Chuyên ngành: Nông Lâm Ngư nghiệp Nông nghiệp Nông thôn Sơ lược: Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp đề tài Điều tra thành phần vi sinh vật ký sinh trên sâu hại rau vụ xuân hè, năm 2011 tại các vùng trồng rau ngoại thành Hà Nội. Rau sạch và các chỉ tiêu Thành phân sâu chính hại rau trên họ cây thập tự Phương hướng giải quyết
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 5
I Mục đích và yêu cầu của đề tài 6
I.1 Mục đích 6
I.2 Nội dung 6
I.3 Yêu cầu đạt được của đề tài 7
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
II.1 Tình hình nghiên cứu về vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên sâu hại
rau trên thế giới và Việt Nam 8
II.1.1 Tình hình nghiên cứu về vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên
sâu hại rau trên thế giới 8
II.1.2 Tình hình nghiên cứu về vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên
sâu hại rau ở Việt Nam 10
II.2 Một số dẫn liệu về các vi sinh vật ký sinh trên sâu hại rau bắp cải,
su hào, súp lơ ở ngoài ruộng 12
II.2.1 Nhóm vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) 12
II.2.2 Nhóm virus gây bệnh côn trùng 14
II.2.3 Nhóm nấm gây bệnh côn trùng 15
II.3 Một số dẫn liệu về các loại sâu hại chính trên rau bắp cải, su hào,
súp lơ ở ngoài đồng ruộng 17
II.3.1 Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) 17
II.3.2 Sâu khoang (Spodoptera litura) 18
II.3.3 Sâu tơ (Plutella xylostella) 19
Trang 3II.4 Ứng dụng các chế phẩm vi sinh trong phòng trừ sâu hại 20
II.4.1 Ứng dụng của Bt trong phòng trừ sâu hại cây trồng 20
II.4.2 Ứng dụng của chế phẩm virus 21
II.4.3 Ứng dụng của chế phẩm vi nấm côn trùng 21
PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 III.1 Vật liệu, đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
III.1.1 Vật liệu nghiên cứu 23
III.1.2 Đối tượng nghiên cứu 23
III.1.3 Địa điểm nghiên cứu 24
III.1.4 Thời gian nghiên cứu 24
III.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 24
III.2.1 Nội dung1: Điều tra thành phần sâu hại chính trên rau bắp cải 245
III 2.2 Nội dung 2 : Điều tra thành phần vi sinh vật ký sinh trên sâu hại rau bắp cải 25
III.2.3 Nội dung 3: Điều tra diễn biến của vi sinh vật chính ký sinh
trên sâu hại rau bắp cải… 26
III 2.4 Nội dung 4: Thử hiệu lực của một số chế phẩm sinh học
trừ sâu hại rau trong điều kiện phòng thí nghiệm 27
PHẦN IV DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 30
PHẦN V TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 4NPV: Nucleo Polyhedrosis Virus
NPV.Ha: Nucleo Polyhedrosis Virus.Helicoverpa armigera
IPM: Hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp
ĐH: Đại học
Tp: Thành phố
Trang 5số lượng lớn thành loài chủ yếu Đồng thời thuốc hóa học còn làm cho rau xanh bị nhiễm bẩn, có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) vượt quá mức cho phép, điều đó sẽ dẫn đến các căn bệnh nguy hiểm cho người sử dụng… rau quả nhiễm độc có chiều hướng gia tăng đang là vấn đề quan tâm và nỗi lo của toàn xã hội [10]
Nhằm khắc phục việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, nhiều vùng trồng rau
Trang 6có hiệu quả Nội dung cơ bản của IPM là tăng cường sự điều hòa tự nhiên bổ sung thêm nguồn vi sinh vật có ích vào đồng ruộng Trong hệ thống IPM thì biện pháp sinh học giữ vai trò cốt lõi, chú trọng tới việc sử dụng các chế phẩm sinh
học như: Vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt), virus đa diện nhân Nucleo
Polyhedrosis Virus (NPV), nấm Metarhizium anisopliae (Ma), Beauveria bassiana (Bb)… các loại thuốc vi sinh vật này không gây ô nhiễm môi trường,
không phá vỡ hệ sinh thái đồng ruộng, sản phẩm rau sạch đạt chất lượng an toàn không có dư lượng thuốc hóa học
Việc điều tra, phát hiện để tìm ra các chủng vi sinh vật có hoạt tính sinh học cao làm cơ sở để phát triển chủng giống phục vụ cho sản xuất thuốc trừ sâu sinh học đạt hiệu quả phải được đặt lên hàng đầu Thực tế ở Việt Nam cho thấy đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, bước đầu đã có một số nhà khoa học và một số sinh viên của các trường đại học nghiên cứu và thu được một số kết quả khả quan Vì vậy, việc điều tra thành phần và diễn biến các loài vi sinh vật ký sinh trên sâu hại là rất cần thiết và cần được chú trọng đúng mức trong Công nghệ Sinh học bảo vệ thực vật Nhằm đáp ứng được nhu cầu sản xuất rau sạch, rau an toàn bằng việc sử dụng thuốc trừ sâu vi sinh trong nông nghiệp, chúng tôi được giao nhiệm vụ tiến hành đề tài:
“ Điều tra thành phần vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên một số sâu hại rau
vụ Xuân Hè, năm 2011 vùng Hà Nội”
I Mục đích và yêu cầu của đề tài:
I.1 Mục đích:
Xác định được thành phần vi sinh vật trên các loài sâu hại rau chính vụ Xuân Hè, năm 2011 vùng ngoại thành Hà Nội
I.2 Nội dung:
1 Điều tra thành phần sâu hại trên ruộng rau tại các vùng trồng rau bắp cải,
su hào, súp lơ thuộc ngoại thành Hà Nội
Trang 72 Điều tra thành phần vi sinh vật ký sinh trên sâu hại rau bắp cải, su hào, súp
lơ ngoài đồng ruộng vụ Xuân Hè, năm 2011
3 Điều tra diễn biến của các vi sinh vật chính ký sinh trên sâu hại rau bắp cải,
su hào, súp lơ trồng (tỷ lệ % sâu bị nhiễm bệnh do vi sinh vật) trên đồng ruộng
4 Thử hiệu lực của một số chế phẩm sinh học trừ sâu hại rau trong điều kiện phòng thí nghiệm
I.3 Yêu cầu đạt được của đề tài:
1 Xác định được thành phần sâu hại chính trên cây rau bắp cải, su hào, súp lơ
vụ Xuân Hè, năm 2011 vùng ngoại thành Hà Nội
2 Điều tra được thành phần vi sinh vật ký sinh trên sâu hại rau bắp cải, su hào, súp lơ ngoài đồng ruộng vụ Xuân Hè, năm 2011
3 Xác định được diễn biến (tỷ lệ %) của một số vi sinh vật ký sinh trên sâu hại rau bắp cải, su hào, súp lơ
4 Đánh giá một số chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu hại chính trên rau trong phòng thí nghiệm
Trang 8PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
II.1 Tình hình nghiên cứu về vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên sâu hại rau trên thế giới và Việt Nam
II.1.1 Tình hình nghiên cứu về vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên sâu hại rau trên thế giới
Phòng trừ sâu hại trên cây trồng bằng chế phẩm sinh học trên thế giới đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng từ rất sớm Những công trình nghiên cứu tập
trung chủ yếu vào các loại như vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt), các chủng vi nấm Beauveria bassiana (Bb), Metarhizium anisopliae (Ma) và các chủng vi sinh
vật khác có khả năng lây bệnh và gây chết ở côn trùng và sâu hại [5]
Năm (2004), tác giả Phạm Thị Thùy [8] cho biết đến nay trên thế giới có 100.000 loài nấm khác nhau, chúng thích hợp một giới tương đương với thực vật, giới động vật, giới nguyên thủy trong cơ thể giới hữu cơ Bên cạnh đó ở Úc, các
nhà khoa học cũng đã sử dụng nấm Beauveria bassiana để phòng trừ bọ hung hại
mía và bọ hung hại củ cải đường đạt hiệu quả tốt, những loài bọ hung trên rất khó phòng trừ bằng thuốc hóa học Ngoài ra các nhà khoa học còn sử dụng nấm
đã làm giảm mật độ của sâu và nhộng khoảng 70 %
Theo GS.TS Nguyễn Lân Dũng (1981) [3] cho biết bệnh do nấm côn trùng gây ra trên côn trùng đã được Vallineri phát hiện năm 1709, đến năm 1835 Agostino Bassi cũng đã tìm thấy nấm bạch cương gây bệnh trên tằm dâu Năm
1972, tác giả Đường Hồng Dật, cho biết trên sâu hại xuất hiện hàng loạt bệnh do các vi sinh vật ngoài tự nhiên gây ra, thành phần này rất phong phú gồm cả các loài virus, vi khuẩn Bt và nấm ký sinh côn trùng Năm 1975 Martignoi, Iwai đã đưa ra danh sách gồm 7 loài côn trùng thuộc họ và bộ khác nhau bị bệnh do virus gây ra
Trang 9Năm 1870 nhà bác học Louis Pasteur đã phát hiện ra một chủng vi khuẩn gây
bệnh làm cho tằm dâu chết, tác giả đã đặt tên cho vi khuẩn này là Bacillus
bombyces, về sau đổi tên là Bacillus thuringiensis (Bt) [13]
Năm (1978) Falcon cho biết bệnh virus trên côn trùng đã được Phillip mô tả
từ năm 1802 Năm 1891 Mally đã nghiên cứu virus gây bệnh trên sâu xanh hại
bông Nucleo Polyhedrosis Virus.Helicoverpa armigera (NPV.Ha) [10]
Theo tác giả Nguyễn Lân Dũng 1981 [3] cho biết việc sử dụng virus
Baculovirus phòng trừ sâu hại đã được nghiên cứu từ thế kỷ XIX Người đầu tiên
nghiên cứu về Baculovirus trong phòng trừ sâu hại cây rừng là tác giả Cunighom,
ông đã thông báo kết quả áp dụng thành công của một vài loài virus để phòng trừ sâu róm thông trên quy mô vài nghìn hecta Những năm 1960 – 1975, Faclcon cho biết ở Tây Bán cầu có khoảng 30% sâu hại được trừ bằng virus côn trùng
Baculovirus Việc sử dụng chế phẩm virus Nucleo Polyhedrosis Virus (NPV) của
sâu khoang đã có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu, năm 1997 các nhà khoa học Trung Quốc đã khẳng định rằng hiệu lực diệt sâu của NPV cao hơn hẳn so
với thuốc trừ sâu hóa học Methylparathion khi thử nghiệm ở nồng độ 2x1012 đến 3x1012 PIB/ml hiệu lực diệt sâu của NPV là 98.6 %
Trung Quốc được coi là nước tiên phong trong việc ứng dụng thuốc trừ sâu vi
sinh Bacillus thuringiensis Hiện nay nước này đã có hai hướng sử dụng virus là
nhập nội và dùng những chế phẩm virus hỗn hợp với thuốc trừ sâu Nếu virus gây bệnh chưa từng xuất hiện trong quần thể sâu hại thì việc nhập nội rất có tác dụng
với sâu khoang Spodoptera litura như ở Quảng Châu, hiệu quả gây chết sau một
tuần là 90% Các chế phẩm được bán rộng rãi trên thị trường quốc tế như:
Biotrol, VH2, Virin, Viron 4 ( diệt sâu xanh hại bông), Virus Tricholusis, Biotrol VTN (diệt sâu đo hại cải), Biotrol VPO (diệt sâu khoang sọc vàng) [10]
Trang 10II.1.2 Tình hình nghiên cứu về vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên sâu hại rau ở Việt Nam
Phòng trừ sâu hại cây trồng bằng các chế phẩm sinh học đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu từ lâu Các công trình nghiên cứu ứng dụng đã cho ra những sản phẩm thuốc trừ sâu vi sinh rất khả quan
Theo GS.TS Phạm Thị Thùy [9] cho biết ở Việt Nam việc nghiên cứu thành phần vi sinh vật gây bệnh trên côn trùng còn rất mới mẻ, thực tế vấn đề này mới được nghiên cứu trong vài năm gần đây, từ những năm 1990 của thế kỷ XX tại Viện Bảo vệ thực vật, Viện Công nghệ Sinh học và trường đại học Nông nghiệp
I, từ đó đến nay đã mang lại kết quả khả quan cho ngành nông nghiệp – lâm nghiệp Một trong những chế phẩm được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm là
vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt), vì chúng có khả năng diệt trừ nhiều loại sâu
hại thuộc nhóm ăn lá dựa trên việc hấp thu nội độc tố endotoxin (tinh thể độc) và ngoại độc tố từ Bt qua thức ăn
Theo số liệu điều tra sâu tơ hại rau bắp cải ở Hà Nội của GS.TS Phạm Thị Thùy, Viện Bảo vệ thực vật năm 1997 [5], tác giả đã phát hiện 5 loài vi sinh vật
ký sinh có khả năng gây bệnh và làm chết trên sâu hại rau đó là nấm trắng
Beauveria bassiana (Bb), hai loài nấm xanh là Metarhizium anisopliae (Ma), Metarhizium flavoviride (Mf), vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) và virus hạt Granulosis Virus (GV)
Tháng 5/2000, tác giả Phạm Thị Thùy và cộng sự [6] đã thông báo về thành phần vi sinh vật ký sinh trên sâu tơ hại rau cải thảo ở Đà Lạt trong năm 1998 Các tác giả cho biết có 4 nhóm vi sinh vật ký sinh trong đó có nhóm vi khuẩn Bt
chiếm 0,9 – 6,2 %, nhóm virus hạt Granulosis Virus (GV.Px), ký sinh trên sâu tơ
đó là nấm bạch cương Beauveria bassiana (Bb), nấm bột Nomuraea rileyi, nấm
Entomophthora sp và nấm lục cương Metarhizium anisopliae (Ma)
Trang 11Năm 2003, tác giả Phạm Thị Thùy nghiên cứu hiệu quả hỗn hợp giữa Bt với virus sâu tơ (GV.Px) và virus sâu xanh bướm trắng (GV.Pr) để phòng trừ sâu hại bắp cải vụ Đông Xuân năm 2003 tại Đồng Bẩm, Đồng Hỷ, Thái Nguyên và kết luận khi sử dụng hỗn hợp chế phẩm Bt + GV.Px, GV.Pr trừ sâu tơ và sâu xanh bướm trắng đều cho hiệu quả diệt sâu đạt 100 % sâu chết sau 4 – 5 ngày làm thí nghiệm [7]
Theo tài liệu của tác giả Phạm Thị Thùy năm (2004) [8] thì Viện Bảo vệ thực
vật đã ứng dụng thuốc trừ sâu Boverit và Mat để phòng trừ sâu đo xanh hại đay
tại Liên Khê, Khoái Châu, Hưng Yên năm 1992 – 1993 Kết quả khả quan chỉ sau
7 ngày phun làm mật độ sâu giảm 80 – 89 %, đặc biệt là tháng 5 – 6/1992 khi mật
độ sâu cao, sau phun nấm thời tiết ở vùng trồng đay có mưa kết hợp với nhiệt độ cao, Viện Bảo vệ thực vật đã thu được rất nhiều sâu đo bị ký sinh, kết quả này đã
mở ra triển vọng tốt cho việc phòng trừ sâu đo xanh hại đay bằng chế phẩm nấm
thuringiensis (Bt) sau 10 ngày phun đạt trung bình 89,7 % [8]
Như vậy là biện pháp sinh học sử dụng các vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại là hướng đi có triển vọng và có khả năng ứng dụng trong tương lai Có thể sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu hại trên diện tích rộng, mặc dù hiệu quả của các chế phẩm chưa ổn định, nhưng khi phối trộn hỗn hợp và sử dụng đúng kỹ thuật thì có hiệu quả cao và tác dụng thường kéo dài
Trang 12II.2 Một số dẫn liệu về các vi sinh vật ký sinh trên sâu hại rau bắp cải, su
hào, súp lơ ở ngoài ruộng
II.2.1 Nhóm vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt)
Đặc điểm hình thái:
Theo tài liệu của tác giả Phạm Thị Thùy (2004) [8] thì Bt là trực khuẩn sinh
bào tử, hiếu khí hoặc hiếu khí không bắt buộc, bắt màu thuốc nhuộm gram
dương, kích thước tế bào 3 – 6 µm có phủ tiêm mao không dày, chuyển động
được, tế bào đứng riêng rẽ hoặc xếp thành từng chuỗi Bt có thể phân lập từ trong
đất, và trên cơ thể côn trùng
Các loại độc tố:
Theo tác giả Phạm Thị Thùy (2004) [8] cho đến nay người ta phát hiện ra 4
loại độc tố do vi khuẩn bt gây ra, đó là:
- Ngoại độc tố α – exotoxin hay còn gọi là photspholipaza C Năm 1953 lần
đầu tiên nhà khoa học Toumanoff phát hiện thấy vi khuẩn Bt var.elesti sản sinh
ra enzym leuxiloxit Tác động của enzym này có liên quan đến sự phân hủy mang
tính cảm ứng của photspholipit trong mô côn trùng làm côn trùng chết
- Ngoại độc tố β – exotoxin hay còn gọi là độc tố biến nhiệt Năm 1959, Hall
và Arkawa trong khi nuôi ấu trùng ruồi bằng thức ăn có chứa Bt, tác giả đã tìm ra
ngoại độc tố này Hoạt tính của ngoại độc tố β – exotoxin bắt đầu xuất hiện trong
giai đoạn vi khuẩn phát triển mạnh, trước khi hình thành bào tử
- Ngoại độc tố γ – exotoxin hay còn gọi là độc tố tan trong nước
γ – exotoxin có chứa peptit với trọng lượng phân tử thấp (200 – 2000) và một số
axit tự do Độc tố γ – exotoxin tan trong nước không ổn định, mẫn cảm với không
khí, ánh sáng, oxy và nhiệt độ
- Nội độc tố δ – endotoxin hay còn gọi là tinh thể độc Nội độc tố
δ – endotoxin là một protein kết tinh gồm 1180 axit amin Các axit amin chủ yếu
Trang 13là glutamic, aspaginic chiếm 20 % tổng số axit amin trong phân tử và là nguyên nhân gây ra điểm đẳng điện thấp Lượng axit amin sistein nhỏ hơn 2 % tổng số axit amin nhưng lại quy định sự không hòa tan của tinh thể Ngoài ra còn có axit amin khác như acginin, leucin, izoleucin… ngoài protein, tinh thể độc còn chứa các thành phần khác như hydratcacbon 5,6 %
Trong 4 loại độc tố trên thì độc tố δ – endotoxin là chủ yếu chiếm tới 95 % tổng số độc tố và quyết định hoạt tính diệt côn trùng của Bt là cao nhất
Cơ chế tác động:
Tác giả Phạm Thị Thùy (2004) [8] cho biết Bt tác động lên sâu hại thông qua con đường tiêu hóa, tùy theo côn trùng hại khác nhau mà có 3 cơ chế tác động của các tinh thể độc lên côn trùng:
- Sâu ăn thức ăn có lẫn tinh thể độc vào ruột, chỉ sau khoảng 20 phút thì ruột giữa côn trùng bị tê liệt làm pH trong máu và tế bào bạch huyết tăng lên, pH ruột giữa giảm xuống do chất kiềm của ruột thấm vào mạch máu và các tế bào biểu
mô ruột Đối với sâu non sau 1 – 6 giờ thì tê liệt hoàn toàn Sau 2 – 3 ngày sâu non chết có màu đen, toàn thân khô cứng
- Sau khi ăn phải tinh thể độc, côn trùng ngừng ăn vì ruột bị tê liệt nhưng pH của máu và bạch huyết không tăng, sau 2 – 4 ngày thì côn trùng chết mặc dù sâu non không bị tê liệt toàn thân
- Khi côn trùng ăn phải tinh thể độc kèm theo bào tử thì mới gây chết côn trùng chỉ sau 2 – 4 ngày, không có hiện tượng tê liệt
Quá trình từ khi nhiễm Bt đến chết, sâu non có thời gian ủ bệnh, những sâu tuổi nhỏ có thời gian ủ bệnh từ 1 – 2 ngày, sâu tuổi lớn thời gian kéo dài 4 – 5 ngày Tùy theo độ tuổi sâu mà khả năng chết do Bt là khác nhau
Trang 14II.2.2 Nhóm virus gây bệnh côn trùng
Theo tài liệu của tác giả Phạm Thị Thùy (2004) [8] thì căn cứ vào cấu trúc của các virion, các nhà khoa học trên thế giới đã phân loại virus chia thành 7 nhóm:
- Nhóm Baculovirus thuộc họ Baculoviridae, trong nhóm này có 4 loại
virus
- Nhóm virus đa diện tế bào chất Cytoplasmis Polyhedrosis Virus (CPV)
- Nhóm entomopoxvirrus (EV) thuộc họ Poxviridae
- Nhóm Irido Virus (IV) thuộc họ Iridoviridae
- Nhóm Denso Virus (DV) thuộc họ Parvoviridae
- Nhóm virus ARN thuộc họ Picornaviridae
- Sigma virus thuộc họ Rhabdoviridae
Kết quả điều tra thành phần vi sinh vật ký sinh trên sâu chính hại rau vụ xuân
hè và vụ đông tại Viện Bảo vệ thực vật, xã Tây Tựu, xã Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội và vụ rau Đông Xuân tại xã Do Hạ, Tiền Phong, Mê Linh, Vĩnh Phúc kết quả
thu được chủ yếu là virus sâu tơ Granulosis Virus.Px (GV.px) ký sinh trên sâu tơ, virus sâu xanh bướm trắng Granulosis Virus Pieris rapae (GV.pr) ký sinh trên sâu xanh bướm trắng, virus sâu khoang NPV Spodoptera litura ký sinh sâu
khoang
Cơ chế gây tác động của virus lên côn trùng
Virus gây bệnh lên côn trùng hại cây trồng qua con đường tiêu hóa Khi sâu
ăn thức ăn có chứa virus vào ruột, chúng tiến hành quá trình phá hủy toàn bộ các
cơ quan chức năng trong ruột làm sâu chết Khi virus vào ruột côn trùng hại, các thể vùi của virus sẽ giải phóng ra các hạt virion, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, các virion này qua biểu bì mô ruột, vào huyết tương và xâm nhập vào các tế bào ruột của sâu hại để tiến hành quá trình gây bệnh Quá trình gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn tiềm ẩn: các thể vùi xâm nhập vào bên trong tế bào, các virion được giải phóng đính vào các vị trí thích hợp trên màng nhân tế bào thành ruột của sâu
Trang 15- Giai đoạn tăng trưởng: đây là giai đoạn tăng nhanh các virion mới trong dịch ruột của sâu Những sâu tuổi nhỏ chỉ sau 32 giờ trong cơ thể sâu đã chứa đầy các virion trần
- Giai đoạn cuối: là giai đoạn tạo thể vùi nghĩa là các virion được bao bọc bởi các protein dạng mắt cáo, cơ thể sâu hại chứa đầy các virion bị vỡ tung ra gây hiện tượng thối nhũn
II.2.3 Nhóm nấm gây bệnh côn trùng
Theo tài liệu của tác giả Phạm Thị Thùy [8] trên thế giới, các nhà khoa học đã phát hiện ra khoảng 200 loài vi nấm có thể ký sinh, gây bệnh lên côn trùng, tập trung ở ngành nấm thật Mycrobionta, ngành phụ lớp nấm bất toàn Deuteromycetes Đây là ngành nấm có tác dụng diệt côn trùng thông qua việc gây bệnh bằng sự tiếp xúc
Cơ chế tác động của nấm gây bệnh côn trùng
Theo tác giả Phạm Thị Thùy (2004) [8] thì bệnh nấm rất dễ lan truyền bằng những va chạm đơn giản như lan truyền theo gió, mưa, và chính bản thân côn trùng các tế bào nấm phát tán theo gió thổi Những bào tử có chứa độc tố có trên thân côn trùng nhờ gió bay đi rơi vào cơ thể côn trùng khác, gặp điều kiện thuận lợi nấm nảy mầm, hệ sợi mới phát triển tới mức phủ kín lỗ thông hơi trên
cơ thể côn trùng Quá trình sinh trưởng và phát triển của bào tử và hệ sợi nấm ăn sâu vào cơ thể côn trùng Chính trong quá trình nảy mầm đã tiết ra một phức hệ enzym ngoại bào phân giải kitin, protein và lipit Sau đó mô và tuyến mỡ bị hòa tan do enzym lipaza và proteaza của nấm tiết ra, tiếp theo là giai đoạn nhiễm trùng máu của côn trùng Đó là hiện tượng lympho chứa đầy sợi nấm, đến khi hồng cầu trong cơ thể côn trùng bị phá vỡ thì côn trùng mới chết, lúc này nấm vẫn tiếp tục phát triển trên xác côn trùng đây là nền cơ chất giàu chất hữu cơ cho nấm phát triển
Trang 16II.2.3.1 Nấm Beauveria bassiana (bạch cương)
Nấm Bb sinh ra bào tử trần, từng tế bào một, không màu, hình cầu hoặc trứng, đường kính 1 – 4 µm, sợi nấm có chiều ngang khoảng 3 – 5 µm, trên sợi nấm mang nhiều giá sinh bào tử phồng to ở dưới, kích thước khoảng 3 – 3 x 3 – 6 µm Các giá bào tử trần thường tạo thành các nhánh ở phần ngọn hoặc trực tiếp tạo thành các nhánh của giá phần ngọn của bào tử có dạng cuống hẹp hình zichzac không đều
II.2.3.2 Nấm Metarhizium anisopliae (lục cương)
Sợi nấm phát triển trên bề mặt côn trùng có màu có màu từ trắng đến hồng, cuống bào tử ngắn, mọc tỏa tròn trên đám sợi nấm dày đặc Bào tử trần có kích thước 3,5 x 6,4 x 7,2 µm, màu từ lục đến xám, bào tử xếp thành chuỗi khá chặt chẽ và nhìn bằng mắt thường người ta có thể thấy bào tử mọc ra bên trên bề mặt côn trùng một lớp khá rõ màu xanh lục Sợi nấm khi phát triển bên trong côn trùng có chiều rộng 3 – 4 µm, dài khoảng 20 µm, chia thành nhiều tế bào, trong tế bào có thể chứa nhiều giọt mỡ
II.2.3.3 Nấm Nomuraea rileyi
Bào tử có màu xanh lục nhạt, gây bệnh cho sâu cuốn lá, sâu xanh bướm trắng,
sâu khoang, sâu tơ Nấm Nomuraea rileyi được cấu tạo bởi các sợi nấm có vách
ngăn, đó là bộ máy dinh dưỡng của sợi nấm Sợi nấm ban đầu có hình tròn như quả bóng, phồng lên sau đó co hẹp lại thành những đoạn ngắn, các đoạn này dài dần ra và chúng giải phóng ra bào tử