thứ hai, là do nhu cầu nâng cao giá trị sản phẩm, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, yêu cầu của một nền nông nghiệp hiện đại, quan tâm tới vấn đề khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường Thứ ba, là do các yếu tố khác như thị trường, cạnh tranh quốc tế, mặt bằng công nghệ,…
Theo Nguyễn Thị Hường (2013) thì việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất để nâng cao hiệu quả và giá trị của các sản phẩm nông nghiệp là rất cần thiết bởi những lý lo: Thứ nhất, mô hình phát triển nông nghiệp theo chiều rộng trước đây là dựa vào mở rộng khai thác các điều kiện đất, nước và lợi thế khí hậu để tăng quy mô sản lượng cây trồng và vật nuôi không còn phù hợp, đòi hỏi phải chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu dựa vào ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để tăng năng xuất và hiệu quả kinh tế Thứ hai, dưới tác động của biến đổi khí hậu và toàn cầu hóa đối với nông nghiệp, cần có những nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trong ngành sản xuất nông nghiệp Do vậy, phát triển
Trang 24nông nghiệp trong điều kiện hiện nay không thể theo kinh nghiệm trong quá khứ mà cần áp dụng những kiến thức khoa học, công nghệ tiên tiến vào từng giai đoạn của quá trình sản xuất nhằm tăng sản lượng và chất lượng của cây trồng vật nuôi
Tóm lại: Việc áp dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp sẽ cho
phép sản phẩm đầu ra có thể đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao của xã hội về số lượng, chủng loại và chất lượng Việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất sẽ giúp sử dụng hiệu quả các nguồn lực lao động, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tăng năng xuất trên một đơn
vị diện tích, tiết kiệm chi phí cho người nông dân thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, thân thiện môi trường và hội nhập quốc tế
2.2.2 Mô hình ra quyết định áp dụng công nghệ vào sản xuất
Việc chấp nhận hoặc từ chối một công nghệ là một quá trình phức tạp
Nó là quá trình ra quyết định và thường chịu ảnh hưởng của một kế hoạch, một chiến lược hoặc do các tác nhân bên ngoài tác động vào cũng như từ nhận thức của cá nhân hoặc tổ chức về công nghệ như thế nào Theo Rogers (1971) nhận định quá trình ra quyết định áp dụng công nghệ là một quá trình tâm lý mà thông qua đó một cá nhân, tổ chức đi từ những kiến thức đầu tiên đến việc ra quyết định áp dụng hoặc từ chối Việc áp dụng một công nghệ đòi hỏi một số sự thay đổi trong hành vi của người ra quyết định Những thay đổi này phải hài hòa với các điều kiện tại thời điểm hiện tại và nó phải giải quyết được vấn đề và nhu cầu của người ra quyết định áp dụng
Rogers mô tả sự áp dụng công nghệ là một quá trình 5 giai đoạn
Giai đoạn “Biết”: Bước đầu tiên của quá trình ra quyết định người nông dân cần có những nhận thức đầu tiên về công nghệ, họ cần được cung cấp những thông tin cơ bản về công nghệ liên quan tới lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của mình Đó có thể là tên công nghệ, hoặc khâu mà nó áp dụng vào,
Trang 25họăc là những ích lợi mà nó được cho rằng sẽ đem lại “Biết” là quá trình tiếp nhận các thông tin từ nhiều nguồn, nhiều hình thức khác nhau, nó gợi
mở những nhu cầu tìm hiểu sâu hơn về công nghệ đang được giới thiệu Giai đoạn “Quan Tâm”: Tiếp theo người nông dân sẽ bước vào giai đoạn thứ hai đó là thể hiện sự quan tâm của mình, hành động cụ thể hóa giai đoạn này đó là đi vào tìm hiểu về quy trình kỹ thuật, công cụ, tiêu chuẩn cần thiết để có thể áp dụng công nghệ vào sản xuất Quá trình này đòi hỏi phải có những tài liệu, công cụ tham khảo hiệu quả Những công cụ này có thể là các tài liệu khoa học, các chương trình hướng dẫn, thực nghiệm hoặc những chuyên gia hướng dẫn thực địa
Giai đoạn “Đánh giá”: Sau khi đã tìm hiểu và đã nắm bắt đầy đủ về mặt
kỹ thuật của công nghệ, người nông dân sẽ bước vào giai đoạn thứ ba là giai đoạn đánh giá Nó bao gồn việc đánh giá dựa trên nhận thức, thói quen canh tác, đặc điểm tâm lý của bản thân với những công nghệ mà họ đang quan tâm Tính toán về lợi ích và chi phí, các tính toán về lợi ích chi phí có thể dựa trên những phép tính về tài chính cụ thể nhưng cũng có thể bao gồm chi phi cơ hội và những kỳ vọng trong tương lai Nó bao gồm những
sự so sánh giữa những chi phí cần bỏ ra trong hiện tại và kỳ vọng về lợi ích tăng thêm trong tương lai Để vượt qua giai đoạn này người nông dân cần vượt qua được sự hoài nghi của bản thân về hiệu quả sản xuất chưa nhìn thấy được vì hiệu quả đôi khi không thể nhìn thấy ngay mà nó đòi hỏi một quá trình lâu dài
Giai đoạn “Làm thử”: Nếu họ cảm thấy đạt được kỳ vọng thì họ sẽ bước vào giai đoạn thứ tư là làm thử
Giai đoạn “Áp dụng”: Nếu thành công thì họ sẽ chính thức bước vào giai đoạn thứ năm là áp dụng công nghệ đó vào sản xuất
Theo (Jedlika, 1997; trích bởi Đinh Phi Hổ, 2008) có bổ sung một bước vào trong giai đoạn đánh giá đó là “xu hướng chấp nhận rủi ro” nó sẽ quyết định xem liệu có nên bước tiếp vào giai đoạn tiếp theo hay không Xu
Trang 26hướng chấp nhận rủi ro cũng liên quan tới sự không chắc chắn của kết quả trong tương lai, nhưng nó bao gồm việc phát hiện những rủi ro không mong muốn khi thay đổi phương thức sản xuất hiện tại bằng một công nghệ mới Khi quyết định áp dụng một công nghệ mới vào sản xuất họ thường có xu hướng chấp nhận những rủi ro nếu xảy ra, nguyên nhân là do sự mới mẽ của công nghệ và họ bị thuyết phục bởi những kỳ vọng về sự thay đổi tích cực so với hiện tại
Tóm lại: Mô hình ra quyết định áp dụng công nghệ vào sản xuất có thể
được tóm tắt và thể hiện trong hình sau:
Hình 2.1: Quá trình ra quyết định áp dụng công nghệ vào sản xuất
2.2.3 Sự bất hợp tác của nông dân đối với việc áp dụng công nghệ
Roger (1971) cho rằng để đi đến quyết định chấp nhận hay từ chối áp dụng công nghệ thì người nông dân sẽ bắt đầu từ quá trình tìm kiếm thông tin về công nghệ, sau đó là quá trình đánh giá dựa trên các đặc tính sẵn có của các công nghệ và những đặc điểm về môi trường, tâm lý, xã hội của bản thân và gia đình Theo Rogers, thông tin đầy đủ về công nghệ muốn được áp dụng trong thực tế đòi hỏi người nông dân phải chủ động tìm kiếm, hoặc được phổ biến tới ngưới nông dân từ hệ thống hỗ trợ thông tin của chính quyền Mặt khác người nông dân cần thời gian để hiểu đầy đủ công nghệ và chấp nhận tác động của nó Trong trường hợp người nông dân hiểu đầy đủ về công nghệ nhưng vẫn quyết định không áp dụng nó thì công nghệ này có thể đã được cảm nhận có các thuộc tính tiêu cực, hoặc
- Đặc điểm tâm
lý, thói quen canh tác,…
Phân tích lợi ích chi phí
- Xu hướng chấp nhận rủi
ro
THỬ ÁP DỤNG
Trang 27người nông dân không tin rằng công nghệ này sẽ giải quyết vấn đề và đáp ứng các nhu cầu của họ
Theo (Wharton, 1971; trích bởi Đinh Phi Hổ, 2008) thì việc người nông dân từ chối áp dụng công nghệ vào sản xuất bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
- Không biết hoặc không hiểu về công nghệ: Một bộ phận nông dân
có thể không biết được thông tin về các công nghệ này hoặc nếu có được thông tin thì lại không hiểu về công nghệ do một số lý do như phương pháp khuyến nông không phù hợp hoặc khả năng tiếp thu của người nông dân
- Không đủ năng lực để thực hiện: Mặc dù nông dân đã biết đến công
nghệ, nhưng để áp dụng nó đòi hỏi kiến thức và kỹ năng tương ứng với
công nghệ đó nhưng nông dân lại không có được những điều kiện này
- Không được chấp nhận về mặt tâm lý, văn hoá và xã hội: Dù nông
dân có đủ năng lực để thực hiện công nghệ mới nhưng nó lại không phù
hợp về mặt tâm lý, văn hoá, xã hội mang tính truyền thống của nông dân
- Không được thích nghi: Công nghệ mới có thể chưa được thử
nghiệm tại địa phương vì thế một sự hoài nghi về tính hiệu quả sẽ xuất hiện
vì không biết với điều kiện địa phương liệu có thể áp dụng được hay không
- Không khả thi về mặt kinh tế: Chi phí tăng lên khi bắt đầu triển
khai công ghệ mới là một trở ngại khó vượt qua, tuy rằng năng suất cũng sẽ được cải thiện Nhưng người nông dân sẽ khó chấp chận việc phải mạo hiểm để tăng chi phí sản xuất so với phương pháp truyền thống Để áp dụng công nghệ mới vào sản xuất nông dân còn gặp một rào cản đó là thiếu vốn
đầu tư
- Không sẵn có điều kiện để áp dụng: Áp dụng công nghệ tức là đòi
hỏi sử dụng một loại giống, một loại phân hoặc một loại máy móc nông cụ nào đó nhưng có thể loại giống, loại phân, loại máy móc đó không có sẵn
tại địa phương
Theo (Shaw,1987; trích bởi Phạm Quang Trí, 2013) thì quá trình áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp gắn với quá trình
Trang 28chuyển giao khoa học và công nghệ đến với thực tiễn sản xuất của nông hộ Mức độ thành công của quá trình này, hay nói cách khác là khả năng áp dụng thành công khoa học và công nghệ của người nông dân phụ thuộc vào các nhân tố:
- Nhóm nhân tố vật lý: Loại đất, địa hình, vị trí, độ dốc, thời tiết,…
- Nhóm nhân tố phân bổ nguồn lực địa phương: Cơ sở hạ tầng, máy
móc cơ khí, hoá chất, yếu tố đầu vào sinh học và lao động
- Nhóm các nhân tố mang tính hổ trợ: Tín dụng, tiếp cận thị trường,
hoạt động khuyến nông,…
- Nhóm nhân tố phi kinh tế: Văn hoá địa phương, lối sống, thói quen,
hành vi ứng xử của cư dân địa phương, thói quen tiêu dùng, thể chế địa phương,…
Trong các nhóm nhân tố trên, hai nhóm đầu chủ yều liên quan đến yếu
tố kỹ thuật, trong khi hai nhóm nhân tố sau liên quan nhiều hơn tới vấn đề
tổ chức và hành vi
Tóm Lại: Từ quá trình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến quá
trình ra quyết định áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất tác giả thấy rằng có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc người nông dân từ chối
áp dụng công nghệ vào sản xuất, nhưng tựu trung các nguyên nhân chính
có thể trình bày theo 6 nhóm nhân tố sau:
a Hạn chế khả năng tiếp cận thông tin
Trước khi quyết định áp dụng hay không áp dụng công nghệ vào sản xuất, người ra quyết định luôn phải bắt đầu từ việc tìm kiếm, tiếp cận các thông tin mà mình quan tâm thông qua nhiều nguồn, nhiều kênh khác nhau
để từ đó làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá tiếp theo Tiếp cận thông tin
là một quá trình mang tính hai chiều, một mặt phụ thuộc vào sự hiệu quả của hệ thống thông tin hỗ trợ tại địa phương, mặt khác phụ thuộc vào sự chủ động tìm kiếm của người nông dân và khả năng tiếp thu thông tin công nghệ của nông dân (Roger, 1971)
Trang 29b Do vấn đề nhận thức
Để quyết định có áp dụng hay không áp dụng công nghệ vào sản xuất, nông dân sẽ tiến hành phân tích những thông tin về các thuộc tính của công nghệ bằng cảm nhận và nhu cầu của bản thân Các phân tích này lại chịu sự chi phối của yếu tố tâm lý, văn hoá, xã hội mang tính truyền thống của nông dân (Wharton, 1971; trích bởi Đinh Phi Hổ, 2008)
Trong thực tế do hạn chế về trình độ và thói quen canh tác từ lâu, người nông dân có xu hướng tin vào kinh nghiệm thực tế, bỏ qua những công việc không gây hậu quả ngay lập tức, ưu tiên những công việc mang lại nguồn lợi ngắn hạn nhưng nhanh chóng Do đối tượng nông dân thường bị hạn chế về nguồn vốn nên thói quen tiết kiệm vốn bằng cách loại bỏ các công đoạn trong quá trình sản xuất đã ăn sâu vào cách tư duy của họ
c Do vấn đề hiện trạng (Các yếu tố vật lý)
Muốn ứng dụng được công nghệ vào canh tác đòi hỏi những đặc điểm vật lý tương ứng của mô hình kinh tế so với công nghệ đó Nhưng trong những trường hợp cụ thể nông dân lại không có được những điều kiện này
Có thể hiểu rằng nhóm nguyên nhân này dựa trên đặc điểm vật lý cụ thể của từng mô hình sản xuất, từng hộ nông nghiệp để xem xét tới khả năng
có thể áp dụng công nghệ vào sản xuất hay không Các đặc điểm này được
đề xuất như diện tích, vị trí, loại đất, loại cây…(Shaw,1987; trích bởi Phạm Quang Trí, 2013)
d Do vấn đề trình độ nhân công
Trong sản xuất con người vừa là một thành phần của công nghệ vừa là người làm chủ công nghệ Con người đóng vai trò tiếp nhận, chọn lọc, quản trị, kết hợp và vận hành các công nghệ, mọi công nghệ đều cần có một trình
độ áp dụng tương ứng để kết hợp các yếu tố đầu vào sao cho hiệu quả để tạo thành đầu ra mong muốn (Roger, 1971)
Trang 30Phan Tú Anh (2006) nhấn mạnh rằng kết quả do công nghệ mang lại phụ thuộc vào trình độ tiếp thu và khả năng áp dụng của từng trường hợp
cụ thể Trong sản xuất nói chung và trong lĩnh vực canh tác cây cao su nói riêng thì trình độ nguồn nhân lực bao gồm trình độ của nhà quản lý và trình
độ nhân công, ngoài ra nó còn liên quan tới số lượng nhân công có tay nghề
kỹ thuật và động cơ của từng đối tượng khi tham gia thực hiện quá trình sản xuất
e Do các vấn đề về kinh tế
Người nông dân khi đứng trước các lựa chọn về áp dụng công nghệ luôn luôn phải cân nhắc đến nguồn vốn để mua, thuê các đầu vào cần thiết, cần có sự phân tích về lợi ích và chi phí cũng như cân nhắc tới các rủi ro khi thực hiện đầu tư cho công nghệ Trong điều kiện thực tế người nông dân thường phải từ bỏ việc áp dụng công nghệ vào sản xuất do thiếu vốn để mua, thuê các đầu vào cần thiết (Roger, 1971) Việc thiếu khả năng phân
bổ dòng tiền hiệu quả dẫn đến không chỉ thiếu nguồn vốn dài hạn mà còn thiếu vốn mang tính thời điểm Người nông dân cũng rất dễ gặp phải những khó khăn khi tiếp cận tín dụng Ngoài ra, các nông hộ thường chịu những
áp lực về chi tiêu lớn hơn do nguồn thu nhập eo hẹp, chính điều đó khiến cho việc chi tiêu thâm hụt vào các khoản đầu tư cho sản xuất trở nên phổ biến
f Do tính phù hợp của công nghệ
Công nghệ là kết quả của kiến thức khoa học vì vậy công nghệ sẽ thay đổi theo thời gian, nó sẽ bổ sung những kỹ thuật mới hay còn gọi là những công nghệ mới và loại trừ những kỹ thuật không còn phù hợp Chính điều này sẽ tạo ra rào cản về tính phù hợp của công nghệ
Công nghệ mới có thể chưa được thử nghiệm tại địa phương Do đó một
sự hoài nghi về tính hiệu quả sẽ xuất hiện vì không biết với điều kiện địa phương thì có thể áp dụng được hay không Việc áp dụng công nghệ tức là đòi hỏi sử dụng một loại giống, một loại phân hoặc một loại máy móc nông
Trang 31cụ cụ thể nào đó nhưng có thể các loại vật tư đó không có sẵn tại địa phương (Wharton, 1971; trích bởi Đinh Phi Hổ, 2008)
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước
2.3.1 Nghiên cứu trong nước
Trong phạm vi hiểu biết của tác giả thì chưa tìm thấy đề tài nào nghiên cứu trở ngại đối với áp dụng công nghệ trong sản xuất cây cao su trên phạm
vi Việt Nam hoặc các địa phương khác Vì vậy đề tài này sẽ tham khảo một
số nghiên cứu về trở ngại đối với ứng dụng công nghệ trong sản xuất nói chung, đặc biệt là khu vực nông thôn
Nghiên cứu về những rào cản với đổi mới công nghệ tại các làng nghề
ở nông thôn tỉnh Nam Định (Nguyễn Quỳnh Trang, 2011) Bằng phương pháp phỏng vấn sâu các cơ sở, hộ sản xuất tại các làng nghề thuộc địa bàn tỉnh Nam Định đã kết luận các rào cản làm chậm quá trình đổi mới công nghệ sản xuất bao gồm: rào cản nhận thức của chủ cơ sở, rào cản về quy
mô và trình độ lao động, rào cản về nguồn vốn đầu tư cho công nghệ, rào cản về hạn chế trong khả năng tiếp cân thông tin, rào cản từ việc thiếu chính sách thúc đẩy, rào cản về sự quản lý nhà nước thiếu đồng bộ
Nghiên cứu về các rào cản đối với hoạt động áp dụng kết quả nghiên cứu trong nông nghiệp tại tỉnh Hậu Giang (Nguyễn Chí Cường, 2013) Qua kết quả điều tra, kết hợp báo cáo hoạt động khoa học công nghệ của 07 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2008 – 2012; và nhận định của 20 nhà khoa học đã thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở các huyện, thị xã, thành phố tỉnh Hậu Giang cho thấy những khó khăn, trở ngại Trong đó, trở ngại lớn nhất là thiếu cán bộ và việc bố trí chức năng quản lí nhà nước về khoa học công nghệ, hạ tầng hiện có của địa phương chưa phù hợp, ngân sách hỗ trợ việc nghiên cứu và thử nghiệm khoa học và công nghệ còn thấp, tập quán canh tác cố hữu của người dân, khả năng gắn kết giữa người dân và nhà khoa học còn thấp
Trang 32Ngoài ra trong các tài liệu nghiên cứu trong nước trước đây, đề tài còn tham khảo các quan điểm của các nghiên cứu như: quan điểm về tín dụng cho hộ sản xuất cao su tiểu điền của Bùi Đình Đức (2008), trong “nghiên cứu về tín dụng cho các hộ trồng cao su tiểu điền” Quan điểm về giải pháp phát triển cao su tiểu điền của Lê Thị Huyền Anh (2012), trong nghiên cứu
“Giải pháp phát triển cao su tiểu điền tại huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An”
2.3.2 Nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu này chủ yếu được phát triển từ nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến việc từ chối áp dụng công nghệ của các hộ nông dân trồng cao su tại Malaysia của (Sail và Muhamad, 1993) Từ việc điều tra 787 hộ gia đình canh tác cây cao su trong bán đảo Malaysia bằng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung, cho thấy các nhóm nhân tố sau có ảnh hưởng tới việc
từ chối áp dụng công nghệ của nông dân:
Bảng 2.1: Các nhân tố anh hưởng tới việc từ chối áp dụng công nghệ của nông hộ trồng cao su tại Malysia
Nhóm nhân tố về
nắm giữ thông tin
- Thiếu sự nhận biết về công nghệ
- Thiếu cơ sở hạ tầng thông tin về công nghệ
- Hoạt động khuyến nông thiếu hiệu quả
Nhóm nhân tố thái
độ của nông hộ
- Ưu tiên những công việc tốn ít lao động và thời gian
- Không quan tâm tới công nghệ
- Yêu thích kinh nghiệm
- Thái độ “chờ đợi và xem xét”
Trang 33- Quy mô vườn cây không phù hợp
- Sự phân tán của vườn cây
- Địa thế đồi núi
- Khả năng tiếp cận vườn cây
- Công nghệ không hiện hữu tại địa phương
Nhón nhân tố quyền
sở hữu
- Đất đai như nhiều chủ sở hữu
- Vườn cây cho thuê
Công nghệ không
phù hợp
- Công nghệ không thích hợp với điều kiện gia đình
- Công nghệ không phù hợp điều kiện địa phương
Nguồn: Sail và Muhamad, 1993
Ngoài ra, nghiên cứu này còn tham khảo một số luận điểm trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng các công nghệ mới của nông hộ trồng cao su ở đồng bằng sông State, Nigeria của (Olaniyi, 2010)
Có 280 hộ nông dân được tiến hành điều tra nhằm phục vụ cho nghiên cứu Bằng phương pháp thống kê mô tả, hồi quy từng bước và hồi quy logistic kết quả cho thấy quy mô vườn cây, nguồn tài chính, đất đai, kinh nghiệm canh tác và địa vị xã hội là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
2.3.3 So sánh đề tài nghiên cứu với các nghiên cứu trước
Điểm tương đồng: Đề tài nghiên cứu này và các đề tài nghiên cứu trước tương đồng ở mục tiêu nghiên cứu là tìm ra những rào cản đối với ứng dụng công nghệ vào sản xuất Đối tượng nghiên cứu là người nông dân hoặc những thành phần dân cư sống tại khu vực nông thôn Về phương pháp nghiên cứu đều có sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để thực hiện đề tài Mô hình lý thuyết của đề tài nghiên cứu này chính là sự kế thừa
có chọn lọc từ kết quả của các nghiên cứu trước ở trong nước và nước ngoài được nêu ở trên
Trang 34Điểm khác nhau: Vấn đề nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu trước là công nghệ mới còn đề tài nghiên cứu này tập trung vào vấn đề công nghệ nói chung, nó bao gồm cả công nghệ mới và những công nghệ đã được khuyến cáo từ lâu Về phạm vi nghiên cứu, đề tài này có phạm vi nhỏ hơn
so với các đề tài trước ở trong nước và nước ngoài Về phương pháp nghiên cứu, ngoài phương pháp nghiên cứu định tính thì đề tài này còn sử dụng thêm phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) làm cơ sở thống kê cho các nghiên cứu định tính
2.4 Mô hình hình nghiên cứu
2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ lý thuyết về sự bất hợp tác của nông dân đối với việc áp dụng công
nghệ dựa trên lập luận của Wharton (1971), Rogers (1971), Shaw (1987) và
nghiên cứu của Sail và Muhamad (1993) thì mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm các nhân tố như sau:
Trang 35Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất
2.4.2 Diễn giải các khái niệm trong mô hình đề xuất
Sau khi nghiên cứu lý thuyết và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước của Sail và Muhamad (1993), Nguyễn Quỳnh Trang (2011), đem so sánh với điều kiện thực tế về canh tác cây cao su tại huyện Bàu Bàng và tiến hành nghiên cứu sơ bộ, tác giả đã tiến hành loại đi một số biến được cho rằng không phù hợp với thực tế như: Địa thế đồi núi, khả năng tiếp cận của vườn cây, đất đai nhiều chủ sở hữu Tách một số biến thành các khái niệm
cụ thể hơn để phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn, hoặc đề xuất vào mô hình các biến được tác giả cho rằng có liên quan Tiếp theo là sắp xếp lại các biến theo từng nhóm nhân tố trong mô hình nghiên cứu, diễn giải bằng những khái niệm phù hợp
Tóm lại: Các nhóm nhân tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất sẽ được diễn giải và kỳ vọng các biến quan sát tương ứng được thể hiện trong bảng sau:
TÍNH PHÙ HỢP CỦA
CÔNG NGHỆ
VẤN ĐỀ HIỆN TRẠNG
Trang 36Bảng 2.2: Các khái niệm được đề xuất trong mô hình
Khái niệm Diễn giải Biến cần đo
Khả năng
tiếp cận
thông tin
Sự hạn chế về khả năng tiếp cận các thông tin về khoa học công nghệ của người nông dân dẫn đến việc không biết hoặc không hiểu rõ về công nghệ
- Không được giới thiệu, tập huấn, truyền đạt các thông tin về công nghệ
- Có được biết tới một số thông tin, nhưng không nắm rõ và hiểu cặn kẽ
- Muốn tiết kiệm thời gian để làm việc khác có thu nhập nhanh
- Muốn tiết kiệm thời gian để rút ngắn chu kỳ vườn cây
- Cố gắng tiết kiệm vốn đầu tư bằng cách cắt giảm một số quy trình
- Cảm thấy một số kỹ thuật không cần thiết phải áp dụng chính xác
- Cảm thấy kinh nghiệm bản thân trong lĩnh vực cao su rất phong phú
và đầy đủ
Vấn đề
hiện trạng
Công nghệ có tính khả thi thấp khi đem áp dụng vào thực tế của vườn cây
- Diện tích vườn cây không phù hợp
- Vị trí vườn cây không phù hợp
- Loại cây không phù hợp
Trang 37nghi và thực hiện tốt các công nghệ
- Người thực hiện không đủ trình độ
để thực hiện chính xác các yêu cầu của công nghệ
- Thiếu nhân công có tay nghề để thực hiện các công việc liên quan
- Người thực hiện có động cơ khác nên cố tình thực hiện sai các khuyến cáo
Vấn đề
kinh tế
Do những khó khăn về mặt kinh
tế khiến cho người nông dân không thể áp dụng công nghệ vào canh tác cây cao
su
- Các chi phí đầu vào của công nghệ quá mắc so với khả năng chi trả ngay tại thời điểm cần áp dụng
- Không có chuẩn bị trước một nguồn vốn đủ để chăm sóc vườn cây trong
ít nhất là 1 năm
- Khi thiếu vốn, vẫn rất khó tiếp cận các nguồn tìn dụng lãi xuất thấp và dài hạn
- Các khoản chi tiêu cho cuộc sống quá cao, nên phải cắt giảm chi phí cho vườn cây để bù đắp vào
Tính phù
hợp
Sự phù hợp của công nghệ được
đề xuất so với mô hình cao su tiểu điền và điều kiện của địa phương
- Không chắc chắn vào hiệu quả của công nghệ
- Muốn chờ xem các vườn cây khác
áp dụng có hiệu quả không rồi mới
Trang 38áp dụng đúng quy trình kỹ thuật được khuyến cáo trong canh tác cao
su
- Tất cả các khâu trong quy trình canh tác không cùng dựa trên nền tảng kiến thức khoa học
- Vật tư nông nghiệp không được lựa chọn và định lượng dựa trên các khuyến cáo khoa học chính thức
- Chủ hộ không nắn vững tất cả các tiêu chuẩn về quy trình và kỹ thuật
- Mô hình quản lý hiện tại chủ yếu dựa trên ý thức chủ quan của chủ hộ
- Bản thân cảm thấy trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi thì đây là phương pháp tối ưu
Trang 39Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính, dùng để hiệu chỉnh từ ngữ của các biến quan sát, đo lường các khái niệm nghiên cứu Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng cách thảo luận tay đôi với
10 chủ nông hộ được thực hiện tại xã Lai Uyên, huyện Bàu Bàng (xem phụ lục 1 về dàn bài thảo luận trực tiếp) Nội dung phỏng vấn sẽ được ghi nhận
và tổng hợp lại để làm cơ sở cho việc điều chỉnh các biến quan sát trong thang đo Các khái niệm trong mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm: khả năng tiếp cận thông tin, vấn đề nhận thức, Các yếu tố vật lý, vấn đề trình độ nhân công, vấn đề kinh tế, tính phù hợp, chính sách hỗ trợ
Dựa vào kết quả phỏng vấn sâu sẽ làm cơ sở, tác giả đã điều chỉnh các biến quan sát trong thang đo sao cho đáp viên dễ hiểu hơn Từ đó, giúp tác giả tiến hành xây dựng bảng câu hỏi chính thức để thu thập dữ liệu định lượng
Phương pháp lược khảo tài liệu được dùng trong việc tra cứu tài liệu quy trình kỹ thuật canh tác cao su tại Việt Nam do Tổng Công ty Cao su Việt Nam và Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam phát hành để rút ra quy trình kỹ thuật cơ bản trong việc canh tác cây cao su tại Việt Nam
Tổng hợp ý kiến sau khi nghiên cứu sơ bộ
Những đáp viên tham gia đều trả lời rằng có thể hiểu được các khái niệm nghiên cứu Đáp viên đề xuất thay đổi tên gọi của nhóm nhân tố “Các yếu tố vật lý” thành “Hiện trạng vườn cây”, và thêm biến “Thiếu vốn mang tính thời điểm” vào nghiên cứu
Hầu hết các đáp viên đều đồng ý với 6 nhóm nguyên nhân được đề xuất Trong đó họ cho rằng nguyên nhân về thiếu thông tin, thiếu khả năng kinh
Trang 40tế và không quan tâm đến công nghệ là những nguyên nhân quan trọng nhất khiến họ từ chối áp dụng công nghệ vào canh tác cây cao su
Đối với nhóm nhân tố “Khả năng tiếp cận thông tin”, hầu hết cho rằng
hệ thống thông tin hỗ trợ tại địa phương không hiệu quả Người nông dân hầu như không được cập nhật những kỹ thuật một cách chính thống từ phía chính quyền, hay rất ít khi gặp gỡ các nhà khoa học trong lĩnh vực canh tác cao su Chủ yếu họ tự mày mò hoặc được truyền miệng từ những công nhân kỹ thuật của các nông trường cao su gần đó Ngoài ra, việc không biết
sử dụng máy vi tính, mạng internet chưa phổ biến và người nông dân chưa
có thói quen đến các thư viện xã, huyện tìm kiếm tài liệu cũng là những nguyên nhân khiến nông dân không biết đến các công nghệ
Đối với nhóm nhân tố “Vấn đề kinh tế”, các hộ trồng cao su trong giai đoạn kiến thiết cơ bản lần đầu thường không có một khoản vốn dành riêng cho việc chăm sóc vườn cây Họ chủ yếu thực hiện chính sách “lấy ngắn nuôi dài” nên đôi khi nguồn vốn bị ngắt quảng dẫn đến phải cắt giảm chi phí chăm sóc vườn cây Còn đối với những hộ có vườn cây trong giai đoạn kinh doanh thì chủ yếu là tâm lý muốn đốt cháy giai đoạn, muốn tăng thu nhập nhanh chóng để sớm thu hồi vốn đầu tư ban đầu, hoặc áp lực trả các khoản vay nên chủ động bỏ qua các quy trình kỹ thuật
Đối với nhóm nhân tố “vấn đề nhận thức”, đa số đáp viên cho rằng có một số kỹ thuật không cần thiết Bản thân người nông dân cũng tin rằng với kinh nghiệm của bản thân họ có thể tự chăm sóc tốt cho vườn cây của mình, nếu có những sai sót xảy ra thì chủ yếu là do không cẩn thận hoặc rủi
ro không kiểm xoát được, chính vì vậy họ đã chủ động bỏ qua một số kỹ thuật
Các nhân tố khác, đa số các chủ nông hộ cho rằng không phải nguyên nhân chủ yếu vì các nhân tố này tương đối dễ khắc phục trong trường hợp cần thiết Nhưng bản thân họ cũng không bác bỏ vì trên thực tế khi áp dụng công nghệ vào canh tác cây cao su họ đã có cân nhắc đến những yếu tố này